Quyền
của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam bảo đảm,
bảo vệ từ trong đường lối, chủ trương, chính sách đến hệ thống pháp luật và
trên thực tế. Tuy nhiên, bất chấp sự thực đó, các thế lực thù địch, phản động
triệt để lợi dụng các nền tảng truyền thông xã hội, ra sức xuyên tạc về quyền của
người dân tộc thiểu số ở nước ta. Đây là những luận điệu vô căn cứ cần kiên quyết
đấu tranh bác bỏ.
Việt
Nam có 54 dân tộc anh em; trong đó, dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14,7% dân số
cả nước; mỗi dân tộc có những bản sắc văn hóa riêng, đa dạng, phong phú và thống
nhất, hòa hợp trong tình đoàn kết, cùng cội nguồn con Lạc, cháu Hồng. Trong suốt
tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới người
dân tộc thiểu số với những chính sách đồng bộ, được luật hóa, tạo điều kiện tốt
nhất để đồng bào phát triển toàn diện, góp phần gìn giữ, củng cố và tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vì sự phát triển của đất nước.
Thế
nhưng, các thế lực thù địch, phản động vẫn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá
cách mạng nước ta. Đặc biệt, chúng chĩa mũi nhọn vào xuyên tạc về quyền của người
dân tộc thiểu số ở Việt Nam, với những luận điệu hết sức thâm hiểm, phản động,
như: Đảng, Nhà nước đối xử bất công bằng, không chăm lo phát triển đời sống đồng
bào dân tộc thiểu số, khiến cho cuộc sống của đồng bào khó khăn, thiếu thốn,
nghèo đói; người Thượng bị người Kinh cướp đất; chính quyền của người Kinh ngược
đãi đồng bào dân tộc thiểu số, không chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe, nâng cao
dân trí ở vùng dân tộc thiểu số để “dễ bề cai trị”,… nhằm kích động tư tưởng
dân tộc hẹp hòi, gây mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là
những luận điệu hoàn toàn sai trái, vô căn cứ, phủ nhận đường lối, quan điểm của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm, bảo vệ quyền của người dân
tộc thiếu số ở Việt Nam. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đặc biệt
quan tâm, bảo vệ, đảm bảo quyền của người dân tộc thiểu số, điều này được thể
hiện trên những vấn đề sau:
Thứ
nhất, quan
điểm, chủ trương của Đảng trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc luôn
nhất quán. Qua các thời kỳ, với nhiệm vụ cách mạng khác nhau, nhưng quan điểm,
chủ trương xuyên suốt của Đảng về vấn đề dân tộc, đại đoàn kết dân tộc, công
tác dân tộc và chính sách dân tộc: “… luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự
nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp
nhau cùng phát triển”1. Trong văn kiện các kỳ đại hội Đảng đều nhấn
mạnh nguyên tắc đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc và khẳng định đoàn kết các
dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tại Đại hội
XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện
tốt các chính sách dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, nhất là các chính sách đặc
thù giải quyết những khó khăn của đồng bào dân tộc thiểu số”2. Nghị
quyết số 42-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa
XIII) về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu
cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới” xác định rõ mục
tiêu: “Có ít nhất 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, 80%
các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được hưởng thụ và tham gia
các hoạt động văn hoá, nghe, xem các kênh phát thanh, truyền hình của quốc gia
và địa phương”. Bộ Chính trị (khóa VI) cũng ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW,
ngày 27/11/1989 về “Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội
miền núi”; Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương
(khóa XIII) về “tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”; Nghị quyết số
24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 về “Công tác dân tộc” khẳng định: “Các dân tộc trong đại
gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển”3;
Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “tiếp tục
thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về
công tác dân tộc trong tình hình mới” với nhiều điểm mới, mang tính đột phá cho
giai đoạn 2021 - 2030. Như vậy, về mặt chủ trương, đường lối, Đảng ta luôn đặc
biệt quan tâm, chăm lo tới việc thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc
và đại đoàn kết dân tộc.
Thứ
hai,
quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn được bảo đảm bằng cơ
sở pháp lý.
Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định:
“(1). Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các
dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; (2). Các dân tộc bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị,
chia rẽ dân tộc; (3). Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền
dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập
quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; (4). Nhà nước thực hiện chính
sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội
lực, cùng phát triển với đất nước”. Như vậy, quyền bình đẳng trước pháp luật của
mọi công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc thiểu số hay đa số, chủng tộc,
tôn giáo, không phân biệt đối xử, được hiến định trong Hiến pháp.
Cụ
thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Hiến pháp, quyền của người dân tộc
thiểu số được thể hiện trong nhiều văn bản luật. Điều 61 Luật Giáo dục năm 2019
quy định: “Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ
thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học cho người học là người dân tộc thiểu
số, người học thuộc gia đình định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn”. Quyền của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo đảm trong
Luật Đất đai, như: quyền trong sử dụng đất, chính sách hỗ trợ đất đai cho đồng
bào dân tộc thiểu số, ưu tiên cấp đất ở, đất sản xuất cho các đối tượng là đồng
bào dân tộc thiểu số thuộc diện khó khăn, bảo đảm quyền sử dụng đất của đồng
bào dân tộc thiểu số, hạn chế chuyển nhượng đất nhằm đảm bảo an sinh và phát
triển bền vững, chính sách hỗ trợ khi mất đất hoặc thiếu đất, bảo đảm quyền lợi
lâu dài cho đồng bào dân tộc thiểu số. “Đồng bào dân tộc thiểu số không phải là
cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng thuộc đối tượng giao đất không thu
tiền sử dụng đất”4. Đồng thời, Nhà nước có các quy định cụ thể trong
việc giao rừng, giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư, trong đó có đồng bào
dân tộc thiểu số.
Cùng
với đó, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết, nghị định, thông tư về
công tác dân tộc, như: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ
về “công tác dân tộc”, quy định rõ các nguyên tắc cơ bản trong “Thực hiện chính
sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng
phát triển; đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số”; Quyết định
số 66/2013/QĐ-TTg, ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ “Quy định chính sách
hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người dân tộc thiểu số học tại các
cơ sở giáo dục đại học”, v.v. Đối với Quốc hội, đã ban hành Nghị quyết số
88/2019/QH14, ngày 18/11/2019 phê duyệt “Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030” và Nghị
quyết số 120/2020/QH14, ngày 19/6/2020 phê duyệt “Chủ trương đầu tư Chương
trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030”, v.v. Đây là minh chứng không thể xuyên tạc
về việc bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam bằng pháp luật.
Thứ
ba, những
thành tựu đạt được trong bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số ở
Việt Nam là không thể xuyên tạc, phủ nhận. Báo cáo tổng kết
15 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 12/3/2003 về “Công tác dân tộc”
khẳng định: đến năm 2019, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng, từng bước hoàn
thiện đã làm thay đổi cơ bản diện mạo vùng dân tộc thiểu số: 100% huyện có đường
đến trung tâm huyện; 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã được tiếp
cận với điện lưới quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; 100%
xã có trường tiểu học và trung học cơ sở, 99,7% xã có trường mầm non, mẫu giáo;
99,3% xã có trạm y tế; gần 100% số xã có nhà văn hóa hoặc điểm bưu điện văn
hóa; Đảng, Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi và tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số, v.v. Bình quân toàn vùng dân tộc
thiểu số tỷ lệ hộ nghèo giảm 02% - 03%/năm; riêng các xã đặc biệt khó khăn, giảm
03% - 04%/năm; các huyện nghèo giảm 05% - 06%/năm. Giai đoạn 2015 - 2018, có
1.052 xã (trong đó có 106 xã đặc biệt khó khăn), 27 huyện vùng dân tộc thiểu số
đạt chuẩn nông thôn mới.
Từ
năm 2021 đến năm 2023, Chương trình mục tiêu quốc gia dân tộc thiểu số đã đầu
tư 4.092 công trình cơ sở hạ tầng cho vùng dân tộc thiểu số (trong đó: 1.717
công trình đường giao thông thôn, bản; 37 cầu giao thông nông thôn; xây mới và
cải tạo sửa chữa 114 chợ, 94 công trình trường học, 315 công trình thuỷ lợi; 40
công trình điện; 302 nhà văn hóa; 44 trạm y tế; 34 công trình nước sinh hoạt;
duy tu, bảo dưỡng trên 200 công trình hạ tầng các loại, v.v.). Hỗ trợ đất ở cho
489 hộ, đất sản xuất cho 641 hộ, chuyển đổi nghề cho 14.119 hộ, nước sinh hoạt
cho 102.989 hộ; đầu tư xây dựng 492 công trình nước sinh hoạt tập trung; hỗ trợ
triển khai 445 mô hình phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, 402 mô hình phát
triển sản xuất theo cộng đồng, 249 mô hình khởi nghiệp; hỗ trợ đào tạo nghề cho
64.195 người; xây dựng 08 mô hình bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của
các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch. Chương trình mục tiêu quốc gia
dân tộc thiểu số được bố trí hơn 137.664 tỉ đồng thực hiện trong giai đoạn 2021
- 2025. Ngoài ra, số đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ
ngày càng tăng; riêng số đại biểu là người dân tộc thiểu số trong Quốc hội
khóa XV chiếm tới 17,8 %.
Như
vậy, cả về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và trên thực tế
về bảo đảm, bảo vệ quyền của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã đạt được những
thành tựu quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,
quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đời sống vật chất và
tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng
khó khăn được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh. Thành tựu đó là
minh chứng sinh động nhất bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ về quyền của
người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét