Thứ Ba, 2 tháng 11, 2021

Tổng hợp 381 hành vi khiến đảng viên bị khai trừ Đảng

 


Đảng viên chính thức có các hành vi vi phạm sau đây sẽ bị khai trừ Đảng theo Quy định 102-QĐ/TW năm 2017 về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm do Ban Chấp hành Trung ương ban hành:

Vi phạm về quan điểm chính trị và chính trị nội bộ

1. Cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của Đảng và dân tộc.

2. Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự", "đa nguyên, đa đảng".

3. Cố ý đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước; truyền thống của dân tộc, của Đảng và Nhà nước.

4. Lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hoạt động gây nguy hại đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

5. Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

6. Hoạt động trong các đảng phái, tổ chức chính trị phản động.

7. Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.

..........................

16. Xúi giục, kích động, ép buộc người khác nói, viết, lưu giữ, tán phát, xuất bản, cung cấp những thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

17. Bị dụ dỗ, lôi kéo hoặc bị cưỡng ép tham gia các đảng phái, tổ chức chính trị hoạt động trái phép mà gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ

18. Vô tổ chức, vô kỷ luật, bỏ vị trí công tác nhiều lần không có lý do chính đáng; có hành vi chống lại các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

19. Lợi dụng quyền dân chủ để bè phái, lợi ích nhóm hoặc lợi ích cục bộ gây mất đoàn kết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị nơi mình sinh hoạt.

………………..

33. Không chấp hành các quyết định lãnh đạo, chỉ đạo, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của tổ chức đảng cấp trên và cấp mình, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

34. Cố ý nói và làm trái nghị quyết, quyết định, kết luận đã được tập thể thống nhất thông qua, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm các quy định về bầu cử

35. Tổ chức thực hiện việc giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc làm sai lệch kết quả bầu cử.

36. Có hành vi, việc làm phá hoại cuộc bầu cử.

37. Tổ chức lực lượng, phe nhóm, dòng họ để vận động người tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử vào các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trái quy định.

……………………

45. Có hành vi mua chuộc, xúi giục, cưỡng ép hoặc vận động bầu cử trái quy định; cản trở, đe dọa người khác thực hiện quyền ứng cử, đề cử hoặc bầu cử theo quy định của Đảng và pháp luật Nhà nước, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

46. Không trung thực trong việc kê khai, nhận xét, xác nhận hoặc thẩm định hồ sơ, lý lịch, tài sản, thu nhập của người ứng cử theo quy định về bầu cử, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm về tuyên truyền, phát ngôn

47. Không chấp hành kỷ luật phát ngôn và bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước, đã để lộ thông tin, tán phát tài liệu, hiện vật không đúng nguyên tắc, chế độ quy định; tung tin sai lệch về nội bộ Đảng, gây tác động xấu đến ổn định chính trị, kỷ luật, kỷ cương, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và nhân dân, để kẻ xấu và các lực lượng thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, chống phá, hạ thấp uy tín của Đảng, chống phá Nhà nước.

48. Lợi dụng dân chủ, nhân quyền để tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước; cố ý nói, viết, lưu giữ trái phép hoặc tán phát rộng rãi các thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng hoặc đưa lên mạng những nội dung chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

49. Kích động, lôi kéo người khác tham gia hội thảo, tọa đàm không được tổ chức có thẩm quyền cho phép, có nội dung trái chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

…………………..

62. Lợi dụng việc phát ngôn, chất vấn, trả lời chất vấn, nhân danh việc phản ánh, góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng, dự thảo Hiến pháp, pháp luật, thư ngỏ, hồi ký để đưa ra các quan điểm, thông tin gây tổn hại uy tín của Đảng, Nhà nước hoặc đả kích, vu cáo, xúc phạm, nhận xét, đánh giá tùy tiện có dụng ý xấu đối với tổ chức, cá nhân, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

`63. Sáng tác, sản xuất, tàng trữ, tán phát các tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật không lành mạnh, trái thuần phong mỹ tục Việt Nam, mang tính kích động gây ảnh hưởng xấu trong xã hội; tán phát bài viết, bài nói, bài phỏng vấn, hồi ký, hình ảnh có nội dung không đúng sự thật, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm trong công tác tổ chức, cán bộ

64. Môi giới, nhận hối lộ trong tiếp nhận, tuyển dụng, cử tuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, bố trí công tác hoặc nâng lương, nâng ngạch, khen thưởng, phong học hàm, xét phong tặng danh hiệu vinh dự trái quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.

65. Có hành vi chạy chức, bằng cấp, vị trí công tác, luân chuyển; mua chuộc để bản thân hoặc người khác được quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, chuyển đổi vị trí công tác.

………………

84. Thiếu trung thực, gương mẫu, biết mình không đủ tiêu chuẩn, điều kiện nhưng vẫn tìm mọi cách để các Cơ quan chức năng tiếp nhận, tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu bầu, ứng cử, khen thưởng đối với mình trái quy định, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

85. Thiếu trách nhiệm hoặc do động cơ cá nhân làm thất lạc, mất hồ sơ cán bộ, đảng viên, tài liệu hồ sơ của tổ chức đảng thuộc trách nhiệm quản lý; cung cấp hồ sơ cán bộ, hồ sơ đảng viên cho người không có trách nhiệm biết trái quy định, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm các quy định về bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước

86. Tự nghiên cứu, sản xuất, sử dụng mật mã để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

87. Trao đổi, tán phát thông tin, tài liệu, hiện vật có nội dung thuộc bí mật của Đảng, Nhà nước trên mạng viễn thông, Internet và các phương tiện thông tin đại chúng khác.

……………………..

92. Cung cấp, tiết lộ trái quy định những thông tin, tài liệu, hiện vật thuộc phạm vi bí mật của Đảng, Nhà nước cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

93. Phổ biến, tuyên truyền, viết bài, đăng tin những thông tin, tài liệu thuộc phạm vi bí mật của Đảng, Nhà nước không đúng đối tượng, phạm vi, thời điểm cần được phổ biến hoặc công bố, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm trong công tác phòng, chống tội phạm

94. Làm sai lệch hồ sơ vụ án để không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, miễn, giảm tội, thay đổi tội danh, thay đổi biện pháp ngăn chặn cho người phạm tội hoặc bao che, tiếp tay cho tội phạm.

95. Chỉ đạo, ép buộc cấp dưới do mình trực tiếp phụ trách trả thù cán bộ điều tra vụ việc vi phạm pháp luật xảy ra ở tổ chức, cơ quan, đơn vị được giao trực tiếp phụ trách.

…………………………….

112. Bảo kê, bao che, tiếp tay cho các hoạt động vi phạm pháp luật, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

113. Cố ý tham mưu việc quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc tạm giữ, tạm giam người trái quy định của pháp luật gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán

114. Cố ý kết luận hoặc tham mưu kết luận sai sự thật, quyết định xử lý trái quy định để bao che cho người khác trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

115. Chống đối, cản trở, mua chuộc, trả thù, trù dập, khống chế, vu khống người làm nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, người cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ cho hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.

……………………………….

125. Phát hiện hành vi vi phạm trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán đến mức phải xử lý mà không chỉ đạo, quyết định hoặc không kiến nghị xử lý, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

126. Giấu giếm, sửa chữa chứng từ, sổ sách hoặc thay đổi, tiêu hủy chứng cứ nhằm đối phó với các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

127. Tổ chức, cưỡng ép, kích động, xúi giục, giúp sức, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác khiếu nại, tố cáo sai sự thật hoặc gây áp lực, đòi yêu sách hoặc tập trung đông người khiếu nại, tố cáo gây rối an ninh, trật tự công cộng.

128. Lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để gây rối trật tự, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để chống Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, đe dọa, xúc phạm nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giải quyết hoặc xâm phạm tính mạng của người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo.

………………………

140. Tổ chức, tham gia, kích động, xúi giục, mua chuộc, cưỡng ép người khác khiếu nại, tố cáo, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

141. Tố cáo mang tính bịa đặt, vu khống, đả kích, bôi nhọ thanh danh, gây tổn hại đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người khác, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí

142. Mở tài khoản ở nước ngoài trái quy định; tham gia các hoạt động rửa tiền.

143. Chủ trì, tham mưu, đề xuất, tham gia ban hành các chế độ, chính sách, quy trình, thủ tục trái quy định tạo lợi ích nhóm hoặc lợi ích cục bộ nhằm trục lợi. Tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh việc kê khai tài sản, thu nhập; đối phó, cản trở việc kiểm tra, giám sát, xác minh tài sản, thu nhập.

………………………..

162. Quyết định, phê duyệt hoặc tổ chức thực hiện dự án đầu tư gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước; đầu tư công tràn lan không hiệu quả; chi tiêu công quỹ trái quy định, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

163. Kê khai tài sản và giải trình về biến động tài sản, nguồn gốc tài sản không trung thực, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm các quy định trong đầu tư, xây dựng

164. Cấu kết, thông đồng giữa bên mời thầu với nhà thầu, giữa cơ quan quản lý nhà nước với bên mời thầu và với nhà thầu để thay đổi hồ sơ dự thầu, thông đồng với cơ quan thẩm định, cơ quan tư vấn, giám sát, thanh tra gây thiệt hại lợi ích của tập thể, lợi ích của quốc gia.

165. Đồng ý cho chia dự án thành các gói thầu trái với quy định; tiết lộ những tài liệu, thông tin về đấu thầu; dàn xếp thông thầu, gây thiệt hại cho nhà nước, doanh nghiệp.

…………………………..

173. Quản lý, xây dựng công trình không bảo đảm chất lượng gây đổ, sập, hỏa hoạn, tai nạn hoặc lãng phí, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

174. Lợi dụng việc kiến nghị trong đấu thầu để cản trở quá trình đấu thầu và ký kết hợp đồng, cản trở các nhà thầu khác tham gia đấu thầu, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng

175. Giả mạo, khai man, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán hoặc cố ý thỏa thuận, ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật.

176. Làm tiền giả; vận chuyển, tàng trữ, lưu hành tiền giả, vàng giả.

……………………..

192. Thực hiện không đúng mức tiền cho vay trên giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; nhận thế chấp, cầm cố tài sản để cho vay không đúng quy định; trốn tránh trách nhiệm trả nợ, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

193. Thiếu trách nhiệm trong công tác thanh tra, giám sát ngân hàng, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm trong quản lý, sử dụng các loại quỹ hỗ trợ, tài trợ, nhân đạo, từ thiện

194. Tổ chức quản lý và điều hành quỹ sai quy định của pháp luật; tổ chức vận động tài trợ trái quy định.

195. Lợi dụng việc lập quỹ để hoạt động bất hợp pháp hoặc gây phương hại đến lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng, đoàn kết dân tộc hoặc để tài trợ khủng bố, hoạt động chống phá khác.

………………………..

203. Vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý tài chính, công khai tài chính của quỹ, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

204. Sử dụng tiền quỹ quyên góp để cho vay, gửi tiết kiệm lấy lãi sử dụng trái quy định, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội

205. Thiếu trách nhiệm, thực hiện không đầy đủ, không đúng, không kịp thời các quy định về chính sách an sinh xã hội, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

206. Vi phạm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, chính sách ưu đãi đối với người có công, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

…………………….

211. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chi sai mục đích, đối tượng, định mức, tiêu chuẩn chính sách an sinh xã hội, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

212. Thiếu trách nhiệm trong việc phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn.

Vi phạm quy định về đất đai, nhà ở

213. Chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, hủy hoại đất.

214. Giả mạo, gian lận giấy tờ, làm sai lệch hồ sơ trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đối với nhà ở.

223. Làm trái quy định trong việc quản lý nhà, trụ sở làm việc của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội, doanh trại đơn vị quân đội, công an hoặc trong sở hữu, xây dựng, sử dụng, sửa chữa nhà ở của tổ chức được giao quản lý, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

224. Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về đất đai hoặc có hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm về quản lý, cấp phát, sử dụng văn bằng, chứng chỉ

225. Làm công tác tuyển dụng, xét tuyển, đào tạo nhưng cố ý để người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp được dự thi tuyển, xét tuyển đi học, thi nâng ngạch.

226. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn bao che cho cán bộ, công chức, đảng viên thuộc quyền quản lý sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

………………….

239. Cho người khác sử dụng văn bằng, chứng chỉ của mình để sử dụng trong việc tuyển dụng, đi học, thi nâng ngạch, bổ nhiệm, bầu cử hoặc các mục đích trái quy định, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm quy định về lập hội và hoạt động của hội; biểu tình, tập trung đông người gây mất an ninh, trật tự

240. Chủ trì, khởi xướng hoặc chủ động tham gia lập các hội trái quy định của pháp luật; tổ chức hoạt động của hội trái tôn chỉ, mục đích gây ảnh hưởng xấu trong xã hội.

241. Khởi xướng tôn chỉ, mục đích, nội dung, hình thức; chủ trì, chuẩn bị kế hoạch, phân công, tập hợp lực lượng, tham gia bàn bạc, tuyên truyền, vận động, lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tham gia biểu tình, tập trung đông người trái quy định của Đảng và Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự.

…………………..

251. Lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để tổ chức, tham gia biểu tình, tập trung đông người, gây mất an ninh, trật tự, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

252. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để dung túng, bao che, tiếp tay dẫn đến xử lý không nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự công cộng, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm quy định về hôn nhân và gia đình

253. Vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

254. Ép buộc vợ (hoặc chồng), con làm những việc trái đạo lý, trái pháp luật mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

…………………………

263. Cố ý khai gian dối hoặc có hành vi lừa dối khi đăng ký kết hôn hoặc cho, nhận nuôi con nuôi, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm quy định về kết hôn với người nước ngoài

264. Cố tình kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà người đó không đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.

265. Kết hôn với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà biết người đó có hoạt động phạm tội nghiêm trọng, có thái độ hoặc hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

……………..

272. Có hành vi ép con kết hôn với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhằm vụ lợi, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

273. Môi giới kết hôn giữa người Việt Nam với người nước ngoài trái quy định của pháp luật Việt Nam, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm quy định về quan hệ với tổ chức, cá nhân người nước ngoài

274. Quan hệ với tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hành vi chống Đảng, Nhà nước, làm phương hại đến lợi ích quốc gia.

275. Biết nhưng vẫn nhận tài trợ của cá nhân, tổ chức có hoạt động chống Đảng và Nhà nước.

………………

286. Liên doanh, liên kết, đầu tư vốn dưới mọi hình thức với cá nhân, tổ chức nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không báo cáo hoặc khi chưa được sự đồng ý của tổ chức đảng có thẩm quyền, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm quy định về chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình

287. Gian dối trong việc cho con đẻ hoặc nhận nuôi con nuôi mà thực chất là con đẻ nhằm cố tình sinh thêm con ngoài quy định.

288. Sinh con thứ năm trở lên.

289. Cản trở, cưỡng bức thực hiện kế hoạch hóa gia đình; tham gia các hoạt động xét nghiệm, chuẩn đoán để xác định giới tính thai nhi trái quy định, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

……………..

291. Vi phạm trong trường hợp sinh con thứ tư (trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác), gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

Vi phạm quy định về đạo đức nghề nghiệp trong ngành Y tế

292. Tự ý bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, không theo dõi và xử trí kịp thời đối với các diễn biến của người bệnh dẫn đến tử vong.

293. Thiếu trách nhiệm, không khẩn trương sơ cứu, cấp cứu người bệnh, chuẩn đoán, xử lý kịp thời đối với người bệnh dẫn đến người bệnh bị tử vong.

…………………….

307. Vi phạm các quy định về chuyên môn, kỹ thuật trong khám, chữa bệnh, gây hậu quả rất nghiêm trọng cho người bệnh.

Vi phạm về chế độ trách nhiệm, đạo đức lối sống, tín ngưỡng và tôn giáo

308. Bao che, tiếp tay cho hành vi vi phạm nghiêm trọng của cấp dưới, dẫn đến người vi phạm đến mức phải xử lý về hình sự.

309. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu Cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương cố tình báo cáo sai sự thật, che giấu tội phạm, hành vi vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hoặc che giấu tình trạng mất đoàn kết nội bộ kéo dài ở nơi mình trực tiếp phụ trách.

………………

379. Tổ chức, vận động, dụ dỗ, kích động, lôi kéo, đe dọa, ép buộc người khác tham gia tôn giáo bất hợp pháp, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

380. Ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân tác động xấu đến đoàn kết dân tộc, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

381. Bao che, tiếp tay cho các hoạt động mê tín, dị đoan trong các lễ hội; lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức để trục lợi, gây hậu quả "rất nghiêm trọng".

 

ĐỪNG MANG TƯ DUY NHƯỢC TIỂU ĐỂ “GẦM RÚ” CHUYỆN CAMPUCHIA TẶNG VIỆT NAM 200.000 LIỀU VACCINE

 

         Mới đây, Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã quyết định gửi tặng Việt Nam 200.000 liều vaccine Covid-19. Nhưng ngay sau đó, tài khoản FB mang tên Nguyễn Xuân Diện và một số tài khoản FB đã chia sẻ lại thông tin kèm theo dòng bình luận “ngại quá nhỉ”, “Việt Nam xin đồ thừa”,…

Sai lầm đầu tiên của các đối tượng đó là chỉ nhìn cái trước mắt mà không nhìn những gì đã từng diễn ra trong quá khứ. Nhớ lại năm 2020, khi đó Việt Nam được quốc tế đánh giá là hình mẫu lý tưởng chống dịch bởi chúng ta đã kiểm soát được dịch bệnh khá tốt. Đó cũng là thời điểm, nhiều quốc gia trên thế giới gặp khó khăn trong công tác chống dịch, trong đó có Campuchia. Chúng ta đã không ngần ngại gửi tặng nước bạn trang thiết bị y tế trị giá bảy tỷ đồng bao gồm: quần áo bảo hộ, khẩu trang y tế, khẩu trang kháng khuẩn, hệ thống xét nghiệm cùng bộ xét nghiệm dịch Covid-19. Thậm chí vào tháng 4 năm nay, Chính phủ và nhân dân Việt Nam vẫn trao tặng 800 máy thở, 2 triệu khẩu trang y tế và 300.000 khẩu trang N95 cho Campuchia ứng phó với dịch Covid-19. Câu chuyện cho đi đó không chỉ xảy ra với Campuchia mà còn có với người anh em Lào của chúng ta. Rồi cả với Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Úc, Ý, Anh, Pháp, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia,… Thử hỏi, lúc đó có ai bảo các nước nhận viện trợ của Việt Nam là nhục không?

Có câu chuyện kể rằng: Ở một thành phố nghèo, khi cả thành phố mất điện, một cậu bé nghèo nghe lời mẹ đã sang nhà hàng xóm hỏi còn nến để thắp sáng hay không? Cô hàng xóm còn băn khoăn chưa biết nên trả lời như thế nào thì cậu bé đã nhanh tay đưa ra một cây nến. Có thể thấy, người nghèo có thể trao đi sự đồng cảm, trao sự tin yêu. Họ chia sẻ với những ai cùng cảnh ngộ chứ không nhất thiết là tiền bạc. Đó là trao đi lòng yêu thương và sự tương trợ. Cái gì cũng có quy luật, cho đi và nhận lại cũng vậy. Cho đi là còn mãi, cho đi là nhận lại. Cho đi chưa hẳn phải nhận lại thứ đã cho, mà nhận lại rất nhiều những thứ khác. Ai cũng có lúc khó khăn, cách chúng ta cho đi là sự giúp đỡ chân thành, hỗ trợ nhau lúc khó khăn không vụ lợi nên khi chúng ta gặp khó khăn trong chiến dịch tiêm chủng vaccine thì việc Campuchia hỗ trợ Việt Nam cũng là điều vô cùng bình thường. Chỉ có mấy kẻ đầu óc hẹp hòi, nông cạn mới nghĩ rằng đó là “nhục”, “là đi xin đồ thừa”.

Có một điều, chúng ta cần hiểu đó là những điều gì mang lại lợi ích cho người dân, cho đất nước thì chẳng có gì phải ngượng hay xấu hổ. Chúng ta phải nhìn nhận ở góc cầu thị là thời gian qua Chính phủ đã làm rất tốt công tác ngoại giao vaccine, luôn đi gieo hạt trước để có được ngày đơm hoa kết trái và thu hoạch như ngày hôm nay. Nếu như Việt Nam cũng “ngượng và nhục” như Nguyễn Xuân Diện và một số đối tượng nói mà từ bỏ đi một cơ hội mang về lợi ích cho đất nước và dân tộc thì điều đó càng trở nên có tội hơn. 200.000 liều vaccine, là 200.000 người được bảo vệ trước biến chủng Delta quái ác. Đó là điều chúng ta nên vui mừng thay vì buông lời soi mói, công kích. Nực cười là, trong số những kẻ nói Việt Nam nhục nhã thì cũng có không ít người đang được tiêm vaccine theo chính sách tiêm chủng miễn phí của đất nước.

Có câu “Nếᴜ gầm rú cũпg giải quyết ᵭược vấn ᵭề thì con lừa sẽ thốпg trị thế giới”, chúng ta không thể ngăn cản được việc một số kẻ mang tư duy tiểu nhược đi buông lời soi mói, công kích những việc tốt đẹp và tích cực mà đất nước đang làm. Như việc Nguyễn Xuân Diện và một số đối tượng “gầm rú” xuyên tạc, công kích chính quyền, gây cản trở chiến dịch tiêm chủng vaccine phòng Covid-19 của Việt Nam cũng như ly gián mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Campuchia. Chúng ta không thể ngăn cản nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tỉnh táo, vạch trần âm mưu và thủ đoạn của họ.

P/S: Những con người thiếu hiểu biết luôn phát ngôn như vậy, họ không biết hay cố tình không biết; cuối tháng 10/ 2021 vừa qua QUÂN KHU 7, QUÂN KHU 5, BCH QS BÀ RỊA - VŨNG TÀU đều tặng vật phẩm kèm tiền để hỗ trợ cho quân đội hoàng gia CAMPHUCHIA, đó là chưa kể sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, Chính phủ VIỆT NAM./. BUỒN cho những con người thiếu hiểu biết như thế.

 

BỘ CÔNG AN CẢNH BÁO MA TÚY DƯỚI DẠNG NƯỚC DÂU, NƯỚC XOÀI NGUY HIỂM CHO TRẺ EM!

     Bộ Công an vừa đưa ra cảnh báo, thời gian qua nhận được báo cáo của một số đơn vị, địa phương về thủ đoạn trá hình ma túy tổng hợp rất tinh vi. Qua công tác đấu tranh, cơ quan công an đã thu giữ các gói ma túy được ngụy trang dưới dạng gói bột thực phẩm hương dâu pha uống.


Trong gói bao bì có hình thức bắt mắt này là chất bột có màu trắng đục; chất bột này có mùi hương dâu. Qua công tác giám định, thành phần chủ yếu trong chất bột này là ma túy tổng hợp MDMA. Một thủ đoạn trá hình ma túy khác là những gói bột được đóng trong loại bao bì bắt mắt có in hình quả dâu, bên ngoài ghi chữ “Crispy Fruit”; và có in các thành phần thường thấy của loại nước uống trái cây.


Tuy nhiên bao bì không ghi thông tin của nhà sản xuất cũng như xuất xứ của sản phẩm. Theo lời khai ban đầu của các đối tượng bị bắt giữ thì những gói bột này là một dạng ma túy. Theo cơ quan công an, ngoài ma túy được nguỵ trang dưới dạng nước dâu, một số địa phương trong nước đã phát hiện loại ma túy dưới dạng nước xoài.


Những loại ma túy này được sử dụng pha để uống nên được ngụy trang như một loại nước giải khát. Bộ Công an khuyến cáo, đây là hình thức, thủ đoạn rất mới và những sản phẩm này nếu được tiêu thụ ở các trường học hay các khu vui chơi thì sẽ rất nguy hiểm, gây tác hại khôn lường cho xã hội và khó khăn cho cơ quan chức năng trong phát hiện, ngăn chặn./.



Môi Trường ST.

BẢO VỆ TÍNH CHÍNH DANH, TÍNH CHÍNH PHÁP CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM!

     Từ mấy ngàn năm xưa, cổ nhân vô cùng coi trọng “danh chính ngôn thuận” và mấy ngàn năm qua, lớp lớp thế hệ ở quốc gia dân tộc nào cũng đều là như vậy. Nhưng thời nay, có không ít người danh đã không chính, hay “hữu danh vô thực”, tức cũng “danh không chính”, thậm chí nhân danh vô lối, tiếm danh tăm tối, lại nói quàng nói xuyên, đi ngược lòng người, bất chấp sự thật và trái lẽ tự nhiên. Điều này càng đúng với những ai đang mưu toan bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử và thực tiễn Đảng Cộng sản Việt Nam.


NHIỀU ĐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ RA ĐỜI NHƯNG ĐỀU BẤT LỰC TRƯỚC ĐÒI HỎI CỦA DÂN TỘC

Lịch sử Việt Nam hơn 91 năm qua, nhìn bao quát, có thể nói là lịch sử của sự lựa chọn, khẳng định và thực thi mục tiêu phát triển gắn với sự lựa chọn đảng chính trị lãnh đạo đất nước, dẫn dắt dân tộc, vì mục tiêu đó. Ngay từ những thập niên đầu tiên tới những năm 50 của thế kỷ 20 đã và luôn là lịch sử thăng trầm của sự đào thải, sàng lọc, kiểm nghiệm và lựa chọn đó.

Năm 1930, qua hơn nửa thế kỷ, kể từ năm 1858, lúc bấy giờ, đất nước rên xiết trong vòng nô lệ của chủ nghĩa thực dân Pháp và chế độ phong kiến. Nhu cầu tất yếu dân tộc phải độc lập, nhân dân phải được tự do và dân chủ, hoàn toàn bế tắc, chưa thấy tương lai. Độc lập tự do hay là chết? Hàng loạt cuộc khởi nghĩa do giai cấp nông dân, các sĩ phu yêu nước Việt Nam ngõ hầu trả lời câu hỏi lịch sử đó, nhưng đều lần lượt thất bại. Các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, tầng lớp xã hội ở nước ta, lúc bấy giờ, nhảy ra tranh đoạt vũ đài chính trị dân tộc, cũng đông đúc chưa từng thấy. Ai cũng biết, từ đảng của giai cấp nông dân (Nghĩa hưng, năm 1907); đảng của giai cấp tư sản, địa chủ (Lập hiến, năm 1923)... tới đảng của tầng lớp thanh niên, sinh viên, trí thức tiểu tư sản (Việt Nam nghĩa đoàn, Đảng Thanh niên, Đảng An Nam độc lập (năm 1927), Việt Nam Quốc dân đảng (năm 1927)... rồi đảng của bọn tay sai của đế quốc Pháp và phát xít Nhật, (Đại Việt quốc gia xã hội đảng, Đại Việt quốc dân đảng (những năm 1940 tới khi Việt Nam giành được độc lập bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945); chen chúc các đảng phản động (Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách)... thật huyên náo, tới mức hỗn loạn chính trường. Trong số ấy, chỉ một số đảng mong chấn hưng đất nước nhưng “lực bất tòng tâm”, số còn lại những mưu toan tính biến đất nước thành nơi thử nghiệm những mưu đồ chính trị của giai cấp, tầng lớp họ.

Nhưng rốt cuộc, tất cả những đảng đó đã lùi vào dĩ vãng của lịch sử và bị lịch sử dân tộc chôn vùi rất lặng lẽ trái với sự huyên náo đến mức hỗn loạn lúc các đảng này xuất hiện và khua chiêng gõ mõ trên chính trường Việt Nam lúc bấy giờ. Các đảng này hoặc tự phải diệt vong hoặc bị giải tán. Theo đó, các giai cấp, tầng lớp đại diện cho các đảng đó cũng cáo chung vai trò lãnh đạo dân tộc. Thách thức của lịch sử về vị trí, vai trò của đảng chính trị đối với vận mệnh cứu đất nước khỏi vòng nô lệ, nhân dân khỏi xiềng xích vong quốc nô vẫn đang bỏ ngỏ. Điều đó ai nấy đều rõ.


ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM MỞ RA TRANG SỬ MỚI CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Trong thời gian ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giữa “một rừng” đảng phái chính trị ở Việt Nam. Không ồn ào như các đảng trên ra đời từ sớm, mà trái lại, Đảng lặng lẽ hiện diện, thậm chí phải tạm lánh ở nước ngoài, vì Đảng “là con nòi” của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, được hun đúc bởi truyền thống yêu nước thương nòi Việt Nam, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyện chiến đấu và hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đảng Cộng sản bị kẻ thù vây bủa, đàn áp đẫm máu, bị các đảng khác đương thời chèn ép, tranh đoạt sự ảnh hưởng. Trong 15 năm đầu, bao lần Đảng bị thực dân Pháp vây ráp, khủng bố trắng, hàng nghìn đảng viên của Đảng bị tù đầy, chém giết, hàng vạn đồng bào bảo vệ Đảng bị bắt bớ, lưu đầy, chỉ riêng 31 Ủy viên Trung ương của Đảng đã bị thực dân Pháp “tặng” cho 221 năm tù khổ sai. Nhiều Tổng Bí thư của Đảng bị thực dân Pháp tử hình... Lịch sử của Đảng 15 năm đầu được viết bằng máu đào và xương trắng đảng viên, chiến sĩ, đồng bào cuộc đấu tranh song trùng: Giữa Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến bán nước của chúng và giữa các đảng chính trị Việt Nam trong việc giành vị thế cầm quyền đất nước... Tất cả được thử thách qua sự sàng lọc, lựa chọn và đào thải của lịch sử, của nhân dân. Đó là khí phách Việt Nam. Điều đó ai cũng đều thấy.

Một đảng cộng sản như thế xứng đáng là một đảng gánh vác sứ mệnh lịch sử, đứng mũi chịu sào trước nhân dân, dẫn dắt dân tộc. Vì sự thật Đảng vốn là “đứa con nòi” phải thuộc về dân tộc, phải là của nhân dân và đảm đương sứ mệnh “phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”, dẫn dắt đất nước thực thi trọng trách nhân dân giao phó: Độc lập dân tộc và CNXH. Đảng Cộng sản Việt Nam là người kết tinh, chung đúc những tố chất của một đảng vô sản kiểu mới và thực tế đủ bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ lãnh nhiệm trọng trách ấy của đất nước đặt ra và được nhân dân tin theo và hy sinh vì nó. Và Đảng trở thành một đảng dẫn dắt dân tộc và sau nay trở thành một đảng cầm quyền. Không một lực lượng chính trị nào Việt Nam lúc bấy giờ và bây giờ đủ tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị có thể làm nổi, không một ai có đủ chính danh cho tới tận hôm nay để có thể, dù cả gan, dù bất chấp đạo lý và pháp lý, làm vấy bẩn nó.

Sinh ra trong lòng dân tộc và đồng hành cùng dân tộc bẻ gãy gông xiềng nô lệ quàng lên cổ đất nước, giành lại độc lập cho Tổ quốc, lập nên chính quyền của nhân dân, và Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Điều đó làm nên địa vị lịch sử một cách tự nhiên và địa vị pháp lý của Đảng một cách tất yếu. Vấn đề quan trọng hơn hết và quyết định tất thảy là, địa vị cầm quyền đó của Đảng đã được bảo đảm bởi năng lực cầm quyền và uy tín cầm quyền trên thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam suốt hơn 91 năm qua; và, vị thế nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hơn 76 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng, trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và trọng thị.

Vì không có trọng trách gì nặng nề và vẻ vang hơn, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng luôn là đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam-giai cấp đại biểu cho yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến. Đảng không có lợi ích nào cao hơn rằng, Đảng là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Mục tiêu phấn đấu của Đảng không có gì khác ngoài “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong vị thế vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành “Đảng ta”, “Đảng của chúng ta”, “Đảng của dân tộc chúng ta”... Đó là đạo lý Việt Nam. 

Và đi trên con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) tới cái đích cao quý ấy được Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra ngay lúc mới ra đời. Qua hơn 76 năm cầm quyền, Đảng cùng toàn dân tộc xây dựng nên một nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã và đang giữ một vị thế mới trên trường quốc tế mà bất cứ ai cũng thấy. Qua 35 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta càng trưởng thành toàn diện. Trước thềm Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016), dư luận quốc tế nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là chính đảng duy nhất cầm quyền là một mô hình thành công đặc biệt và mô hình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển vì rất nhiều mô hình đã được thử nghiệm, nhưng chưa thấy mô hình nào thành công”.

Trọng trách cầm quyền của Đảng, vinh dự được cầm quyền của Đảng trước nhân dân là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân Việt Nam thừa nhận, ủy thác và tin theo, chứ tuyệt đối không phải “từ trên trời rơi xuống” hay sự sắp xếp chủ quan của bất cứ ai, sự ngộ nhận của bất cứ giai cấp, tầng lớp nào.

Nhân đây, cần được nói thêm về một số ý kiến lưỡng lự hoặc công kích về chuyện một đảng hay đa đảng và vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Rằng, từ những năm 40 tới những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, ở nước ta, còn có hai đảng là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời ngày 30-6-1944 và tự giải tán vào ngày 20-10-1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời ngày 22-7-1946 và tự giải tán tròn 42 năm sau đó, ngày 22-7-1988) đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng dân tộc Việt Nam tranh đấu vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng CNXH. Nghĩa là, Việt Nam đã từng và có một thời kỳ lịch sử không ngắn, ngót nửa thế kỷ, sau khi dân tộc giành lại nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được hưởng nền tự do, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng có nhiều đảng chính trị khác hoạt động và tự giải tán, chứ đâu phải câu chuyện hão về “đảng toàn trị”, “độc đảng” hoặc đâu cần ai khuyến nghị “muốn có dân chủ, phải đa đảng”.

Tới đây, lại nhớ và nhắc lại lời người xưa, rằng nếu như đem dục vọng, tạp niệm của mình lắng xuống, có đạo lý nào mà chúng ta không thể thông suốt? Rằng, nếu đem chí hướng của mình mạnh mẽ khơi dậy, có việc gì mà ta không thể làm? Mấy vị ngày nay ấy, danh chính gì mà luận chính danh hay chính pháp về Đảng, khi các vị chỉ biết ôm trong lòng sự kiêu ngạo vô lối mà quan sát sự tình, mang tinh thần uể oải sa sút, thậm chí đem con mắt hạt đậu mà định luận sự việc, chẳng qua cũng chỉ là hồ đồ sống hết cuộc đời mình. Chỉ thế mà thôi!

Có thể nói gọn lại, lịch sử dân tộc Việt Nam sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đến lượt mình, Đảng đáp lại yêu cầu của lịch sử dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô, tốc độ, chiều sâu của công cuộc phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Đó là biện chứng phát triển tự nhiên và tất yếu của dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhu cầu phát triển tất yếu của đất nước hiện nay, trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, dưới ngọn cờ của Đảng. Đó là tính tất yếu cầm quyền của Đảng, tính chính danh, chính pháp, bảo đảm tư cách pháp lý và đạo lý để Đảng cầm quyền./.

Yêu nước ST.

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19

Ngày 2/11 các tỉnh miền Tây tiếp tục ghi nhận ca mắc Covid-19 ở mức cao. Cụ thể, Cần Thơ gần 300 ca, Kiên Giang 400 ca, Bạc Liêu 316 ca, An Giang 314 ca, Tiền Giang 202 ca...

Phú Thọ: Thêm 54 ca mắc mới

Theo báo cáo của Sở Y tế, từ 06h00 đến 18h00 ngày 02/11, tỉnh Phú Thọ ghi nhận 54 ca mắc COVID-19 mới. Trong các trường hợp mắc mới, có 44 trường hợp trường hợp F1 hoặc trong vùng phong tỏa, đều đã được cách ly, theo dõi và quản lý; 10 trường hợp mắc mới trong cộng đồng đều liên quan đến ổ dịch tại Thanh Sơn.

Thanh Hóa: Thêm 36 ca mắc mới, đều đã được cách ly

Trong 24h qua trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ghi nhận thêm 36 bệnh nhân mắc Covid-19; trong đó có 25 trường hợp lây nhiễm trong tỉnh và 11 trường hợp là công dân trở về từ các tỉnh, thành phố phía Nam. 

Như vậy, tính từ ngày 27/4 đến nay, Thanh Hóa ghi nhận 1.138 ca mắc Covid-19, có 686 người được điều trị khỏi bệnh, 7 trường hợp tử vong. 

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Trong ngày, các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện xét nghiệm bằng PCR hơn 4.723 mẫu (Ảnh: CDC Thanh Hóa).

Tính đến thời điểm này, Thanh Hóa đã triển khai tiêm được hơn 1,3 triệu liều vaccine phòng Covid-19. 

Nghệ An: Xuất hiện 1 ca cộng đồng

Địa phương này ghi nhận thêm 20 ca mắc Covid-19 mới, nâng tổng số ca mắc toàn tỉnh đến 2/11 là 2.498 bệnh nhân. Trong ngày có 12 trường hợp là công dân trở về từ các tỉnh, thành có dịch phía Nam, 7 trường hợp là F1 chuyển thành F0. Ca cộng đồng duy nhất được phát hiện là người đàn ông 31 tuổi, trú xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu.

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 2

Nhấn để phóng to ảnh

TP Vinh, tỉnh Nghệ An thiết lập khu vực cách ly tại nơi phát hiện ca mắc Covid-19 cộng đồng (Ảnh: Hoàng Lam).

Ngày 2/11 có thêm 34 bệnh nhân Covid-19 được ra viện; không ghi nhận ca tử vong. Hiện toàn tỉnh còn 297 bệnh nhân Covid-19 đang điều trị.

Hà Tĩnh: "Sạch" ca mắc Covid-19 mới

Trong 24h qua, Hà Tĩnh không ghi nhận ca mắc Covid-19 mới. Đến nay, địa phương này có 529 bệnh nhân Covid-19; 5 trường hợp tử vong; hiện còn 25 ca đang điều trị.

Quảng Bình: Thêm 8 ca mắc mới

Ngày 2/11, Quảng Bình ghi nhận 8 ca dương tính với SARS-CoV-2. Cụ thể có một trường hợp phát hiện trong khu cách ly, 3 trường hợp là công dân trở về từ các tỉnh có dịch phía Nam; 4 F1 chuyển thành F0.

Trong ngày địa phương này có thêm 6 bệnh nhân Covid-19 xuất viện.

Tính đến nay, Quảng Bình ghi nhận 2.018 ca mắc Covid-19; có 1.904 trường hợp đã khỏi bệnh và xuất viện; 109 ca đang tiếp tục được điều trị; 6 ca tử vong.

Quảng Bình đã triển khai tiêm được hơn 446.000 mũi vaccine Covid-19, trong đó hơn 64.000 người đã tiêm đủ 2 mũi.

Quảng Trị: Nhiều ca mắc mới về từ phía Nam

Ngày 2/11, tỉnh Quảng Trị ghi nhận 7 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, là người về từ phía Nam; 8 trường hợp khỏi bệnh. Đến nay, địa phương này có 508 trường hợp mắc Covid-19, đang điều trị 78 trường hợp.

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Địa điểm tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tạm thời phong tỏa do liên quan đến ca mắc Covid-19 (Ảnh: Đăng Đức).

Đã có 467.168 người dân Quảng Trị được tiêm vaccine phòng Covid-19, trong đó có 71.812 người tiêm 2 mũi.

Các tỉnh miền Tây tiếp tục ghi nhận hàng ngàn ca mắc Covid-19

Theo Sở Y tế TP Cần Thơ, trong ngày 2/11, thành phố ghi nhận 296 ca nhiễm SARS-CoV-2 mới, trong đó có 20 ca ngoài thành phố. Số ca mắc Covid-19 ở Cần Thơ từ ngày 8/7 đến nay là 8.379 ca. 

Trong số ca mắc mới, có 98 ca cách ly tại nhà, 74 ca trong khu cách ly, 83 ca ở khu phong tỏa và 41 ca tầm soát ở cơ sở y tế. Trong ngày có 51 ca mắc Covid-19 được điều trị khỏi, nâng tổng số ca điều trị khỏi lên 6.245 người. 

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Cán bộ ngành y tế lấy mẫu xét nghiệm cho người dân Cần Thơ (Ảnh: Bảo Kỳ).

Cùng ngày, Kiên Giang phát hiện 400 F0 trong đó có 71 ca cộng đồng, 127 ca trong khu cách ly, 202 ca trong khu phong tỏa. Tính từ ngày 21/6 đến ngày 2/11 Kiên Giang ghi nhận tổng cộng lên 10284 ca. Hiện đã điều trị khỏi 7621 ca và 25 ca tử vong.

Ngày 2/11, Bạc Liêu ghi nhận 316 trường hợp có kết quả RT-PCR khẳng định dương tính với vi rút SARS-CoV-2, trong đó có 182 trường hợp ghi nhận tại cộng đồng.

Đến nay toàn tỉnh Bạc Liêu có tổng cộng 3.888 ca mắc Covid-19, đã điều trị thành công 1.286 trường hợp, hiện còn 2.622 người mắc Covid-19 đang được điều trị. Trong ngày có 3 ca tử vong, nâng tổng số lên 32 ca.

Theo Ban chỉ đạo phòng chống Covid-19 An Giang, trong ngày địa phương này ghi nhận 314 trường hợp. Tổng số trường hợp mắc Covid-19 từ ngày 15/4 đến nay là 11.822 trường hợp (có 19 trường hợp tái dương tính).

Số trường hợp mắc được phát hiện ở tất cả 11 địa phương. Trong đó, TP Long Xuyên ghi nhận ca mắc nhiều nhất (80 trường hợp), huyện Tri Tôn (69 trường hợp). Có 2 trường hợp nhập cảnh về từ Campuchia, đã được kiểm soát.

Trước những diễn biến hết sức phức tạp về tình dịch Covid-19 trong tỉnh thời gian gần đây, mới đây, Văn phòng UBND tỉnh An Giang đã ban hành công văn bản thống nhất theo đề xuất triển khai cách ly điều trị tại nhà trường hợp F0 không triệu chứng trong theo tờ trình của Sở Y tế.

Cùng ngày, tỉnh Tiền Giang ghi nhận 202 ca mắc Covid-19 mới, trong đó có 21 ca trong cộng đồng, các ca còn lại trong khu cách ly, phong tỏa. Đến nay toàn tỉnh Tiền Giang đã ghi nhận tổng số 17.009 ca mắc Covid-19, trong số này có 14.790 ca được điều trị khỏi, 404 ca tử vong.

Theo thông tin từ Sở Y tế Sóc Trăng, ngày 2/11, tỉnh ghi nhận có 193 trường hợp mắc mới Covid-19. Trong đó có 106 trường hợp là F1 chuyển thành F0,  12 trường hợp về từ vùng dịch, tất cả đã được quản lý trước đó; 69 trường hợp phát hiện qua sàng lọc tại cộng đồng...

Số ca mắc cộng dồn đến hết ngày 2/11 là 5.968  trường hợp. Số ca khỏi bệnh trong ngày là 29 nâng tổng số đã điều trị lành lên 3.781. Đến nay tỉnh Sóc Trăng đã có 49 trường hợp tử vong.

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 5

Nhấn để phóng to ảnh

Cà Mau cũng đang trưng dụng nhiều trường học làm khu cách ly tập trung (Ảnh: CTV).

Cùng ngày, Cà Mau ghi nhận 157 ca mắc mới, trong đó có đến 102 ca cộng đồng, nâng tổng số 2096 ca mắc, đã điều trị thành công 1.261 người, 15 bệnh nhân tử vong.

Ngày 2/11, tỉnh Bến Tre ghi nhận 31 ca mắc Covid-19. Tổng số ca mắc toàn tỉnh là 2.485 ca, trong đó có 2.065 ca ra viện, 52 ca tử vong. Trong số ca mắc, 23 ca tại cộng đồng.

Trong ngày 2/11, Đồng Tháp ghi nhận 91 ca mắc mới (tăng 02 ca so với hôm qua); trong đó có 23 ca trong cộng đồng. Tổng số ca dương tính cộng dồn 9.997 ca; số bệnh nhân Covid-19 hiện đang điều trị 656 ca, có 5 ca rất nặng. Số bệnh nhân xuất viện 40 ca trong ngày, cộng dồn 9.112 ca. 

Trong ngày, tỉnh Trà Vinh đã phát hiện 67 ca nhiễm, gồm 28 ca phát hiện trong cộng đồng, 26 ca phát hiện trong khu cách ly tập trung, 9 ca là người ngoài tỉnh về địa phương, 3 ca phát hiện trong khu phong tỏa và 1 ca phát hiện tại cơ sở y tế

Toàn tỉnh Trà Vinh đã có 3.001 ca mắc Covid-19, trong đó đã điều trị khỏi 1.822 trường hợp, số ca đang điều trị là 1.156, ghi nhận 23 ca tử vong.

Theo Sở Y tế tỉnh Hậu Giang, ngày 2/11 địa phương này ghi nhận 77 ca mắc Covid-19 mới. Đến nay, Hậu Giang đã có 1.525 ca, điều trị khỏi 963 ca, hiện đang cách ly điều trị 557 ca.

Cùng ngày, Vĩnh Long ghi nhận 50 trường hợp nhiễm SARS-CoV-2, gồm 33 ca cộng đồng, 6 ca sàng lọc cơ sở y tế; 1 ca qua xét nghiệm sàng lọc tại công ty TNHH Kyungshin - KCN Hòa Phú; 3 ca ở tỉnh khác về và 7 ca là F1 được cách ly trước đó. Đến này, toàn tỉnh Vĩnh Long đã có 2.702 ca mắc Covid-19, đã  điều trị khỏi cho 2.464 ca.

Nguồn: Dân trí.


Đấu tranh chống bệnh quan liêu, vô cảm với nhân dân của cán bộ, đảng viên


          Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu, trước yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước, Đảng ta xác định đây là một trong những vấn đề mang tính cấp bách, nội dung quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước. Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác phòng, chống quan liêu nói riêng, phòng chống suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức nói riêng như: Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2 - khóa VIII); Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Gần đây, ngày 28-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

          Từ chủ trương, Nghị quyết của Đảng được triển khai quyết liệt vào thực tế thời gian vừa qua, chúng ta có nhiều tấm gương về cán bộ, đảng viên tận tụy với nhân dân, nhiều cách làm hay để gần dân, hiểu dân, phát huy sức mạnh từ nhân dân như mô hình “Gần dân, sát dân”Ngày thứ Bảy với dân”, “Chính quyền thân thiện của dân, do dân và vì dân”; “Gần công nhân, sát công nhân, lắng nghe ý kiến công nhân”, các diễn đàn “Nhân dân nói về chúng tôi”, “Cà phê doanh nhân”… Qua đó, góp phần làm thay đổi cách nghĩ, cách làm của cán bộ, đảng viên, từ tư duy “ban phát”, “ra lệnh” sang tư duy phục vụ là “đầy tớ của nhân dân”.

          Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu từ sự yếu kém, suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, căn bệnh quan liêu, vô cảm đến nay vẫn là căn bệnh mãn tính trong Đảng và bộ máy công quyền. Với tinh thần tự phê thẳng thắn, nghiêm túc, Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”.

          Trên thực tế, có thể thấy hiện nay căn bệnh này diễn ra xảy ra ở hầu hết các cấp, các ngành, các địa phương, với những mức độ khác nhau. Những vụ việc kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân như việc tố cáo, khiếu nại của công dân về Khu đô thị mới Thủ Thiêm; hàng loạt dự án hiện đang “đắp chiếu” có thâm niên chục năm với hàng nghìn tỷ đồng; việc xây dựng trụ sở hành chính quá lãng phí trong khi địa phương còn nghèo hay dùng ngân sách ưu tiên phục vụ cho nhà riêng của cán bộ lãnh đạo; những câu chuyện "hành dân" của một số bộ phận trong cơ quan công quyền hoặc ứng xử không đúng với chuẩn mực của người cán bộ ở các địa phương; những đại biểu nhân dân chỉ biết “ngủ gật” trước bức xúc của dân, vấn đề cuộc sống “rất nóng” nhưng hội trường HĐND cấp tỉnh, huyện, xã thì “rất lạnh” cũng không phải hiếm gặp. Nhiều chính sách ban hành viển vông, xa rời thực tế, một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức trì trệ, vô trách nhiệm “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về" …

          Trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu chính quyền cấp một số địa phương quan liêu, thiếu sâu sát, vô cảm trước khó khăn, nỗi đau của nhân dân nên đã không có chính sách chống dịch, hỗ trợ nhân dân kịp thời, thậm chí cắt xén, tham ô quỹ phòng chống dịch, tiền cứu trợ làm cho tình hình dịch ở địa phương diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo cớ cho thế lực thù địch xuyên tạc, phá hoại.

          Để đấu tranh chống căn bệnh này, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:

          Tăng cường công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức để mỗi cán bộ, đảng viên thật sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về thương dân, hiểu dân, gần dân, trọng dân, phụng sự dân; thực sự để "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mỗi cán bộ, đảng viên tự giác, tự nhận thức về trách nhiệm đạo đức trong việc phục vụ dân, đồng cảm, trăn trở với cuộc sống của dân cũng như biết trọng “liêm sỉ, danh dự” để giữ mình trước cám dỗ của lợi ích không chính đáng, không phản bội lại lợi ích của dân, của Đảng.

          Phải thực hành dân chủ, động viên nhân dân tham gia đấu tranh chống bệnh quan liêu, vô cảm bởi “Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng” . Kết hợp giữa giáo dục đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên, với việc nâng cao trách nhiệm của đoàn thể, quần chúng trong giám sát, phản biện xã hội để "trị" căn bệnh này. Cần dựa vào nhân dân để đánh giá, để “sữa chữa cán bộ”. Từ đó, khen thưởng, biểu dương cán bộ, đảng viên tốt và kiên quyết loại những "công bộc" yếu kém, "vô cảm" ra khỏi bộ máy cơ quan công quyền.

          Để trị “bệnh vô cảm”, rất cần tạo dựng môi trường xã hội nhân văn, tiến bộ, lành mạnh để tiếp tục vun đắp và không ngừng nhân lên những giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống nhân ái của dân tộc. Trước hết, cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên để lan tỏa các giá trị tốt đẹp trong xã hội. Hiện nay, Đảng đã có những quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên như Quy định số 101- QÐ/TW của Ban Bí thư, Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Quy định số 08-QĐi/TW của Bộ Chính trị, trong đó đặt ra yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu là phải thật sự nêu gương trước Đảng và nhân dân, phải kiên quyết chống lại các biểu hiện “Độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân”. Có thể nói, đề cao việc nêu gương, làm cho cái tốt lấn át cái xấu, cái thiện thắng cái ác, cái chân thực lấn át cái giả dối sẽ là liều thuốc đặc trị chữa “tận gốc” căn bệnh quan liêu, vô cảm đang khá phổ biến hiện nay.

          Bên cạnh công tác giáo dục đạo đức, tư tưởng rất cần có quy định pháp luật cụ thể để phòng chống căn bệnh quan liêu, vô cảm - nhất là khi căn bệnh này đã ăn sâu trong một số bộ phận của bộ máy công quyền và những người có chức, có quyền. Hiện nay, Đảng ban hành quy định về những điều đảng viên không được làm, Nhà nước ban hành bộ quy tắc về đạo đức công vụ, văn hóa công sở, quy định pháp lý về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, của cán bộ, công chức. Theo đó, đối với cán bộ đảng viên khi mắc căn bệnh quan liêu, vô cảm với nhân dân, thì đó không chỉ là sự vi phạm về đạo đức mà còn vi phạm điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước. Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, trong thời gian tới, công cuộc cải cách hành chính, xây dựng nền công vụ hiện đại, xây dựng nhà nước liêm chính, tinh gọn, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, phụng sự nhân dân, cần tiếp tục triển khai sâu rộng hơn với những mục tiêu, biện pháp, lộ trình cụ thể, bởi một khi cả hệ thống tổ chức và vận hành một cách chặt chẽ, khoa học sẽ buộc cán bộ, công chức phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nếu không muốn bị đào thải.

          Trong thực hiện nhiệm vụ công, cần thực hiện chế độ trách nhiệm cá nhân, xác định rõ, cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan, từng chức danh trong bộ máy nhà nước, nhất là người đứng đầu, từ đó quy trách nhiệm, khắc phục tình trạng tranh công, đổ tội, khắc phục căn bệnh chây ì, lười biếng, vô trách nhiệm trước nhân dân.

          Công tác kiểm tra, kiểm soát cần tiến hành thường xuyên, trên mọi cấp độ, trên mọi lĩnh vực nhằm kịp thời phát hiện sai lầm, những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, của mỗi cán bộ đảng viên dù bất kỳ chức vụ công tác nào để kịp thời sửa chữa, xử lý. Vấn đề bao trùm hơn là đưa quyền lực vào “lồng kiểm soát”, xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ, quy định cụ thể, không để có khoảng trống pháp lý, kẽ hở để cán bộ, công chức vi phạm. Những bản án, những quyết định kỷ luật nghiêm khắc với cán bộ, đảng viên vi phạm trong thời gian qua đã góp phần răn đe, chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật của cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước.

          Bên cạnh đó, trong xã hội hiện đại và dân chủ hiện nay, việc tăng cường đối thoại với nhân dân là một trong cách hiệu quả nhất để giải quyết những điểm nóng ở cơ sở. Bộ Chính trị đã ban hành quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/2/2019 về “Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”. Điều quan trọng hơn là từ cuộc đối thoại trực tiếp đó, các cấp ủy đảng, chính quyền cần có hành động thiết thực, cụ thể giải quyết nhu cầu chính đáng của nhân dân, tránh nói suông, hứa suông làm mất niềm tin của dân.

          Thực hiện được những giải pháp trên sẽ là liều thuốc “đặc trị” căn “bệnh mãn tính” quan liêu, thờ ơ, vô cảm của cán bộ, đảng viên; xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa dân với Đảng, Đảng với dân./.

 

Bảo vệ nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Nguyễn Ái Quốc là nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Cùng với việc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin và gieo hạt giống cộng sản ở Việt Nam; trực tiếp chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam những năm sau này. Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản vô cùng quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trở thành nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trải qua gần 10 năm bôn ba, nhờ tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tận mắt chứng kiến những biến động xảy ra ở trời Âu và tội ác của giai cấp bóc lột ở nhiều nước trên thế giới; với sự cầu thị, ham học hỏi, vốn sống, kinh nghiệm đã tích lũy và trình độ ngoại ngữ ngày càng thông thạo, Nguyễn Ái Quốc đã có thêm những nhận thức mới. Nguyễn Ái Quốc đã rút ra những nhận xét, kết luận hữu ích, tìm thấy những tinh hoa tốt đẹp cần tiếp thu và cả những gì là hạn chế, bất cập cần phải khắc phục. Vì thế, tình yêu quê hương, ý thức dân tộc và giai cấp ở Nguyễn Ái Quốc từng bước phát triển; các mối quan hệ được mở rộng; ý thức đoàn kết, hợp tác quốc tế được nâng cao. Đó là hành trang cần thiết để Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản chân chính. Năm 1920, Người đã đọc được Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo).

Tiếp nhận thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp khoa học của bản Luận cương Lê-nin là luồng sinh khí mới, lại tích cực tham gia hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản. Đó là bước nhảy vọt về chất trong nhận thức của Người, là một sự kiện đặc biệt trọng đại, có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, quyết định tầm nhìn, quan điểm, lập trường; sự lựa chọn con đường cứu nước, cứu dân của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là sự hội tụ, kết tinh ý chí, khát vọng và là tinh thần của cả một dân tộc; phản ánh tâm nguyện của nhiều bậc tiền bối, các sĩ phu yêu nước nhưng chưa có điều kiện thực hiện.

Tiếp cận và hiểu đầy đủ, sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng Chủ nghĩa Mác-Lênin, giá trị và ý nghĩa Cách mạng Tháng Mười Nga diễn ra trong thời gian Nguyễn Ái Quốc công tác, học tập ở Liên Xô (1923-1924), tham dự Hội nghị Quốc tế Công hội đỏ. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc vào học lớp bồi dưỡng lý luận tại Trường Đại học Phương Đông. Tại quê hương của Lê-nin vĩ đại, Người đã nhiều lần phát biểu ý kiến ca ngợi Lê-nin, ca ngợi thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và kết quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Người đã nghiên cứu bộ sách "Tư bản" của C.Mác và "Chính sách kinh tế mới" của Lê-nin, cùng với đó, tham khảo những bài học kinh nghiệm về cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước xô viết và viết tác phẩm "Nhật ký chìm tàu" để tuyên truyền giá trị, ý nghĩa của Chủ nghĩa Mác-Lênin, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Người đã rút ra kết luận: Việt Nam muốn giành độc lập dân tộc không có con đường nào khác là phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Lênin. Nguyễn Ái Quốc đã tới Quảng Châu (Trung Quốc), ở đó, Người đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, ra Báo Thanh niên và mở lớp đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Người khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu, học tập lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người viết: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin. Đồng thời, chỉ ra nhiệm vụ cấp bách của người cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc.

Có thể nói rằng, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp Người phân tích, tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới, tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định những nội dung cốt lõi của Chủ nghĩa Mác-Lênin và nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu và truyền bá sâu rộng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và quảng đại quần chúng nhân dân. Các văn kiện đó đã trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta. Tổng kết kinh nghiệm, thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ, thắng lợi của chúng ta, trước hết là nhờ có vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người coi Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là “cái cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam cho hành động, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Vì lẽ đó, Người đánh giá rất cao cống hiến vĩ đại của Lê-nin đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa. 

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng chỉ là một nhà yêu nước như bao nhà yêu nước khác ở Việt Nam đầu thế kỷ 20: Chung một khát vọng giải phóng dân tộc, mong muốn giành lấy tự do, độc lập nhờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài. Nếu không đọc Luận cương của Lê-nin, chưa đến được với Chủ nghĩa Lê-nin, chưa trở thành người cộng sản chân chính thì quan điểm, tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa thể tạo ra bước ngoặt cách mạng, không có điều kiện để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và do đó, Người không thể đặt nền móng cho tư tưởng mác-xít đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa kết trái trên quê hương Tổ quốc Việt Nam.

Chính Chủ nghĩa Mác-Lênin đã trang bị cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để Người tìm ra con đường cứu nước mới, đưa Người vượt lên phía trước mọi thiên kiến hẹp hòi, khắc phục căn bản sự khủng hoảng về chính trị, sự bế tắc về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, gieo mầm cộng sản trên quê hương Việt Nam.
Sự phát triển tư tưởng mác-xít ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là kết quả tất yếu của quá trình xâm nhập, thẩm thấu Chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, gắn liền với công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; nhờ đó mà tư tưởng yêu nước gắn liền với tư tưởng quốc tế vô sản. Mục tiêu cứu nước, cứu dân ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 được dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, vũ trang lý luận cho con đường đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, giúp họ thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Rõ ràng, với việc trang bị thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho đội ngũ cán bộ cốt cán ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã giúp họ hòa nhập vào cách mạng thế giới, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng mácxít-lêninnít kiểu mới, đội tiên phong của giai cấp công nhân, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.  Từ đây, tinh thần biện chứng pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thể hiện sâu sắc trong các văn kiện, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng. Các văn kiện thành lập Đảng như Chính cương vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi thảo và các nghị quyết của Đảng ta soạn thảo từ năm 1930 đến nay đều thể hiện tinh thần sống động của Chủ nghĩa Mác-Lênin, thấm nhuần sâu sắc giá trị khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Những điều nêu trên đã giải nghĩa sâu sắc lý do vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, nhất quán với lập trường, quan điểm lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; vì sao chúng ta phải kiên định, trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong bối cảnh mới; không được mắc sai lầm trong nhận thức, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam sao cho phù hợp.

Đó cũng là điều giải thích rõ ràng vì sao bên cạnh Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Vì sao Bộ Chính trị khóa XII lại ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với mục tiêu và ý nghĩa là phải bảo vệ bằng được thành trì lý luận chính trị của Đảng, bảo đảm cho kim chỉ nam của Đảng luôn chỉ đúng hướng và ngày càng chi phối, thấm sâu vào tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên và đời sống tinh thần xã hội.

Sự thật không thể phủ nhận, xuyên tạc

 


Như một thứ định kiến đã được lập trình, cũng như mưu đồ phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam, mỗi khi đề cập tới cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, các báo cáo nhân quyền hằng năm của một số tổ chức thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam lại đưa ra các đánh giá, nhận định hết sức u ám, bi quan, sai sự thật, thậm chí hạ thấp, xúc phạm nhân phẩm con người. Đối chứng với thực tế, không khó nhận ra đó là các nhận định đầy xấu xa, phiến diện và phi lý mà bản chất là bịa đặt, vu khống vô căn cứ.

Những năm qua, Tây Nguyên đã trải qua một quá trình thay da đổi thịt mạnh mẽ, các tiềm năng được khai thác và phát huy, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số đã không ngừng được nâng cao. Đặc biệt, do tính chất đa dạng về xã hội, kinh tế, văn hóa,… nên tại đây, việc bảo đảm quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương hết sức coi trọng, tiêu biểu là bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, bảo tồn và phát triển văn hóa, chăm sóc y tế, học tập… Và dưới sự lãnh đạo, điều hành trực tiếp của cấp ủy, chính quyền tại địa phương, các tầng lớp nhân dân Tây Nguyên luôn đồng lòng, nỗ lực củng cố, đạt rất nhiều thành tựu to lớn về quyền con người.

Trước đây, người dân tộc bản địa ở Tây Nguyên sống tăm tối giữa sự vây hãm triền miên của đói nghèo, lạc hậu. Đại ngàn, mảnh đất màu mỡ giàu tài nguyên bị thực dân, đế quốc thi nhau khai thác, còn chủ nhân núi rừng phải sống với phận nô lệ. Mồ hôi, nước mắt và cả máu của đồng bào đã đổ xuống cho các đồn điền. Cùng với cuộc sống đói cơm, nhạt muối, đạn xới, bom cày, các tộc người thiểu số bị đối xử bất bình đẳng, khinh rẻ, kỳ thị, bị kích động nghi kỵ và hận thù, là nạn nhân của chính sách “ngu dân”. Từ khi có ánh sáng của Đảng, Tây Nguyên cùng cả nước đứng lên, trải qua vô vàn gian khổ, cống hiến và hy sinh để đất nước thống nhất, các dân tộc được giải phóng, cuộc sống đã sang trang mới.

Ngay những ngày đầu giải phóng, Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều nghị quyết, chương trình và đầu tư nhiều nguồn lực quan trọng để phát triển khu vực, từng bước cải thiện cuộc sống của đồng bào. Đặc biệt là từ khi thực hiện Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001-2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011 - 2020, cùng với đó là nhiều chương trình giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sạch, bảo vệ rừng,… đã giúp tập trung các nguồn lực đầu tư, góp phần làm thay đổi toàn diện cuộc sống ở địa bàn chiến lược này.

Hiện nay, toàn vùng Tây Nguyên có 2.800 trên tổng số 7.800 buôn, thôn, tổ dân phố có đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống. Đi từ triền núi Ngok Linh đến thung lũng sông Đồng Nai luôn thấy hình ảnh tươi sáng của các buôn làng, đồng bào có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. Các địa phương đều xây dựng những chương trình cụ thể để phát triển vùng sâu, vùng xa. Như tỉnh Gia Lai phân công 49 cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh phụ trách 49 xã đặc biệt khó khăn; 487 cơ quan cấp huyện, thị phụ trách 487 buôn, thôn, gần 100 doanh nghiệp trên địa bàn kết nghĩa hỗ trợ các xã vùng sâu, vùng xa. Từ năm 1994, tỉnh Kon Tum đã triển khai chương trình xây dựng các xã vùng cao, vùng biên giới với việc tập trung đầu tư nguồn lực cho 53 xã trọng điểm khó khăn, điều động hàng nghìn lượt cán bộ về bám cơ sở nhằm tuyên truyền, vận động, tổ chức cuộc sống, sản xuất. Các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng cũng đều có những cách làm tương tự…

Ngày nay, Tây Nguyên đã và đang thay đổi rất mạnh mẽ. Giao thông trong khu vực phát triển chưa từng có với mạng lưới đường bộ gần 40 nghìn km, đường hàng không có ba sân bay, đồng thời triển khai hai dự án đường sắt và dự án đường cao tốc hiện đại. Giao thông thuận lợi làm thay đổi diện mạo các buôn làng, kết nối các đô thị, các tỉnh trong khu vực, mở rộng giao thương với các trung tâm lớn trong nước và các nước lân cận. Từ buôn làng đến phố thị, quê hương của 5 triệu người thuộc 47 dân tộc, trong đó đồng bào thiểu số bản địa chiếm 34% với khoảng 1,6 triệu người, đều hiển hiện bức tranh tràn đầy sức sống, với ba huyện, thị và 123 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Sau ngày đất nước thống nhất, nhiều tộc người ở đây còn tập quán du canh du cư, sống trong sự bất ổn, lạc hậu, đói nghèo, bệnh tật. Nhà nước đã sớm giúp đồng bào định canh định cư, ổn định cuộc sống, làm quen với sản xuất hàng hóa.

Trên miền đất gian khó năm xưa, dần xuất hiện các buôn làng giàu có với nhiều tỷ phú là người dân tộc thiểu số; GDP bình quân đầu người đạt xấp xỉ 40 triệu đồng/năm. Ngày nay, Tây Nguyên là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm với những con số ấn tượng: gần 600 nghìn ha cà-phê; 72 nghìn ha hồ tiêu; cao-su, điều, rau, hoa và các loại cây ăn quả đều phát triển mạnh. Tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 15%, hộ cận nghèo còn khoảng 4,5%. Số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế toàn vùng đạt 55%, xã và trạm y tế có bác sĩ đạt 88%, số bác sĩ trên 10 nghìn dân đạt 7,42%; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 72%. Quy mô và chất lượng giáo dục được nâng cao. Hệ thống trường dân tộc nội trú phủ khắp địa bàn với những chính sách ưu đãi về điều kiện học tập, sinh hoạt cho con em của đồng bào…

Để hiện thực hóa một nội dung quan trọng trong đường lối nhất quán của Đảng là bảo đảm quyền tộc người và văn hóa tộc người, chính quyền các địa phương luôn tạo điều kiện giúp các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có vị trí xã hội bình đẳng với các dân tộc khác, bảo đảm quyền tự do quyết định vị thế xuất thân, quyền sử dụng ngôn ngữ. Nên ở Tây Nguyên không có kỳ thị sắc tộc mà chỉ có sự tôn trọng các giá trị đặc thù. Thành tựu về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc cũng là một nội dung rất đáng ghi nhận ở nơi đây. Thực hiện đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011, các tỉnh đã tập trung xây dựng bộ chỉ số phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; tổng kiểm kê di sản văn hóa tiêu biểu; hỗ trợ khẩn cấp, nâng cao năng lực tự bảo vệ nền văn hóa của các tộc người; ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số làm công tác văn hóa; hỗ trợ truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống; phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa cơ sở, nâng mức thụ hưởng văn hóa cho đồng bào. Nhiều nghi lễ, lễ hội, dân ca, dân vũ, trang phục, trò chơi dân gian đã được khôi phục, ngày hội văn hóa các cấp đã được tổ chức thường xuyên. Đặc biệt, năm 2005, việc UNESCO công nhận Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại là sự vinh danh xứng đáng. Để có sự vinh danh này, Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình đầu tư nhằm nâng cao nhận thức, tôn trọng, bảo tồn, khơi dậy niềm tự hào về giá trị của báu vật văn hóa đã được sáng tạo trong tiến trình lịch sử của cộng đồng các dân tộc anh em. Cùng với đó, các dự án sưu tầm, phổ biến sử thi, âm nhạc dân gian, luật tục, khôi phục các thiết chế văn hóa cổ truyền đã và đang triển khai; ngôn ngữ các tộc người được tổ chức dạy, học và khuyến khích sử dụng; hàng nghìn nghệ nhân dân gian các dân tộc được Nhà nước tôn vinh…

Việc bảo đảm nhân quyền của đồng bào ở Tây Nguyên còn được thể hiện qua việc Đảng, Nhà nước ghi nhận sự đóng góp của các già làng, nhân sĩ, trí thức. Trong sinh hoạt hằng ngày, già làng tại các buôn làng vẫn hiện hữu như trụ cột tinh thần, biểu tượng văn hóa. Phối hợp luật pháp Nhà nước, một số yếu tố tích cực trong các bộ luật tục truyền thống vẫn được phát huy giúp quản lý, điều hành cộng đồng. Hiện ở Tây Nguyên có 3.702 già làng, họ vừa là chỗ dựa tinh thần, vừa trực tiếp cùng cấp ủy, chính quyền các địa phương tổ chức cuộc sống, phát triển quê hương. Đảng và Nhà nước cũng đã tạo cơ hội bình đẳng trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, cán bộ người người dân tộc thiểu số ở cấp xã toàn khu vực là 26%, cấp huyện 17%; cấp tỉnh 10,9%; lãnh đạo các sở, ban, ngành là 12,4%. Trong HĐND cấp tỉnh có 28,96% số đại biểu là người dân tộc thiểu số. Trong cơ quan đảng, có 18,52% số đảng viên người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy tỉnh; cấp huyện có 17,11% và cơ sở là 18,52%. Số lượng, chất lượng đại biểu người dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong Quốc hội ngày càng cao, và góp phần quan trọng trong việc xây dựng thể chế, pháp luật, thực hiện chức năng giám sát, thúc đẩy tiến trình phát triển quê hương và cuộc sống.

Tuy nhiên bất chấp thực tế đó, báo cáo nhân quyền hằng năm mà một số tổ chức tự nhận là “quốc tế” công bố gần đây, khi đề cập vấn đề tôn giáo tại Tây Nguyên đã đưa những nội dung thiếu trung thực, mà nổi lên là dựng chuyện cáo buộc chính quyền không bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thậm chí còn bịa đặt chuyện “đàn áp tôn giáo”. Các đánh giá như vậy chỉ chứng tỏ một điều là ý kiến của họ ra đời từ thông tin một chiều, không quan tâm đến sự phát triển mọi mặt ở Tây Nguyên, không kiểm chứng qua sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Tây Nguyên; không trực tiếp nắm bắt thực tế từ các cơ sở thờ tự, không tiếp xúc với tu sĩ và tín đồ là các công dân luôn đề cao trách nhiệm, hoạt động tôn giáo theo quy định pháp luật. Họ tảng lờ thực tế là tới cuối năm 2020, toàn Tây Nguyên có khoảng 580.000 công dân theo đạo Tin lành thuộc 33 tổ chức, hệ phái, nhóm đang sinh hoạt tại 311 chi hội, 183 nhà thờ, hơn 1.700 điểm nhóm đã được chính quyền cấp đăng ký sinh hoạt. Họ cũng cố bao che cho các đối tượng đội lốt tôn giáo, tự lập tà đạo, tổ chức truyền đạo trái phép để chống phá chính quyền, lôi kéo người theo tư tưởng dân tộc hẹp hòi, thực hiện mưu đồ phá hoại cuộc sống bình yên của buôn làng, và bị pháp luật xử lý.

Thực tiễn khẳng định, dù họ có xuyên tạc thế nào cũng không thể phủ nhận sự thật là khát vọng rút dần khoảng cách, tạo cơ hội thịnh vượng đồng đều các dân tộc Tây Nguyên đã từng bước hiện thực hóa, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục tháo gỡ rào cản, khắc phục khó khăn để đẩy nhanh tốc độ phát triển của Tây Nguyên. Thành tựu mọi mặt trên vùng đất Tây Nguyên trù phú hôm nay là minh chứng thuyết phục, sinh động cho điều đó!