Thứ Hai, 19 tháng 5, 2025

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG KỶ NGUYÊN MỚI - KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang chống phá quyết liệt cách mạng nước ta bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, trong đó tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Do vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, được xác định là nội dung hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta; bảo đảm cho đất nước ta vững vàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhận thức về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Kỷ nguyên là một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bởi những đặc điểm quan trọng hoặc sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội - văn hóa - chính trị - tự nhiên. Kỷ nguyên thường được sử dụng để phân chia thời gian trong lịch sử theo những biến cố lớn hoặc có sự thay đổi căn bản trong đời sống chính trị hay khoa học, công nghệ, môi trường.

Kỷ nguyên mới là khoảng thời gian đất nước, dân tộc phải vươn lên mãnh liệt, phấn đấu thực hiện thành công những mục tiêu chiến lược, tạo sự phát triển vượt bậc ở một tầm cao mới, trình độ mới, chất lượng mới, xác lập vị thế quốc gia trên trường quốc tế, tạo nền tảng cho bước phát triển đột phá kế tiếp. Kỷ nguyên tiếp nối kỷ nguyên tạo thành lịch sử phát triển liên tục, từ thấp đến cao, ngày càng hoàn thiện của một quốc gia, dân tộc.

Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực, nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại.

Hơn 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, dân tộc Việt Nam đã trải qua hai kỷ nguyên vẻ vang. Kỷ nguyên thứ nhất là Kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 - 1975), khởi đầu từ năm 1930 khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, dẫn đến thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những chiến công vĩ đại trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược (1946 - 1975) cùng những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc những năm 1954 - 1975. Kỷ nguyên thứ hai là Kỷ nguyên thống nhất đất nước, đổi mới, phát triển (1975 - 2025), mở đầu bằng thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, non sông thu về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội năm 1975, tạo tiền đề vững chắc để đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành công cuộc đổi mới bắt đầu từ Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986, tạo bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện trên các lĩnh vực. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 10 khóa XIII vừa qua thống nhất khẳng định, Việt Nam bước vào kỷ nguyên thứ ba, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thời điểm mở đầu là Đại hội lần thứ XIV của Đảng, thời điểm chúng ta hoàn thành xuất sắc công cuộc đổi mới sau 40 năm (1986 - 2026) lao động, sáng tạo, bền bỉ và đạt được những thành tựu to lớn: Kinh tế tăng trưởng ổn định, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt khoảng 6-7%/năm trong nhiều giai đoạn. Theo số liệu Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024 của Tổng cục Thống kê - Bộ Tài chính, quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2024 đạt 476,3 tỷ USD (năm 1986 đạt khoảng 8 tỷ USD); GDP bình quân đầu người từ mức khoảng vài trăm USD năm 1986, đến năm 2024 đã đạt khoảng 4.700 USD. Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong ASEAN, thứ 32 trên thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% (theo chuẩn cũ) năm 1993 xuống còn 1,91% (theo chuẩn nghèo đa chiều với tiêu chí cao hơn trước); tuổi thọ trung bình tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên khoảng 74,7 tuổi năm 2025; hệ thống y tế và giáo dục được mở rộng, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đạt gần 100%; chỉ số hạnh phúc theo xếp hạng của Liên hợp quốc năm 2025 tăng 8 bậc so với năm 2024, lên thứ hạng 46/143 quốc gia. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao. Bên cạnh đó, dư địa và không gian phát triển của Việt Nam còn nhiều lợi thế: về địa chính trị, địa kinh tế, dân số, văn hóa, có Đảng lãnh đạo, đất nước ổn định, có khát vọng, ý chí, bản lĩnh, trí tuệ, sự đồng thuận triệu người như một, lợi thế đi sau, đi tắt đón đầu, tránh sai lầm… Là thời điểm hội tụ đầy đủ các nhân tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa, tạo vận hội để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh, vươn lên, vươn nhanh. Trong phát biểu kết luận tại Hội nghị triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII, Tổng Bí thư Tô Lâm nhận định: “Với những thành tựu vĩ đại sau gần 80 năm lập nước, với thế và lực đã tích lũy được, với thời cơ, vận hội mới, chúng ta đã hội tụ đủ điều kiện và đang đứng trước cơ hội lịch sử để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc, xây dựng thành công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu”.

Để vươn mình thành công, rất cần thống nhất nhận thức, niềm tin; sáng tỏ tầm nhìn, chiến lược và nỗ lực hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Nhận thức đúng đắn, kịp thời về Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, trong đó có quan niệm và những đặc trưng cơ bản của kỷ nguyên vươn mình, làm cơ sở cho sự thống nhất trong tư tưởng và hành động, mở ra triển vọng phát triển mới, mở rộng không gian sinh tồn cho quốc gia - dân tộc là rất quan trọng và cần thiết.

Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu.

Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao; khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh.

Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam không chỉ cho thấy những nét mới mẻ về nhận thức và quan điểm, mà còn khẳng định quyết tâm và tâm thế sẵn sàng của lãnh đạo Đảng và Nhà nước về những mục tiêu mới trong giai đoạn phát triển sắp tới của đất nước; đã thu hút sự chú ý, khơi gợi nhiều cảm hứng cũng như dấy lên những kỳ vọng về sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa, sự thay đổi tích cực hơn nữa trên đất nước Việt Nam.

Những khó khăn và thách thức đối với nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Những thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đối với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, luôn xuất hiện cùng nhau, đan xen nhau. Việc nhận diện rõ những khó khăn, thách thức có vai trò, ý nghĩa quan trọng, là cơ sở xây dựng những chiến lược đúng đắn ở tầm vĩ mô và đề xuất được những giải pháp cụ thể, mang tính hệ thống, khả thi, đạt hiệu quả cao trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Một trong những khó khăn và thách thức lớn nhất đối với nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, là sự tấn công từ các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, bên cạnh những cơ hội cũng tạo ra nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong bối cảnh các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”; tăng cường các hoạt động chống phá, kích động bạo loạn, lật đổ, lợi dụng các nền tảng truyền thông xã hội để đăng tải, phát tán tin bài, video xuyên tạc, bôi nhọ, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là khi đất nước ta có những sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng, như đại hội Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp… Thời gian qua, trong nhiều bài phát biểu và bài viết quan trọng, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ việc xác lập tư duy, lý luận về kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lập tức lớn tiếng lu loa, ra sức xuyên tạc, chống đối. Chúng cho rằng: Kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là không rõ ràng, không thể xác định rõ được nội hàm, do đó tất yếu không thể hiện thực hóa được; việc xác định đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới với những bước phát triển đột phá là tư tưởng chủ quan duy ý chí, ảo tưởng vì không cơ sở để thực hiện trên thực tế… Mục đích của chúng nhằm gây hoang mang, nghi ngờ để từ đó hướng lái, tác động tạo ra nhận thức sai trái, lệch lạc làm suy giảm niềm tin, ý chí của cán bộ đảng viên và Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới làm chệch hướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, đất nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và hạn chế. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn, nhất là nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vẫn diễn biến phức tạp, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... vẫn chưa được đẩy lùi có hiệu quả. Những vấn đề này không chỉ đe dọa đến sự ổn định của Đảng, mà còn ảnh hưởng đến uy tín và sự tín nhiệm của Nhân dân đối với Đảng; tác động không tốt đến công tác đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Ngoài ra, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam theo các hiệp định tự do thế hệ mới làm cho không chỉ lĩnh vực kinh tế, mà tất cả các lĩnh vực của đời sống, xã hội chịu tác động mạnh mẽ, thường xuyên, trực tiếp của các yếu tố bên ngoài; nhất là trong đấu tranh với các hoạt động lợi dụng toàn cầu hóa để chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá trên lĩnh vực ý thức hệ tư tưởng và lợi dụng vấn đề “dân tộc, tôn giáo, nhân quyền” để hòng xuyên tạc, bóp méo, hạ thấp thành tựu phát triển của đất nước ta. Các yếu tố văn hóa, tư tưởng ngoại lai từ các nền văn hóa khác cũng có thể tác động đến tư tưởng, tình cảm của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam là tổng thể các hoạt động nhằm củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam trong bối cảnh tình hình thế giới đang có sự chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng nấc và phân tuyến mạnh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, các trung tâm quyền lực sẽ ngày càng gay gắt cả về phạm vi, cường độ. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều thách thức mới, phức tạp hơn. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển dưới nhiều hình thức và nội dung mới, dù đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách lớn. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, nhất là công nghệ trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, rôbốt, Internet vạn vật, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn... tiếp tục phát triển mạnh và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực.

Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, song cũng là khu vực trọng điểm cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, trong đó có Biển Đông diễn biến theo chiều hướng phức tạp hơn. ASEAN tiếp tục tăng cường hợp tác, liên kết, song sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức mới cả bên trong và bên ngoài.

          Với nước ta, sau gần 40 năm đổi mới, quy mô, trình độ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Văn hóa, xã hội, con người phát triển toàn diện. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố vững chắc. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền được giữ vững; quan hệ đối ngoại và quá trình hội nhập của đất nước ngày càng toàn diện, sâu rộng và được nâng lên ở một tầm cao mới. Đây chính là những nhân tố quan trọng, cơ bản nhất để củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; là giá trị cốt lõi để Nhân dân tin tưởng, tham gia bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, đất nước ta càng đạt được những thành tựu phát triển to lớn, các thế lực thù địch, phản động lại càng điên cuồng tìm mọi cách để chống phá.

Những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần giữ vững, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch phản động, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không ngừng củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thẳng thắn nhìn nhận vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập như: Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở một số nơi chưa thực sự được coi trọng; việc truyền bá, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng có lúc, có nơi còn xơ cứng, giáo điều; nội dung, hình thức chưa phong phú; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp; một bộ phận tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm việc thiếu trách nhiệm, né tránh, đùn đẩy, không dám đổi mới sáng tạo, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xa rời mục đích, lý tưởng, bản chất của Đảng; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số ít tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, cá biệt có nơi mất sức chiến đấu, làm giảm niềm tin của Nhân dân với Đảng; nắm bắt tình hình tư tưởng và định hướng dư luận xã hội có lúc, có nơi thiếu chủ động, chưa kịp thời; công tác quản lý báo chí, xuất bản có mặt hạn chế; công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận có mặt chưa thực sự đáp ứng yêu cầu…

Những vấn đề trên đã đặt ra yêu cầu phải nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng.

Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhất là thế hệ trẻ nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam. Khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng ta, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phổ biến, tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những điểm mới trong các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, cần phải phổ biến, tuyên truyển để mọi người hiểu rõ, hiểu đúng, đầy đủ về nội hàm, mục tiêu, nhiệm vụ cũng như cơ sở hiện thực của kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, tạo ra sự nhất quán về nhận thức, tư tưởng, tập trung, thống nhất trong hành động nhằm phát huy sức mạnh tổng thể của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới.

Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải thể hiện tập trung ở việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo và chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Để chủ động tiến công toàn diện, thống nhất và đồng bộ, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cụ thể hóa vào xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả nghị quyết về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở cấp mình. Xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế, quy định về trách nhiệm trực tiếp làm công tác tư tưởng, tham gia nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn của cấp ủy, cán bộ chủ trì và của mọi cán bộ, đảng viên; bổ sung hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các chế độ công tác tư tưởng, quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong tiến hành công tác tư tưởng, lý luận.

Cấp uỷ, cán bộ chủ trì, cơ quan tuyên giáo các cấp phải đề ra được những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sát với đặc điểm, nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị mình trong từng thời điểm; phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, của mọi cấp, mọi ngành; thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp hoạt động, tạo ra được nhiều cách làm hay, hiệu quả; đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, rút kinh nghiệm, kịp thời khắc phục những khâu yếu, mặt yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ đức, đủ tài, có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường kiên định, lý luận sắc bén để tham gia đấu tranh chống các luận điệu sai trái, thù địch.

Để chống các quan điểm sai trái, thù địch, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải có đủ đức, đủ tài, có bản lĩnh chính trị vững vàng, hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có tâm huyết, trách nhiệm trong công tác, có năng lực viết, lập luận sắc bén để vạch trần âm mưu, phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động một cách thuyết phục. Đồng thời, cán bộ tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần có kiến thức về khoa học, công nghệ, có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ. Do đó, các cơ quan, đơn vị chức năng cần phải có chiến lược phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và có chế độ, chính sách phù hợp để phát huy vai trò, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Bốn là, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tập trung phổ biến, quán triệt những nội dung quan trọng và cơ bản nhất; đồng thời, chú ý phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn, giá trị khoa học, tính sáng tạo và những phát triển mới của quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách mới và các giải pháp lớn mà Đại hội Đảng lần thứ XIII, Nghị quyết số 35 - NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong tổ chức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Phát huy sức mạnh của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông, dư luận... trong nước và ngoài nước nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để nhận diện, kịp thời đập tan các quan điểm sai trái, phản động góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Năm là, tăng cường công tác quản lý thông tin, kiểm soát không gian mạng.

Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng Internet, mạng xã hội; rà soát việc cấp phép hoạt động đối với các mạng xã hội, cấp tên miền; yêu cầu tính chính danh trong việc sử dụng mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân. Kiểm soát chặt chẽ đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, mạng xã hội, nhất là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới. Phát triển các nền tảng thông tin chính thống để người dân có thể tiếp cận nguồn tin chính xác, tránh bị tác động bởi thông tin xấu độc trên mạng xã hội. Phát hiện sớm, ngăn chặn tận “gốc” nguồn phát tán những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn các trang mạng độc hại. Đồng thời, xây dựng mới các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh của ta bám sát thực tiễn, tuyên truyền sâu rộng với lập luận sắc bén, “chắc tay”, thuyết phục về các thành tựu phát triển của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương, với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, từng bước giành thế chủ động, làm chủ thế trận tiến công về thông tin tư tưởng, lý luận trên Internet.

Bên cạnh đó, cần làm tốt công tác định hướng, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, nhằm loại bỏ những thông tin đó ra khỏi đời sống tinh thần xã hội, không để ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và Nhân dân, chống lại tác động trái chiều đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhằm bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng.

Sáu là, làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, công tác thi đua khen thưởng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Mục đích công tác sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá đúng tình hình, thực trạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ đó đề ra giải pháp phù hợp, đạt hiệu quả cao; chú trọng công tác tổng kết thực tiễn thành lý luận, tổng kết các kinh nghiệm hay, bài học quý, trong đó cả những bài học thất bại và thành công để rút ra phương hướng, giải pháp có tính chiến lược, thiết thực trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Làm tốt công tác nhân rộng các mô hình hay, cách làm hiệu quả trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kịp thời có chính sách khen thưởng, động viên cá nhân, tổ chức có những thành tích xuất sắc và nghiêm túc phê bình, xử lý cá nhân, tổ chức không phát huy đúng trách nhiệm trong công tác đấu tranh chống những luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong bối cảnh đất nước đang vươn mình mạnh mẽ, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần ý thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ và phát huy những giá trị cốt lõi của Đảng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét