Không có chung đường biên giới, nhưng bảy cuộc xung đột lớn nhỏ từ thời trung đại đến hiện đại đã để lại những chương riêng biệt trong ký ức dân tộc của cả hai bên. Nếu lịch sử Việt Nam – Thái Lan là một cuốn biên niên sử, thì quá khứ là những trang đầy "sẹo". Nhưng chính trị hiện đại không được viết bằng ký ức thù địch, mà bằng lợi ích quốc gia và cái bắt tay đúng lúc.
Ngày hôm nay, 15/5/2025, nữ Thủ tướng Paetongtarn Shinawatra dẫn
đầu Chính phủ Thái Lan bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam. Đánh dấu chuyến
thăm đầu tiên của Thủ tướng Thái Lan đến Việt Nam sau 11 năm; đồng thời là Kỳ
họp Nội các chung đầu tiên của Thủ tướng hai nước sau 10 năm.
Trong khối ASEAN-6, Thái Lan là nước đầu tiên thiết lập quan hệ
ngoại giao với Việt Nam (1976). Hai năm sau đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tới
Bangkok, đặt nền móng đầu tiên cho quan hệ hợp tác song phương về kinh tế –
thương mại – du lịch. Từ một đối thủ, Thái Lan trở thành một trong những nhà
đầu tư lớn thứ hai của ASEAN tại Việt Nam, với hơn 17 tỷ USD FDI trong hơn 700
dự án, chỉ đứng sau Singapore.
Không chỉ đầu tư, Thái Lan còn là đối tác thương mại lớn nhất
của Việt Nam trong khối ASEAN, với kim ngạch hai chiều năm 2024 đạt hơn 20 tỷ
USD, và chỉ trong quý I/2025 đã tiến sát mốc 6 tỷ USD. Hai nước hướng tới con
số 25 tỷ USD trong năm kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao (2026) – một mục tiêu
hoàn toàn khả thi.
Quan hệ kinh tế Việt – Thái không chỉ là những con số. Đó còn là
tấm gương phản chiếu của chiến lược bổ trợ lẫn nhau: Việt Nam cần vốn, công
nghệ và kinh nghiệm tổ chức sản xuất; Thái Lan cần thị trường, nhân lực và vị
trí trung chuyển. Khi chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái định hình, sự bổ trợ này
là lời giải địa kinh tế cho cả hai bên.
Giao thương không thể lớn nếu người dân không hiểu nhau, và cũng
không thể hiểu nếu không đi lại. Năm 2024, Việt Nam có hơn 1 triệu lượt khách
sang Thái, và chiều ngược lại là 400.000 lượt khách. Giao thông hàng không giữa
hai nước đạt 4 triệu lượt mỗi năm – một con số không chỉ thể hiện kết nối kỹ
thuật, mà còn là bằng chứng về sự hòa dịu dân sự sau nhiều thế hệ nghi kỵ.
Ở đây, du lịch và văn hóa đang đóng vai trò dẫn dắt ngoại giao.
Thái Lan giỏi tổ chức và kể chuyện bằng trải nghiệm – điều mà du lịch Việt Nam
đang cố vươn tới. Trong khi đó, Việt Nam lại có tài nguyên và thị trường nội
địa dồi dào – thứ mà Thái Lan cần nếu muốn duy trì đà tăng trưởng dịch vụ trong
bối cảnh dân số đang dần già hóa.
Nếu có một liên kết mới cần kiến tạo, thì đó là liên kết cảm xúc
giữa hai nền văn hóa vốn từng xa cách. Cùng thuộc không gian văn hóa Nam Á –
Đông Nam Á, Việt Nam và Thái Lan có đủ sự tương đồng để hiểu nhau và đủ khác
biệt để học hỏi lẫn nhau. Hợp tác văn hóa không chỉ giúp lan tỏa hình ảnh quốc
gia, mà còn tạo ra kênh ngoại giao mềm, khi chính người dân hai nước trở thành
đại sứ cho nhau trong đời sống thường nhật.
Có những mong muốn về việc nâng cấp quan hệ 2 nước lên đối tác
chiến lược toàn diện trong chuyến thăm. Nếu điều đó được thực hiện, không chỉ
là bước đi song phương. Nó là một thông điệp khu vực.
Trong bối cảnh ASEAN bị giằng xé bởi các lựa chọn địa chính trị
giữa Trung Quốc, Mỹ và Ấn Độ, sự chủ động liên kết giữa các thành viên cốt lõi
như Việt Nam – Thái Lan chính là nỗ lực giữ lấy trục trung tâm của ASEAN.
Không quốc gia nào có thể định hình tương lai khu vực nếu chính
nội bộ khu vực không tin tưởng và liên kết được với nhau. Hợp tác Việt – Thái
chính là một “phần mềm ổn định” cho cấu trúc an ninh khu vực, một mô hình cho
các quốc gia ASEAN khác noi theo: gạt sang bên những mâu thuẫn lịch sử để cùng
nhau xây dựng một Đông Nam Á tự cường.
Chặng đường 50 năm Việt Nam – Thái Lan không phải là một câu
chuyện dễ kể. Nó có đầy đủ bóng tối của lịch sử, nhưng cũng có ánh sáng của
thực tế chính trị và khát vọng phát triển.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét