Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2021

“THẾ TRẬN LÒNG DÂN" LÀ MỘT TRONG NHỮNG MẠCH NGUỒN SỨC MẠNH NỘI SINH CỦA QUỐC GIA - DÂN TỘC

 


     Yếu tố “lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với nhau; trong đó, “lòng dân” bao giờ cũng tồn tại một cách khách quan và là cơ sở, nền tảng chủ yếu để tạo nên “thế trận lòng dân”. “Thế trận lòng dân” được xây dựng vững chắc sẽ có tác động tích cực, làm cho yếu tố “lòng dân” phát triển hài hòa, lành mạnh và hướng tới thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng. Song, trên thực tế, yếu tố “lòng dân” không tự nhiên trở thành “thế trận lòng dân” và “thế trận lòng dân” có thể vững ở thời điểm này, giai đoạn này nhưng cũng có thể không vững ở thời điểm khác, giai đoạn khác và không phải cứ xây dựng vững mạnh rồi là xong, mà phải thường xuyên được củng cố trong hoạt động thực tiễn thông qua đường lối, chủ trương, chính sách hợp lòng dân, phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Đồng thời, thế trận này phải được đặt vào trạng thái được triển khai thống nhất trong các tầng lớp dân cư, trong mọi lứa tuổi, mọi giai tầng xã hội. Ngoài ra, môi trường chính trị - xã hội cũng là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho sự hình thành và phát triển của “thế trận lòng dân”.

     Xuyên suốt chiều dài lịch sử đất nước, không khó để nhận thấy việc “quy tụ lòng người” là bài học kinh nghiệm quý báu đóng vai trò quyết định đến thắng lợi trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc.


     Ngay từ buổi đầu của lịch sử, lòng yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc luôn là chất kết dính muôn người và trở thành nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Đây chính là cơ sở, nền tảng và cội nguồn sâu xa để dân tộc ta huy động sức mạnh tiềm tàng, giành độc lập tự chủ sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Dưới thời nhà Trần, tư tưởng “chúng chí thành thành” và chủ trương “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” là nhân tố quyết định trong 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông, là nét nổi bật về nghệ thuật đánh giặc giữ nước mang đậm tính minh triết của dân tộc ta.

     Trái lại, dưới thời nhà Hồ, lòng dân ly tán, trước họa xâm lăng mà trăm vạn người trăm vạn lòng thì dù có quân đông tướng giỏi, thành cao hào sâu, nhưng Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng vẫn phải thốt lên “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. Và đúng là “dân không theo” nên công cuộc giữ nước của nhà Hồ khi đó thất bại.

     Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm “lấy dân làm gốc”, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Người khẳng định: “Ở trong xã hội, muốn thành công phải có ba điều kiện là thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Ba điều kiện ấy đều quan trọng cả. Nhưng thiên thời không quan trọng bằng địa lợi, mà địa lợi không quan trọng bằng nhân hòa. Nhân hòa là thế nào? Nhân hòa là tất cả mọi người đều nhất trí”(1). Nhân hòa ở đây thực chất là tinh thần hòa hợp, đồng lòng của toàn dân, biểu hiện tập trung ở lòng yêu nước, sự đoàn kết toàn dân “muôn người như một”, được ví như “bức thành đồng” vững chắc, vô địch mà không có đội quân xâm lăng nào có thể công phá được. Đó cũng chính là sức mạnh của cả nước đồng lòng, toàn dân một ý chí, quyết tâm đánh giặc giữ nước. Không chỉ vậy, Đảng ta còn chú trọng giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân, sáng tạo nhiều hình thức tổ chức, tập hợp, thu hút đông đảo quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng, làm cho sự đoàn kết, đồng lòng ấy không ngừng được tăng cường vững chắc, được bổ sung những yếu tố mới, độc đáo, hiệu quả, góp phần quan trọng, quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

     Đến Đại hội lần thứ X, Đảng lần đầu tiên sử dụng cụm từ “thế trận lòng dân” và xác định: Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân làm nòng cốt. Bổ sung và phát triển quan điểm này, Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc”(2). Để củng cố và tăng cường hơn nữa “thế trận lòng dân” đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới, Đại hội XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

     Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ các chủ trương, giải pháp xây dựng, củng cố “thế trận lòng dân”; đã ban hành nhiều chính sách sát thực tiễn, hợp lòng dân, đáp ứng nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển gắn với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trên phạm vi cả nước. Đồng thời, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh và bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội; thực hiện mỗi bước phát triển kinh tế là một bước cải thiện đời sống nhân dân; đẩy mạnh thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo, ưu đãi đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng; tạo việc làm cho người lao động, miễn giảm thuế nông nghiệp nhằm “an dân”, “dưỡng dân”. Nhờ đó, diện mạo đất nước và đời sống của nhân dân “thay da đổi thịt”, mọi người dân “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” như ước nguyện của Bác Hồ.

     Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành, sửa đổi, đồng bộ hệ thống pháp luật, Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; thực thi quyền con người, quyền công dân. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cải cách hành chính… được tăng cường và có bước chuyển biến tích cực. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thường xuyên được chú trọng, góp phần quan trọng vào việc quy tụ, tập hợp các tầng lớp nhân dân; trong đó, người Việt Nam ở nước ngoài cũng cùng chung tay, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

     Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cả khách quan, chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân” còn có mặt hạn chế. Lợi dụng những yếu kém trong quản lý, các thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động chống phá, làm xuất hiện những sai lệch về chuẩn mực giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống, trái với truyền thống của dân tộc và giá trị con người Việt Nam, ảnh hưởng đến sự đồng thuận, gắn kết trong xã hội, làm cho một bộ phận nhân dân thiếu niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ, ảnh hưởng không nhỏ đến xây dựng “thế trận lòng dân”. Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra cho thấy, xây dựng “thế trận lòng dân” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần phải tăng cường đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương.


