Sau khi
C.Mác và Ph.Ăngghen chuyển hẳn sang lập trường duy vật và cộng sản chủ
nghĩa, hai ông đã hợp tác chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn để hình thành nên học thuyết của
mình.
Tháng 10 năm 1843, C.Mác quyết
định rời nước Đức sang Pari, nơi có nền công nghiệp phát triển và một giai cấp
vô sản đang trưởng thành với một khí thế cách mạng sôi sục. Mục đích của C.Mác là đi vào phong trào công nhân và hoạt động cách mạng chứ không phải chỉ để
xem xét.
Cuối năm 1844,
Ph.Ăngghen từ Luân Đôn trở về Đức, gặp C.Mác tại Pari lần thứ hai, từ đây hai ông đã cộng tác gắn bó với nhau
chẳng những trong công tác lý luận, hoạt động thực tiễn mà cả trong cuộc sống
gần 40 năm.
Trong thời gian từ năm 1844 đến năm1847, thông qua
những tác phẩm viết chung và viết riêng, người ta nhận thấy diễn ra quá trình
chín muồi dần những quan điểm duy vật về lịch sử, về kinh tế chính trị và về
chủ nghĩa xã hội khoa học.
Về chủ nghĩa xã hội khoa học, những phạm trù cơ bản
như: vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản; cách mạng vô sản; vấn đề giai
cấp vô sản giành chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản; vấn đề xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa
đối với tư liệu sản xuất, xóa bỏ giai cấp, áp bức, bóc lột; xây dựng một phương
thức lao động liên hiệp của những người lao động tự do và sáng tạo... dần được
hình thành và hoàn thiện trong nhận thức và lý luận. Những tư tưởng và quan điểm cộng sản chủ nghĩa của C.Mác và Ph.Ăngghen đã
từng bước được thể hiện trong các tác phẩm viết chung và
viết riêng của hai Ông.
Đầu năm 1844, trong lời nói đầu cuốn “Góp phần phê phán triết học Pháp quyền của Hêghen” C.Mác
đã trình bày nhiều tư tưởng quan trọng về phương diện xã hội chính trị. C.Mác
cho rằng, chỉ có cách
mạng vô sản mới giải phóng đất nước khỏi tình trạng lạc hậu, xấu xa hiện nay và lực lượng duy nhất có khả năng
tiến hành cuộc cách mạng đó là giai cấp vô sản. Trong tác phẩm này, C.Mác đã
phân tích sự ra đời của giai cấp vô sản, vai trò của cách mạng bạo lực, tầm
quan trọng của lý luận và sự cần thiết phải kết hợp lý luận với phong trào quần
chúng. C.Mác viết: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thay thế được sự phê
phán vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất;
nhưng bằng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập
vào quần chúng”[1].
Lý giải
về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, theo C.Mác chính con người đã sáng tạo ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo đã sáng
tạo ra con người. “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái
tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những
trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”[2]. Do đó, xóa bỏ tôn giáo là xóa bỏ
hạnh phúc hư ảo của nhân dân, là yêu cầu thực hiện hạnh phúc thực sự của nhân
dân. Việc phê phán tôn giáo đang làm cho con người thóat khỏi ảo tưởng, để con
người suy nghĩ hành động, xây dựng tính hiện thực của mình với tư cách là con
người thóat khỏi ảo tưởng, trở nên có lý tính, để con người xoay quanh bản thân
mình với các mặt trời thật của mình.
Vì vậy, nhiệm vụ của lịch sử -
sau khi cái chân lý của thế giới bên kia mất đi - là xác lập chân lý của thế
giới bên này... Phê phán thượng giới biến thành phê phán cõi trần, phê phán tôn
giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phán thần học biến thành phê phán
chính trị.
Về giai cấp vô sản, C.Mác khẳng định nó là kết quả
của sự phát triển công nghiệp đang bắt đầu
tự mở đường cho mình, vì “không phải sự nghèo khổ hình thành một cách tự phát
mà là sự nghèo khổ được tạo ra một cách nhân tạo”. Cho nên, khi tuyên bố giải
thể của trật tự của thế giới hiện hành, giai cấp vô sản chỉ làm cái việc là vạch
ra điều bí mật của sự tồn tại của chính nó, vì nó chính là sự tan rã thực tế
của trật tự thế giới ấy, và “giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí
vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của
mình”3.
Với một niềm tin sắt đá, C.Mác kết luận: “Sự giải phóng người Đức là sự giải
phóng con người. Đầu não của sự giải phóng ấy là triết học, trái tim của
sự giải phóng ấy là giai cấp vô sản”[3].
Tuy nhiên, vào lúc đó, C.Mác vẫn
chưa nhận thức một cách rõ ràng chế độ tư bản do mâu thuẫn và đấu tranh giai
cấp gay gắt dẫn đến cách mạng xã hội như thế nào và chỉ thấy rằng cách mạng vô
sản mới có thể giải phóng được con người nói chung chứ con đường, điều kiện,
biện pháp vẫn còn là những vấn đề chưa được đề cập một cách đầy đủ. Cho nên,
C.Mác còn phải đi sâu thêm về triết học, kinh tế, lịch sử, xã hội học, đặc biệt
là tìm hiểu sâu phong trào công nhân để nhận thức rõ hơn về chế độ tư bản và
những quy luật phát sinh, phát triển của nó.
Một trong những tác phẩm quan trọng của C.Mác là
“Bản thảo kinh tế - triết học” ra đời năm 1844. Tư tưởng chủ yếu của tác phẩm
này là vai trò quyết định của lao động, của sản xuất vật chất trong sự sáng tạo
ra chính bản thân con người và tiếp tục phát triển con người và xã hội loài
người nói chung. Trong khi sáng tạo và phát triển con người, lao động đồng thời
chiếm mất tất cả sức lực và thời gian của con người, nô dịch con người, dẫn đến
sự xuất hiện sở hữu tư nhân, bóc lột và các giai cấp. Theo C.Mác, đó là “lao
động bị tha hóa”. Muốn xóa bỏ sự tha hóa, phải xóa bỏ nguyên nhân đẻ ra nó, đó
là chế độ tư bản. Bởi vì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, lao động không còn là
hoạt động tự do sáng tạo cho mình và cho người khác mà lao động chủ yếu tạo ra
giá trị trao đổi, trong đó quan hệ trực tiếp giữa người lao động và sản phẩm
lao động của họ không còn nữa. Sản phẩm lao động của họ trở thành xa lạ đối với
họ, mối quan hệ giữa vật chất và người trong sản phẩm không còn nữa, những sản
phẩm ấy đã mất nhân tính. Nên sự trao đổi sản phẩm cũng không thể là một quan
hệ thực sự mình vì mọi người mà biến thành trao đổi hàng hóa, thành việc mua
bán, vì vậy, các quan hệ xã hội cũng mất nhân tính, theo nguyên tắc “trả tiền
ngay, lạnh lùng, không tình nghĩa”.
C.Mác đã chia những nghịch lý trong sự tha hóa của
công nhân với vật phẩm của họ: Công nhân càng sản xuất nhiều, càng tiêu dùng
ít; họ càng tạo ra giá trị thì bản thân họ càng mất giá trị, sản phẩm của họ
càng hoàn chỉnh thì họ càng méo mó; vật phẩm càng văn minh thì công nhân càng
dã man... lao động càng tinh tế thì công nhân càng mụ mẫm và càng trở thành nô
lệ của tự nhiên... lao động đã tạo ra bao nhiêu thứ tuyệt đẹp cho bọn giàu có,
nhưng đối với người lao động thì nó chỉ tạo ra sự xơ xác...
Theo C.Mác, sự tha hóa của người lao động không
phải là hiện tượng tư tưởng mà là một hiện tượng lịch sử - xã hội. Vì vậy,
không phải không khắc phục được tình trạng tha hóa, cũng không phải là khắc
phục nó chỉ bằng lý luận, mà phải bằng hoạt động thực tiễn. Việc xóa bỏ sự tha
hóa không phải là nhận thức chủ quan mà người ta có thể tuỳ ý tán thành hay
phản đối. Sự tha hóa không tự nó mất đi chỉ vì người ta nhận thấy nó là bất hợp
lý. Nhưng nó sẽ biến đi khi chế độ tư bản đẻ ra nó tiêu vong do những mâu thuẫn
nội tại của chủ nghĩa tư bản tất yếu phải chuyển sang chủ nghĩa cộng sản.
Nếu như trước kia C.Mác còn quan niệm chủ nghĩa
cộng sản như là một học thuyết giáo điều, thì sau hai năm từ 1843 - 1844 đi sâu nghiên cứu các trào lưu chủ
nghĩa xã hội không tưởng, kinh tế chính trị và phong trào hiện thực của giai
cấp công nhân Pháp, C.Mác đã quan niệm rõ hơn về giai cấp vô sản và về chủ
nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa cộng sản, theo C.Mác,
không còn là một sáng kiến tinh thần theo kiểu những nhà không tưởng, mà là kết
quả tất yếu của sự phát triển biện chứng của bản thân chế độ tư hữu. Chủ nghĩa
cộng sản là sự xóa bỏ một cách triệt để quyền tư hữu vốn là sự tha hóa con
người và đánh mất bản chất con người. Chủ nghĩa cộng sản là sự hoàn thiện của
chủ nghĩa nhân đạo, là giải quyết một cách căn bản sự đối lật giữa con người và
tự nhiên, giữa con người và con người, giữa bản chất và thực tại; giữa chủ thể
và khách thể... Tuy nhiên, về chủ nghĩa cộng sản, C.Mác vẫn quan niệm và diễn
đạt nhận thức của mình dưới góc độ triết học nhiều hơn và sự tất yếu diệt vong
của chủ nghĩa tư bản cũng như sự tất yếu ra đời của chủ nghĩa cộng sản vẫn còn
những hạn chế, chưa có tính thuyết phục cao.
Cũng vào thời gian này, năm 1844, Ph.Ăngghen viết
xong tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh”, “Tình cảnh nước Anh thế
kỷ XVIII” và tình cảnh nước Anh, Hiến pháp Anh”. Trong các tác phẩm này có
nhiều quan điểm tương đồng với quan điểm của Mác trong tác phẩm “Lời góp phần
phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen” và “Bản thảo kinh tế - triết học năm
1844”.
Ph.Ăngghen phân tích cuộc cách mạng công nghiệp
đang diễn ra ở Anh, cũng như những thay đổi sâu sắc về mặt xã hội và chính trị
do cuộc cách mạng Công nghiệp đó gây ra. Ph.Ăngghen phê phán gay gắt chế độ
chính trị ở Anh, vạch trần tính chất giả dối của hiến pháp Anh và nền dân chủ
tư sản. Cuối cùng Ph.Ăngghen đi đến kết luận về vai trò cách mạng của giai cấp
vô sản, về sự cần thiết đưa lý luận vào phong trào vô sản, về sự sụp đổ tất yếu
của chủ nghĩa tư bản, tất yếu của cách mạng vô sản và vai trò của cách mạng bạo
lực.
Ngoài những tác phẩm viết riêng, từ năm 1844 -
1846, C.Mác và Ph.Ăngghen đã hoàn thành hai tác phẩm viết chung nổi tiếng “Gia
đình thần thánh” và “Hệ tư tưởng Đức”.
Trong “Gia đình thần thánh”, hai ông xác định mối
quan hệ biện chứng giữa sự phát triển kinh tế và sự phát triển xã hội, phê phán
một cách hệ thống triết học duy tâm Hêghen, qua đó hoàn thiện những quan điểm
duy vật lịch sử mà nổi bật là vai trò của quần chúng và cá nhân trong lịch sử;
vai trò cách mạng, bản chất sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và con đường
thực hiện sứ mệnh đó chỉ có thể bằng cách mạng vô sản.
Tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” đã phát triển sâu, rộng
những quan điểm duy vật về lịch sử của hai ông. Trong tác phẩm này hai ông tiếp
tục phê phán triết học duy tâm, tư biện của Hêghen và phái “Hêghen trẻ”. Đồng
thời phân tích một cách có phê phán chủ nghĩa duy vật Phơ Bách, chỉ ra tính
chất thuần tuý của chủ nghĩa duy vật và những quan điểm duy tâm về xã hội của
Phoi ơ bắc. Hai ông chỉ rõ vai trò của lực lượng sản xuất là động lực phát
triển và là nội dung cơ bản nhất của phương thức sản xuất xã hội. Nếu ở các tác
phẩm trước, chủ nghĩa cộng sản còn được quan niệm như một thứ chủ nghĩa nhân
đạo hiện thực và ở góc độ triết học nhiều hơn, thì ở tác phẩm này, hai ông
khẳng định, xây dựng chủ nghĩa xã hội về thực chất là có tính chất kinh tế, là
tạo ra những điều kiện vật chất để thực hiện được một phương thức lao động sản
xuất liên hiệp.
Trong tác phẩm này, những quan điểm duy vật về lịch
sử được trình bày lần đầu tiên một cách tương đối có hệ thống:
Sản xuất vật chất là cơ sở của
lịch sử chứ không phải sự sản xuất ra các ý niệm. Quan hệ biện chứng giữa quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất là cơ sở tất yếu của các cuộc cách mạng xã
hội, nhằm xác lập lại sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. Đời sống quyết định ý
thức chứ không phải ý thức quyết định đời sống. Muốn cải tạo xã hội phải cải
tạo hiện thực vật chất, chứ không phải phê phán hiện thực tinh thần. Sự phát
triển của kinh tế - xã hội quyết định sự phát triển của tất cả các biểu hiện về
đời sống tinh thần; Sự phát triển của lịch sử là sự thay thế hình thái kinh tế
- xã hội này bằng hình thái kinh tế xã hội khác, diễn ra như một quá trình lịch
sử tự nhiên. Cho đến nay, lịch sử đã trải qua bốn hình
thái kinh tế - xã hội.
Sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời
chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản đều tất yếu như nhau. Quá trình đó đòi hỏi
một trình độ phát triển cao về vật chất và tinh thần, một giai cấp có tổ chức
và có ý thức về những mục đích cần thực hiện, đó là giai cấp vô sản.
Cách mạng vô
sản là cuộc cách mạng triệt để nhất, là con đường duy nhất đúng đắn thực hiện
sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản. Chủ nghĩa cộng sản là sự phản ánh về mặt lý luận
phong trào giai cấp vô sản và là mục đích của phong trào ấy. Nó không còn là
những học thuyết được sáng tạo ra từ đầu óc, mà phải đặt nó trên mảnh đất hiện
thực.
Cùng thời gian này, C.Mác còn viết “Luận cương về
Phơbach” (1845) và “Sự khốn cùng của triết học” (1846 - 1847). Trong Luận cương, khái niệm thực
tiễn được coi như hạt nhân của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận điểm: “Sự phù
hợp giữa sự thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động của con người, chỉ có thể được
quan niệm và được hiểu một cách hợp ý khi coi đó là thực tiễn cách mạng.”1 là những cơ sở lý luận quan trọng để C.Mác xây
dựng và hoàn thiện học thuyết của mình gắn liền với thực tiễn và phục vụ thực
tiễn, bảo đảm cho học thuyết của C.Mác chẳng những để nhận thức thế giới mà
quan trọng hơn là cải tạo thế giới.
Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, C.Mác
vừa phê phán những quan điểm kinh tế tiểu tư sản vừa phê phán khuynh hướng xã
hội chủ nghĩa không tưởng và bảo thủ của Pruđông. Theo nhận xét của V.I.Lênin,
đây là tác phẩm đầu tiên chín muồi về chủ nghĩa xã hội khoa học. Từ chỗ phê
phán sự không tưởng về kinh tế của Pruđông, C.Mác đã chuyển sang phân tích một
cách có phê phán phương pháp luận của ông ta, chỉ rõ phương pháp nghiên cứu của
Pruđông là phương pháp Hêghen được xào nấu một cách sống sượng, lại bị tước mất
“hạt nhân hợp lý”. Trong cuộc đấu tranh chống Pruđông, C.Mác đã phát triển
những nguyên lý về chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Tóm lại, đến những năm 1847 - 1848, khi những điều
kiện lịch sử cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học đã chín muồi, thông
qua hoạt động lý luận và thực tiễn của mình, C.Mác - Ph.Ăngghen đã sáng lập ra
chủ nghĩa xã hội khoa học.
[1] C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 1, “Lời nói đầu góp phần
phê phán triết học pháp quyền của Hêghen” (1927), Nxb Chính trị quốc gia Sự
thật, Hà Nội, 2002, tr.580.
[2] Sđd, tr.588.
[3] C.Mác và
Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 1, “Lời nói đầu góp phần phê phán triết
học pháp quyền của Hêghen” (1927), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2002, tr.589.
1 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 2, “Luận
cương về Phơbach” (1845),
Nxb Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.10.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét