Thứ Tư, 3 tháng 11, 2021

ĐỪNG MƯỢN DANH KHOA HỌC ĐỂ ĐÁNH TRÁO LỊCH SỬ

     Sáng 22-2-2017 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức buổi thông tin khoa học “Một số thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử VN” do GS.NGND Phan Huy Lê - chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử VN - trình bày.

Về ý kiến của Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê, báo chí đưa tin rất loạn xạ, hàng chục tờ báo điện tử đã đăng nhiều bài và hầu như chỉ có một cái tít giống nhau: “Giáo sư Phan Huy Lê đề nghị công nhận công lao của nhà Nguyễn”. Họ giật tít như vậy cũng có lý do, bởi trong buổi thông tin khoa học này, ông Phan Huy Lê đã nói: 

“Một trong những công lao rất lớn của chúa Nguyễn và nhà Nguyễn là mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, khai phá đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1757, nhà Nguyễn đã định hình được lãnh thổ VN mà về cơ bản gần giống như lãnh thổ VN hiện nay từ phía Bắc vào Cà Mau, từ Tây Nguyên ra biển, bao gồm cả vùng biển, các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Nhà Nguyễn có công rất lớn trong việc hình thành và định hình một nhà nước thống nhất và xác lập lãnh thổ - không gian sinh tồn của nước Việt Nam. Công lao nhà Nguyễn về phương diện này không thể chối cãi. Đã đến lúc cần nhìn rõ công, tội của nhà Nguyễn”.

Vậy, chúng ta hãy cùng phân tích và làm rõ thực hư của vấn đề ra sao?


1. CHÚA NGUYỄN, VUA NGUYỄN, NHÀ NGUYỄN, TRIỀU NGUYỄN - PHẢI RẠCH RÒI VỀ KHÁI NIỆM. VUA VÀ CHÚA KHÁC NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Ai cũng biết rằng trong lịch sử Việt Nam, Nhà Nguyễn chỉ là một vương triều phong kiến hoàn chỉnh, có toàn vẹn lãnh thổ, có hệ thống chính trị của mình cai trị trên toàn bộ lãnh thổ ấy, có địa vị nhà nước thống nhất và duy nhất để bang giao với nước ngoài kể từ năm 1802, khi Nguyễn Ánh hoàn thành việc lật đổ Nhà Tây Sơn, triều đại đã trị vì trước đó để lên nắm quyền cai trị Đại Việt.

Còn trước thời điểm ấy, Nhà Tây Sơn, bằng cách dựa vào ý chí của nhân dân, huy động sức mạnh của toàn dân, trong 16 năm (1771-1787) đã lần lượt đánh dẹp các thế lực phong kiến cát cứ ở Đàng Ngoài (Vua Lê - Chúa Trịnh) và Đàng Trong (Chúa Nguyễn), thu giang sơn Việt Nam về một mối, đất nước thoát khỏi cảnh bị chia cắt Bắc - Nam trong suốt 148 năm (1627 - 1775). Trong thời gian 148 năm nội chiến Đàng Ngoài - Đàng Trong ấy, các thế lực phong kiến họ Trịnh (Đàng Ngoài) và họ Nguyễn (Đàng Trong) đã gây ra 8 cuộc nội chiến lớn và hàng trăm cuộc xung đột vũ trang nhỏ. Có những cuộc chiến kéo dài hàng chục năm. Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn đã làm hao tổn không biết bao nhiêu sức người, sức của của nhân dân dân, triệt phá hàng loạt đồng ruộng, xóm làng.

Trong quá trình xây dựng đất nước từ đống hoang tàn, đổ nát, hậu quả cuộc chiến kéo dài gần một thế kỷ rưỡi, nhà Tây Sơn còn hai lần đánh bại hai thế lực phong kiến hùng mạnh xâm lược Đại Việt là triều đình Xiêm La (Thái Lan) ở phía Nam và Nhà Thanh ở phía Bắc. Điểm đặc sắc là trong cả hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm do Nhà Tây Sơn tiến hành, quân xâm lược đều có sự tiếp tay của những kẻ phản dân, hại nước. Đó là Lê Chiêu Thống cầu viện giặc Thanh và Nguyễn Ánh cầu viện giặc Xiêm La.

Trong lập luận của mình, ông Phan Huy Lê đã đánh đồng các Chúa Nguyễn, một thế lực phong kiến cát cứ ở phía Nam mà người Việt Nam cũng như lịch sử Việt Nam chưa từng công nhận là một nhà nước hoàn chỉnh ngang hàng với một vương triều phong kiến. Bởi vì về danh nghĩa, đứng trên cả hai thế lực phong kiến cát cứ này còn có Nhà Lê trung hưng, và cả hai thế lực này đều trương khẩu hiệu chính trị “Phò Lê”. Bằng việc này, ông Phan Huy Lê đã phủ nhận sự thống nhất lãnh thổ của Việt Nam, công nhận tính hợp pháp và hợp lý của việc chia cắt đất nước. Đó là sai lầm về đạo đức nghề nghiệp không thể tha thứ.

Điểm thứ hai là công lao mở cõi được quy cho cái gọi là “Nhà Nguyễn” mà theo ý của ông Phan Huy Lê, nó bao gồm cả các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn. 

Cho đến nay, công lao mở cõi về phương Nam là công của 9 đời Chúa Nguyễn. Công lao thống nhất đất nước, xóa bỏ sự chia cắt Đàng trong - Đàng ngoài là của Nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh chỉ tọa hưởng kỳ thành.

Là một nhà sử học gạo cội, liệu ông Phan Huy Lê có thể phân biệt được đâu là các vua, đâu là các lãnh chúa phong kiến không ?

Với việc gộp cả 9 đời chúa Nguyễn có công mở mang bờ cõi với 13 đời vua Nguyễn, trong đó có đến 5 ông vua cắt đất cho giặc và cam tâm làm tay sai bán nước cho giặc, rước voi về giày mồ (Gia Long, Tự Đức, Đồng Kháng, Khải Định, Bảo Đại, riêng Bảo Đại bán nước 2 lần cho Nhật và cho Pháp); ông Phan Huy Lê đã “trộn phấn với vôi” để rửa mặt cho các triều đình của Gia Long, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại.


2. Ý THỨC VỀ QUYỀN DÂN TỘC TỰ QUYẾT

Nếu chỉ xem qua những phát biểu của ông Phan Huy Lê tại buổi thông tin khoa học nói trên như báo chí đã đăng thì vẫn còn chung chung và chưa rõ ràng. Phải tìm đến những phát biểu của ông ấy trước đây 9 năm, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Khánh Linh của báo Vietnamnet, chúng ta mới thấy rõ những ẩn ý của ông ấy. 

Trong cuộc phỏng vấn, khi được phóng viên hỏi: “Còn những hạn chế của vương triều Nguyễn thì sao, thưa GS? Nguyễn Ánh có tội hay không, khi đưa quân Xiêm vào để chống lại nhà Tây Sơn? Hay vua Tự Đức có bán nước”; ông Phan Huy Lê đã trả lời, đúng là tận cùng của sự lắt léo. Ông ấy biện hộ rằng:

 “Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử”.


Vậy, ông Phan Huy Lê hãy trả lời những câu hỏi sau:

Liệu ông có thể dùng lập luận này để biện hộ cho Trần Ích Tắc cầu viện giặc Nguyên vào xâm lược nước ta không? 

Liệu ông có thể dùng lập luận này để biện hộ cho Trần Thiêm Bình cầu viện giặc Nhà Minh vào xâm lược nước ta và gây ra thảm cảnh: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” không? 

Liệu ông có thể dùng lập luận ấy để biện hộ cho hành động Lê Chiêu Thống cầu viện giặc Thanh vào xâm lược miền Bắc nước ta không? 

Liệu ông có thể dung lập luận ấy để biện hộ cho Bảo Đại cộng tác với giặc Pháp xâm lược đất nước ta một lần nữa không? 

Liệu ông có thể dùng lập luận ấy để biện hộ cho việc Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi Mỹ hãy đem B-52 ném bom cho tan nát Hà Nội, đưa Miền bắc Việt Nam về thời kỳ đồ đá vào cuối năm 1972 được không?

Thực chất; Cuộc chiến của Nguyễn Ánh chống lại Nhà Tây Sơn và đưa ông ta lên cầm quyền vào năm 1802, là một cuộc chiến tranh phản cách mạng với sự trợ giúp về tiền bạc, vũ khí và cả cố vấn quân sự của thực dân Pháp. Về bản chất, sự trợ giúp của người Pháp cho Nguyễn Ánh là sự can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, vi phạm thô bạo chủ quyền của Việt Nam (và sau này là lãnh thổ Việt Nam). Vậy mà ông Phan Huy Lê bảo rằng “Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử”.

Vậy thì ý thức về độc lập, chủ quyền của người Việt ở chỗ nào trong con người ông Phan Huy Lê?

Vậy thì nhận thức về quyền tự quyết dân tộc của ông Phan Huy Lê ở đâu?


3. AI ĐÃ KHÔNG CÔNG NHẬN CÔNG LAO CỦA CÁC CHÚA NGUYỄN?

Điều nực cười là trong buổi thông tin khoa học do Ban Tuyên giáo TW tổ chức, ông Phan Huy Lê lại nhắc lại một lần nữa ý kiến của ông ta trong Hội thảo về nhà Nguyễn tổ chức tại Thanh Hóa năm 2008 rằng: “Cần ghi nhận cả về mặt công tích lẫn những hạn chế về thời kỳ Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn”.

(Lưu ý là ở Hội thảo 2008, ông Lê còn phân biệt Chúa Nguyễn và Vua Nguyễn. Còn ở buổi thông tin khoa học vừa qua thì ông ta đã dấn thêm một bước, gọi cả hai là “Nhà Nguyễn”.)

Ô hay? Lịch sử Việt Nam cho đến nay, có tác phẩm nào là không ghi công tích mở mang bờ cõi cho đất nước ta, phát triển kinh tế Đàng Trong của các chúa Nguyễn đâu nhỉ ?

Tôi xin dẫn ra đây mấy đoạn ở trang 333 trong cuốn “Lịch sử Việt Nam - Tập 1” do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1971:

“Đàng Trong là đất mới khai phá, kinh tế công thương chưa trải qua quá trình lâu dài như ở Đàng Ngoài. Tuy vậy, vào thế kỷ thứ XVII - XVIII, nền kinh tế đó đã phát triển khá mạnh mẽ và đạt trình đọ không kém gì Đàng Ngoài. Thuận Hóa, Quảng Nam là nơi tập trung nhiều làng và phương thủ công có tiếng như nghề dệt, gốm, nấu đường, rèn sắt, đúc đồng… Nghề khai mỏ sắt, mỏ vàng ở miền núi Quảng Nam cũng khá phát đạt. 

Quan hệ hàng hóa-tiền tệ phát triển có tác dụng mở rộng thị trường địa phương. Rất nhiều hội chợ mọc lên khắm nơi. Một số thành thị, thương cảng phát triển. Hội An là thương cảng lớn nhất có quan hệ kinh tế với nhiều vùng… lúa gạo ở Gia Định được chở ra bán ở Thuận Hóa và Đồng Nai và hàng thủ công từ Thuận Hóa lại được buôn vào Gia Định…”

Bản thân lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam khi nói về vai trò, vị trí, về công và tội của các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn cũng rất công tâm, sòng phẳng. Quan điểm của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất sòng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Cùng với việc kịch liệt phê phán Gia Long và Tự Đức, Người đã từng viết bài trên báo chí nước ngoài để đề cao tinh thần yêu nước của 3 ông vua thứ 8, thứ 10 và thứ 11 của vương triều nhà Nguyễn là Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân.

Không chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta (như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp...) cũng đều đánh giá đúng về Vương triều nhà Nguyễn hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Không ai bài bác và bôi nhọ thanh danh các chúa Nguyễn. Cũng chẳng có ai phủ nhận sự đóng góp của triều nhà Nguyễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hoá và văn nghệ...

Vậy thì ông Phan Huy Lê và các đồ đệ của ông còn đòi hỏi cái gì nữa đây?


4. ĐỪNG MƯỢN DANH KHOA HỌC ĐỂ THỰC HIỆN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRONG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ

Việc mượn công lao của các chúa Nguyễn để “rửa mặt” cho Nguyễn Ánh và các vua Nguyễn như Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định và Bảo Đại thì dứt khoát là không thể được! Sách “Lịch sử Việt Nam - Tập 1” do NXB Khoa học xã hội Việt Nam ấn hành năm 1971, trang 380 đã ghi rõ:

“Từ cuối thế kỷ XVIII, thực dân Pháp đã lợi dụng cuộc chiến tranh phản cách mạng của Nguyễn Ánh để can thiệp vào nước ta. Sau khi lên làm vua, Gia Long đã “trả ơn” bọn xâm lược bằng cách lưu dụng một số người Pháp làm quan lại trong triều và để cho giáo sĩ người Pháp tự do truyền đạo trong nước. Nhờ đó, bọn chúng đã vận động Gia Long lập Hoàng tử Cảnh, người chịu ảnh hưởng của Pháp làm thái tử. Số người Pháp làm quan trong triều giữ liên lạc với chính quyền Pháp. Chúng nhận nhiệm vụ vận động triều đình Huế ký những điều ước ngoại giao, thương mại có lợi cho chủ nghĩa tư bản Pháp. Đặc biệt, Hội truyền giáo nước ngoài và bọn gián điệp đội lốt tôn giáo nấp dưới chiêu bài truyền đạo càng đẩy mạnh hoạt động do thám và gây dựng cơ sở phản động trong nước ta… Bọn chúng điều tra tình hình mọi mặt của nước ta, âm mưu phá hoại khối đoàn kết dân tộc, chia rẽ lương - giáo”.

Có lẽ cần phải nhắc lại rằng ông Phan Huy Lê chính là một trong hơn 100 nhà sử học Việt Nam khi đó đã tham gia biên soạn bộ “Lịch sử Việt Nam” nói trên. Bản thân ông ta cũng có 2 tác phẩm viết riêng (các cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam - Tập II” và “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ) cùng 2 tác phẩm viết chung (các cuốn “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam - Tập III” và “Khởi nghĩa Lam Sơn và phong trào giải phóng đất nước vào thế kỷ XV”) được dùng làm tài liệu tham khảo để biên soạn bộ sách trên. 


Thế mà nay, ông ta lại NÓI NGƯỢC LẠI. Thái độ không nhất quán trong khoa học ấy chỉ có thể gọi là CHỦ NGHĨA XÉT LẠI LỊCH SỬ, là một thứ “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong khoa học lịch sử, tất yếu sẽ dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" về chính trị. Đây là điều mà các thế lực thù địch và phản động mong muốn.

Mười ba năm trước đây, khi theo dõi cuộc Hội thảo về chúa Nguyễn và nhà Nguyễn được tổ chức với quy mô lớn tại tỉnh Thanh Hoá, được báo chí tuyên truyền rầm rộ, nhiều người dân ở thành phố Hồ Chí Minh đã ngạc nhiên. Họ phát biểu: \Những câu: \Gia Long cõng rắn cắn gà nhà\, “Rước voi về dày mả tổ\, \Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”,... đâu phải đến thời bây giờ mới có và đâu phải chỉ lưu hành riêng ở miền Bắc. Nhớ khi còn ngồi trên ghế nhà trường tại thành phố này qua các bậc trung học và đại học, chúng tôi đã từng nghe các giáo sư dưới chế độ cũ khi bước lên bục, đều giảng như vậy cả. Thế nhưng không hiểu vì sao, hàng chục năm qua, một số người làm công tác nghiên cứu sử học ở miền Bắc lại tìm mọi cách để phản bác những câu nói đó ?”.


Giáo sư Trần Văn Giàu, một chiến sĩ cách mạng kiên trung, một nhà sử học lão thành, là bậc thầy của ông Phan Huy Lê, được cán bộ và nhân dân mến mộ, cũng đã giữ quan điểm đúng đắn trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn. Chính vì lẽ ấy, Giáo sư Trần Văn Giàu đã không đồng tình với tác giả cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Phan Thanh Giản bằng lối văn hư cấu tuỳ tiện, thoát ly hiện thực lịch sử... Giáo sư Trần Văn Giàu đã tạ thế, Phan Huy Lê và các môn đệ của ông ta như được “dọn vật cản”, đã lấn thêm những bước mới.

Vào tháng 7 năm 2016, khi Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và truyền thông đề nghị ông Nguyễn Đình Đầu, tác giả cuốn “Trương Vĩnh Ký – Nỗi oan thế kỷ” sửa lại tên cuốn sách này và một số đoạn viết cho trung thực, khách quan thì ông này kiên quyết khước từ. Những đoạn viết không trung thực, không khách quan về Trương Vĩnh Ký chính là việc tác giả đã đánh lộn sòng công và tội của Trương Vĩnh Ký, biến những hành vi đi ngược lại quyền lợi dân tộc của Trương Vĩnh Ký thành công lao. Kết quả là cuốn sách không được phép phát hành. Thế nhưng ông Phan Huy Lê vẫn lớn tiếng bênh vực cho cuốn sách này qua lời giới thiệu của mình. Về cuốn sách nói trên, tạp chí mạng “Tôn giáo và dân tộc” đã thẳng thừng đặt câu hỏi: “Trương Vĩnh Ký phản bội tổ quốc, sao gọi là nỗi oan thế kỷ ?” 


Đánh giá về Trương Vĩnh Ký, nhà sử học Trần Huy Liệu đã nhận xét:

“Về phẩm cách cá nhân của một sỹ phu lúc ấy, không phải chỉ nhìn ở sinh hoạt thông thường mà chủ yếu là phải lấy thái độ đối với dân tộc, đối với giặc cướp nước làm tiêu chuẩn. Là người học rộng, Trương không làm tay sai như kiểu Trần Tử Ca, Trần Bá Lộc… mà đóng vai trò mưu sỹ bày cho giặc (Pháp) những thủ đoạn thâm trầm dùng người bản xứ trị người bản xứ, dùng danh nghĩa Nam triều (nhà Nguyễn) để đánh nghĩa quân. Cái học vấn của Trương càng uyên bác bao nhiêu thì tác hại của Trương càng lớn bấy nhiêu…”

Với nhiều tài liệu, chứng cứ xác đáng được dẫn ra, tác giả TS Bùi Kha sống ở nước ngoài đã vạch rõ: 

“Với những chứng cớ quá rõ ràng qua các văn thư do chính Trương Vĩnh Ký và các viên chức cao cấp thực dân Pháp viết, chúng ta có thể kết luận dứt khoát rằng Trương Vĩnh Ký là một người phản bội tổ quốc. Ông không có một mảy may công lao nào đối với dân tộc, ngược lại, ông hoàn toàn là kẻ có tội. Từ những ý đồ và hành động chính trị, cho đến các công trình mang tính văn hóa nói chung của họ Trương, tất cả chỉ xoáy vào một mục đích duy nhất là phục vụ cho chính sách thực dân Pháp để nô lệ và đồng hóa dân tộc ta.”

Vào tháng 10 năm 2009, trên tạp chí “Xưa và Nay”, ông Phan Huy Lê còn phủ nhận sự kiện Anh hùng liệt sĩ Lê Văn Tám tẩm xăng vào thân mình để đốt kho xăng Thị Nghè của thực dân Pháp. Chứng cứ duy nhất mà ông ta bảo rằng mình có là lời dặn của giáo sư Trần Huy Liệu nhưng ông ta lại không đưa ra được một bằng chứng xác thực nào. Thiết nghĩ, việc ông Phan Huy Lê dẫn ra lời dặn ấy chẳng khác gì Trương Huy San “nhét chữ vào miệng” một anh chàng Hàn Quốc nào đó bảo rằng: “Tao không nghĩ là chúng mày đã đánh đuổi hai đế quốc lớn mà chúng mày đã đánh đuổi hai nền văn minh lớn của thế giới” để rồi từ đó, biện hộ cho những lập luận sai lầm của mình.

Một trong những sai lầm trong đánh giá của ông Phan Huy Lê về quá trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến nay là ông ta cho rằng có “Quan điểm chính thống”. Đây là một sự bịa đặt. Bởi đối với khoa học thì không bao giờ có cái gọi là “quan điểm chính thống” và “quan điểm không chính thống”. Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ đặt vấn đề “quan điểm chính thống” đối với khoa học trong tất cả các văn kiện của mình. Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử học thống nhất với nguyên tắc chép sử vốn có từ xưa là:

1) “Có gì thì viết - nấy  không có thì không viết”.

2) “Thiếu thì viết thêm cho đủ - không viết thừa”

3) “Sai thì viết lại cho đúng - không bịa đặt”.

4) “Viết sử phải khách quan, có minh chứng - không viết lung tung”.

5) “Bình luận, đánh giá lịch sử phải có căn cứ xác đáng - không phán xét bừa bãi”.


Mặc dù ông Phan Huy Lê là một trong những người đấu tranh đến cùng để giữ lại môn Lịch sử là một môn học độc lập trong các chương trình dạy học phổ thông; nhưng càng ngày, càng lộ rõ rằng ông ấy muốn giữ lại lịch sử nào?! 

Với cái mạch tư duy kiểu như của ông Phan Huy Lê và một số người muốn xét lại lịch sử hay nói đúng hơn là lật đổ lịch sử, người ta sẽ công nhận việc thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là chuyện đương nhiên đúng đắn, sẽ công nhân việc đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam là chuyện đương nhiên đúng đắn, sẽ công nhận việc chia cắt Miền Bắc, Miền Nam sau Hiệp định ngừng bắn Geneve là chuyện tất - lẽ - dĩ - ngẫu. Và sau đó, sẽ là việc thừa nhận chính quyền ngụy Sài Gòn là hợp pháp; sẽ là phủ nhận toàn bộ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Từ đó, dẫn đến việc phủ nhận chế độ chính trị hiện nay ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những lập luận của ông Phan Huy Lê đang được bọn phản động sử dụng để biện hộ cho luận điệu của tay văn sĩ bồi bút Trương Huy San (tức Huy Đức, tức San vổ) trong cái gọi là tác phẩm "Bên thắng cuộc" của anh ta. 

Nếu những vấn đề trên đây không được giải quyết rốt ráo, sẽ dẫn đến sự rối loạn về nhận thức trong xã hội. Thật vậy, trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn, hàng chục triệu nhân dân ta - nhất là một khối lượng rất lớn học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh đang ngồi học tập và viết luận án khoa học trên ghế nhà trường sẽ nghe và viết theo quan điểm của ai ? Nghe và viết theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, theo quan điểm sử học của Đảng ta, hay nghe và viết theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu lịch sử đã và đang được công khai quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong Buổi thông tin khoa học do Ban Tuyên giáo trung ương tổ chức, trong cuộc hội thảo năm 2008 tại tỉnh Thanh Hoá và trong những cuộc hội thảo trước đó.

Chúng ta đặc biệt quan tâm đến chủ trương của Hội Khoa học lịch sử về việc gấp rút tiến hành chỉnh sửa sách giáo khoa phổ thông về Sử học và chuẩn bị biên soạn bộ quốc sử mới, như báo chí đã nhất loạt đưa tin. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng. Chúng ta hoàn toàn không yên tâm nếu như nhiệm vụ này được giao trọn gói cho những người đã từng đi chệch tư tưởng Hồ Chí Minh về sử học và đã nặng lời công kích “Phương pháp luận sử học mác-xít ấu trĩ, giáo điều, công thức…”. Vậy thì thử hỏi, nếu giao cho họ chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ Quốc sử của nước nhà, họ sẽ đứng trên quan điểm lập trường nào và theo phương pháp luận sử học của ai!? Điều đó chắc chắn sẽ gây ra cho chúng ta những tổn thất rất lớn trong lĩnh vực công tác giáo dục, cũng như trên địa hạt tư tưởng, văn hóa.


LỜI KẾT:

Sử học là một trong những lĩnh vực hoạt động hết sức nhạy cảm và có tầm quan trọng sống còn trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Nếu chúng ta không quan tâm chăm lo củng cố sự vững mạnh của ngành sử học kể cả trên ba mặt: về chính trị, về tư tưởng, văn hóa và về tổ chức, ắt sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường. 

Tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng một trong những nguyên nhân làm cho Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ là những nhà lãnh đạo các Đảng Cộng sản và Công nhân cầm quyền ở những nước đó đã mất cảnh giác, đã bị tên gián điệp Aleksandre Yakovlev, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Trưởng ban Tuyên giáo trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô thao túng, đã để cho chủ nghĩa xét lại lịch sử hoành hành. Kết quả là chế độ xã hội chủ nghĩa ở những nước đó bị lật đổ trước hết là về lịch sử, văn hóa và sau đó là về chính trị./.


Yêu nước ST.

 

   Cần tập trung, sớm triển khai Chương trình xây                          dựng pháp luật nhiệm kỳ                       Quốc hội khóa XV

 

Ngày 14/10/2021 vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 19-KL/TW về định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV - một chủ trương quan trọng, là cơ sở để Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp trong nhiệm kỳ này. Với tinh thần khẩn trương, trách nhiệm cao, Đảng đoàn Quốc hội đã nhanh chóng hoàn thiện Đề án để triển khai thực hiện; và mặc dù bộn bề nhiều công việc phải thực hiện giữa 2 đợt họp của kỳ họp thứ hai, nhưng Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chuẩn bị chu đáo cho Hội nghị quan trọng này.

Để duy trì trật tự, kỷ cương xã hội, tạo hành lang pháp lý cho quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta từ khi cầm quyền luôn coi trọng công tác xây dựng pháp luật. Đặc biệt, trước yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới đất nước, Bộ Chính trị đã kịp thời ban hành Nghị quyết chuyên đề về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/5/2005).

Đánh giá kết quả sau 15 năm thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW, Bộ Chính trị nhận định: “Công tác xây dựng pháp luật có nhiều cải tiến, đổi mới, xác định được quy trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch hơn; thể chế hoá kịp thời, đúng đắn chủ trương, đường lối của Đảng. Công tác tổ chức thi hành pháp luật có tiến bộ và đạt được những kết quả tích cực; vai trò của pháp luật và ý thức thượng tôn pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong đời sống xã hội ngày càng được nâng cao. Đến nay, nước ta đã có được hệ thống pháp luật cơ bản đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, so với thực tiễn phát triển của đất nước, hệ thống pháp luật vẫn còn hạn chế. Tính ổn định và khả năng dự báo trong một số lĩnh vực chưa cao; một số quy định chưa đồng bộ, thống nhất, khả thi, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thậm chí còn có nội dung chồng chéo, mâu thuẫn. Công tác nghiên cứu lý luận về pháp luật và đổi mới tư duy pháp lý còn chậm. Năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác xây dựng và thi hành pháp luật chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ. Công tác tổ chức thi hành pháp luật vẫn là khâu yếu, chưa gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật. Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết chưa được khắc phục triệt để. Phương thức, nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thật hiệu quả; công tác kiểm tra, giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật chưa kịp thời, đồng bộ. Việc chấp hành pháp luật của một bộ phận cá nhân, tổ chức còn chưa nghiêm. Sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, tổ chức đảng đối với công tác xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật chưa được quan tâm thường xuyên, sâu sát”.

Đại hội XIII của Đảng đã xác định 3 đột phá chiến lược. Một trong 3 đột phá đó là: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật”.

Quán triệt, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Bộ Chính trị xác định mục tiêu của công tác xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV là “hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tạo lập khung khổ pháp lý để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025, 12 định hướng phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược đã được Đại hội XIII của Đảng đề ra”.

Kết luận 19 của Bộ Chính trị và Đề án Định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đã nêu rõ mục tiêu, quan điểm, yêu cầu và nội dung thực hiện; tôi chỉ xin nêu một số ý kiến có tính chất trao đổi thêm với các đồng chí:

Một là, trong quá trình xây dựng pháp luật cần nhận thức, quán triệt sâu sắc chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - một nhà nước thực sự kiến tạo khung khổ thể chế, pháp luật cho sự phát triển của đất nước, của dân tộc. Do đó, hệ thống pháp luật phải đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, bảo đảm cho bộ máy nhà nước vận hành trôi chảy, vừa tiếp nhận, phát triển những giá trị đã được khẳng định của văn minh nhân loại, vừa phù hợp với những giá trị tốt đẹp của văn hoá Việt Nam, phù hợp với yêu cầu của chế độ ta, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, rất hệ trọng, một trong những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Và như các đồng chí đã biết, tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XV, đồng chí Tổng Bí thư cũng đã nhấn mạnh: “Đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng ban hành các văn bản pháp luật; sớm xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Ưu tiên xây dựng mới, bổ sung các đạo luật ở các lĩnh vực trọng điểm có ý nghĩa then chốt, có tính khả thi cao, tạo sự bứt phá về phát triển kinh tế - xã hội”[.

Hai là, quá trình xây dựng, ban hành luật phải thận trọng, chắc chắn, chuẩn bị sớm, làm tốt từng khâu, đặt yêu cầu cao về chất lượng, không chạy theo số lượng; lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và lợi ích quốc gia - dân tộc làm trọng tâm; tăng cường giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước; thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong xây dựng pháp luật, trong giám sát, phản biện quá trình lập pháp và thực thi pháp luật; chống tiêu cực ngay trong công tác xây dựng pháp luật, không bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “tham nhũng chính sách”; không được lồng ghép "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật hoặc chỉ thiên về tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước, mà thiếu đồng hành với người dân, doanh nghiệp.

Tập trung xử lý, khắc phục ngay tình trạng văn bản luật tính dự báo yếu, thiếu ổn định, "luật khung, luật ống", chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Không được để xảy ra tình trạng luật mới được ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, xa rời thực tiễn, luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư...., gây nên sự thiếu niềm tin của nhân dân vào luật pháp, lo ngại của các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài về tính ổn định, minh bạch trong các quy định của pháp luật Việt Nam, ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, kinh doanh.

Ba là, thực tiễn luôn phong phú, sinh động. Trong quá trình vận hành của xã hội cho thấy, nhiều vấn đề luật pháp chưa thể theo kịp thực tiễn, quy định pháp luật xa rời cuộc sống, chưa đủ chế tài để xử lý hoặc xử lý không triệt để những vấn đề mới nảy sinh, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-công nghệ (vấn đề lợi dụng mạng xã hội để xúc phạm người khác; tội phạm trên không gian mạng...), tác động tiêu cực của đại dịch covid-19 đến mọi mặt đời sống xã hội... Bởi vậy, trong quá trình xây dựng pháp luật phải bám sát và đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh; tuy nhiên, phải bình tĩnh, nghiên cứu, dự báo thấu đáo, khoa học những vấn đề của thực tiễn đặt ra, không nóng vội, chủ quan, chạy theo dư luận xã hội. Chỉ “những vấn đề cấp bách, đã chín, đã rõ, được thực tiễn chứng minh, có sự thống nhất cao thì mới xây dựng, ban hành luật; những vấn đề tuy cấp bách, cần thiết, nhưng là vấn đề mới, chưa đạt đồng thuận cao thì có thể quy định thực hiện thí điểm. Trước mắt, chưa triển khai xây dựng những dự án luật có nội dung phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, cần có thêm thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng”.

Bốn là, các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị phải nhận thức đầy đủ, xác định rõ trách nhiệm của mình trong công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế. Tiếp tục đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, tăng tính chủ động của các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong công tác lập pháp, giám sát việc thi hành pháp luật. Phát huy tính năng động, tích cực, vai trò, ý thức trách nhiệm của các chủ thể, đặc biệt là Chính phủ trong quy trình lập pháp. Nâng cao chất lượng công tác phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong quy trình lập pháp và giám sát việc thực hiện pháp luật.

Các cơ quan hữu quan phải phối hợp chặt chẽ, thực chất trong quá trình xây dựng pháp luật; thực hiện đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhất là dự báo, đánh giá tác động của chính sách, việc lấy ý kiến, tiếp thu và giải trình ý kiến người dân, doanh nghiệp - đối tượng chịu sự tác động của luật. Bảo đảm nghiêm túc, thực chất việc tổng kết thi hành pháp luật để có đủ cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật; đề cao tinh thần trách nhiệm, trí tuệ, bản lĩnh của các đại biểu Quốc hội; tăng cường thu hút chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ hoạt động thực tiễn có kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn sâu, công tâm, khách quan, vì lợi ích quốc gia, dân tộc tham gia xây dựng pháp luật.

Năm là, khối lượng công việc, nhiệm vụ lập pháp cần nghiên cứu, rà soát để đề xuất sửa đổi, ban hành mới luật, pháp lệnh, nghị quyết trong nhiệm kỳ XV của Quốc hội là rất lớn; trước mắt là tập trung thực hiện tốt công tác thể chế hóa, cụ thể hóa các quyết sách quan trọng được Đại hội XIII của Đảng chỉ ra, trong khi thời gian không nhiều, tập trung chủ yếu vào các năm giữa nhiệm kỳ và nhiều nhất là trong năm 2022 và 2023. Do đó, các cơ quan, tổ chức, nhất là Chính phủ và các bộ, ngành, với vai trò, trách nhiệm là cơ quan chủ yếu đề xuất các chính sách, dự án luật, phải khẩn trương tổ chức nghiên cứu, chuẩn bị; các cơ quan của Quốc hội cần tăng cường theo dõi, đôn đốc, giám sát và phối hợp chặt chẽ trong quá trình thực hiện, bảo đảm chất lượng, tiến độ các dự án luật, nghị quyết trình Quốc hội.

Kết quả, chất lượng công tác xây dựng pháp luật có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thực hiện các mục tiêu, quan điểm, định hướng, đột phá chiến lược đã được Đại hội XIII của Đảng đề ra. Tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, nhất là các cơ quan Trung ương cần tập trung, sớm triển khai Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và địa phương trong công tác xây dựng pháp luật.

Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, sự chung tay, nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, của các vị đại biểu Quốc hội và sự ủng hộ, giám sát của nhân dân, tôi tin tưởng rằng công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV sẽ thu được kết quả cao, góp phần hoàn thiện khung khổ pháp luật, thể chế cho sự phát triển của đất nước, của dân tộc; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, văn minh, tiến bộ.

 

 

Đường lối đối ngoại đúng đắn của Việt Nam

 Độc lập, tự chủ vừa là đường lối, vừa là nguyên tắc bất biến để chúng ta bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia - dân tộc của mình trước mọi tác động của tình hình, trước những biến động của thời cuộc, khẳng định tính đúng đắn của đối ngoại Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng ta cũng hiểu rõ những khó khăn và thách thức to lớn, những trở ngại không dễ khắc phục, vượt qua khi thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong tình hình hiện nay. Giữ vững độc lập, tự chủ, thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ thực sự là vấn đề không đơn giản, bởi sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, sự cản trở, chống phá của các thế lực thù địch, tính chất phức tạp của quan hệ quốc tế, nhất là quan hệ giữa các nước lớn trong bối cảnh hiện nay.

Nhất quán thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ không chỉ là tinh thần, quyết tâm mà còn phải được thể hiện và xác định bằng những chủ trương, chính sách. Đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, phù hợp. Những thành tựu của chúng ta đạt được từ việc nhất quán thực hiện đường lối, chính sách đó là rất quan trọng, được các tầng lớp nhân dân phấn khởi, tự hào và tin tưởng, được các nước trên thế giới đánh giá cao. Đó là thực tế sáng rõ mà không ai có thể phủ nhận./.

Các thế lực thù địch chống phá đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta

 Hiện nay, không ít cá nhân, nhóm cá nhân tự xưng là “người yêu nước”, “tâm huyết” với “vận mệnh quốc gia dân tộc” đã viết bài phát tán trên mạng xã hội với những giọng điệu xuyên tạc. Họ lập luận rằng, thế giới hiện nay đang là thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các quốc gia, dân tộc có mối quan hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau. Vì thế theo họ, nếu vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ là “bảo thủ”, “tự mình cô lập mình”, là “tự tách ra khỏi dòng chảy” của thế giới bên ngoài, chính sách đối ngoại đó đã thực sự “lạc hậu, lỗi thời”, “không còn phù hợp”, và đã trở thành “lực cản” đối với sự phát triển đất nước.

Chúng đã bóp méo sự thật, xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia. Họ xuyên tạc chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, cân bằng quan hệ với các nước lớn của Việt Nam, cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Trong thực tiễn, các thế lực thù địch dùng nhiều ngón đòn và các chiêu trò khác nhau, với những giọng điệu khác nhau, khi thì đứng hẳn về phía đối lập ra sức xuyên tạc chống phá, khi thì như “người trong cuộc” thể hiện “thiện chí”, “tâm huyết” đối với sự nghiệp cách mạng và chính sách đối ngoại của Việt Nam. Song, những luận điệu và sự “tâm huyết” này đều thể hiện một thái độ và cái nhìn thiếu thiện chí, méo mó, sai lệch và thù địch đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và tình hình thực tiễn của Việt Nam, chúng ta cần kiên quyết lên án và đấu tranh./.

Đấu tranh với quan điểm sai trái phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội”

 Trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch luôn đẩy mạnh các hoạt động phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mũi nhọn tấn công của chúng là gây nhiễu về chính trị, tư tưởng, văn hóa; ra sức phủ nhận nền tảng tư tưởng và công tác nhân sự của Đảng; kích động tư tưởng ly khai, chống đối; lợi dụng vấn đề “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “dân chủ”, “nhân quyền” “dân tộc”, “tôn giáo”; lợi dụng những vấn đề phức tạp trên Biển Đông và tình trạng tham nhũng, dịch bệnh để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, những luận điệu xuyên tạc, công kích Quân đội nhân dân Việt Nam, hòng gây mất ổn định chính trị, xã hội và làm cho Quân đội ta mất định hướng chính trị, là những luận điệu phản động, hết sức nguy hiểm và thâm độc cần kiên quyết đấu tranh, vạch trần, lật tẩy bản chất.

Một trong những chiêu trò nổi lên gần đây không thể xem thường là chúng tìm mọi cách để phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”, bằng việc đẩy mạnh thực hiện mưu đồ “phi chính trị hoá”, “trung lập hoá” và “dân sự hóa” quân đội, làm cho Quân đội phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc. Quan điểm “phi chính trị hóa” Quân đội là sai trái, hết sức phản động vì nó hướng đến mục đích: Tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội “bị lầm đường, lạc lối”, mất phương hướng chính trị, xa rời lý tưởng, mục tiêu chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là phương cách để chúng dễ bề thực hiện âm mưu, thủ đoạn chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa, thực hiện ý đồ của chúng. Luận điệu và thủ đoạn “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội là sai lầm về nhận thức lý luận, không phản ánh đúng thực tiễn tổ chức và hoạt động của Quân đội trong lịch sử nhân loại, cũng như thực tiễn chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam./.

MỖI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN LÀ MỘT CHIẾN SĨ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Ngày nay, mạng xã hội như là một thứ gì đấy không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người. Khi cách mạng công nghệ bùng nổ, kéo theo những mặt tích cực thì cũng có những hạn chế nhất định. Đặc biệt, trong thời gian qua lợi dụng không giang mạng để đăng tải, xuyên tạc của một số cá nhân, đối tượng chống đối là một vấn đề cần quan tâm. Mỗi người dân đều là một người đọc tinh tế và lý trí đặc biệt là những cán bộ, đảng viên bởi họ chính là những người chiến sĩ chân chính trên mọi mặt trận.

Tỷ lệ cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội là khá nhiều và đó cũng là nhu cầu bắt kịp xu thế của mỗi người. Hầu hết mọi người đều tập trung lan truyền những giá trị đẹp, những câu chuyện cuộc sống, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước hay thể hiện quan điểm cá nhân về một vấn đề nào đó. Thì vẫn còn nhiều cá nhân thờ ơ, phất lờ đi những vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Tôi thử hỏi rằng, ngay cả những cán bộ, đảng viên mà thế thì phải làm sao? Vậy thì vai trò của họ ở đâu trên không gian mạng này?

Bên cạnh những cán bộ, đảng viên thường xuyên cập nhật những thông tin chính thống, chia sẽ thông tin và thể hiện nhiều quan điểm hợp lý. Thì nhiều người tư duy thấy đúng cũng không bảo vệ; thấy sai cũng không nêu ra quan điểm để chấn chỉnh. Và chính tư duy cá nhân ấy cũng được nhiều người áp dụng khi tham gia mạng xã hội. Lặng lẽ vào nhìn những thông tin không chính thống, ngồi nghiên cứu những dòng comment và thờ ơ, chẳng phản biện gì. Một thái độ dửng dưng, vô cảm đến lạ.

Đã là cán bộ, đảng viên thì phải lên tiếng để bảo vệ cái đúng, chân lý. Ít ra mình cũng có rất nhiều kiến thức để bảo vệ lẽ phải. Xem, đọc xong mà vô cảm đến mức lặng lẽ cho qua, khác gì đã đồng tình, ủng hộ thông tin xấu đó rồi. Thiết nghĩ, mỗi cán bộ đảng viên phải là những chiến sĩ trên mặt trận này. Hãy là những đảng viên chân chính, tích cực trong xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân./.

CẢNH GIÁC VỚI KÊNH “N10TV” - KÊNH YOUTUBE CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC DO TRƯƠNG QUỐC HUY - THÀNH VIÊN TỔ CHỨC KHỦNG BỐ “VIỆT TÂN” QUẢN TRỊ

 Thời gian qua, trên không gian mạng xuất hiện nhiều kênh Youtube với nội dung xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Nhà nước. Trong đó, nổi lên kênh “N10TV” – kênh Youtube do Trương Quốc Huy lập ra, chứa nhiều nội dung tuyên truyền chống Nhà nước, thường được các đối tượng bất mãn, chống đối chính trị chia sẻ rộng rãi trên không gian mạng.

VẬY TRƯƠNG QUỐC HUY LÀ AI?

Trương Quốc Huy, sinh năm 1980 tại Tp. Hồ Chí Minh. Huy học hết lớp 7, từng đi bộ đội nhưng bị trả về do nghiện ma túy. Y đã từng 02 lần bị bắt, bị kết án 06 năm tù vì liên kết với Lisa Phạm (đối tượng thuộc tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”) rải truyền đơn chống Nhà nước để có tiền ăn chơi. Thời điểm năm 2005, Huy bị bắt về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Khi được ra tù, tưởng đâu y sẽ ăn năn hối cải, song ngựa quen đường cũ, Huy gia nhập “Khối 8406” do Nguyễn Văn Lý khởi xướng nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, đòi đa nguyên, đa đảng chống lại Nhà nước. Năm 2011, y trốn qua Thái Lan rồi sang Hoa Kỳ để tránh các chế tài pháp luật của nước ta.

N10TV - KÊNH YOUTUBE CHỨA NỘI DUNG CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

Sau khi sang Mỹ, Huy tham gia TỔ CHỨC KHỦNG BỐ “Việt Tân”. Dưới sự chỉ đạo của tổ chức, Trương Quốc Huy lập kênh “N10TV” trên Youtube, Facebook để tuyên truyền chống phá nhà nước. “N10TV” sử dụng danh nghĩa cập nhật tin tức, tình hình trong nước cho người Việt Nam tại nước ngoài nhưng thực chất là để chia rẽ sự đoàn kết của người dân Việt Nam với chính quyền, kích động bạo lực, gây bất ổn trong nước và quan trọng hơn cả, là để KIẾM TIỀN trên các nền tảng mạng xã hội.

Khi thành lập kênh “N10TV”, Huy tỏ vẻ là người hiểu biết tình hình trong nước. Tuy nhiên, Trương Quốc Huy chỉ lợi dụng các bài viết mà báo chí trong nước đã đăng để biên tập các video suy diễn các vấn đề trên theo hướng xuyên tạc, gây hiểu lầm cho người dân, dẫn dắt người dân theo hướng tiêu cực nhằm chống phá sự ổn định của đất nước. Từ khi dịch bệnh Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam, với trí tưởng tượng phong phú của mình, Huy thường xuyên sử dụng “N10TV” để đăng tải các video nói xấu hoạt động phòng, chống dịch Việt Nam. Y phủ nhận hoàn toàn công tác chống dịch của Nhà nước, thậm chí còn bịa đặt, vu cáo ngược lại. Trong khi bạn bè quốc tế ghi nhận thành tích chống dịch của các cấp chính quyền và nhân dân thì Huy lại cố tình kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Những chiêu trò xuyên tạc của Trương Quốc Huy đều dựa vào những “thuyết âm mưu” do y nghĩ ra. Huy cập nhật tin tức, tình hình Việt Nam qua báo chí rồi “phỏng đoán” chứ không hề có một bằng chứng, căn cứ xác thực nào. Cũng như các thành viên của tổ chức khủng bố “Việt Tân”, Huy mang bản chất ngoan cố chống Nhà nước và Nhân dân Việt Nam bằng mọi cách. Y lợi dụng các sai sót mang tính cá biệt, nhất thời; các thông tin chưa được kiểm chứng hoặc thậm chí “nghe giang hồ đồn” để bịa đặt, xuyên tạc, thổi phồng để “câu view” kiếm tiền. Trương Quốc Huy càng nói, dư luận trong nước càng căm tức, bất bình vì nhân dân chính là người hiểu rõ nhất về hiện tình đất nước. Y không quan tâm tin tức của mình là đúng hay sai, tốt hay xấu, y chỉ quan tâm các video của mình hôm nay được bao nhiêu lượt xem, kiếm được bao nhiêu tiền.

Suy cho cùng, “N10TV” hay Trương Quốc Huy đều là những kênh thông tin “lá cải”, nhằm để câu view, kiếm tiền. Những thông tin được chia sẻ trên “N10TV” đều là những thông tin chưa được kiểm chứng, bịa đặt nhằm xuyên tạc, chống phá Nhà nước ta.

Lực lượng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Lâm Đồng khuyến cáo, các hành vi chia sẻ, cổ súy cho kênh “N10TV” là hành vi vi phạm pháp luật, quy định tại Điều 101, Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/2/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; thậm chí có thể bị xử lý hình sự với mức phạt tù.

Hiện nay trên không gian mạng có nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt được các đối tượng chống phá tô vẽ, thêm thắt; nếu người tiếp nhận không cẩn thận sẽ mắc bẫy, nếu chia sẻ, tán phát thì vô tình đã tiếp tay cho kẻ xấu tán phát thông tin vi phạm pháp luật./.

THÁC BẢN GIỐC VÀ VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUỐC GIA

 Dưới đây là hình ảnh bản đồ đường biên giới tại khu vực thác Bản Giốc được cắm tại khu vực bãi cạn dưới chân Thác. Theo đó, phần thác chính được chia đôi, còn phần thác phụ hoàn toàn thuộc về phía Việt Nam.

Trả lời câu hỏi vì sao cột mốc 836(2) được cắm ở phần lãnh thổ của Việt Nam?

Câu trả lời là: Đây là khu vực cảnh quan có giá trị đối với cả hai nước, chính vì vậy việc xây dựng cột mốc biên giới vừa phải đảm bảo yếu tố khẳng định chủ quyền, vừa phải đảm bảo mỹ quan chung. Đặc biệt, theo thông lệ quốc tế, không có quốc gia nào xây dựng cột mốc ở khu vực giữa dòng sông, suối. Chính vì vậy Chính phủ hai nước đã thỏa thuận và thống nhất cắm cột mốc đôi cùng số loại Trung tại khu vực này, bên phía Việt Nam là cột mốc số 836(2) và phía Trung Quốc là cột mốc 836(1) (Toàn bộ hệ thống cột mốc chạy dọc theo sông Quây Sơn thuộc tỉnh Cao Bằng từ Mốc 836 đến Mốc 845 và hệ thống cột mốc trên sông, suối biên giới của toàn tuyến đều được cắm loại cột mốc đôi cùng số như mốc 836(2).

Đường biên giới được phân định đi từ cột mốc 835 trên cồn Pò Thoong chạy xuống điểm giữa của mặt THÁC CHÍNH, rồi chạy dọc theo dòng chảy sâu nhất của sông Quây Sơn. Khoảng cách từ cột mốc 836(1) đến đường biên giới theo hướng đường nối liền với cột mốc 836(2) là 89,58m. Khoảng cách từ cột mốc 836(2) đến đường biên giới theo hướng đường nối liền với cột mốc 836(1) là 83,19m.

Tại khu vực này, công dân hai nước được tự do đi lại bằng thuyền, bè trên mặt nước (đó là lý do mà khách du lịch Việt Nam được đi lại bằng thuyền, bè qua đường biên giới để sang phần lãnh thổ trên sông của phía Trung Quốc và ngược lại). Tuy nhiên, công dân hai nước hoàn toàn không được phép lên bờ của mỗi bên.

Đây là thông tin chính xác về phân định chủ quyền lãnh thổ tại khu vực thác Bản Giốc. Đồng thời, là thông tin bác bỏ những luận điệu của một bộ phận những người khi nhìn thấy cột mốc 836(2) bên phần lãnh thổ của Việt Nam mà hiểu nhầm, hoặc hiểu sai, hoặc cố tình hiểu sai để đưa ra những luận điệu xuyên tạc về vấn đề chủ quyền lãnh thổ quốc gia tại khu vực này./.

CHẶN ĐỨNG SỰ LÂY LAN CỦA "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH"

 Sử dụng âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phản động đặt mục tiêu số một là chống phá Đảng, Nhà nước và Cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại nhằm thực hiện mục tiêu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài là xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ tiêu Nhà nước xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa có lợi cho chúng.

Sự lây lan của một loại vi rút độc hại “diễn biến hòa bình” đã tràn sang lĩnh vực mới: quân sự - quốc phòng, an ninh với sự tàn phá ghê gớm, tác hại khôn lường. Đây là sự phái sinh, nảy nở, lây lan của những hận thù, sự tráo trở của loại vi rút “phi nhân tính” cần nhận thức đúng bản chất, âm mưu, hành vi, hoạt động, tác hại và cần phải đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ chúng, không để chúng gây “bệnh”, hại người.

Âm mưu, thủ đoạn này không mới nhưng nó được cải biên, cải cách, “đổ thêm hận thù”, “đổ dầu vào lửa”, sự cuồng vọng vào các nội dung, hình thức mới với các chiêu trò chống phá tinh vi, xảo quyệt, vô cùng nham hiểm và xảo trá, gây tác hại không thể lường hết nếu ai đó coi thường hoặc mất cảnh giác.

Dưới các chiêu thức, chiêu trò và mỹ từ “lộng ngôn, hào nhoáng” để che đậy “cái dã tâm đen tối” bên trong nhưng chúng đã thất bại, bản chất, âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc và cuồng vọng của chúng vẫn lộ ra, đang được phơi bầy nham nhở. Các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng mọi phương thức, biện pháp, ý đồ; kể cả biện pháp đê tiện, hèn mọn, bỉ ổi nhất để xóa bỏ bằng được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ tiêu thành quả cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng ta lãnh đạo, nhân dân ta bằng mồ hôi, nước mắt và xương máu của mình qua hai cuộc kháng chiến thần thánh chống kẻ thù xâm lược và hơn 35 năm “thắt lưng buộc bụng” tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước để xây đắp nên cơ đồ, cuộc sống tốt đẹp ngày nay.

Việc cố tình tìm kiếm các chiêu trò, sử dụng “trăm mưu, ngàn kế” để xoá bỏ nỗi ám ảnh về “hội chứng thua cuộc” đã đeo đẳng bấy lâu nhằm rửa nỗi nhục “bại trận” và lấy lại ánh hào quang đã hoen ố, các thế lực thù địch cho rằng “diễn biến hòa bình” là cách duy nhất, hiệu quả nhất để cướp lại cái đã mất mà không cần súng đạn…, cho nên, sử dụng chiêu trò “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ mà chúng đã áp dụng thành công trong việc lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu để “xóa sổ Việt Nam” trên bản đồ thế giới là phương thức hữu hiệu để thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đưa Việt Nam quay về “thời kỳ đồ đá”, phụ thuộc chúng.

Một trong các chiêu thức được coi là mới nhất, “bạo gan và cuồng vọng nhất”, hết sức nguy hiểm, độc ác là chúng tập trung chĩa mũi nhọn đánh thẳng vào quân đội, công an, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, bằng cánh thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh. Chúng xác định đây là một trong những mũi nhọn tiến công mang tính đột phá để “hạ bệ “thần tượng” Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân Việt Nam.

Đánh vào Quân đội là “lĩnh vực bất khả xâm phạm từ trước đến nay”, chúng hy vọng thực hiện được mục tiêu kép: vừa rửa sạch mối hận thù trước đây, vừa thủ tiêu được công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, tuyết đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bởi theo chúng, một khi đã đánh gục, xóa bỏ và tước đi sức mạnh của lực lượng vũ trang cách mạng – chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước thì xã hội Việt Nam sẽ rối loạn, chung chiêng, chao đảo. Lợi dụng tình thế “đục nước béo cò”, chúng sẽ dễ dàng thực hiện mục tiêu tiếp theo là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; đồng thời, thuận đà sẽ đánh đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngọn cơ tư tưởng của Cách mạng Việt Nam.

Âm mưu thâm độc và xảo quyệt ấy chỉ có thể thực hiện “thành công” nhờ áp dụng kịch bản “diễn biến hòa bình” cuộc chiến trong thời bình, đánh vào lòng người, chiếm đoạt xã hội không cần bom đạn, các loại vũ khí tối tân hiện đại, chúng triệt để khai thác, sử dụng chiêu thức “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” lực lượng vũ trang. Mưu đồ đen tối ấy đang được chúng tập trung tinh lực để đánh thẳng vào trung tâm đầu não bộ máy lãnh đạo của quân đội và công an; trong đó, xuyên tạc bản chất, vai trò, uy tín, vị thể của Quân ủy Trung ương, các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, xuyên tạc Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội; cố tình tung tin, xuyên tạc, bóp méo sự thật về việc Quân đội ta vào Thành phố Hồ Chí Minh giúp chính quyền và nhân dân Thành phố phòng, chống đại dịch COVID-19 để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội, giữa quân đội chủ lực và địa phương, giữa quân đội phía Bắc và phía Nam; qua đó, chia rẽ cán bộ quân đội với cán bộ Đảng, Nhà nước; so sánh quân đội với công an để hạ thấp vai trò của quân đội là chiêu thức mới nhất, hèn mọn nhất của chúng.

Đích cuối cùng chúng muốn đi đến, đạt bằng được là phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyết đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng ta đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, tách quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, đối lập quân đội với Đảng, với Nhà nước; biến quân đội thành tổ chức dân sự, một lực lượng “trung lập”, “quân đội chỉ làm theo pháp luật”, “chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa”, v.v.. Đó là cái cách vô cùng thâm độc, tàn ác để chúng vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội, biến quân đội thành đội quân vô dụng, phản bội Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bằng mọi cách, chúng đang cố tình kích hoạt thực hiện âm mưu thâm độc này. Đích đến của chúng là làm cho Quân đội ta bị “tê liệt”, bị “chệch hướng”, “lầm đường, lạc lối”, mất sức chiến đấu; đến thời điểm đó, chúng hy vọng rằng quân đội ta tất yếu sẽ trở thành đội quân vô dụng, tự đánh mất bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, trở thành một đội quân “ô hợp”, “vô tổ chức, vô chính phủ”. Đúng vào chính thời điểm ấy, các thế lực thù địch thẳng tay “bóp chết” Đảng, tiêu diệt Nhà nước; triệt phá thành quả cách mạng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; thao túng Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các tổ chức chính trị - xã hội, ép các tổ chức này phải phục tùng chúng, “ngoan ngoãn” đi theo quỹ đạo của chúng đã “xếp đặt”, vẽ đường. Kịch bản “phi nhân tính” này chúng đã áp dụng thành công ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu những năm 1990 của thế kỷ XX sẽ được tái diễn ở Việt Nam. Một mưu đồ ngông cuồng, phiêu lưu, hết sức mạo hiểm đang bày đặt trước mắt chúng ta, rất cần phải đề cao cảnh giác, không thể xem thường.

Bài học “xương máu” vô cùng đắt giá, vô cùng đau đớn mà quân đội Liên Xô và quân đội của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã mắc mưu “diễn biến hòa bình”, đã bị thao túng, rơi vào tình cảnh bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bị “phi chính trị hóa”, dẫn đến thảm cảnh: “quân hùng, tướng mạnh” là thế, “có lịch sử hào hùng, vẻ vang” là thế, có hàng triệu quân, đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại, được nuôi dưỡng chu đáo, đào tạo rất cơ bản, công phu và được trang bị đầy đủ vũ khí tối tân, hiện đại từ “đầu đến chân” thế mà mất sức chiến đấu, luôn nhắc nhở chúng ta phải đề cao cảnh giác, không được mắc mưu bị “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa”.

Quân đội nhân dân trong bất kỳ tình hưống nào cũng không được lơ là, sao nhãng việc này; không để lâm vào tình trạng phản bội Đảng, vô ơn Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mang tội với nhân dân, kéo lùi, cản trở sự phát triển tiến bộ của lịch sử; trở nên một đội quân vô dụng; không thể bảo vệ được Đảng, Nhà nước; không bảo vệ được thành quả cách mạng; không bảo vệ được chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Vì vậy, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng phải đạt được hiệu quả: không mắc mưu, bị lừa gạt để bị “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” quân đội. Đây là vấn đề “sinh tử”, trực tiếp liên quan đến sự “tồn vong” của quốc gia – dân tộc; có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ đặc biệt hệ trọng, vô cùng cấp bách, liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, quyền sống làm người, miếng cơm, manh áo của gần 100 triệu dân Việt Nam hiện nay và các thế hệ con cháu mai sau. Đồng thời, là vấn đề tuyệt đối không thể xem nhẹ, coi thường, lơ là, mất cảnh giác.

Có thể khẳng định đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” nói chung; phòng, chống âm mưu, thủ đoạn và tác hại của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng nói riêng, là nhiệm vụ chính trị mới, đặc biệt hệ trọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; là nhiệm vụ “số một” của nhiều nhiệm vụ cấp bách, khẩn cấp để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong thời bình, từ khi đất nước chưa lâm nguy.

Để góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam, trước hết (1) phải giữ sạch lĩnh vực quân sự, quốc phòng, không được để sự lây nhiễm “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa”. Chúng ta cần phải (2) nghiên cứu thật kỹ sự phái sinh, mức độ nảy nở, lây lan; sự tác động, ảnh hưởng của hình thức này để tìm ra mô thức đấu tranh phòng, chống hiệu quả nhất. Cùng toàn Đảng, toàn dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam (3) cần phát huy tốt hơn nữa vai trò xung kích, nòng cốt, chủ động, tích cực hơn nữa trong tham gia xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững mạnh; góp phần (4) bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; (5) bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng; không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Đó là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ cao cả, thiêng liêng của “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn mới./.

Các thế lực phản động cố tình bịa đặt để phủ nhận nỗ lực, thành quả chống dịch của Việt Nam

 Việt Nam tính đến nay đã trải qua 4 làn sóng dịch với tính chất và quy mô ngày càng phức tạp. Dịch bệnh đã gây ra nhiều hệ lụy đối với đời sống kinh tế-xã hội, nhất là khi nhiều tỉnh, thành phố lớn phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài. Nền kinh tế trì trệ, tốc độ tăng trưởng suy giảm, thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng, cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Tác động tiêu cực của dịch bệnh là thách thức mà thế giới và Việt Nam đang phải nỗ lực vượt qua. Thế nhưng, đó chính là cơ hội để các thế lực chống đối, thiếu thiện chí lợi dụng để công kích, nói xấu với mục đích chống phá Việt Nam.

Trước hết, chúng tìm cách vẽ lên một thực trạng u ám về tình hình dịch bệnh ở Việt Nam. Thông qua các tin giả, các số liệu bịa đặt, chúng cáo buộc Chính phủ Việt Nam cố tình che giấu sự thật về tốc độ lây lan của dịch bệnh, cũng như các số liệu chính thức về số người nhiễm bệnh, số ca tử vong. Nếu không thận trọng kiểm chứng qua những nguồn tin chính thống, người đọc rất dễ nảy sinh tâm lý hoang mang, lo sợ quá mức, mất niềm tin vào nỗ lực chống dịch của chính quyền. Chẳng dựa trên cơ sở thực tế nào, những đối tượng chống phá cho rằng Việt Nam chống dịch với tư duy thời chiến, duy ý chí, rằng đảng độc quyền chống dịch không nghe theo lời khuyến cáo của các chuyên gia cũng như ý kiến của dư luận, không học theo kinh nghiệm của các nước khác. Chúng chỉ trích cán bộ là “những người ngồi trên cao” nên ra những chỉ thị, chính sách “sai lầm, vô lý, cực đoan, hà khắc”; chính quyền thì “xa dân, vô cảm”. Khi một số địa phương triển khai giãn cách xã hội căn cứ vào diễn biến của tình hình dịch bệnh, điều mà các nước trên thế giới đều áp dụng, thì chúng lớn tiếng vu cáo, rằng Việt Nam vi phạm về quyền tự do đi lại, rằng Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam thực hiện “ngăn sông cấm chợ” gây khó khăn cho cuộc sống của người dân… Trong khi cả hệ thống chính trị của đất nước vào cuộc “chống dịch như chống giặc” để thực hiện mục tiêu cao nhất mà Đảng và Nhà nước khẳng định là “ưu tiên cao nhất là bảo vệ sức khỏe người dân”, thì những kẻ chống đối lại bịa đặt ra rằng Việt Nam chỉ hăng say với thành tích chống dịch, để cho dân bị thiếu đói, bị ảnh hưởng cả về tâm lý, sức khỏe tâm thần…Từ đó, chúng tự cho mình kết luận rằng cách phòng chống dịch của Việt Nam thời gian qua là yếu kém, sai lầm, khiến cho tình hình dịch bệnh thêm trầm trọng và đời sống của người dân hết sức khốn khổ.

Theo Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an, đã có hàng chục nghìn bài viết, bình luận sai sự thật, chống Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh trật tự được các đối tượng chống phá đưa lên hàng trăm website và hàng nghìn nhóm, tài khoản mạng xã hội trong thời gian dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Chẳng khó khăn gì để có thể thấy đây là âm mưu của những thế lực thù địch, đối tượng chống đối, thiếu thiện chí với Việt Nam đang lợi dụng tình hình dịch Covid-19 phức tạp để bịa đặt, phủ nhận nỗ lực, thành quả mà Việt Nam đã đạt được. Từ đó, công kích vào chủ trương, biện pháp, cách thức phòng, chống dịch bệnh, cũng như công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, chính quyền địa phương trong nỗ lực ngăn chặn đại dịch. Mục tiêu của chúng là gây mất an ninh trật tự, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước ta, dẫn đến rối loạn xã hội, thậm chí là đổ vỡ, thay đổi chế độ.

Vì vậy, mỗi người dân Việt nam yêu nước cần tỉnh táo, thận trọng khi tiếp nhận các thông tin trên mạng xã hội; tránh tin và nghe theo những đồn đại vô căn cứ, thông tin chưa được kiểm chứng hoặc chưa được các cơ quan chức năng xác nhận. Đặc biệt, không chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng, tránh biến mình thành công cụ phát tán thông tin giả, sai sự thật, gây hoang mang dư luận. Điều cần nhất bây giờ là tinh thần đoàn kết, là sự chung tay, góp sức từ tất cả cộng đồng để Việt Nam chúng ta sớm chiến thắng đại dịch Covid-19, để trở về những ngày bình thường và tiếp tục công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh, vững mạnh.

Vẫn chiêu trò lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta

 Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện các âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, đó là:

Thứ nhất, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.

Thứ hai, xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.

Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp.

Thứ tư, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.

Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo.

Trước những vấn đề nêu trên, mỗi chúng ta cần nhìn nhận một cách khách quan, thấy rõ mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta của các thế lực thù địch, tích cực đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu thủ đoạn “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các kẻ thù, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước

 Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta với nhiều âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, nham hiểm và xảo quyệt. Hiện nay, internet ngày càng phát triển và đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Bên cạnh những lợi ích mà internet mang lại, đây cũng là môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch lợi dụng để hoạt động chống phá Việt Nam, triệt để lợi dụng “thế” không bị ngăn cách bởi không gian địa lý để tăng tính cập nhật, diện phủ sóng các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch nhằm vào các tầng lớp xã hội. Trong đó, thanh niên, học sinh, sinh viên là những mục tiêu được chúng ưu tiên lựa chọn để tác động. Về hình thức hoạt động của chúng thành lập ra các nhóm, hội, fanpage,… làm cơ quan ngôn luận, công khai hóa tổ chức, vận động người dân, dụ dỗ các đối tượng bị phạt tù chính trị, các nhà báo, nhà văn, đảng viên thoái hóa biến chất, cán bộ vi phạm kỷ luật bị mất quyền lợi để viết bài tung lên mạng xã hội, phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chính trị xấu, phản động. Chúng triệt để lợi dụng các báo điện tử, blog cá nhân làm “nóng” các vấn đề của đất nước như tệ nạn xã hội, tham nhũng, lãng phí… từ đó đổi trắng thay đen, tạo bức xúc, nghi ngờ, bất bình trong công chúng, kích động gây rối, chống đối chính quyền địa phương, nhằm gây tác động xấu đến tư tưởng, tâm lý người đọc. Khi các thiết bị công nghệ, nhất là điện thoại thông minh có chức năng kết nối 3G, 4G, wifi trở thành “vật bất ly thân” của mỗi người, những kẻ chống phá đất nước triệt để lợi dụng bằng các chiêu trò tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh giả tạo, sai lệch, biến có thành không, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, từ đó lôi kéo, hướng dư luận theo quan điểm sai trái, thù địch. Hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Các đối tượng này đã lập và sử dụng hàng ngàn website, blog, diễn đàn trực tuyến,

Để thực hiện việc tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng ra sức tuyên truyền phá hoại tư tưởng, tấn công chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; kêu gọi tập hợp lực lượng, hình thành và công khai hóa tổ chức chính trị đối lập trá hình trên không gian mạng; sử dụng Internet để công khai bày tỏ quan điểm đối lập, đòi đa nguyên, đa đảng, từ đó lôi kéo, phát triển lực lượng và hoạt động chống phá; lợi dụng các vấn đề nhạy cảm chính trị xã hội, vụ việc phức tạp thu hút sự quan tâm của quần chúng để kích động biểu tình, gây bất ổn về an ninh, trật tự, tìm thời cơ tiến hành “cách mạng đường phố” tại Việt Nam...

Một trong những phương thức mà các đối tượng gia tăng hoạt động chống phá trên mạng internet trong thời gian gần đây là xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Bằng các bài viết xuyên tạc, đả kích, âm mưu của chúng nhằm phá hoại nội bộ hòng gây chia rẽ trong lãnh đạo cấp cao, tác động tiêu cực tới nhận thức, quan điểm, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây tâm lý hoang mang, hoài nghi và làm suy giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước.  Thủ đoạn chủ yếu là giả mạo, cắt xén, ngụy tạo bằng chứng để vu cáo; sử dụng thông tin cũ với những luận điệu mới; lợi dụng những vấn đề chính trị, thời sự để tung tin thất thiệt, tạo dư luận xấu; từ các vụ việc tiêu cực, tham nhũng để quy chụp do đường lối của Đảng, Nhà nước và chế độ. Các đối tượng đặt tên trang mạng, blog và đặt các tiêu đề, tên bài với ngôn từ giật gân, kích thích tính tò mò của người đọc, người xem, đăng tải tin, bài viết, video clip có nội dung phản động, thật giả lẫn lộn. Theo thống kê của cơ quan chức năng, từ đầu năm 2016 đến nay đã phát hiện cả ngàn tài khoản facebook, hàng trăm kênh Youtube do các đối tượng chống đối trong và ngoài nước quản trị thường xuyên đăng tải thông tin xuyên tạc, bịa đặt nhằm công kích, hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tung tin thất thiệt gây hoang mang dư luận về vấn đề chính trị, kinh tế Việt Nam. Chúng ta phải hiểu tự do internet không có nghĩa tuyệt đối. Không phải ai thích viết gì, nói gì, muốn xâm phạm cá nhân, tổ chức nào trên internet cũng được.

Để ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần đóng vai trò tiên phong, nòng cốt trong đấu tranh, phản bác lại các thông tin, quan điểm sai trái; làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; tạo sự chuyển biến rõ nét về nhân cách, tác phong quân nhân; chú trọng xây dựng nhân rộng điển hình tiên tiến; gắn việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); từng cá nhân cần phát huy tinh thần trách nhiệm, tích cực đấu tranh chuyên sâu, phản bác lại các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Các cơ quan quản lý Nhà nước cần có biện pháp tăng cường công tác quản lý việc đăng tải các thông tin trên các Blog, Facebook cá nhân; kịp thời ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin, hình ảnh có nội dung tiêu cực, phản cảm; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng mạng để tung tin thất thiệt, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, xâm phạm lợi ích Quốc gia, danh dự, uy tín cán bộ chủ chốt của Đảng, Nhà nước. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần tỉnh táo, cẩn trọng, có sự chọn lọc kỹ lưỡng khi tiếp nhận những thông tin, tuyệt đối không nghe, không đọc, không tin, không bàn luận, không chia sẻ các thông tin xấu độc, bịa đặt chưa được kiểm chứng./.

 

Cần cảnh giác trước những thông tin sai lệch về quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ theo Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT, ngày 28/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

 Ngày 28 tháng 6 năm 2021, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 8 năm 2021, thay thế cho Thông tư số 08/2017/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trước khi ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ theo Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các cơ quan, đơn vị có đào tạo tiến sĩ và các nhà khoa học trong toàn quốc, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và lan tỏa trong toàn xã hội. Có thể khẳng định, Quy chế mới phù hợp với xu thế chung của xã hội, mang tính phổ quát rộng rãi cho các ngành, chuyên ngành, các lĩnh vực; đề cao tính tự chủ, chuyên sâu về mặt học thuật theo chuyên ngành, phù hợp với thực trạng đào tạo tiến sĩ của nước ta hiện nay, đồng thời có nhiều phát triển mới so với Thông tư số 08/2017 như: điều kiện dự tuyển về ngoại ngữ chứng chỉ TOEFL iBT từ 45 lên 46; IELTS từ 5.0 lên 5.5, mở rộng thêm các chứng chỉ ngoại ngữ khác bậc 4 trở lên (theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam) do Bộ Giáo dục Giáo dục Đào tạo công bố. Về tiêu chuẩn của người hướng dẫn, người tham gia hội đồng, người phản biện độc lập cũng được quy định chặt chẽ hơn, mang tính phổ quát, bao trùm toàn bộ các lĩnh vực, ngành, chuyên ngành đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là các ngành đặc thù (Khoa học Quân sự và An ninh nhân dân). Quy chế mới ra đời đã cởi nút thắt, điểm nghẽn, giải quyết được những bất cập trong Thông tư 08, đặc biệt là bài báo quốc tế đối với ngành đặc thù. Quy chế mới quy định: trong thời gian 05 năm (60 tháng) người hướng dẫn, người tham gia hội đồng, người phản biện độc lập (tính đến thời điểm có quyết định) phải có các công trình khoa học được công bố đạt tổng điểm từ 4,0 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (báo cáo hội nghị khoa học, bài báo khoa học đăng trên tạp chí quốc tế có uy tín hoặc bài báo đăng trên các tạp chí trong nước có uy tín của từng ngành thang điểm đánh giá tới 0,75 trở lên hoặc sách chuyên khảo do các nhà xuất bản uy tín trong nước và quốc tế phát hành). Đây là tiêu chí cao không phải ai cũng làm được, đồng thời nó mang tính phổ quát, bao trùm các lĩnh vực có đào tạo tiến sĩ.

Tuy nhiên, sau khi Quy chế mới được ban hành có một số bài viết đăng trên mạng xã hội, cố tình xuyên tạc, phủ nhận những điểm mới, tính khả thi và tính ưu việt, sự phát triển của quy chế. Họ cho rằng: Quy chế mới đào tạo tiến sĩ đã không tiến bộ lại còn giảm chuẩn. Đây là những quan điểm, suy nghĩ lệch lạc, cách nhìn nhận chưa thấu đáo, chưa toàn diện đối với nền giáo dục nước ta hiện nay. Bởi, đào tạo tiến sĩ là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho toàn xã hội, mà xã hội thì có rất nhiều ngành khác nhau, mỗi ngành có tính đặc thù riêng, có ngành kết quả nghiên cứu sẽ được công khai rộng rãi trên mạng xã hội, cho quốc tế biết; nhưng cũng có ngành kết quả nghiên cứu thuộc về bí mật quốc gia, tất yếu sẽ không được công bố rộng rãi trên mạng xã hội hoặc quốc tế.

Hiện nay trên mạng xã hội có quan điểm cho rằng: chỉ có bài báo quốc tế mới có giá trị, bài báo trong nước độ tin cậy không cao. Đây là suy nghĩ lệch lạc, sùng ngoại, bài nội không phù hợp với thực tế nền giáo dục nước ta hiện nay. Bởi, trong xu thế hội nhập toàn cầu, sản phẩm nghiên cứu ra cần được nhiều độc giả trong và ngoài nước đón nhận, phản biện là điều hoàn toàn đúng đắn nhưng nó chỉ phù hợp với lĩnh vực khoa học về giáo dục, y học, kỹ thuật,… còn lĩnh vực thuộc về bí mật quốc gia sẽ không có bất kỳ một quốc gia trên thế giới nào công khai cho nước khác biết, đây là điều hiển nhiên không phải bàn cãi. Vì vậy, việc công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí uy tín của ngành chính là một kênh để phổ biến rộng rãi, đưa sản phẩm khoa học đến nhiều độc giả phản biện, đặc biệt là những người đang hoạt động trong ngành, lĩnh vực đó, thì tính chuyên sâu, độ chính xác về học thuật sẽ cao hơn rất nhiều so với những người không phải chuyên ngành. Vì vậy, không thể nói bài báo đăng trong nước ở các tạp chí chuyên ngành độ tin cậy không cao so với tạp chí quốc tế. Về tiêu chí ngoại ngữ đầu vào đối với tiến sĩ, họ cho rằng còn thấp, nói như vậy là không hợp lý, bởi: với trình độ IETLS 5.5, B2, TOEFL iBT 46 trở lên hay tiếng nước ngoài khác tương đương, độc giả có thể đọc và hiểu nội dung cốt lõi trong các văn bản, tài liệu nước ngoài có liên quan đến lĩnh vực mình nghiên cứu; trong quá trình đào tạo nghiên cứu sinh tiếp tục tích luỹ, bổ sung vốn kiến thức cho bản thân để ngày một hoàn thiện hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của nền giáo dục nước nhà hiện nay.

Vì vậy, chúng ta cần nhận thức rõ những quan điểm, luận điệu xuyên tạc phủ nhận sự phát triển, tính ưu việt, tính phổ quát của Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo trên mạng xã hội hiện nay. Tăng cường đấu tranh, phản bác lại các quan điểm, luận điệu xuyên tạc trên, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông, đội ngũ nhà báo và sự tham gia tích cực của những người có uy tín trong xã hội, nhất là trí thức, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trên mọi lĩnh vực. Thực hiện tốt việc đấu tranh trên các phương tiện truyền thông đại chúng, Internet, mạng xã hội hiện nay. 

 

Luận điệu xuyên tạc quyền tự do báo chí ở Việt Nam của các thế lực thù địch

 Lợi dụng “Ngày Tự do báo chí thế giới 03/5”, trên các trang  mạng của tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã đăng tải nhiều thông tin có nội dung xuyên tạc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, nhận diện và kiên quyết đấu tranh làm thất bại những luận điệu xuyên tạc đó, nhằm bảo đảm quyền tự do thông tin của mỗi người và khẳng định tính cách mạng, khoa học của nền báo chí cách mạng Việt Nam trong 96 năm qua.

Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam ra đời được đánh dấu bằng sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập “Báo Thanh niên” ngày 21/6/1925. Báo Thanh niên là tiếng nói của tổ chức “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”, đã góp phần giương cao ngọn cờ cách mạng Việt Nam, nói lên ý chí, khát vọng của dân tộc Việt Nam và chỉ rõ phương hướng đấu tranh của dân tộc Việt Nam theo con đường của Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” ngay từ năm 1930. Trải qua 96 năm, báo chí cách mạng Việt Nam đã góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, quyền tự do báo chí đã được hiến định rõ tại Điều 25 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Trên thực tế, cùng với quyền tự do, dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, quyền tự do báo chí, ngôn luận ngày càng được thể hiện đầy đủ. Vậy mà, các thế lực thù địch lại tung ra những luận điệu xuyên tạc rằng: “Việt Nam đã tước đoạt quyền tự do phát biểu, tự do thông tin của người dân”; “vi phạm trầm trọng quyền tự do báo chí”. Đây là những luận điệu rất phản động, nhằm gây nhiễu thông tin, vu khống, xuyên tạc trắng trợn quyền tự do thông tin, báo chí của công dân Việt Nam. Bởi vì, ở Việt Nam chẳng có sự “tước đoạt” nào cả, mà chỉ có sự hướng về nhân dân, vì nhân dân với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt với tinh thần liêm chính, kiến tạo, phát triển của Chính phủ với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, để tiến tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Về quyền tự do phát biểu, tự do thông tin, ở nước ta không những không bị “tước đoạt”, mà quyền này được phát huy dân chủ rộng rãi, từ trong nguyên tắc hoạt động của các tổ chức, đến thực hiện quyền dân chủ của người dân “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhất là trong tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình các kỳ đại hội, đều được xin ý kiến đóng góp đầy đủ, rộng khắp của các tổ chức đảng các cấp, Quốc hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân, đặc biệt là các tầng lớp nhân dân. Trong kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đã có hàng triệu ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đóng góp vào các văn kiện trình Đại hội. Quá trình diễn ra Đại hội, các phiên khai mạc, bế mạc và nhiều phiên họp quan trọng của Đại hội Đảng lần thứ XIII được Đài truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp để cho toàn thể nhân dân được theo dõi, tiếp thu và lĩnh hội những quan điểm, chủ trương của Đảng. Sau Đại hội, toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân được quán triệt nhanh và học tập, triển khai Nghị quyết Đại hội. Điều đó cho thấy, không chỉ “ý Đảng, hợp lòng dân”, mà quyền tự do phát biểu, tự do thông tin ở Việt Nam được bảo đảm đầy đủ, chứ không phải như các thế lực thù địch rêu rao rằng “Việt Nam đã tước đoạt quyền tự do phát biểu, tự do thông tin của người dân”; “Việt Nam vi phạm trầm trọng quyền tự do báo chí”!

Trước sự xuyên tạc trắng trợn của các thế lực thù địch, chúng ta càng phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động báo chí và bảo đảm quyền thông tin của mọi công dân trước pháp luật. Tiếp tục nghiên cứu, nắm chắc luật báo chí, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mỗi công dân. Trên cơ sở đó, quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên lĩnh vực thông tin, báo chí, phát ngôn bảo đảm đúng pháp luật. Đồng thời, nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, vu khống trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền ở nước ta.

 

Tăng cường đấu tranh, phản bác những luận điệu lợi dụng hoạt động “xã hội dân sự” để chống phá Đảng, Nhà nước ta

 Trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình” ở nước ta, các thế lực thù địch triệt để sử dụng các thủ đoạn phi quân sự, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo,… để phá hoại từ bên trong nội bộ, hòng tạo ra lực lượng chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước. Trong đó, chúng đặc biệt quan tâm, lợi dụng xã hội dân sự (XHDS) để thực hiện các hoạt động chống phá. Để góp phần đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch, cần thực hiện tốt một số biện pháp chủ yếu sau:  Một là, Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các hội, đoàn thể quần chúng và các NGO ở Việt Nam. Giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với cả hệ thống chính trị, trong đó có các tổ chức chính trị, xã hội. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa gồm cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức quần chúng. Trong đó, Mặt trận Tổ quốc cần phát huy chức năng phản biện, giám sát, vận động nhân dân cùng tham gia giám sát, phản biện, góp ý kiến trong việc hoạch định cơ chế, chính sách nhằm góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tiếp tục phát huy tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Chú trọng xây dựng tổ chức đảng ở cơ sở; nhất là các địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa; chăm lo xây dựng tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của đất nước và từng địa phương; giải quyết kịp thời bức xúc, khó khăn, nguyện vọng chính đáng của các tổ chức quần chúng và các tầng lớp nhân dân. Hai là, Chủ động đổi mới nội dung, hình thức công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất XHDS, âm mưu, hoạt động lợi dụng XHDS của các thế lực thù địch để tác động chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam hiện nay. XHDS là vấn đề chính trị, xã hội phức tạp, đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu, nhận diện, tuyệt đối tránh khuynh hướng đơn giản hóa nhận thức về XHDS, đồng thời tránh tư tưởng coi XHDS là tiêu cực, đối lập hoàn toàn với Nhà nước. Chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền “vừa hồng, vừa chuyên” có trình độ, năng lực, kiến thức đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trên lĩnh vực này. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại, đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế về nhân quyền, làm cho các nước và nhân dân thế giới hiểu rõ thực tế chính sách và thành tựu nhân quyền ở Việt Nam, góp phần đấu tranh, ngăn chặn các luận điệu vu cáo, xuyên tạc vấn đề này đối với nước ta. Ba là, Thường xuyên nắm chắc tình hình hoạt động của các tổ chức XHDS để chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời âm mưu, hoạt động lợi dụng XHDS xâm phạm an ninh chính trị, trật tự xã hội. Kiên quyết xử lý các hội, đoàn thể, các tổ chức NGO hoạt động vi phạm pháp luật, đồng thời tăng cường đối thoại, tiếp xúc, cảm hóa, không để các thế lực lôi kéo nhằm thực hiện ý đồ chống đối từ bên trong… Kịp thời phát hiện kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng các tổ chức, đoàn thể xã hội tuyên truyền, xuyên tạc tình hình trong nước và tập hợp lực lượng gây rối trật tự, xâm phạm an ninh chính trị. Giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện, tố cáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Bốn là, Ðảng, Nhà nước cần tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động của các tổ chức, đoàn thể, hội, nhóm phù hợp với định hướng phát triển đất nước, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất đổi mới công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, sao cho phù hợp với đặc điểm kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân./.