Việt nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Chính
sách nhất quán của Đảng ta là: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng,
đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ”; đồng thời “phát huy
những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức
tôn giáo. Chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trong thời kỳ đổi mới, quan điểm của Đảng về vấn đề
dân tộc và tôn giáo có nhiều đổi mới được thể hiện qua các văn bản:
Nghị quyết 24- NQ/TW 16/10/1990 của Bộ Chính trị về
tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới;
Chỉ thị 37 CT/TW 2/7/98 của Bộ Chính trị về công tác
tôn giáo trong tình hình mới;
Nghị quyết 25- NQ/TW 12/3/2003 của BCHTWƯ về
công tác tôn giáo;
Nghị quyết 24- NQ/TW 12/3/2003 của BCHTWƯ về
công tác dân tộc;
Luật tín ngưỡng
tôn giáo được Quốc hội thong qua năm 2016;
Chỉ thị số 18-
CT/TW 10/1/2018 của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết 25-NQ/TW 12/3/2003
của Ban Chấp hành Trung ương về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Những
chủ trương quan điểm mới của Đảng về vấn đề dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo đã
tạo hành lang pháp lý, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng
cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, đồng thời là cơ sở và điều kiện
để các tôn giáo, cả tôn giáo nội sinh và ngoại nhập đều có xu hướng hòa đồng,
biến đổi, thích ứng, phù hợp với văn hóa, tâm thức dân tộc để tồn tại và phát
triển.
Những chủ trương, chính sách pháp luật về vấn đề
dân tộc, tôn giáo đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết những mâu thuẫn giữa
giáo luật với pháp luật của Nhà nước. Về cơ bản, các tôn giáo đều tự giác thực hiện
trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và cộng
đồng dân tộc, trong đó có lợi ích của tôn giáo mình. Vì vậy tuy có nhiều dân
tộc và tôn giáo tồn tại, nhưng không có xung đột, chiến tranh tôn giáo.
Tuy nhiên
trên thực tế, dù chủ trương chính sách đúng đắn, pháp luật được hoàn thiện,
nhưng nếu thực hiện không nghiêm, không tốt thì việc giải quyết mối quan hệ
DT-TG cũng không hiệu quả, thậm trí gây xung đột, những điểm nóng CT-XH
Ví dụ: Chủ trương xây dựng thuỷ điện, phát triển
kinh tế nâng cao đời sống nhân dân là chủ trương đúng, nhưng khi triển khai, có
một số mặt tổ chức thực hiện không tốt dẫn đến nhiều hệ luỵ cho nhân dân vùng
DTTS. Chẳng hạn như chính sách di dân để giải phóng mặt bằng để xây dựng thuỷ điện,
nhiều chính sách không phù hợp, như: nhà ở tập trung thành khu, thành dãy; nơi ở
cách nơi làm đồng xa…làm cho phần đông đồng bào không ở được ở nơi mơí, dẫn đến
mâu thuẫn, bất đồng với chính quyền. Hoặc trong quản lý rừng phòng hộ, rừng
nguyên sinh còn lỏng lẻo của chính quyền địa phương, nhất là cấp Tỉnh, cấp Huyện,
dẫn đến rừng bị mất, bị phá, bị tự nhiên hoá, là một trong những nguyên nhân làm
thay đổi khí hậu, làm giảm khả năng ngăn lũ, gây nên nhiều đợt lũ ống, lũ quét ở
vùng DTTS.
Việc thực hiện chủ trương…là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị- xã hội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét