Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

TỪ NGỘ NHẬN VỀ “THIÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN” ĐẾN VẾT NỨT NIỀM TIN!

     Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và không gian số bùng nổ, việc so sánh mô hình phát triển giữa các quốc gia là nhu cầu tự nhiên. Tuy nhiên, khi những so sánh ấy bị giản lược, phiến diện, thậm chí bị dẫn dắt có chủ ý, chúng không còn là công cụ tham khảo khoa học mà trở thành “cái bẫy tư tưởng”, âm thầm khoét sâu vào nền tảng niềm tin chính trị. Thực tiễn cho thấy, không ít biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay bắt nguồn từ sự ngộ nhận, thần tượng hóa cái gọi là “thiên đường phát triển” ở bên ngoài, trong khi phủ nhận hoặc hoài nghi con đường phát triển mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn!

Từ nhu cầu so sánh đến nguy cơ lệch chuẩn nhận thức

So sánh là một phương pháp phổ biến trong khoa học xã hội và quản lý phát triển. Đảng ta chưa bao giờ phủ nhận việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Ngược lại, nhiều văn kiện quan trọng khẳng định rõ yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi việc so sánh bị tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa, trình độ phát triển, thậm chí bị giản lược thành những đối chiếu cảm tính: Nước này “giàu hơn”, xã hội kia “tự do hơn”, mô hình nọ “văn minh hơn”. Nguy hiểm hơn, một số luận điệu cố tình tuyệt đối hóa ưu điểm, che giấu mâu thuẫn nội tại, khiếm khuyết xã hội của các quốc gia đó, từ đó gieo rắc tâm lý tự ti, hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, từng nhấn mạnh: “So sánh phát triển nếu không đặt trong chỉnh thể lịch sử-văn hóa-thể chế sẽ rất dễ trở thành công cụ dẫn dắt nhận thức lệch lạc, nhất là trong môi trường truyền thông đa chiều hiện nay”.

Thực tế cho thấy, những biểu hiện “tự diễn biến” về tư tưởng không xuất hiện đột ngột, mà thường bắt đầu từ các vết nứt nhỏ trong nhận thức: Nghi ngờ mô hình phát triển, giảm sút niềm tin vào năng lực lãnh đạo, từ đó dần xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định rõ: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời chỉ ra nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) nhấn mạnh yêu cầu chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó cảnh báo rõ thủ đoạn lợi dụng so sánh mô hình phát triển, thể chế chính trị để gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động niềm tin. Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) tiếp tục chỉ rõ: Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị ngày càng tinh vi, thường núp bóng dưới các luận điệu “khách quan”, “so sánh”, “tham khảo mô hình nước ngoài”... Đây là căn cứ lý luận-chính trị quan trọng để nhận diện đúng bản chất của những quan điểm thần tượng hóa cái gọi là "thiên đường phát triển".

“Thiên đường phát triển” - một khái niệm được tô vẽ có chủ ý

Không phải ngẫu nhiên mà các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị thường xuyên khai thác hình ảnh “thiên đường phát triển” ở một số quốc gia phương Tây hay khu vực khác. Đây là thủ pháp quen thuộc: Lấy một vài chỉ số kinh tế, phúc lợi xã hội hoặc quyền tự do cá nhân được phóng đại, tách khỏi những mặt trái như phân hóa giàu-nghèo, khủng hoảng nhập cư, bạo lực xã hội, bất ổn chính trị... để tạo ra một bức tranh lý tưởng hóa. Trong khi đó, những thành tựu phát triển to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam sau 40 năm đổi mới lại bị cố tình làm mờ, thậm chí xuyên tạc. Từ một nước nghèo, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, kinh tế tăng trưởng thuộc nhóm cao của khu vực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội phân tích: “Cái gọi là “thiên đường phát triển” thực chất chỉ tồn tại trong những lát cắt truyền thông có chọn lọc. Không có mô hình nào hoàn hảo, càng không có con đường phát triển chung cho mọi quốc gia. Nguy hiểm là ở chỗ người ta cố tình biến sự khác biệt thành cái cớ để phủ nhận con đường mà một dân tộc đã lựa chọn bằng lịch sử và hy sinh”.

Những luận điệu thần tượng hóa này, nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, sẽ từng bước bào mòn niềm tin, tạo ra tâm lý “so bì”, “đứng núi này trông núi nọ”, từ đó dẫn tới "tự diễn biến" trong tư duy chính trị.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, không ít biểu hiện dao động về nhận thức chính trị bắt nguồn từ việc tiếp nhận thông tin so sánh quốc tế một chiều, thiếu kiểm chứng, đặc biệt trên không gian mạng. Nhiều nội dung truyền thông cố tình lựa chọn các chỉ số bề nổi về thu nhập, phúc lợi, tự do cá nhân, trong khi né tránh hoặc làm mờ các vấn đề nội tại như phân hóa xã hội, bất ổn chính trị, suy giảm niềm tin công chúng tại chính những quốc gia được ca ngợi. Trong công tác xây dựng Đảng đã xuất hiện hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ trẻ bộc lộ tâm lý so bì, ngộ nhận, từ đó giảm sút ý chí phấn đấu, ngại va chạm, né tránh đấu tranh bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng. Đây không phải biểu hiện chống đối trực diện, nhưng là những “vết nứt âm thầm” trong niềm tin, nếu không được nhận diện và uốn nắn kịp thời sẽ tiềm ẩn nguy cơ "tự diễn biến" về tư tưởng. Ở chiều ngược lại, chính thực tiễn Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn, thách thức lớn đã cho thấy tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng ta lựa chọn, củng cố niềm tin xã hội và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống.

Một đặc điểm nguy hiểm của “tự diễn biến” hiện nay là tính âm thầm, mềm hóa, phi đối kháng trực diện. Không ít người vẫn khẳng định mình “không chống Đảng, không chống chế độ”, nhưng lại thường xuyên đặt câu hỏi theo hướng phủ định: Vì sao ta không đi theo con đường khác? Vì sao mô hình này không giống mô hình kia? Vì sao nước ngoài làm được mà ta không làm như họ?...

Những câu hỏi ấy nếu xuất phát từ tinh thần xây dựng, nghiên cứu khoa học thì là điều bình thường. Nhưng khi chúng được lặp đi lặp lại trong một hệ quy chiếu lệch chuẩn, thiếu nền tảng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiếu hiểu biết về thực tiễn Việt Nam thì rất dễ trở thành mầm mống của "tự diễn biến". Thực tiễn công tác xây dựng Đảng cho thấy, ở một số nơi, một số cán bộ, đảng viên dao động về nhận thức, giảm sút ý chí phấn đấu, ngại bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng, thậm chí né tránh đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Đây chính là hệ quả của quá trình bị tác động lâu dài bởi những so sánh lệch chuẩn và hình ảnh “thiên đường phát triển” được tô vẽ.

Đại tá, PGS, TS Cao Văn Trọng, Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định: “Tự diễn biến" nguy hiểm nhất không phải ở lời nói công khai chống đối, mà ở sự thay đổi hệ giá trị bên trong con người. Khi niềm tin bị xói mòn, hành động lệch lạc chỉ còn là vấn đề thời gian”.

Thực tiễn thế giới: Không có mô hình phát triển “vạn năng”

Nhìn ra thế giới một cách khách quan sẽ thấy, nhiều quốc gia từng được coi là “hình mẫu phát triển” cũng đang đối mặt với khủng hoảng sâu sắc: Bất ổn chính trị kéo dài, xung đột xã hội, phân hóa giàu-nghèo gia tăng, niềm tin của người dân vào thể chế suy giảm. Ngay trong lòng các nước phát triển, phong trào phản đối, chia rẽ xã hội, cực đoan hóa chính trị diễn ra ngày càng gay gắt. Trong khi đó, Việt Nam kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy con người làm trung tâm, không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Đó không phải là con đường dễ dàng, nhưng là con đường phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) nhiều lần nhấn mạnh: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tìm tòi, vừa làm vừa tổng kết, không rập khuôn, không giáo điều, nhưng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây chính là lời giải đáp thuyết phục nhất cho những luận điệu đòi “đổi hướng”, “đi theo mô hình khác” một cách giản đơn.

GS, TS Tạ Ngọc Tấn, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: “Không có mô hình phát triển nào mang tính khuôn mẫu cho mọi quốc gia. Việc so sánh nếu thiếu nền tảng lý luận và hệ quy chiếu khoa học rất dễ dẫn tới ngộ nhận, từ đó làm suy giảm niềm tin chính trị và nảy sinh biểu hiện "tự diễn biến" về tư tưởng”.

TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng nhấn mạnh: “Hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với sao chép mô hình. Mỗi con đường phát triển phải xuất phát từ điều kiện lịch sử, văn hóa và thể chế cụ thể của từng quốc gia”.

Nhận diện và hóa giải “ảo ảnh thiên đường phát triển”

Để ngăn chặn nguy cơ "tự diễn biến" từ những ngộ nhận về mô hình phát triển, trước hết cần nâng cao năng lực nhận diện trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. So sánh phải dựa trên cơ sở khoa học, toàn diện, đặt trong bối cảnh cụ thể, tuyệt đối tránh tâm lý sùng bái hay phủ định sạch trơn. Bên cạnh đó, công tác giáo dục lý luận chính trị cần tiếp tục được đổi mới theo hướng gắn lý luận với thực tiễn sinh động của đất nước, giúp người học thấy rõ vì sao con đường Đảng và nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, phù hợp và có tính tất yếu lịch sử. Quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự xây dựng cho mình “sức đề kháng tư tưởng”, không dao động trước những luận điệu hào nhoáng, không để những so sánh phiến diện dẫn dắt nhận thức và hành động.

Niềm tin chính trị không phải là khái niệm trừu tượng, mà được xây dựng từ thực tiễn phát triển đất nước, từ sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, từ hiệu quả quản trị quốc gia. Đấu tranh với quan điểm thần tượng hóa “thiên đường phát triển” cũng chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ.

Trong bối cảnh mới, khi thông tin đa chiều vừa là cơ hội vừa là thách thức, việc giữ vững niềm tin càng đòi hỏi bản lĩnh chính trị, sự tỉnh táo và trách nhiệm xã hội của mỗi người. Nhận diện đúng “ảo ảnh”, bóc tách những so sánh lệch chuẩn chính là cách để vá lại những “vết nứt âm thầm”, củng cố nền tảng tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có “thiên đường phát triển” nào được sao chép nguyên xi, chỉ có con đường phù hợp nhất với mỗi dân tộc. Với Việt Nam, đó là con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã, đang và sẽ kiên định lựa chọn./.
Ảnh: Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
QV-ST!

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC XÂY DỰNG BẰNG MỒ HÔI NHƯNG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIẾT BẰNG XƯƠNG MÁU!

     Hơn 50 năm thống nhất đất nước, Bắc - Nam sum họp một nhà nhưng nỗi đau chiến tranh vẫn còn đó. Những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương và làm tốt công tác hòa hợp dân tộc mà cụ thể là Nghị Quyết 36 của Bộ Chính trị; người Việt Nam ở nước ngoài trở thành một bộ phận không thể tách rời của dân tộc, đã tạo thành khối đại đoàn kết vững chắc chung tay xây dựng đất nước Lạc Hồng.

Cả dân tộc đang vững tin bước vào kỷ nguyên mới. Hòa hợp dân tộc tạo khối đại đoàn kết; thống nhất ý chí và hành động để khơi dậy khát vọng dân tộc vươn lên. Suốt hơn 50 năm qua chúng ta vì hòa hợp dân tộc nên phải khép lại đau buồn. Song không vì thế mà phủ nhận quá khứ, xuyên tạc lịch sử, đổi trắng thành đen, phục dựng vinh danh các kẻ tay sai bán nước tội đồ của dân tộc; công nhận tính chính danh của nguỵ quyền Sài Gòn; bôi xấu hình ảnh QĐND Việt Nam để thực hiện mưu đồ đen tối hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN và thắng lợi vĩ đại của dân tộc, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; làm lu mờ tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc Việt Nam. Không có lý lẽ nào có thể phủ nhận ngày 30/4/1975 mãi mãi là ngày trọng đại nhất của đất nước. Cả dân tộc đã hy sinh xương máu đứng lên theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào” viết nên khúc khải hoàn ca vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, thu giang sơn về một mối.

Đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình để dân tộc phát triển thịnh vượng cần hoà giải và hoà hợp dân tộc khép lại quá khứ hướng về tương lai nhưng điều đó không có nghĩa là lãng quên quá khứ. Chúng ta nhớ rằng để đất nước thống nhất, hoà bình và ổn định ngày hôm nay dân tộc ta đã đổ biết bao xương máu qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ. Để bảo vệ Tổ quốc cả nước đã có 1.146.250 anh hùng, liệt sĩ hy sinh trong đó 191.605 Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Pháp; 849.018 Liệt sỹ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ; 105.627 Liệt sỹ hy sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Hơn 200.000 hài cốt Liệt sỹ chưa được tìm thấy, thi thể các anh còn nằm lại trên các chiến trường Việt Nam, Lào, Cam pu chia, Biển Đông…Hơn 300.000 hài cốt Liệt sĩ đã được quy tập về các nghĩa trang nhưng chưa xác định được danh tính tên tuổi, quê quán, đơn vị. Ngoài ra, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, có khoảng hơn 4 triệu dân thường ở hai miền Bắc – Nam đã chết và bị thương tật suốt đời do bom đạn, do kẻ thù giết hại. Đóng góp vào sự nghiệp cách mạng, cả nước có trên 9.000.000 người có công; 127.000 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng, con hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; trên 13.000 Anh hùng LLVTND và Anh hùng Lao động; gần 800.000 Thương binh và người được hưởng chính sách như Thương binh; hơn 300.000 người hoạt động kháng chiến và con đẻ bị nhiễm chất độc da cam; gần 111.000 người hoạt động cách mạng, người tham gia kháng chiến bị địch bắt giam, tù đày, tra tấn trong các nhà tù Hỏa Lò, Sơn La, Lao Bảo, Côn Đảo, Phú Quốc…Chúng ta không thể vô ơn, đời đời biết ơn các thế hệ cha anh đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình vì Tổ quốc.

Nguỵ - bè lũ tay sai bán nước đã nhào. Đế Quốc Mỹ đã thua nhục nhã phải cúi đầu cuốn gói cút khỏi nước ta. Chúng ta không thể quên tội ác của 541. 933 lính viễn chinh Mỹ và 70.000 quân của 5 nước chư hầu Mỹ đã gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa tại Việt Nam. Chúng đã trút 15,4 triệu tấn bom đạn xuống Việt Nam gấp 6 lần tổng số bom đạn mà tất cả các nước sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2; tương đương sức nổ của khoảng 600 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945. Việt Nam là nước bị Mỹ ném bom nhiều nhất thế giới. Mỹ đã đổ vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt Nam 839 tỷ USD; 75 triệu lít chất độc hoá học huỷ diệt môi trường sống khiến 5 triệu nạn nhân Việt Nam đến nay vẫn đau đớn, quằn quại vì chất độc hoá học này. Trước khi ký hiệp định, Mỹ thực hiện dã tâm đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá; dùng pháo đài bay B52 rải thảm, huỷ diệt Miền Bắc, đây là cuộc tập kích bằng đường không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, số bom Mỹ thả trong 12 ngày đêm xuống Hà Nội, Hải Phòng bằng 5 quả bom nguyên tử Mỹ thả xuống Nhật Bản năm 1945.

Cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc. Kẻ thù của dân tộc Việt Nam là Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước Nguyễn Văn Thiệu. Nhân dân 2 miền Bắc - Nam không phải kẻ thù của nhau, là anh em ruột thịt một nhà. Hơn 50 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là dấu son chói lọi, niềm tự hào muôn đời của mỗi người con đất Việt. Chúng ta không được phép lãng quên lịch sử và không được phép vô ơn với xương máu của các thế hệ cha ông mình đã đổ xuống để chúng ta có ngày hôm nay. Dù đứng ở góc độ nào đi nữa cũng không thể phủ nhận một cuộc chiến tranh thần thánh, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đã ghi vào lịch sử thế giới một trang sử vàng chói lọi nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí thống nhất, độc lập, tự chủ và khát vọng của một dân tộc yêu chuộng hoà bình, biểu tượng của hòa bình; cổ vũ các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới tiến lên đánh bại chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũ và mới dành độc lập, tự do. Khép lại quá khứ để hoà hợp dân tộc không có nghĩa là lãng quên, phủ nhận quá khứ. Tương lai đất nước xây dựng bằng mồ hôi nhưng lịch sử dân tộc viết bằng xương máu./.

Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHÉP LẠI VAI TRÒ TRUNG ƯƠNG!

     Thủ tướng Phạm Minh Chính không có tên trong danh sách trúng cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV cho thấy ông sẽ khép lại vai trò ở cấp Trung ương sau khi kết thúc nhiệm kỳ Chính phủ hiện tại.

Chúng ta sẽ nhớ hình ảnh một Thủ tướng hành động quyết liệt, thường xuyên có mặt tại thực địa trong những thời điểm khó khăn nhất, từ cao điểm phòng, chống dịch Covid-19 đến những đợt thiên tai, lũ lụt, nơi ông trực tiếp lắng nghe, chia sẻ và chỉ đạo công tác khắc phục. Những hình ảnh ấy để lại dấu ấn về một người đứng đầu Chính phủ gần dân, đồng hành cùng người dân trong hoạn nạn, không chỉ bằng chỉ đạo mà bằng sự hiện diện cụ thể.

Dưới góc nhìn quốc tế, Thủ tướng Phạm Minh Chính được truyền thông và giới quan sát đánh giá cao như một nhà lãnh đạo điều hành mạnh mẽ, thực tế giữ vai trò quan trọng trong việc đưa Việt Nam vượt qua đại dịch, ổn định kinh tế vĩ mô và duy trì đà hội nhập trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Nhiều hãng tin lớn ghi nhận phong cách chỉ đạo quyết liệt, thiên về hành động cùng đường lối đối ngoại linh hoạt cởi mở gần gũi của ông, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Khép lại một nhiệm kỳ nhiều thử thách, đó là lời chào trân trọng và tri ân dành cho một Thủ tướng đã đồng hành cùng đất nước qua những giai đoạn khó khăn, để lại dấu ấn của trách nhiệm, tận tâm và tinh thần phụng sự./.
Yêu nước ST.

CHÚC MỪNG TBT TÔ LÂM ĐƯỢC BẦU GIỮ CHỨC TỔNG BÍ THƯ BCH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XIV 🇻🇳🇻🇳🇻🇳

     Nay lại nhớ câu “chuyện hài” quanh việc Đại tướng Tô Lâm được bầu giữ chức Tổng Bí thư để nhiều người nhớ và tỉnh táo trước mọi ÂM MƯU thâm độc của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ LLVT (Quân đội & Công an) hòng phi chính trị hoá 2 lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhân dân.

Tháng 8/2024 sau khi TBT Nguyễn Phú Trọng về cõi NIẾT BÀN thì BCT, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bầu Đại tướng Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam với số phiếu bầu tuyệt đối 100%.

Ngay khi đó đám đài địch như Việt Tân, VOA, RFA liền vồ lấy để xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ bệ Tân TBT Tô Lâm. Điều đáng nói là cùng hoà giọng làm loa rè cho địch là đám lính lác võ biền, đám bất mãn trở cờ và cả đám tâm thần chính trị trong nước….khi đó khắp, Youtube, fb đều là những thuyết âm mưu abc…”nào là mất dân chủ, nào là tiếm quyền, nào là không chính danh, nào là uy hiếp cụ cố Tổng nhường ngôi” vân vân và mây mây. Lại có mấy thằng nhõi con có chút ảnh hưởng trên mạng xh thì mượn cả phim dã sử tận bên Tàu để ví von dẫn dắt dư luận…trong đó có cả 1 số đứa là bạn fb của lão nông cũng adua với giặc.

Tối hôm qua lão cứ cười và lắc đầu rồi lại tự hỏi, không biết từ mai bọn chúng lại sản xuất ra những THUYẾT ÂM MƯU nào nữa sau khi đã bị BCT, Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam “TÁT LỆCH MẶT” bằng cách giao cho Quân đội bảo vệ Đại hội, bảo vệ hòm phiếu, kiểm phiếu….

Giờ thì Giáo sư-Tiến sỹ-Đại tướng Tổng Bí thư Tô Lâm đã chính danh chưa hả các mày? 👇

Môi trường ST.

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DANH SÁCH 200 ĐỒNG CHÍ trúng cử BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

     Chiều 22-1, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã công bố kết quả và thông qua danh sách các đồng chí trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Ủy viên chính thức và 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết.

DANH SÁCH ỦY VIÊN CHÍNH THỨC BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

KHỐI CÁC CƠ QUAN TRUNG ƯƠNG

1. ĐỒNG CHÍ TÔ LÂM, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương.

2. ĐÀO TUẤN ANH, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn 34, Bộ Quốc phòng.

3. TRẦN VĂN BẮC, Thiếu tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 2, Bộ Quốc phòng.

4. ĐỖ THANH BÌNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

5. LÊ HẢI BÌNH, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Uỷ viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

6. ĐOÀN XUÂN BƯỜNG, Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 4, Bộ Quốc phòng.

7. ĐỖ VĂN CHIẾN, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội.

8. HOÀNG DUY CHINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV.

9. NGUYỄN TÂN CƯƠNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

10. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

11. NGUYỄN HỒNG DIÊN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội.

12. ĐẶNG VĂN DŨNG, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương.

