Lý luận về hình thái kinh tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa, nhất là về thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được
C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển toàn diện và sâu sắc. Từ thực
tiễn Công xã Pari, C.Mác đã bước đầu nhận thức được những nội dung đầu tiên về
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ông cho rằng quá độ từ xã hội có giai cấp
sang không giai cấp là quá trình lịch sử lâu dài, sự tồn tại của các giai cấp gắn
với giai đoạn nhất định của sự phát triển sản xuất; cải tạo hệ thống xã hội là
quá trình phức tạp, thực hiện từng bước; không thể thủ tiêu chuyên chính vô sản
trong thời kỳ quá độ. Đến năm 1875, trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta”,
C.Mác đã phát triển nhiều nội dung, trong đó có lý luận về các giai đoạn phát
triển của xã hội cộng sản tương lai, làm cho chủ nghĩa Mác nhảy vọt về chất.
C.Mác cho rằng chủ nghĩa cộng sản là kết quả tất yếu của sự phát triển lịch sử
loài người. Những trình bày về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa
trong giai đoạn này là sự tổng kết những nghiên cứu của C.Mác từ những năm 40 của
thế kỷ XIX trở đi.
Trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta”,
C.Mác trình bày lý luận về sự phân kỳ trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản
chủ nghĩa, đưa ra quan niệm, tính tất yếu, đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Đến giai đoạn này, C.Mác và Ph.Ăngghen phân kỳ trong hình
thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa có hai giai đoạn: giai đoạn thấp là chủ
nghĩa xã hội và giai đoạn cao là giai đoạn phát triển trên cơ sở của chính nó
là chủ nghĩa cộng sản. Tuy chưa có sự phân chia một cách cụ thể, song C.Mác và
Ph.Ăngghen cho rằng trong giai đoạn thấp của hình thái kinh tế- xã hội cộng sản
chủ nghĩa tất yếu phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài. C.Mác chỉ rõ: “Giữa xã
hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách
mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá
độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”1.
Vào những năm 70 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác ngày
càng được truyền bá trong phong trào công nhân. Đúng vào lúc đó, trong nội bộ
phong trào diễn ra cuộc luận chiến lớn chống lại chủ nghĩa Duyrinh, bảo vệ chủ
nghĩa Mác. Trong cuộc luận chiến này, Ph.Ănghen đã viết tác phẩm “Chống
Duyrinh” (1877) để vạch trần quan điểm sai lầm của Duyrinh, tổng kết, luận chứng
có hệ thống về ba bộ phận chủ nghĩa Mác. Đối với chủ nghĩa xã hội khoa học, tác
phẩm đã phân tích rõ tiền đề lý luận; quá trình ra đời của chủ nghĩa xã hội
khoa học; phân tích sự ra đời của chế
độ xã hội mới là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử, là sự tiếp nối của
các hình thái kinh tế- xã hội trước đó những trên cơ sở phát triển cao hơn.
Bước đầu, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có
nghiên cứu mới về sự phát triển xã hội của các nước kinh tế lạc hậu.dành nhiều
thời gian nghiên cứu. Nội dung này được thể hiện trong tác phẩm tiêu biểu như
“Bản thảo kinh tế những năm 1857-1858”, bản thảo “Bút ký nhân loại học”, “Nguồn
gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884), hai ông đã phát triển
lý luận mới về hôn nhân cổ đại, xã hội thị tộc; nguồn gốc của chế độ tư hữu, sự
phát triển không ngừng của quyền thừa kế; nguồn gốc của nhà nước.; nghiên cứu
so sánh xã hội phương Đông và phương Tây; chế độ sở hữu châu Á; phê phán các
hành vi thực dân hóa; từ đó đưa ra những phát hiện mới về tính đa dạng về con
đường phát triển và khả năng phát triển của xã hội loài người, nhất là vấn đề
phát triển và bỏ quan giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa của các nước kinh tế
lạc hậu. C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra các nước kinh tế lạc hậu có ba khả năng
phát triển: một là, bị phương Tây biến
thành thuộc địa, phát triển chủ nghĩa tư bản; hai là, chế độ tư hữu trong nội bộ công xã từ từ chiến thắng chế độ
công hữu; ba là, chế độ công hữu chiến
thắng chế độ tư hữu, bỏ qua cái “khe núi Capdia” của chế độ tư bản, tiếp thu
thành tựu của nhân loại tiến lên chủ nghĩa xã hội. Những nhận thức mới trên thực
chất là nghiên cứu của C.Mác và Ph.Ăngghen về lý luận về xã hội phương Đông, khẳng
định con đường phát triển xã hội đa dạng.
Vào những năm cuối đời, những tài liệu mới về nhân loại học đã giúp C.Mác
và Ph.Ăngghen ngày càng nhận rõ, quy luật phát triển chung của thế giới không
những không loại bỏ tính đặc thù về hình thức và trật tự các giai đoạn phát triển
cá biệt mà còn lấy đó làm tiền đề. Đó chính là tính thống nhất, tính phổ biến,
tính đặc thù, tính khác biệt ẩn chứa trong quá trình phát triển của các dân tộc,
vạch ra con đường phát triển độc đáo của từng quốc gia.
Sau khi C.Mác mất (1883), kế thừa và thực hiện những nội dung nghiên cứu
mà C.Mác đang thực hiện, Ph.Ăngghen và những người
đồng chí của mình đã hoàn thiện các dự thảo tác phẩm của C.Mác; tổ chức thành lập
Quốc tế II; đấu tranh chống lại, phê phán các học giả công kích chủ nghĩa Mác;
chống phái cơ hội chủ nghĩa. Những năm cuối đời, Ph.Ăngghen viết nhiều tác phẩm
mới như: Hoàn thành các tập còn lại của bộ Tư bản; “Nguồn gốc của gia đình, của
chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884); “Góp phần phê phán dự thảo cương lĩnh
năm 1891 của Đảng dân chủ - xã hội” (1891); “Lời nói đầu viết cho tác phẩm “Đấu
tranh giai cấp ở Pháp từ năm 1848 - 1850” của C.Mác” (1894). Qua những hoạt động
này, Ph.Ăngghen làm rõ hơn lý luận về cách mạng vô sản, dân chủ, nhà nước; vạch
trần chủ nghĩa cơ hội; liên minh công nông; chiến lược, sách lược của cách mạng
vô sản.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”
(1884), Ph.Ăngghen đã phân tích các hiện tượng lịch sử xã hội có liên quan, lịch
sử xã hội loài người qua các giai đoạn, nguồn
gốc của gia đình, chế độ tư hữu, nhà nước. Đây là cuốn sách rất quan trọng,
V.I.Lênin đánh giá, đây là một trong những tác phẩm chủ yếu của chủ nghĩa xã hội
hiện đại. Không những vậy, nó còn có ý nghĩa với nhiều môn khoa học khác như
nhân loại học, dân tộc học, khảo cổ học, xã hội học, sử học, chính trị học.
Ph.Ăngghen đã phân tích rõ về nguồn gốc và bản chất của nhà nước. Theo đó, nhà
nước là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, có nguồn gốc từ sự xuất hiện
chế độ tư hữu, xuất hiện giai cấp. Bản chất của nhà nước là tổ chức, công cụ của
giai cấp thống trị dùng để bóc lột, áp bức giai cấp bị áp bức, bảo vệ những lợi
ích căn bản của bản thân mình; khi lực lượng sản xuất phát triển cao độ, xã hội
tiến vào giai đoạn sản xuất mà sự tồn tại của giai cấp không còn là tất yếu, trở
thành trở ngại trực tiếp cho sản xuất, thì giai cấp sẽ tiêu vong. Giai cấp tiêu
vong thì nhà nước cũng không tránh khỏi tiêu vong theo. Giai đoạn xã hội ấy là
xã hội cộng sản tương lai.
1 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 19, “Phê phán Cương lĩnh Gô ta” (1975), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.47.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét