1. Người nước ngoài gửi tiền về Việt Nam( Bọn này chuyên nghiệp, đánh vào những Bà mẹ cô đơn, tán tỉnh thời gian dài)
Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021
MỘT SỐ HÌNH THỨC LỪA ĐẢO PHỔ BIẾN TRÊN MẠNG XÃ HỘI
LIÊN QUAN VIỆC KHỞI TỐ HÌNH SỰ HỘI THÁNH TRUYỀN GIÁO PHỤC HƯNG
Làn sóng Covid 19 lần thứ 4 vẫn đang diễn biến phức tạp tại Việt Nam, trong đó Bắc Giang, Bắc Ninh và Tp. Hồ Chí Minh là các địa phương đang chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ dịch bệnh ở thời điểm hiện tại. Đáng chú ý, ổ dịch tại Tp. Hồ Chí Minh liên quan đến Hội thánh truyền giáo Phục Hưng đã khiến cho thành phố đông dân nhất Việt Nam phải thực hiện giãn cách xã hội, ảnh hưởng lớn đến điều kiện sinh hoạt, phát triển kinh tế, xã hội.
Đáng chú ý, ngày 29/5 vừa qua, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp (TPHCM) đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người” liên quan đến ổ dịch Hội thánh truyền giáo Phục Hưng. Đây là quyết định đúng đắn của cơ quan điều tra, vì trước pháp luật, mọi công dân đều bình đẳng, từ cán bộ đảng viên, chức sắc tôn giáo hay công dân. Quá trình điều tra, vi phạm tới đâu thì xử lý trách nhiệm tới đó, chứ không có chuyện phân biệt tôn giáo hay ngăn cản tự do tín ngưỡng, không “gây khó” cho các tổ chức tôn giáo.
Cần nguồn kinh phí rất lớn khi ngân sách còn hạn hẹp
Sức mạnh Việt Nam xa lạ với sự ích kỷ, tích toán
CÁN BỘ CHIẾN DỊCH - CHIẾN LƯỢC CẦN NẮM VỮNG VÀ THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Dân tộc và tôn giáo là hiện tượng của xã
hội được phát triển lâu dài trong tiến trình phát triển của xã hội loài người.
Quan hệ dân tộc và tôn giáo là vấn đề rộng lớn và phức tạp, có liên quan trực
tiếp đến sự thống nhất và ổn định chính trị- xã hội, phát triển kinh tế, đảm bảo
quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia, dân tộc. Nắm vững và thực hiện tốt các vấn
đề cơ bản của quan hệ dân tộc, tôn giáo và các quan điểm, giải pháp thực hiện
quan hệ dân tộc tôn giáo có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
hiện nay đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, của cả hệ thống chính trị,
của mọi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược
Nâng cao chất lượng hoạt động và vai trò của hệ thống chính trị trong giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
-Phát huy
vai trò các cấp uỷ đảng, nhất là vùng DTTS, vùng có đạo trong giải quyết vấn đề
dân tộc và tôn giáo
Các cấp uỷ Đảng từ trung ương đến cơ sở, nhất là cấp
cơ sở vùng DTTS, vùng có đạo quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện nghiêm túc
các nghị quyết của Đảng về công tác dân tộc, tôn giáo, chủ động xây dựng chương
trình, kế hoạch, quy chế công tác dân tộc, tôn giáo của địa phương. Tập trung lãnh
đạo thực hiện tốt các nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo, giải
quyết kịp thời các vấn đề bức xúc. Kiện toàn nâng cao chất lượng các tổ chức, cán
bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo. Tăng cường lãnh đạo xây dựng cơ sở chính trị
vùng tôn giáo, vùng dân tộc thiểu số; chú trọng phát triển đảng viên trong cộng
đồng tôn giáo và dân tộc thiểu số.
-Kiện toàn
nâng cao chất lượng các tổ chức, đội ngũ cán bộ trong HTCT các cấp làm công tác
dân tộc, tôn giáo.
+Cần đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị và kiến thức về dân tộc, tôn giáo
cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, công tác tôn giáo, nhất là ở vùng đồng
bào DTTS, vùng tập trung đông đồng bào tôn giáo.
+Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác tuyên truyền, phổ
biến quan điểm, chủ trương….thống qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn cho
đội ngũ cán bộ…
-Phát huy
vai trò chính quyền trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo
+Lãnh đạo chính quyền làm tốt công tác quản lý nhà
nước về công tác dân tộc, tôn giáo, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, trong phát triển y tế,
giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo.
+Nâng cao hiệu quả quản lý đối với tổ chức tôn giáo
và hoạt động của các chức sắc tôn giáo; đối với vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự
liên quan đến tôn giáo; đối với hoạt động xã hội hoá giáo dục, y tế, từ thiện
nhân đạo của các tôn giáo.
Đổi mới tổ
chức và phát huy hiệu quả của Mặt trận tổ quốc các đoàn thể….tăng cường công tác kiêm tra giám sát thực hiện công
tác dân tộc, tôn giáo. Tranh thủ người có uy tín…
Bốn là, củng cố
quốc phòng, an ninh, chủ động và kiên quyết đấu tranh chống các thế lực thù
địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc và tôn giáo nhằm kích động quần chúng
chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam
-Chủ động ngăn ngữa bạo loạn chính trị do
các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và
nhân quyền.
+ Phải làm tốt
công tác quản lý địa bàn, xây dựng các phương án để chủ động phòng ngừa các hoạt
động tôn giáo trái phép.
+Đẩy mạnh tuyên
truyền và thực hiện các chương trình phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội.
+Xây dựng quy
chế phối hợp giữa lực lượng công an, quân đội với các đoàn thể trong công tác dân
tộc, tôn giáo để nắm chắc tình hình, quản lý chặt chẽ đối tượng, sẵn sàng các
phương án chủ động đấu tranh ngăn chặn các hoạt động phá hoại của các thế lực
thù địch.
+Tranh thủ giáo
sỹ, vận động giáo dân thực hiện xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, “sống phúc
âm trong lòng dân tộc”
-Chủ động vạch trần những âm mưu thâm độc
của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc và tôn giáo, hoặc
kết hợp vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo nhằm “tôn giáo hoá dân tộc” của
chúng.
-Kiên quyết đấu tranh, xử lý các tổ chức,
các đối tượng có các hoạt động vi phạm pháp luật truyền đạo trái phép, hoặc lợi
dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền để kích động quần chúng, chia rẽ
tình đoàn kết dân tộc.
THỰC HIỆN “CẦN KIÊM LIÊM CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ” GẮN VỚI HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá xã hội nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào tôn giáo.
- Đẩy mạnh
phát triển kinh tế, nhất là vùng đồng bào DTTS, vùng đồng bào có đạo
+Đẩy mạnh đầu tư phát triển toàn diện kinh tế- xã hội,
nhất là vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo, giảm nghèo nhanh, bền vững,
rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc, các vùng, bảo vệ môi trường.
+Hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo công ăn, việc làm,
nâng cao thu nhập, làm dịch vụ cho hộ gia đình các dân tộc, tôn giáo nhất là ở các
vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu lao động phù hợp với tập quán, trình độ phát triển của mỗi tộc người, tiềm
năng lợi thế của từng địa phương và từng vùng.
-Hoàn thiện
hệ thốmg kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân
+ Tập trung vào những nơi nhiều đồng bào dân tộc, tôn
giáo, trong đó ưu tiên phát triển hệ thống chính sách hạ tầng cấp thôn/bản hoặc
cụm thôn/bản.
+Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết,
từng bước tổ chức hợp lý cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, các bản,
làng, nhất là các xã vùng biên giới tạo điều kiện để đồng bào nhanh chóng ổn định
sản xuất và đời sống.
-Giải
quyết một cách căn bản tình trạng thiếu đất sản xuất, thiếu đất ở
+ Tập trung trong
vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây
Bắc, Tây Nguyên, Tây nam Bộ và tình trạng di dịch cư tự do ở miền núi phía
Bắc.
+ Tổ chức sắp
xếp lại các nông, lâm trường quốc doanh theo hướng thu hút đồng bào dân tộc, tôn
giáo tại chỗ tham gia, kiên quyết giải thể các nông, lâm trường làm ăn kém hiệu
quả, giao đất, giao rừng cho đồng bào quản lý.
-Kết hợp phát triển kinh tế với đảm bảo quốc
phòng an ninh vùng dân tộc, tôn giáo
+Xây dựng vùng kinh tế đường biên giới
trên đất liền.
+Xây dựng các
khu kinh tế quốc phòng,
+Tham gia vào
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên các địa bàn xung yếu, trọng điểm.
+ Phát huy tiềm
năng và nguồn lực trên các địa bàn chiến lược, đồng thời làm cơ sở chỉ đạo, quản
lý việc xây dựng theo quy hoạch vùng.
-Bảo tồn và phát huy, phát triển các giá trị
văn hoá dân tộc, tôn giáo.
+Đầu tư các
nguồn lực, nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục lại bản sắc văn hoá truyền thống của
các tộc người,
+ Phát huy các
giá trị văn hoá, đạo đức, tích cực của tôn giáo trong phát triển bền vững trên
cơ sở có sự tham gia, chọn lựa và quyết định từ phía cộng đồng các tộc người cũng
như phù hợp trong đa dạng của văn hoá quốc gia.
+ Tăng cường tổ
chức giao lưu văn hoá các dân tộc và tôn vinh các giá trị văn hoá tộc người, tôn
vinh các giá trị văn hoá tôn giáo để khơi dậy lòng tự hào về văn hoá của dân tộc,
tôn giáo mình, đồng thời tôn trọng sự khác biệt văn hoá giữa các tộc người và
giữa các cộng đồng khác đức tin tôn giáo.
-Tăng cường đầu tư xây dựng và củng cố các
thiết chế văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số, vùng có đông đồng bào tôn giáo.
+Chú trọng đầu
tư xây dựng các chương trình nội dung, thông tin bằng ngôn ngữ của các dân tộc
thiểu số và bằng nhiều hình thức đa dạng và phương pháp phù hợp với vùng dân tộc
thiểu số, vùng đồng bào tôn giáo tập trung.
+Nâng cao dân
trí, trình độ hiểu biết, giải quyết tình trạng mũ chữ, tái mù chữ cho đồng bào
dân tộc thiểu số và đồng bào tôn giáo.
+Nâng cao hiệu
quả chất lượng giáo dục, đào tạo,quan tâm xây dựng hệ thống trường lớp, đào tạo
đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
+Tăng cường đầu
tư, cải thiện điều kiện dạy và học, thực hiện có hiệu quả chính sách đào tạo, dạy
nghề trên cơ sở đổi mới nội dung, cơ chế quản lý và nội dung, phương thức đào tạo
cho phù hợp với đặc thù vùng dân tộc thiểu số, và có đông đồng bào tôn giáo.
-Cải thiện các điều kiện dịch vụ y tế nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiẻu số, đồng bào
tôn giáo. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình cung cấp nước sạch và dịch
vụ y tế nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng.
Không ngừng nâng cao nhận thức về vấn đề dân tộc, tôn giáo và giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo vì sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
-Thống nhất nhận thức, tư tưởng từ Trung ương đến cơ
sở về tầm quan trọng chiến lược của vấn đề dân tộc, tôn giáo và giải quyết tốt
mối quan hệ dân tộc, tôn giáo ở nước ta trong hệ thống chính trị và trong toàn
xã hội, nhất là vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong công tác dân tộc,
tôn giáo.
+Thống nhất nhận thức quan điểm của Đảng, tập trung
những vấn đề:
> Đồng bào các dân tộc là bộ phận của khối đại đoàn
kết dân tộc Việt Nam;
>Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một
bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH
ở nước ta.
>Công tác dân tộc, tôn giáo là công tác vận động
quần chúng, vì vậy cần có sự chỉ đạo tập trung thống nhất của các cấp uỷ đảng từ
Trung ương đến địa phương về công tác dân tộc và công tác tôn giáo.
- Quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
kiến thức về dân tộc, tôn giáo, về công tác dân tộc, công tác tôn giáo cho cán
bộ đảng viên trong hệ thống chính trị, nhất là tại các vùng có đông đồng bào dân
tộc, đồng bào theo tôn giáo.
-Trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, cần có
thái độ đúng đắn và phương pháp phù hợp không được kỳ thị, thành kiến với tôn
giáo và đồng bào các dân tộc thiểu số.
-Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền
tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân các dân tộc trong khuôn khổ chính
sách, pháp luật.
-Chủ động quan tâm giải quyết nhu cầu chính đáng, hợp
pháp của đồng bào các dân tộc, đồng bào tôn giáo.
-Tích cực vận động đồng bào các dân tộc, tôn giáo đoàn
kết, tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước.
-Cần đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng một cách
bài bản về chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao trình độ lý luận chính trị và kiến thức
về dân tộc, tôn giáo cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là
ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tập trung đồng bào tôn giáo.
-Đẩy mạnh và đa dạng hoá công tác tuyên truyền, phổ
biến quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, thường xuyên cập
nhật kiến thức về dân tộc, tôn giáo, về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước
đối với dân tộc, tôn giáo thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn để đảm
bảo có đủ bản lĩnh và kiến thức chuyên môn trong giải quyết các vấn đề liên
quan đến dân tộc, tôn giáo.
-Coi trọng giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức đoàn
kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo và tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn dân
trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất,
toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh làm điểm tương
đồng; khơi dậy ý thức tương trợ, ý thức đoàn kết giữa các dân tộc, các tôn giáo,
giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo; tăng cường hợp tác, đối
thoại giữa các dân tộc, các tôn giáo vì sự ổn định và phát triển của đất nước.
-Thường xuyên quan tâm nắm bắt kịp thời tâm tư,
nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, đồng bào các tôn giáo và tạo điều kiện đáp
ứng các nhu cầu chính đáng của đồng bào.
-Tập trung chỉ đạo, giải quyết nhanh chóng, hiệu quả
các vấn đề liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo như vấn đề đất đai, đất sản
xuất… cho đồng bào các dân tộc, các tranh chấp, khiếu kiện có nguồn gốc tôn giáo.
Giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, quyền của các dân tộc thiểu số, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống âm mưu và hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo vào mục đích chính trị
Trong các
mối quan hệ xã hội thì quan hệ dân tộc, tôn giáo và nhân quyền là những quan hệ
hết sức nhạy cảm, giữa chúng có sự tác động tương hỗ, thống nhất với nhau không
tách rời, đồng thời quy định lẫn nhau.
Do vậy việc
giải quyết tốt mối quan hệ này là nhằm đảm bảo cho các dân tộc trong quốc gia
những quyền cơ bản về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và tín ngưỡng, tôn giáo.
Song quyền phải gắn liền với pháp luật, bởi vì bản thân quá trình xây dựng các
quyền con người phải căn cứ trên cơ sở pháp luật, đồng thời pháp luật chỉ có ý
nghĩa tiến bộ và có giá trị khi nó phản ánh và bảo vệ các quyền chính đáng của
con người. Nói cách khác, pháp luật không chỉ là công cụ chủ yếu để quản lý nhà
nước, mà đồng thời là điều kiện và giới hạn để đảm bảo cho quá trình thực thi các
quyền của con nguời không bị biến dạng và lạm dụng, từ đó hạn chế những biểu hiện
hỗn loạn, vô chính phủ. Do vậy đảm bảo quyền của các dân tộc, quyền tự do tôn
giáo, tín ngưỡng chính là đảm bảo thực hiện các nội dung cốt yếu của quyền con
người trong khuôn khổ của pháp luật.
Trong hệ thống quyền con người, quyền kinh tế
là quan trọng nhất và là điều kiện để
thực hiện các quyền khác của con người, trong đó có quyền tự do, tín ngưỡng và
quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
Khi điều kiện kinh tế còn kém không thể thực hiện
được một cách hoàn thiện. Do vậy phát triển kinh tế là điều kiện căn bản nhất để
thực hiện quyền của con người, quyền của các dân tộc và tín đồ tôn giáo. Khẳng định
điều này C.Mác viết: “quyền không bao giờ
có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã hội do
chế độ kinh tế đó quyết định”
Trên thực tế, sự yếu kém trong phát triển kinh tế,
sự bất bình đẳng trong thu nhập và mức sống…giữa các nhóm người, giữa dân tộc đa
số với dân tộc thiểu số, của đồng bào tín đồ là một trong những nguyên nhân căn
bản làm nảy sinh vấn đề bức xúc, những mâu thuẫn lớn, thậm trí là những xung đột
trong quan hệ dân tộc, tôn giáo ở nhiều nơi. Đó là điều kiện thuận lợi để tôn
giáo phát triển và các thế lực thù địch lợi dụng để gây thù hằn, chia rẽ tình đoàn
kết giữa các dân tộc. Do vậy, phải “thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn
giáo ở vùng dân tộc và miền núi, kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách
tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta”.
Mặt khác dân tộc và tôn giáo luôn bị các thế
lực thù địch lợi dụng để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng
Việt Nam.
Hiện nay chúng ta phải thực hiện tốt các quan điểm
sau:
- Quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân: Công dân có
quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Người có tín ngưỡng tôn giáo
và không có tín ngưỡng tôn giáo phải tôn trọng nhau; nhà nước bảo dảm quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật
- Quyền các dân tộc:
+ Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp
CNH-HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Các dân tộc thiểu
số có quyền tự quyết (phát huy dân chủ trên các mặt của đời sống xã hội). Kiến
quyết đấu tranh với âm mọi mưu chia rẽ dân tộc, tình đoàn kết dân tộc).
+ Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng
trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân
tộc.
+ Kiến quyết đấu tranh chống âm mưu phá hoại của
các thế lực thù địch.
Cần tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; làm tốt
công tác vận động quần chúng, đẩy mạnh tuyên truyền và thực hiện các chương
trình phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo luôn phải đặt trong mối quan hệ với cộng đồng quốc gia- dân tộc thống nhất theo định hướng XHCN ở Việt Nam
Thứ nhất: Từ mục tiêu sự nghiệp cách
mạng: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
- Thứ hai,
tôn giáo và dân tộc là hai vấn đề
rất nhạy cảm. Những vấn đề liên quan đến dân tộc, tôn giáo nếu không được giải
quyết một cách thỏa đáng sẽ dẫn tới nguy cơ mất ổn định chính trị, xã hội, dễ
tạo cớ cho các thế lực chính trị, xã hội bên ngoài can thiệp vào công việc nội
bộ của đất nước.
-Thứ ba, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo.
Các dân tộc thiểu số sinh sống tại nhiều địa bàn có vị trí chiến lược của đất
nước. Vì vậy vấn đề dân tộc ở Việt Nam luôn gắn liền với vấn đề tôn giáo.
- Thứ tư,
các thế lực thù địch chống phá: Việc lợi dụng vấn đề dân tộc, gắn vấn đề dân
tộc với vấn đề tôn giáo của các thế lực phản động, thù địch đã gây nên nhiều
bất ổn cho an ninh chính trị, gây nên nhiều khó khăn, phức tạp cho công tác
quản lý nhà nước về vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo, đồng thời cản trở mục
tiêu con đường phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Hiện nay chúng ta phải thực hiện tốt các quan điểm
sau:
Việc giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo phải tuân
thủ theo nguyên tắc: giải quyết vân đề tôn giáo trên cơ sở vấn đề dân tộc,
tuyệt đối không được lợi dụng vấn đề tôn giáo đòi ly khai dân tộc, hay chia rẽ
khối đoàn kết dân tộc làm tổn hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, mà phải đảm
bảo giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất đất nước “tập hợp đồng bào theo tín
ngưỡng tôn giáo và đồng bào không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”- Luật tín ngưỡng, tôn
giáo năm 2016.
Không mắc mưu luận điệu cho rằng phòng, chống tham nhũng là để “xoa dịu dư luận”
Tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc và tôn giáo, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết tôn giáo là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài và cấp bách của cách mạng Việt Nam.
Xuất phát từ mục tiêu cách mạng XHCN mà Đảng và
nhân dân ta đã lựa chọn và yêu cầu sự nghiệp đổi mới hiện nay: Dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Muốn thực hiện được mục tiêu đó
chúng ta phải xây dựng động lực to lớn thúc đẩy phát triển xã hội, đó là sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân.
Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ sự nghiệp đổi mới và
kinh nghiệm các nước trên thế giới về giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo.
Xuất phát từ thực trạng thực hiện mối quan hệ dân
tộc và tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta trong thời gian qua.
Từ sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ,
nhân quyền của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng thời gian
qua.
Hiện nay chúng ta phải thực hiện tốt các quan điểm
như sau:
- Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối sử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo;
đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào không theo tôn giáo
và đồng bào theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của các
dân tộc, đồng thời phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực
của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước.
- Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải luôn là
môi trường, điều kiện thuận lợi nhất cho tất cả các dân tộc, các tôn giáo được
tự do phát triển theo đúng quy định của pháp luật, phát huy mọi nguồn lực, đóng
góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH.
Do vừa là
nhiệm vụ lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách, thực tiễn này đặt ra yêu cầu: Mỗi
giai đoạn lịch sử, việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo cần có cách
tiếp cận, lựa chọn ưu tiên giải quyết phù hợp với bối cảnh, tình hình của giai
đoạn đó; đồng thời phải luôn nhận diện đầy đủ và giải quyết một cách hiệu quả,
kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong mối quan hệ dân tộc và tôn giáo.
Âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền… để chống phá cách mạng Việt Nam, tác động xấu đến mối quan hệ dân tộc, tôn giáo.
Các thế lực thù địch thường xuyên, triệt để lợi dụng
những điều kiện mới của thế giới, vấn đề dân tộc và các động thái tôn giáo, tín
ngưỡng ở nước ta để liên kết các cộng đồng tôn giáo thành một lực lượng chính
trị với âm mưu tạo ra những “điểm nóng” gây mất ổn định xã hội, kích động chủ nghĩa
dân tộc, khơi dậy tư tưởng chia tách dân tộc, đòi tự trị, ly khai…Đây là một
trong những vấn đề bức xúc, đang nổi lên ở một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm,
có sự đa dạng về thành phần tộc người và tôn giáo ở nước ta, từ Miền Núi Phía Bắc,
Miền Tây Thanh Hoá - Nghệ An, Tây Nguyên đến Tây Nam Bộ.
Hiện nay tại một số địa bàn trọng yếu, nhạy cảm,
khu vực biên giới nước ta, bằng nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau, núp dưới
chiêu bài “dân chủ, nhân quyền, quyền của người bản điạ”, các thế lực thù địch
luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, những hạn chế trong thực hiện chính sách
của Đảng và Nhà nước ta để tập hợp lực lượng, tuyên truyền xuyên tạc, kích động
tư tưởng tự trị, ly khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nhằm thực hiện ý đồ phá hoại
tính cố kết nội bộ tộc người và khối đại đoàn kết giữa các dân tộc ở nước ta.
Hoạt động tôn giáo ở một số khu vực vùng dân tộc
thiểu số như Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ…đặc biệt ở các tuyến biên giới, Việt
Nam – Trung Quốc, Việt Nam – Cam Phu Chia còn có biểu hiện chưa tuân thủ pháp
luật, tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội và đi ngược lại
với lợi ích quốc gia. Các hoạt động chống phá này thường được biểu hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau như: lợi dụng mê tín để mê hoặc quần chúng, lừa đảo,
trục lợi, hành nghề trái phép gây thiệt hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân;
làm mất ổn định về đời sống sinh hoạt và sản xuất của đồng bào.
Sử dụng các
phương tiện truyền thông để truyền đạo trái phép.
Trong những năm gần đây các thế lực phản động tăng
cường đổi mới thiết bị, cải tiến kỹ thuật, gia tăng thời lượng phát sóng bằng
tiếng dân tộc, thông qua mạng Intenet, thông qua các cuộc hội thảo, các diễn đàn…để
đẩy mạnh việc truyền đạo trái phép, tuyên truyền một số đạo lạ ở nhiều địa phương
trong cả nước, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng
xa. Qua đó chúng đẩy mạnh hoạt động phá hoại tư tưởng, xuyên tạc chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và tôn giáo; kích động
quần chúng đòi tự do tôn giáo, đòi li khai dân tộc… gây mất trật tự an ninh ở
khu vực cả nước.
Lợi dụng những sơ hở, sai sót trong triển khai thực
hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của ta để can thiệp chính trị.
Những năm
qua nhiều địa phương thực hiện chủ trương thu hồi, đền bù đất, giải phóng mặt bằng
để phục phụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là quá trình tất yếu phải
thực hiện. Tuy nhiên những xai sót trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc,
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ở không ít nơi làm cho nhu cầu sinh hoạt
ở nhiều địa phương chưa được đáp ứng đầy đủ, đời sống vật chất của nhân dân còn
nhiều khó khăn, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có đông
tín đồ. Những xai phạm này dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, một mặt làm suy
giảm niềm tin của dân đối với Đảng, đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,
mặt khác các thế lực xấu và thù địch đã lợi dụng triệt để vấn đề này để kích động
quần chúng nổi dậy chống phá chính quyền.
Vụ hàng
trăm giáo dân thuộc giáo xứ Mỹ yên, xã
Nghi phương, Huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nổi dậy gây rối trong các ngày
4/9/2013 là một ví dụ điển hình.
Tuyên truyền, tác động để thực hiện việc chuyển hoá
chế độ chính trị ở nước ta; kích động tâm lý kỳ thị, hẹp hòi, cực đoan, chia rẽ
dân tộc; hình thành các tổ chức phản động của người dân thiểu số ở nước ngoài để
tác động vào trong nước; lợi dụng việc nghiên cứu văn hoá, du lịch, tăng cường
thâm nhập vào vùng đồng bào các dân tộc thiểu số; tuyên truyền và kích động tư
tưởng ly khai, đòi thành lập các vùng dân tộc tự trị như “Vương quốc Mông tự trị”.
“Nhà nước Đề Ga tự trị”, “Nhà nước Kherme Crôm”
Các thế lực thù dịch và chủ nghĩa đế quốc đã thông
qua con đường du lịch, thăm thân, qua các hoạt động từ thiện…để thăm dò, khảo sát
tình hình và phát tán các tài liệu, ấn phẩm có nội dung truyền đạo phản động vào
các vùng dân tộc ở khu vực Miền Núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên. Tăng cường
hoạt động xâm nhập vũ trang; xâm canh lấn chiếm; xuất nhập cảnh, khai thác vận
chuyển khoáng sản, lâm sản trái phép, buôn bán trái phép; tiếp tục đẩy mạnh xây
dựng hạ tầng ở vùng biên giới, phát triển kinh tế mậu biên; đưa dân ra định cư ở
các xóm giáp biên; duy trì hoạt động quân sự, tuần tra, kiểm soát biên giới…để
tiếp tục “cường biên” . Thậm trí, chúng thông qua các cơ quan đại diện hợp pháp
ở Việt Nam và qua các tổ chức tôn giáo để theo dõi tình hình tôn giáo ở nước
ta, tìm ra những sai sót sơ hở của ta để can thiệp về chính trị, vu cáo ta “đàn
áp tôn giáo”, “vi phạm nhân quyền”, từ đó chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn
giáo, kích động quần chúng nổi dậy chống phá chính quyền, gây sức ép với cán bộ
và gây áp lực buộc ta phải thừa nhận tư cách pháp nhân của một số tôn giáo mới.
- Trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp
tục tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ các tổ chức tôn giáo trong nuớc để phát triển đạo
trong vùng dân tộc thiểu số, bao gồm cả các tà đạo và cả số lượng người theo đạo,
biến các tổ chức và hoạt đọng tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị
nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng Việt Nam.
Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế và những diễn biến phức tạp trong quan hệ dân tộc, tôn giáo từ bên ngoài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam.
Sau 35 năm đổi mới, Việt Nam đã hội nhập ngày càng
sâu rộng với thế giới. Điều này một mặt giúp cho chúng ta có thể tiếp cận và tiếp
thu những thành tựu từ các nước, vận dụng phù hợp và sáng tạo để phát triển
nhanh, song mặt khác nó cũng đặt ra rất nhiều thách thức, nguy cơ mà Việt Nam
phải tỉnh táo vượt qua, kể cả những tác động trong vấn đề dân tộc và tôn giáo đang
diễn ra rất phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới.
-Những căng thẳng tôn giáo và sắc tộc sẽ trở nên trầm
trọng hơn khi có sự can thiệp chính trị từ bên ngoài của đất nước.
Ví dụ: Những xung đột sắc tộc, tôn giáo tại Li Ban
từ những năm 1975, 1990 đã trở thành cuộc nội chiến kéo dài hơn hai thập kỷ;
hay những xung đột sắc tộc, tôn giáo dai dẳng tại khu vực Trung Đông, với những
can thiệp quân sự từ bên ngoài; hoặc xung đột sắc tộc, tôngiáo tại khu vực Tân
Cương, Tây Tạng của Trung Quốc v.v… làm cho những khu vực này luôn trong tình
trạng bất ổn.
>Từ
thực tế này cho thấy, coi trọng giải
quyết mối quan hệ dân tộc, tôn giáo là vấn đề trọng yếu của mỗi quốc gia, nhất
là các quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo như Việt Nam, bởi vì nó là vấn đề rất
nhạy cảm và dễ bị lợi dụng, dễ tạo cớ cho các thế lực bên ngoài can thiệp vào
công việc nội bộ của các quốc gia.
Chủ trương phát triển nhanh tôn giáo trong vùng dân tộc thiểu số của các tổ chức tôn giáo ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ dân tộc, tôn giáo ở nước ta
Mặt tích
cực
Phật giáo:
Đạo pháp- dân tộc- CNXH; Công giáo: Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục phụ
hạnh phúc của đồng bào; Tin lành: Phụng sự thiên chúa, phụng sự Tổ quốc; Cao
đài: Nước vinh- đạo sang; Hoà hảo: Vì đạo pháp, vì dân tộc. Với các đường
hướng hành đạo mới, đồng bào các tôn giáo trên phạm vi cả nước đã tự giác, tích
cực hiện thực hoá đường hướng hành đạo của tôn giáo mình, đồng thời đã góp phần
to lớn cùng dân tộc Việt Nam nói chung và các dân tộc nói riêng đã tạo nên nhiều
thành công trong công cuộc đổi mới đất nước. Đặc biệt theo xu hướng hiện nay,
các tín đồ, chức sắc tôn giáo đã nhập thế tích cực, không bó hẹp đời sống đạo
trong các cơ sở thờ tự mà dấn thân, nhập cuộc vào xã hội, nhất là vào các vùng
DTTS cùng với Đảng, Nhà nước và với cộng đồng các dân tộc giải quyết các vấn
nạn xã hội, thực hiện an sinh xã hội…
Đảng nhà
nước ta luôn tôn trọng đức tin của đồng bào tôn giáo và luôn mong muốn cho
người dân có đạo được “ phần xác no ấm, phần hồn thong dong”
Mặt tiêu cực
+Việc thay đổi đường hướng hành đạo và chủ trương
phát triển nhanh tôn giáo trong vùng DTTS của các tổ chức tôn giáo cũng có
nhiều tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị và an
ninh quốc phòng ở nước ta.
Những năm
gần đây tôn giáo Việt Nam có điều kiện phát triển mạnh, gắn với sự đa dạng về
hình thức (hiện nay có 14 tôn giáo, với 42 tổ chức giáo hội, ngoài ra còn nhiều
tổ chức chưa được công nhận những vẫn hoạt động). Trong tương lai con số này
chắc chắn sẽ không dừng lại. Sự đa dạng còn được thể hiện trong sự phong phú
của thành phần tín đồ tôn giáo gồm rất nhiều tầng lớp, thành phần xã hội, và thể
hiện trong sinh hoạt tôn giáo nhọn nhịp ở hầu hết các tôn giáo.
Trong xu thế mở rộng giao lưu dân tộc, một số tôn
giáo mới sẽ có điều kiện tiếp tục phát triển nhanh gây xáo trộn, phức tạp, nhất
là trong vùng DTTS.
+Đối với các tôn giáo đang hoạt động một cách hợp
pháp cũng có các phương thức, cách thức, biện pháp nhằm không ngừng mở rộng
phạm vi tác động, gia tăng ảnh hưởng và thực hiện thu hút, vận động lôi kéo,
phát triển tín đồ
+ Các tôn giáo mới (chưa được pháp luật công nhận),
đặc biệt là sự tham gia của các tà đạo. Cùng với các tà đạo đã và đang nén nút
hoạt động, sẽ có thể xuất hiện các tà đạo mới trong vùng DTTS, vùng sâu, vùng
xa. Không ít các tôn giáo đã và đang làm đảo lộn trật tự xã hội truyền thống,
làm sói mòn và thương tổn nặng nề đối với nền văn hóa truyền thống của các
DTTS, ảnh hưởng, thậm trí làm biến đổi tư tưởng, tình cảm, tâm lý trong một bộ
phận đồng bào theo đạo, tạo ra nhiều thách thức đối với quá trình giữ gìn và
phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dồng bào dân tộc.
+ Sự tồn tại và và phát triển của tôn giáo mới ở
một bộ phận đồng bào DTTS đã gây nên tình trạng chia rẽ dân tộc, gây mâu thuẫn
giữa người theo đạo và người không theo đạo, mâu thuẫn giữa tín ngưỡng đa thần
và tôn giáo độc thần, từ đó tạo cơ hội cho các thế lực xấu, các thế lực phản động
trong và ngoài nước lợi dụng làm mất ổn định chính trị- xã hội, chia rẽ tình
đoàn kêt dân tộc, đoàn kêt tôn giáo.
+ Hoạt động in ấn, xuất bản, nhập các ấn phẩm, sách
báo tài liệu…từ nước ngoài và lưu hành kinh sách, ấn phẩm tôn giáo trái phép; hiện
tượng giảng đạo, truyền đạo trái phép; hiện tượng giảng đạo, truyền đạo trái
pháp luật tiếp tục diễn ra ở vùng đồng bào DTTS, vùng biển giới.
+ Mặt khác tình hình di cư, dịch cư tự do của đồng
bào DTTS trong đó có cả lý do tôn giáo và diễn biến phức tạp khó kiểm soát,
nhất là trong vùng đồng bào DTTS vùng núi Tây Bắc và Tây Nguyên (ví dụ vấn đề
Tin Lành Vàng Chứ xưng vua trong người Mông, Tin Lành Đề ga vùng Tây Nguyên)
+ Các hoạt động tôn giáo phức tạp, vi pham pháp
luật làm phương hại trực tiếp, có khi nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến đời sống
của đồng bào tôn giáo.
Điển hình là các vụ khiếu kiện về đất đai liên quan
đến tôn giáo: xin đòi lại đất, cơ sở thờ tự có nguồn gốc tôn giáo đã giao cho
nhà nước quản lý. Hiện tượng lấn chiếm hiến tặng, chuyển nhượng đất trái pháp
luật của các nhân tín đồ tôn giáo cho các cơ sở tôn giáo diễn ra khá nhiều, có
chiều hướng gia tăng. Một số việc làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, ảnh
hưởng xấu đến đoàn kết tôn giáo, dân tộc đã sảy ra thời gian qua, như vụ đòi
đất ở 42 Nhà Chung, Quận Hoàn Kiếm và 178 Nguyễn Lương Bằng, Quận Đống Da Hà
Nội; vụ Nhà thờ Công Giáo Tam Tòa, Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; vụ Cồn
Dầu Thành phố Đà Nẵng; vụ việc liên quan đến dất dai Công Giáo ở Đan viện Thiên
An, thừa Thiên Huế, vụ việc ở nhà thờ Tin Lành Phú Phong, tỉnh Bình Định v.v…
(Hiện nay, theo thống kê, kiện cáo, diễn ra
tại 55 tỉnh, có 651 vụ, giải quyết được 382 vụ, trong đó kiện về nhà đất khoảng
70% số vụ) Tây Nguyên: 539 vụ, có 534 vụ trái pháp luật (Công giáo 65,1% số
vụ, lấn chiếm khoảng 2 triệu m2 đất)
+Sự mất đoàn kết nội bộ, hay xuất hiện tư tưởng ly
khai trong một số tổ chức tôn giáo v.v…
Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về dân tộc, tôn giáo là hành lang pháp lý cho thực hiện quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam
Việt nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Chính
sách nhất quán của Đảng ta là: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ”; đồng thời “phát huy
những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức
tôn giáo. Chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trong thời kỳ đổi mới, quan điểm của Đảng về vấn đề
dân tộc và tôn giáo có nhiều đổi mới được thể hiện qua các văn bản:
Nghị quyết 24- NQ/TW 16/10/1990 của Bộ Chính trị về
tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới;
Chỉ thị 37 CT/TW 2/7/98 của Bộ Chính trị về công tác
tôn giáo trong tình hình mới;
Nghị quyết 25- NQ/TW 12/3/2003 của BCHTWƯ về
công tác tôn giáo;
Nghị quyết 24- NQ/TW 12/3/2003 của BCHTWƯ về
công tác dân tộc;
Luật tín ngưỡng
tôn giáo được Quốc hội thong qua năm 2016;
Chỉ thị số 18-
CT/TW 10/1/2018 của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết 25-NQ/TW 12/3/2003
của Ban Chấp hành Trung ương về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Những
chủ trương quan điểm mới của Đảng về vấn đề dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo đã
tạo hành lang pháp lý, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng
cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, đồng thời là cơ sở và điều kiện
để các tôn giáo, cả tôn giáo nội sinh và ngoại nhập đều có xu hướng hòa đồng,
biến đổi, thích ứng, phù hợp với văn hóa, tâm thức dân tộc để tồn tại và phát
triển.
Những chủ trương, chính sách pháp luật về vấn đề
dân tộc, tôn giáo đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết những mâu thuẫn giữa
giáo luật với pháp luật của Nhà nước. Về cơ bản, các tôn giáo đều tự giác thực hiện
trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và cộng
đồng dân tộc, trong đó có lợi ích của tôn giáo mình. Vì vậy tuy có nhiều dân
tộc và tôn giáo tồn tại, nhưng không có xung đột, chiến tranh tôn giáo.
Tuy nhiên
trên thực tế, dù chủ trương chính sách đúng đắn, pháp luật được hoàn thiện,
nhưng nếu thực hiện không nghiêm, không tốt thì việc giải quyết mối quan hệ
DT-TG cũng không hiệu quả, thậm trí gây xung đột, những điểm nóng CT-XH
Ví dụ: Chủ trương xây dựng thuỷ điện, phát triển
kinh tế nâng cao đời sống nhân dân là chủ trương đúng, nhưng khi triển khai, có
một số mặt tổ chức thực hiện không tốt dẫn đến nhiều hệ luỵ cho nhân dân vùng
DTTS. Chẳng hạn như chính sách di dân để giải phóng mặt bằng để xây dựng thuỷ điện,
nhiều chính sách không phù hợp, như: nhà ở tập trung thành khu, thành dãy; nơi ở
cách nơi làm đồng xa…làm cho phần đông đồng bào không ở được ở nơi mơí, dẫn đến
mâu thuẫn, bất đồng với chính quyền. Hoặc trong quản lý rừng phòng hộ, rừng
nguyên sinh còn lỏng lẻo của chính quyền địa phương, nhất là cấp Tỉnh, cấp Huyện,
dẫn đến rừng bị mất, bị phá, bị tự nhiên hoá, là một trong những nguyên nhân làm
thay đổi khí hậu, làm giảm khả năng ngăn lũ, gây nên nhiều đợt lũ ống, lũ quét ở
vùng DTTS.
Việc thực hiện chủ trương…là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị- xã hội.
Việt Nam có địa chính trị, kinh tế, văn hoá thuận lợi cho việc giao thương với các nước để phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá…
Quốc gia của chúng ta, biên giới giáp Vịnh Thái Lan
ở phái Nam, vịnh bắc bộ và biển đông ở phái Đông, Trung Quốc ở phái Bắc; Lào và
Cămpuchia ở phái Tây, với đường bờ biển 3260 km (không kể các đảo), diện tích vùng
biển thuộc chủ quyền khoảng 1 triệu km…
Do vậy trong lịch sử phát triển, nền văn hoá dân tộc
Việt Nam đã giao lưu, du nhập và tiếp biến nhiều nền văn hoá và tôn giáo của các
nước trên thế giới. Các tôn giáo các nền văn hoá đã hoà đồng, khoan dung với hệ
thống tín ngưỡng và văn hoá truyền thống, đóng vai trò quan trọng việc hình thành
mối quan hệ dân tộc, tôn giáo chi phối sâu sắc đạo đức, lối sống của người Việt
Nam, làm giàu và phong phú thêm các giá trị văn hoá truyền thống và đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc.
Tuy nhiên, nó cũng tác động khiến cho mối quan hệ dân tộc, tôn
giáo thêm nhạy cảm, phức tạp và dễ bị lợi dụng để thực hiện những mục tiêu không
trong sáng, không có lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước, nhất là trước
những xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc đang diễn ra rất phức tạp ở nhiều nơi
trên thế giới hiện nay. Trong tình hình hiện nay, xu thế hội nhập quốc tế sâu
rộng, các tôn giáo có điều kiện hội nhập vào Việt Nam, một mặt chúng ta hội
nhập được những tinh hoa văn hóa thế giới, những nét đẹp của tôn giáo thế giới,
nhưng mặt khác sẽ có nhiều vấn đề tôn giáo mới được du nhập vào Việt Nam.
- Nước ta
có địa lý đa dạng, phức tạp
Địa lý nước
ta gồm các vùng đồng bằng, trung du, vùng rừng, núi cao và hải đảo; lại thêm đường
biên giới kéo dài là chung đường biên giới với nhiều nước. Đại bộ phận đồng bào
các dân tộc thiếu số nước ta sinh sống ở các vùng rừng núi cao , vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo. Đây là những vùng có địa hình hiểm trở, giao thông khó
khăn, khí hậu khắc nghiệt, môi trường sống không thuận lợi cho phát triển, đây
là mảnh đất màu mỡ để cho việc truyền đạo trái phép.
Hiện nay chúng ta có 63 tỉnh thành, có 9 tỉnh miền
núi, 23 tỉnh có miền núi, 42 tỉnh thành phố có địa bàn rừng núi cư trú chủ yếu
là các DTTS, chưa kể 12 tỉnh đồng bằng có DTTS (Chăm, khơ me, Hoa)
-Trình độ
phát triển kinh tế, văn hoá xã hội
+Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số đến nay vẫn
dứng trước những khó khăn của sự phát triển.
Đó là tình trạng phát triển không đều giữa các dân
tộc, điều kiện địa lý phức tạp, giao thông khó khăn, dân cư phân tán, trình độ
dân trí thấp, trình độ sản xuất thấp, nguồn nhân lực thiếu và yếu, sức hấp dẫn
để thu hút đầu tư trong nước và quốc tế hạn chế…vì vậy đời sống của một bộ phận
khá lớn đồng bào DTTS, tín đồ tôn giáo còn gặp rất nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ
nghèo, tái nghèo trong đồng bào DTTS, đồng bào tôn giáo còn cao; chênh lệch
giàu nghèo, chênh lệch về trình độ phát triển văn hóa, xã hội… giữa miền núi và
miền xuôi, giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số có xu hướng gia tăng; một số
vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh.
Những yếu kém trong phát triển kinh tế tất yếu sẽ
tác động dẫn tới hạn chế trong việc thực hiện các chính sách dân tộc, tôn
giáo…đây là nguyên nhân làm nảy sinh những bức xúc, mâu thuẫn trong quan hệ dân
tộc, tôn giáo…đồng thời là cớ để địch chống phá.
- Các
thiết chế xã hội còn đơn giản, lạc hậu
Ở vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa, nhìn chung thiết
chế xã hội còn đơn giản, mang tính tự quản là chính, nhiều nơi vẫn mang tính tự
nhiên thuần phác. Đời sống tinh thần được gắn kết chặt chẽ bởi truyền thống văn
hóa, các phong tục tập quán, luật tục…và bởi sợi dây tín ngưỡng tôn giáo tạo
thành nền tảng vững chắc trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và tạo nên sự
cố kết cộng đồng bền chặt, lâu dài trong lịch sử.
Tuy nhiên, hiện nay nhiều nơi trình độ kinh tế kém
phát triển, trình độ dân trí còn thấp và nhiều phong tục tập quán, luật tục…lạc
hậu còn tồn tại. Đây chính là những điều kiện thuận lợi khiến cho một số tôn
giáo thường lựa chọn các khu vực này để thực hiện truyền đạo (như truyền đạo
tin lành ở khu vực Tây Nguyên; Tin lành Vàng Chứ ở khu vực Tây Bắc v.v…) điều này
dễ làm nảy sinh những xung đột mâu thuẫn giữa tín ngưỡng tôn giáo đa thần của một
số đồng bào dân tộc thiểu số với tôn giáo độc thần hoặc một số lợi dụng để truyền
bá tà đạo mà bản chất là cuồng tín, cực đoan, phản động, đi ngược lại những chủ
trương, chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Ví dụ như Hà Mòn
(Tây nguyên), Pháp Luân công (Hà Nội, các tỉnh phiá Bắc), đạo chân không (khu vực
miền Trung), Phủ tốc (Lai Châu, Điện Biên) v.v.. Đây là nguy cơ tiềm ẩn những mâu
thuẫn trong quan hệ dân tộc, tôn giáo cần phải được nhận diện rõ.
Ảnh hưởng của tôn giáo đến những vấn đề ngoài tôn giáo trong các cộng đồng dân tộc/ tộc người ở Việt Nam có xu hướng gia tăng
Các
yếu tố ngoài tôn giáo luôn có sự tác động tích cực và tiêu cực đến mỗi quốc
gia, dân tộc
-Tác động
ngoài tôn giáo theo chiều hướng tích cực
+ Các tôn giáo luôn mong ước một cuộc sống tốt đẹp: Phật giáo, Ki tô giáo, hồi giáo đều
mong ước đến cõi niết bàn hoặc trên thiên đàng, muốn vậy phải tu luỵên, tu
nhân, tích đức
+ Các tín đồ có nhiều hoạt động đóng góp vào sự
phát triển chung của xã hội
> Đào tạo học giả, sáng tạo nghệ thuật; dạy học,
chữa bệnh, ủng hộ người nghèo.
Ví dụ Phần lớn tranh nổi tiếng vẽ về tôn giáo (tranh
Dvenxi); nghệ thuật đúc đồng ở Việt Nam là do tôn giáo sáng tạo... Không có tác
phẩm nào được in dày như kinh thánh…
-Tác động ngoài
tôn giáo theo chiều hướng tiêu cực
+ Xu hướng thúc đẩy sự cố kết giữa vấn đề tôn giáo
và vấn đề tộc người, dân tộc, hoặc gắn vấn đề tự do tôn giáo với vấn đề nhân quyền để thực hiện mục đích chính trị,
gây ra những mâu thuẫn, chia rẽ, xung đột sắc tộc, dân tôc, tôn giáo, làm mất
ổn định chính trị - xã hội
+ Sự phát triển nhanh đạo Tin Lành…Nhà nước đề ga,
vương quốc Mông tuyên truyền những nội dung phản văn hoá, truyền đạo trái pháp,
phát tán các tài liệu, chống phá cách mạng.