13. ĐOÀN ANH DŨNG, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

14. HOÀNG TRUNG DŨNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

15. HỒ QUỐC DŨNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.

16. NGUYỄN KHẮC ĐỊNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội.

17. LƯƠNG QUỐC ĐOÀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.

18. NGUYỄN QUỐC ĐOÀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Thường trực Thanh tra Chính phủ.

19. NGUYỄN HỮU ĐÔNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa XV, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

20. ĐẶNG HỒNG ĐỨC, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

21. NGUYỄN QUANG ĐỨC, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

22. NGUYỄN VĂN GẤU, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

23. PHAN VĂN GIANG, Uỷ viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

24. NGUYỄN THỊ THU HÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Văn phòng Trung ương Đảng.

25. VŨ HẢI HÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội.

26. LÊ KHÁNH HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước.

27. LÊ NGỌC HẢI, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Quốc phòng.

28. NGÔ ĐÔNG HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

29. NGUYỄN LONG HẢI, Uỷ viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương.

30. NGUYỄN THANH HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội khóa XV.

31. NGUYỄN VĂN HIỀN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

32. TRẦN THỊ HIỀN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

33. NGUYỄN SỸ HIỆP, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

34. PHAN CHÍ HIẾU, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tư pháp.

35. BÙI THỊ MINH HOÀI, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

36. NGUYỄN THỊ HỒNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

37. ĐOÀN MINH HUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

38. LÊ MẠNH HÙNG, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Công Thương.

39. LÊ QUỐC HÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

40. BÙI QUANG HUY, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

41. DƯƠNG QUỐC HUY, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ.

42. LÊ MINH HƯNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

43. NGUYỄN ĐỨC HƯNG, Trung tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 3, Bộ Quốc phòng.

44. TRẦN TIẾN HƯNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

45. NGUYỄN ĐÌNH KHANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

46. TRẦN VIỆT KHOA, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Quốc phòng, Bộ Quốc phòng.

47. VŨ TRUNG KIÊN, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng.

48. ĐÀO HỒNG LAN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế.

49. NGUYỄN NGỌC LÂM, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

50. NGUYỄN THANH LÂM, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam.

51. TRẦN THANH LÂM, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

52. TRỊNH MẠNH LINH, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

53. NGUYỄN HỒNG LĨNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

54. NGUYỄN PHI LONG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.

55. NGUYỄN VĂN LONG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

56. LÊ VĂN LỢI, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

57. NGUYỄN THỊ THANH MAI, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

58. PHAN VĂN MÃI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội khóa XV.

59. LÊ QUANG MẠNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng Ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.

60. LÂM VĂN MẪN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa XV.

61. TRẦN THANH MẪN, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội.

62. LÊ QUỐC MINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

63. TRẦN HỒNG MINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

64. PHẠM HOÀI NAM, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

65. HÀ THỊ NGA, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

66. LÊ THỊ NGA, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội khóa XV.

67. NGUYỄN THANH NGHỊ, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

68. NGUYỄN TRỌNG NGHĨA, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

69. BÙI VĂN NGHIÊM, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương.

70. TRẦN THANH NGHIÊM, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Đô đốc Hải quân, Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng.

71. NGUYỄN QUANG NGỌC, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

72. NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Tài chính.

73. CHIÊM THỐNG NHẤT, Thiếu tướng, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 9, Bộ Quốc phòng.

74. NGUYỄN HẢI NINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

75. LA CÔNG PHƯƠNG, Trung tướng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 1, Bộ Quốc phòng.

76. LÊ HỒNG QUANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương.

77. LƯƠNG TAM QUANG, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an.

78. NGUYỄN VĂN QUẢNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

79. VŨ HẢI QUÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ.
80. THÁI THANH QUÝ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

81. TRỊNH VĂN QUYẾT, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

82. HOÀNG MINH SƠN, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

83. NGUYỄN KIM SƠN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
84. VŨ HỒNG SƠN Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng.

85. ĐỖ TIẾN SỸ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam
86. NGUYỄN THÀNH TÂM, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

87. LÊ ĐỨC THÁI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

88. TRẦN HỒNG THÁI, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
89. LÂM THỊ PHƯƠNG THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

90. NGUYỄN THỊ THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội.

91. TRẦN SỸ THANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

92. ĐINH HỮU THÀNH, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

93. NGUYỄN TRƯỜNG THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

94. NGUYỄN VĂN THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

95. PHẠM TẤT THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.
96.TÀO ĐỨC THẮNG, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội.
97. TRẦN ĐỨC THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

98. LÊ XUÂN THẾ, Trung tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 7, Bộ Quốc phòng.

99. LÊ XUÂN THUÂN, Thiếu tướng, Phó Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân đoàn 12, Bộ Quốc phòng.

100. LÊ THỊ THỦY, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ.

101. NGUYỄN HUY TIẾN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
102. ĐẶNG KHÁNH TOÀN, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

103. TRƯƠNG THIÊN TÔ, Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

104. LÊ TẤN TỚI, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội khóa XV.

105. PHẠM THỊ THANH TRÀ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.

106. NGUYỄN HẢI TRÂM, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Tòa án nhân dân tối cao.

107. LÊ MINH TRÍ, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương.

108. HÀ QUỐC TRỊ, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

109. LÊ HOÀI TRUNG, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

110. TRẦN CẨM TÚ, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương.

111. NGÔ VĂN TUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Tổng Kiểm toán nhà nuớc.

112. NGUYỄN ANH TUẤN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

113. PHẠM GIA TÚC, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

114. HOÀNG THANH TÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội khóa XV.

115. PHẠM THẾ TÙNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

116. ĐỖ XUÂN TỤNG Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

117. LÊ VĂN TUYẾN, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

118. NGUYỄN THỊ TUYẾN, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

119. BÙI THỊ QUỲNH VÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương.

120. NGUYỄN ĐẮC VINH, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khóa XV.

121. NGUYỄN MINH VŨ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao.

122. VÕ THỊ ÁNH XUÂN, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước.
123. DƯƠNG TRUNG Ý, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản

KHỐI ĐỊA PHƯƠNG

124. CAO THỊ HÒA AN, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đắk Lắk.
125. PHAN THĂNG AN, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng.

126. NGUYỄN DOÃN ANH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa.

127. NGUYỄN HOÀI ANH, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa.
128. PHẠM ĐỨC ẤN, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng.
129. LÊ NGỌC CHÂU, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng.
130. LÊ TIẾN CHÂU, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV thành phố Hải Phòng.
131. NGÔ CHÍ CƯỜNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa XV tỉnh Đồng Tháp.
132. QUẢN MINH CƯỜNG, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Quảng Ninh.
133. TRẦN TIẾN DŨNG, Bí thư Tỉnh ủy Điện Biên.
134. PHẠM ĐẠI DƯƠNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ.
135. NGUYỄN TRỌNG ĐÔNG, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội.
136. NGUYỄN VĂN ĐƯỢC, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh.
137. NGUYỄN HOÀNG GIANG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi.
138. NGUYỄN HỒ HẢI, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau.
139. NGUYỄN TIẾN HẢI, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy An Giang.
140. TÔN NGỌC HẠNH, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Nai.
141. NGUYỄN MẠNH HÙNG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tây Ninh.
142. TRỊNH VIỆT HÙNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lào Cai.
143. Y THANH HÀ NIÊ KDĂM, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Lâm Đồng.
144. HOÀNG QUỐC KHÁNH, Bí thư Tỉnh ủy Lạng Sơn.
145. NGUYỄN DUY LÂM, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh.
146. TRẦN VĂN LÂU, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long.
147. HẦU A LỀNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang.
148. NGUYỄN PHƯỚC LỘC, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh.
149. VÕ VĂN MINH, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh.
150. HỒ VĂN MỪNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang.
151. HỒ VĂN MƯỜI, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng.
152. LÊ MINH NGÂN, Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu.
153. NGUYỄN HỮU NGHĨA, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên.
154. HOÀNG VĂN NGHIỆM, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Sơn La.
155. NGUYỄN DUY NGỌC, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội.
156. PHẠM QUANG NGỌC, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên.
157. THÁI ĐẠI NGỌC, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai.
158. HỒ VĂN NIÊN, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.
159. ĐẶNG XUÂN PHONG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Ninh Bình.
160. LÊ QUỐC PHONG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

161. TRẦN PHONG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa.
162. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị.
163. LÊ NGỌC QUANG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng.
164. TRẦN LƯU QUANG, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
165. NGUYỄN VĂN QUYẾT, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh.
166. NGUYỄN HỒNG THÁI, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh.
167. ĐỒNG VĂN THANH, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Cần Thơ.
168. NGHIÊM XUÂN THÀNH, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa.
169. VŨ ĐẠI THẮNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội.
170. NGUYỄN KHẮC THẬN, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An.
171. NGUYỄN KHẮC TOÀN, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Huế.
172. LƯƠNG NGUYỄN MINH TRIẾT, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk.
173. NGUYỄN ĐÌNH TRUNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Huế.
174. TRỊNH XUÂN TRƯỜNG, Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên.
175. PHẠM ANH TUẤN, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai.
176. TRẦN HUY TUẤN, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình.
177. VƯƠNG QUỐC TUẤN, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên.
178. LÊ QUANG TÙNG, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ.
179. VŨ HỒNG VĂN, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh Đồng Nai.
180. HỒ THỊ HOÀNG YẾN, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Vĩnh Long.


DANH SÁCH ỦY VIÊN DỰ KHUYẾT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

1. NGUYỄN HẢI ANH, Đại tá, Phó Tư lệnh Quân đoàn 12, Bộ Quốc phòng.
2. NGUYỄN TUẤN ANH, Phó Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu.
3. NGUYỄN MẠNH CƯỜNG, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh.
4. BÙI QUỐC DŨNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước.
5. NGUYỄN HUY DŨNG, Ủy viên chuyên trách Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
6. NGUYỄN MINH DŨNG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Long.
7. BÙI THẾ DUY, Ủy viên dự khuyết Trung ương 
 BÙI THẾ DUY, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
8. TRẤN DUY ĐÔNG, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ.
9. VŨ MẠNH HÀ, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế.
10. LÊ HẢI HÒA, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng.
11. U HUẤN, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH khóa XV tỉnh, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Quảng Ngãi.
12. ĐỖ HỮU HUY, Phó Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk.
13. NGUYỄN HỒNG PHONG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Thanh Hóa.
14. BÙI HOÀNG PHƯƠNG, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
15. TRẦN QUÂN, Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính.
16. TRẦN ĐĂNG QUỲNH, Thiếu tướng, Trợ lý đồng chí Tổng Bí thư, sỹ quan Công an Nhân dân biệt phái.
17. NGUYỄN MINH TRIẾT, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy cơ quan, Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam.
18. HỒ XUÂN TRUỜNG, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Khánh Hòa.
19. BÙI ANH TUẤN, Trợ lý đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư.
20. MÙA A VẢNG, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Điện Biên./.



Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HÔM NAY, ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG TIẾN HÀNH CÁC BƯỚC CÔNG TÁC NHÂN SỰ, BẦU BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHÓA MỚI

    Ngày 22-1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục bước sang nội dung ngày làm việc thứ ba.

Sau một ngày thảo luận tập trung sôi nổi, dân chủ, thẳng thắn, chất lượng tại hội trường, theo chương trình kế hoạch, hôm nay, Đại hội sẽ tiến hành các bước thuộc nội dung công tác nhân sự. Trong đó, nội dung đặc biệt quan trọng trong ngày làm việc là các đại biểu sẽ bỏ phiếu kín bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Theo Quy định số 365-QĐ/TW ngày 30-8-2025 của Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng cần đáp ứng được các tiêu chuẩn như: Tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tính tiền phong, gương mẫu, tính xây dựng, tính chiến đấu, tính hành động, tính kỷ luật, tính nhân văn, năng lực, uy tín về mọi mặt.

Là những cán bộ được đào tạo cơ bản, có kiến thức toàn diện, được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, có tư duy đổi mới, tầm nhìn chiến lược, tâm huyết, trách nhiệm, tích cực tham gia thảo luận, đóng góp, hoạch định đường lối, chính sách và sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Có thành tích nổi trội, có kết quả, "sản phẩm" cụ thể trong quá trình công tác; có khả năng quy tụ, đoàn kết, thống nhất và huy động sức mạnh tổng hợp, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, nhiệm vụ của Đảng, chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới ở lĩnh vực, địa bàn công tác được phân công quản lý, phụ trách.

Cùng với đó, có năng lực dự báo, xử lý, ứng phó kịp thời, hiệu quả những tình huống đột xuất, bất ngờ; có khả năng làm việc độc lập. Có tố chất, năng lực lãnh đạo, quản lý cấp chiến lược; có hoài bão, khát vọng đổi mới vì nước, vì dân. Kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu, lợi ích nhóm. Đồng thời, đã kinh qua và hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp dưới trực tiếp và tương đương. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định.

Đối với Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, theo Quy định 365-QĐ/TW, phải đáp ứng các tiêu chuẩn như: Là những cán bộ trẻ; cơ bản đáp ứng được tiêu chuẩn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quyết liệt, hiệu quả trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; hiểu biết tình hình trong nước, khu vực và thế giới; có khả năng tham gia, đóng góp ý kiến và đề xuất những vấn đề thực tiễn đặt ra để Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận, quyết định.

Qua thực tiễn công tác thể hiện có năng lực, tố chất lãnh đạo, quản trị, quản lý, hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chức vụ đã kinh qua, có triển vọng phát triển và có khả năng đáp ứng ngay khi có yêu cầu phân công, bố trí đảm nhiệm chức danh lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị có cơ cấu Ủy viên Trung ương Đảng. Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định.

Về số lượng Ủy viên Trung ương Đảng, theo Điều lệ Đảng hiện nay, số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương do Đại hội đại biểu toàn quốc quyết định./.
Yêu nước ST.

QUY TRÌNH BẦU BỘ CHÍNH TRỊ, TỔNG BÍ THƯ, BAN BÍ THƯ, CHỦ NHIỆM ỦY BAN KIỂM TRA TRUNG ƯƠNG!

     Ngay sau khi được Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản bầu, Ban Chấp hành Trung ương khóa mới sẽ tiến hành Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Liên quan đến công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng, tại các Hội nghị Trung ương 13, 14, 15 khóa XIII, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất giới thiệu nhân sự (tái cử và tham gia lần đầu; chính thức và dự khuyết) vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, đồng thời thông qua Báo cáo và danh sách đề cử nhân sự giới thiệu để trình Đại hội XIV xem xét, bầu cử theo quy định.

Theo quy định, Đại hội sẽ tiến hành bầu Ủy viên Trung ương Đảng khóa mới. Danh sách trúng cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa mới sẽ được công bố tại Đại hội.

Sau khi Đại hội Đảng toàn quốc bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa mới, Trung ương sẽ tiến hành Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, để bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương khóa mới sau đó sẽ ra mắt tại Đại hội.

Quyết định 190/2024 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về quy chế bầu cử trong Đảng. Theo đó, việc bầu cử ở đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng do đại hội quyết định.

Đối với việc bầu Bộ Chính trị, quy trình bầu được quy định theo các bước sau:

1. Phiên họp thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do Tổng Bí thư khóa trước (tái cử hoặc không tái cử) làm triệu tập viên khai mạc và chủ trì cho đến khi bầu xong Đoàn Chủ tịch hội nghị. Trường hợp Tổng Bí thư khóa trước không thể làm triệu tập viên thì Đoàn Chủ tịch Đại hội cử triệu tập viên.

2. Đoàn Chủ tịch Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng báo cáo về đề án và đề nghị số lượng Ủy viên Bộ Chính trị cần bầu.

3. Hội nghị thảo luận, biểu quyết về số lượng Ủy viên Bộ Chính trị.

4. Đoàn Chủ tịch báo cáo danh sách những đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá trước đề cử vào Bộ Chính trị.

5. Tiến hành ứng cử, đề cử.

6. Họp tổ để thảo luận.

7. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách những người tự ứng cử, được đề cử; đề xuất những trường hợp được rút và không được rút khỏi danh sách bầu cử, báo cáo hội nghị xem xét, quyết định.

Lấy phiếu xin ý kiến của hội nghị đối với những người ứng cử, được đề cử tại hội nghị (nếu cần).

8. Lập danh sách bầu cử, hội nghị biểu quyết thông qua số lượng và danh sách bầu cử Bộ Chính trị.

9. Bầu cử, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử.

Quy trình bầu Tổng Bí thư

Quyết định 190 nêu rõ quy trình bầu Tổng Bí thư gồm 5 bước:

1. Đoàn Chủ tịch báo cáo về yêu cầu, tiêu chuẩn Tổng Bí thư và dự kiến nhân sự Tổng Bí thư được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa trước giới thiệu, ý kiến giới thiệu của Bộ Chính trị khóa mới, kết quả giới thiệu nhân sự Tổng Bí thư của đại hội để hội nghị tham khảo.

2. Họp tổ để thảo luận và tiến hành ứng cử, đề cử.

3. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách những người tự ứng cử, được đề cử; đề xuất những trường hợp được rút và không được rút khỏi danh sách bầu cử, báo cáo hội nghị xem xét, quyết định; lấy phiếu xin ý kiến của hội nghị đối với những người ứng cử, được đề cử tại hội nghị (nếu cần).

4. Lập danh sách bầu cử, hội nghị biểu quyết thông qua số lượng và danh sách bầu cử.

5. Bầu cử, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử.

Điều 25 Quyết định 190 quy định về các bước bầu Ban Bí thư, gồm:

1. Tổng Bí thư thay mặt Đoàn Chủ tịch Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng báo cáo về đề án và đề nghị số lượng Ủy viên Ban Bí thư cần bầu.

2. Hội nghị thảo luận, biểu quyết về số lượng Ủy viên Ban Bí thư.

3. Đoàn Chủ tịch báo cáo danh sách những đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa trước đề cử vào Ban Bí thư.

4. Tiến hành ứng cử, đề cử.

5. Họp tổ để thảo luận.

6. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách những người tự ứng cử, được đề cử; đề xuất những trường hợp được rút và không được rút khỏi danh sách bầu cử, báo cáo hội nghị xem xét, quyết định.

Lấy phiếu xin ý kiến của hội nghị đối với những người tự ứng cử, được đề cử tại hội nghị (nếu cần).

7. Lập danh sách bầu cử, hội nghị biểu quyết thông qua số lượng và danh sách bầu cử Ban Bí thư.

8. Bầu cử, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử.

Quy trình bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Quyết định 190 quy định quy trình bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 5 bước.

1. Đoàn Chủ tịch báo cáo về yêu cầu, tiêu chuẩn Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; nhân sự được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa trước dự kiến giới thiệu (nếu có) và ý kiến giới thiệu của Bộ Chính trị khóa mới.

2. Tiến hành ứng cử, đề cử.

3. Đoàn Chủ tịch tổng hợp danh sách những người tự ứng cử, được đề cử; đề xuất những trường hợp được rút và không được rút khỏi danh sách bầu cử, báo cáo hội nghị xem xét, quyết định.

Lấy phiếu xin ý kiến của hội nghị đối với các trường hợp tự ứng cử, được đề cử tại hội nghị (nếu cần).

4. Lập danh sách bầu cử, hội nghị biểu quyết thông qua số lượng và danh sách bầu cử.

5. Bầu cử, kiểm phiếu, công bố kết quả bầu cử./.
Yêu nước ST.

“DÂN LÀ GỐC” TRONG BÁO CÁO TRÌNH ĐẠI HỘI XIV: ĐIỂM TỰA BỀN VỮNG NHẤT, “HẠ TẦNG MỀM” QUAN TRỌNG NHẤT!

     Trong Báo cáo trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tổng Bí thư đã nhấn mạnh “Dân là gốc” không chỉ như một tư tưởng xuyên suốt, mà còn đặt trực tiếp trong nhóm các bài học lớn có ý nghĩa phương pháp luận đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo, cầm quyền. Việc đưa "Dân là gốc" vào phần bài học- chứ không chỉ ở phần định hướng hay kết luận - cho thấy đây không phải là một khẩu hiệu giá trị, mà là một nguyên tắc chỉ đạo hành động.

Bài học ấy được diễn đạt với nội hàm rất cụ thể: quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”; phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân; củng cố và phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; thực hành đầy đủ "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Đặc biệt, Báo cáo nhấn mạnh việc lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ.

Cách đặt vấn đề này cho thấy “Dân là gốc” đã được nâng lên thành một bài học về phương pháp lãnh đạo, chi phối cách tổ chức quyền lực, cách vận hành bộ máy và cách tự đánh giá năng lực lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên mới.

Từ đạo lý lịch sử đến phương pháp lãnh đạo hiện đại

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, “Dân là gốc” trước hết là một chân lý đạo lý, một nguyên tắc nền tảng giúp Đảng quy tụ, tổ chức và phát huy sức mạnh Nhân dân trong đấu tranh giành độc lập và xây dựng đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, điều cốt yếu không chỉ là khẳng định tư tưởng đúng, mà là chuyển hóa tư tưởng ấy thành phương pháp lãnh đạo hiệu quả.

Báo cáo của Tổng Bí thư cho thấy một bước chuyển rất rõ: “Dân là gốc” không còn dừng ở tinh thần “vì dân”, mà được cụ thể hóa thành cách thức tổ chức mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chuỗi thực hành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” phản ánh một tư duy quản trị hiện đại, trong đó Nhân dân tham gia thực chất vào toàn bộ vòng đời của chính sách công, từ hình thành đến thực thi và đánh giá.

Chính ở đây, “Dân là gốc” được nâng cấp từ một giá trị đạo lý thành một thiết kế vận hành của hệ thống chính trị, gắn trực tiếp với hiệu quả thực tế và chất lượng quản trị quốc gia.

Dân là gốc như nền tảng của kiểm soát quyền lực và xây dựng Đảng

Một nội dung có ý nghĩa tư tưởng rất sâu sắc trong Báo cáo là mệnh đề: dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Mệnh đề này hàm chứa một nhận thức rất sâu sắc: Quyền lực không thể tự kiểm soát hoàn toàn từ bên trong, mà cần được đặt trong mối quan hệ thường trực với Nhân dân.

Ở đây, “Dân là gốc” trở thành nền tảng tư tưởng của kiểm soát quyền lực từ xã hội. Sự giám sát của Nhân dân không chỉ giúp phát hiện sai lệch, mà còn tạo ra động lực để Đảng tự chỉnh đốn, tự đổi mới và giữ vững mối liên hệ máu thịt với dân. Đây là một bước phát triển quan trọng trong tư duy xây dựng Đảng cầm quyền: từ nhấn mạnh kỷ luật nội bộ sang kết hợp chặt chẽ giữa kỷ luật nội bộ và giám sát xã hội.

Lấy sự hài lòng của Nhân dân làm chuẩn mực đánh giá quyền lực

Một điểm mới có giá trị lý luận và thực tiễn nổi bật là yêu cầu lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ. Đây là sự nâng cấp rất rõ của tư tưởng “Dân là gốc”.

Khi tiêu chí đánh giá cán bộ được gắn với sự hài lòng của Nhân dân, quyền lực được tái định nghĩa theo hướng quyền lực phục vụ. Chức vụ, thẩm quyền hay quy trình không còn là thước đo chủ yếu; thay vào đó, kết quả tạo ra cho xã hội và cho người dân trở thành chuẩn mực quyết định. Điều này đánh dấu sự chuyển dịch từ tư duy “đúng quy trình” sang tư duy "đúng với cuộc sống", cần cho cuộc sống, từ chú trọng ban hành chính sách sang chú trọng tác động thực chất của chính sách.

Ở tầm hệ tư tưởng, đây là bước tiến quan trọng trong việc xác lập chuẩn mực chính danh mới của quyền lực chính trị trong điều kiện phát triển hiện nay.

Dân là gốc trong tầm nhìn chiến lược: Nền tảng của thế trận lòng dân và phát triển bền vững

Trên nền tảng bài học và phương pháp lãnh đạo được đổi mới, Báo cáo tiếp tục khẳng định ở tầm nhìn chiến lược: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Tư tưởng này hoàn chỉnh bức tranh được nâng cấp “Dân là gốc” từ phương pháp lãnh đạo đến triết lý phát triển.

Đồng thời, Báo cáo đặt “Dân là gốc” trong mối liên hệ trực tiếp với thế trận lòng dân. Lòng dân vững thì quốc phòng, an ninh vững; lòng dân vững thì cải cách mới đi tới cùng; lòng dân vững thì những khó khăn, thách thức lớn cũng có thể vượt qua. Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh và cạnh tranh chiến lược gay gắt, “thế trận lòng dân” chính là hạ tầng mềm quan trọng nhất của quốc gia, là điểm tựa để triển khai thành công mọi chiến lược lớn.

Nền tảng tư tưởng cho kỷ nguyên mới

Nhìn tổng thể, có thể thấy Báo cáo của Tổng Bí thư đã thực hiện một bước nâng cấp toàn diện tư tưởng “Dân là gốc”: Từ chân lý đạo lý của lịch sử, thành phương pháp lãnh đạo chỉ đạo hiện đại; từ nguyên tắc chính trị chung, thành cơ chế kiểm soát quyền lực; từ mục tiêu phát triển, thành chuẩn mực đánh giá hiệu quả lãnh đạo.

Khi “Dân là gốc” trở thành hệ tư tưởng hành động, chi phối cách Đảng nhìn nhận phát triển, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo và tự đánh giá mình, đó cũng là lúc Đảng bước vào kỷ nguyên mới với niềm tin chiến lược lớn hơn, nhưng đồng thời với trách nhiệm trước Nhân dân cao hơn bao giờ hết. Nói giản dị, như chính phát biểu của Tổng Bí thư: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải biết xấu hổ khi dân còn khó khăn, nghèo đói”. Chính điều ấy tạo nên điểm tựa bền vững nhất cho con đường phát triển lâu dài, bền vững của đất nước./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TÔNG THỐNG NGA “TƯ VẤN” CHO TỔNG THỐNG MỸ VỀ VIỆC MUA GREENLAND!

     Giữa lúc ông Trump đang ép Đan Mạch nhả Greenland, Tổng thống Nga Vladimir Putin bất ngờ lên tiếng với vai trò... thẩm định giá, kiêm luôn tư vấn lịch sử cực gắt.

Ông Putin so sánh rất thực tế:
• Ngày xưa Nga bán Alaska cho Mỹ giá 7 triệu đô (quy đổi tỷ giá hiện tại khoảng 160 triệu đô).
• Greenland to hơn Alaska một chút, nên giá tầm 250 triệu đô là thuận mua vừa bán.
• Nếu quy ra vàng thì con số chốt hạ đâu đó khoảng 1 Tỷ USD.

Để củng cố tinh thần cho Trump, ông Putin nhắc khéo: Cách đây hơn trăm năm, Đan Mạch cũng từng bán Quần đảo Virgin cho Mỹ rồi, nên việc bán đất không phải chuyện lạ với Copenhagen. Ông cũng không quên chỉ trích Đan Mạch đã đối xử khắc nghiệt với người dân bản địa Greenland.

🕊️ Về “Hội đồng Hòa bình (Peace Council)
Khi được hỏi về việc Nga tham gia tổ chức mới này, ông Putin xác nhận sẵn sàng sơ bộ. Ông nói nếu cần đóng phí gia nhập 1 tỷ đô, thì cứ việc lấy từ số tài sản của Nga đang bị phương Tây phong tỏa mà dùng!

Trump nghe xong chắc mở cờ trong bụng. Tự nhiên có người ủng hộ, lại còn định giá rẻ bèo (1 tỷ đô với Mỹ chỉ là tiền lẻ).

Với Putin, một mũi tên trúng hai đích. Vừa lấy lòng Trump, vừa “đá xoáy” Đan Mạch, lại vừa hợp thức hóa việc dùng tiền bị đóng băng để trả phí ngoại giao. Kiểu lấy mỡ nó rán nó này đúng là chỉ có bác Tin mới nghĩ ra!

Đan Mạch giờ này chắc đang “toát mồ hôi hột” khi thấy hai ông lớn bắt đầu tung hứng với nhau trên đầu mình./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA LÊNIN!

▪︎Lênin tiếp người dân vì “bị nói là không hiểu chính sách”
Một nông dân bị cán bộ quở trách vì “không hiểu chính sách”, nên tìm đến Lênin.
Lênin hỏi: - “Họ có giải thích cho đồng chí không?”
Người nông dân đáp: - “Không. Họ chỉ nói tôi phải hiểu.”
Lênin nói: - “Chính sách mà dân phải tự đoán thì đó là lỗi của người làm chính sách.”
Ông nhấn mạnh trách nhiệm giải thích thuộc về chính quyền, không phải người dân.

▪︎ Lênin tiếp người dân vì “cán bộ hay nhìn đồng hồ”
Một mẩu chuyện rất nhỏ: một người dân nhận xét rằng cán bộ tiếp dân thường nhìn đồng hồ, tỏ ra sốt ruột.
Lênin hỏi: - “Đồng chí cảm thấy thế nào?”
Người dân đáp: - “Tôi thấy mình đang làm phiền.”
Lênin nói: - “Khi dân cảm thấy mình là gánh nặng, thì chính quyền đã thất bại.”

▪︎ Lênin tiếp người dân vì “không ai nói lời xin lỗi”
Một người công nhân nói rằng dù cán bộ làm sai và đã sửa, nhưng không ai nói một lời xin lỗi.
Lênin hỏi: - “Điều đó khiến đồng chí nghĩ gì?”
Người công nhân đáp: — “Rằng họ không coi tôi là người ngang hàng.”
Lênin gật đầu: - “Xin lỗi không làm chính quyền yếu đi. Nó làm chính quyền đáng tin hơn.”

▪︎ Lênin tiếp người dân vì “chỉ nghe cấp trên, không nghe dân”
Một cán bộ địa phương bị dân phản ánh rằng chỉ làm theo chỉ thị cấp trên, không nghe thực tế.

Lênin hỏi: - “Nếu chỉ thị sai thì sao?”
Cán bộ im lặng.
Lênin nói: - “Không có chỉ thị nào miễn trừ trách nhiệm trước nhân dân

▪︎Lênin tiếp người dân vì “cán bộ chỉ tin giấy, không tin người”
Một người nông dân đến gặp Lênin, nói rằng dù ông trình bày rất rõ hoàn cảnh, cán bộ vẫn khăng khăng đòi đủ giấy tờ mới chịu giải quyết.
Lênin hỏi: - “Đồng chí có nói rõ hoàn cảnh của mình không?”
Người nông dân đáp: - “Có, nhưng họ nói chỉ tin giấy.”
Lênin nói: - “Giấy tờ là để giúp hiểu con người, chứ không phải để thay thế con người.”
Ông nhấn mạnh rằng khi giấy tờ mâu thuẫn với thực tế sống, thì phải kiểm tra lại giấy tờ, không được phủ nhận thực tế./.


QV-ST!

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: VỀ BỨC ẢNH MÀ CỘNG ĐỒNG MẠNG ĐANG LAN TRUYỀN!

     Từ trưa qua đến nay, cộng đồng mạng lan truyền một đoạn clip kèm ảnh cắt từ sóng truyền hình trực tiếp của VTV, ghi lại cảnh đại biểu Nguyễn Kim Sơn ngủ gật chỉ ít phút sau khi phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng bắt đầu. Thú thật, trước giờ tôi cũng không khắt khe lắm chuyện “ngủ gật”, vì có lúc chính mình cũng phải thức đêm học bài, làm việc… Nhưng cái tư thế “ngủ gật” ở một không gian như Đại hội Đảng toàn quốc là điều không thể xem nhẹ.

Đại hội Đảng không phải buổi họp thường lệ để ai mệt thì… ngủ gật. Đây là nơi hoạch định đường hướng, nơi kết tinh ý chí chính trị, nơi bàn chuyện “trăm năm” của đất nước. Vì vậy, nếu ở đó lại xuất hiện hình ảnh gục đầu, mắt nhắm thì không còn là chuyện “mệt” nữa. Đó là chuyện kỷ luật. Đó là chuyện nêu gương. Và sâu hơn, đó là chuyện tôn trọng tổ chức, tôn trọng Đại hội, tôn trọng nhân dân.

Đảng ta nói nêu gương không phải bằng lời cho vui. Quy định số 08-QĐi/TW (25/10/2018) nêu rõ cán bộ, đảng viên (trước hết là cán bộ cấp cao) phải nghiêm chỉnh chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; đồng thời gương mẫu thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương. Nêu gương là cái “đứng trước”. Đã đứng trước thì không chỉ đúng ở chuyện lớn, mà còn phải mực thước ở chuyện nhỏ như là dáng ngồi, thái độ lắng nghe, tinh thần tập trung trong công việc.

Rồi mới đây, Bộ Chính trị cũng ban hành Quy định số 144-QĐ/TW (09/5/2024) về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới. Văn bản này nhắc lại, siết lại và làm rõ nền đạo đức của người đảng viên trong giai đoạn mới. Vậy mà ở nơi trang nghiêm bậc nhất của tổ chức Đảng, Đại biểu Sơn lại “ngủ gục” chỉ sau mấy phút khai mạc, thì xin hỏi là cái chuẩn mực ấy nằm ở đâu trong tư thế ấy? 

Rõ là mỉa mai!

Bác Hồ từng có lời dạy mà tôi rất tâm đắc rằng “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.” Thời trước, câu đó đúng vì “làm” quan trọng hơn “nói”. Thời nay, câu đó còn đúng hơn theo kiểu… nhức nhối hơn là... dân ít đọc hết văn kiện, nhưng dân xem clip, xem ảnh thì rất nhanh. Một phút lơ là thôi là có thể đục vào niềm tin của nhân dân nhanh hơn cả trăm trang giải thích.

Có người sẽ bao biện rằng “Người ta làm việc nhiều, mệt là bình thường.” Tôi xin phép nói thẳng, mệt thì ai không mệt? Nhưng mệt không thể là cái cớ để hạ thấp chuẩn mực kỷ cương ở nơi tập trung quyền lực tối cao của Đảng. Người đảng viên mà quen lấy “mệt” ra để biện hộ cho sự buông thả bản thân, thì mai mốt lấy gì để nhắc dân phải “kỷ luật”, nhắc học trò phải “chuyên cần”, nhắc cán bộ phải “trách nhiệm”?

Tôi cũng không ủng hộ kiểu lấy câu chuyện của đại biểu Sơn để chế giễu, bởi không ai muốn một sự kiện lớn của đất nước bị đem ra làm trò cười. Nhưng tôi cũng không đồng ý kiểu “im luôn cho yên”. Vì im lặng là dung dưỡng cái sai. Cái sai nhỏ mà dung dưỡng hoài thì thành thói quen. Mà thói quen, một khi len vào tác phong chính trị, sớm muộn cũng làm hỏng khí chất của tổ chức Đảng.

Cho nên, nếu clip và ảnh đang lan truyền phản ánh đúng sự việc, thì câu chuyện cần được nhìn nhận đúng bản chất của nó, rằng đây là dấu hiệu của sự xuống cấp của tác phong nêu gương — ít nhất ở khoảnh khắc đó. Và điều cần nhất không phải là chửi rủa ông Nguyễn Kim Sơn cho hả hê. Điều cần nhất lúc này là làm sao để ông Sơn tự thấy xấu hổ mà tự sửa; đồng thời tổ chức Đảng nơi ông công tác cũng phải chấn chỉnh kỷ luật, chấn chỉnh tác phong đúng mức. Đảng ta càng siết công tác xây dựng, chỉnh đốn thì càng phải nghiêm với những “chi tiết nhỏ” như vậy, vì nó chạm thẳng vào lòng tin của nhân dân.

Cuối cùng, tôi muốn nói thế này... Đại hội Đảng là nơi người ta “thức” cùng vận mệnh đất nước, không phải nơi để dân nhìn vào rồi… thức trắng vì buồn./.
Môi trường ST.