Cần nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc, tẩy trừ dứt điểm những phát ngôn thiếu chuẩn mực, chống phá cách mạng Việt Nam

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước. Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam. Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm. Tính nguy hại từ những câu chuyện làm quà. Như: Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan "chẳng đẹp đẽ" gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ. Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng. Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định... nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng "câu like", "câu view" hoặc “nói cho bõ tức”... Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc... nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức... Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước. Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng "nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng"... Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội. Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình! Nguyên nhân đưa đến thực trạng đó là: Do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc... nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo... Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác... vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề... Không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ... cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản... cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên. Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy... khiến dư luận phải dị nghị, xem thường! Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng... Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh... rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”... Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".

"ĐỪNG ĐỐT" - BẢN THÂN NÓ CÓ LỬA RỒI!

 Tháng 6/1970, khi Fredric Whitehurst, một lính Mỹ, tại chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi tính châm lửa đốt quyển sổ tay được bọc bằng vải, thu được sau một trận càn quét, người thông dịch của ông đã cản: "Đừng đốt. Bản thân nó đã có lửa rồi!". Nghe lời khuyên, người lính Mỹ ấy đã không đốt quyển sổ tay. Đó là cuốn nhật ký của một nữ chiến sĩ, một bác sĩ có cái tên thật đẹp: Đặng Thùy Trâm.

Những dòng chữ rực lửa trong cuốn nhật ký khiến Frideric vô cùng xúc động - mặc dù anh chỉ được nghe qua lời dịch vội. Đó là những dòng chất chứa căm thù đối với quân Mỹ và cả những dòng chữ đầy yêu thương, hi vọng. Anh không hiểu nổi bắt nguồn từ đâu mà một người con gái có thể nhìn thấy cái đẹp của màu xanh giữa chiến trường mịt mù bom đạn, vì sao cô ấy có thể nghe nổi bản giao hưởng êm đềm khi quân Mỹ gần như luôn bám sát sau lưng. Nó khiến anh vô cùng ngạc nhiên và đặc biệt cảm phục. Và “Ngọn lửa” ấy đã dẫn Fredric và người anh trai là Robert Whitehurst (cũng là một cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam) làm một cuộc hành trình vượt đại dương, tình nguyện đưa nhật ký của Đặng Thùy Trâm về với gia đình chị. Năm 2005, sau 35 năm lưu lạc trên đất Mỹ, cuốn nhật ký của bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã trở về Việt Nam trong vòng tay yêu thương của người thân, bạn bè. 

Từ khi cuốn nhật ký được biết đến, đã có biết bao cuộc vận động, bao phong trào ý nghĩa được phát động để người trẻ hôm nay học tập và noi gương người con gái Hà Nội kiên cường, bất khuất. Đặc biệt, cuốn nhật ký được dịch ra khoảng 20 thứ tiếng; góp phần giúp độc giả khắp thế giới thấy được những năm tháng chiến tranh ác liệt mà dân tộc ta đã phải trả bằng máu xương để có nền hòa bình độc lập ngày hôm nay. Cuốn Nhật ký cũng chính là cảm hứng để NSND Đặng Nhật Minh xây dựng bộ phim chính kịch lịch sử “Đừng đốt” làm xúc động lòng người trong và ngoài nước. Bác sĩ Đặng Thùy Trâm mãi là tấm gương cho thế hệ trẻ hôm nay - những người sinh ra và lớn lên sau chiến tranh, chưa từng nếm trải trận mạc, gian khổ, mất mát và hy sinh - biết trân trọng cuộc sống mình đang có, biết sống có ước mơ, có hoài bão và luôn vì mọi người.

Mỗi người cần thận trọng suy xét, cảnh giác với ý đồ xấu từ các danh xưng, lợi dụng quyền tự do dân chủ chống phá Nhà nước ta

Hồi cuối tháng 10/2021, khi ông Trương Châu Hữu Danh và một số thành viên của nhóm “Báo sạch” phải ra tòa vì hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích, Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, một số báo và trang mạng xã hội của báo đài nước ngoài đã gọi Trương Châu Hữu Danh là “nhà báo”. Thực ra ông Danh từng là phóng viên ở một số tờ báo trong nước. Nhưng hành vi vi phạm pháp luật của ông Danh không phải được thực hiện trong tư cách của một nhà báo hay một phóng viên. Bởi theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai (thành phố Cần Thơ), năm 2019, ông Danh cùng với một số người tạo Fanpage “Báo Sạch”, Group “Làm Báo Sạch” và kênh YouTube “BS Channel” để viết, đăng 47 bài, video về các chủ đề được dư luận quan tâm trên Facebook. Cả 5 thành viên đều có sự thống nhất khi đăng các bài viết. Quá trình cùng nhau thành lập các tài khoản nói trên để đăng bài viết, các bị cáo nhận hợp đồng làm truyền thông quảng cáo cho doanh nghiệp thu hơn 2,8 tỷ đồng và chia nhau hưởng lợi. Các bị cáo lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để viết, đăng tải, phát tán thông tin chưa kiểm chứng, không đúng sự thật, tiêu cực, một chiều để đăng tải, phát tán công khai trên mạng xã hội. Việc làm của các bị cáo nhằm hướng dư luận theo ý thức chủ quan, làm cho người đọc hiểu nhầm, hiểu sai sự thật, tạo điều kiện cho các phần tử lợi dụng tham gia bình luận tiêu cực, kích động một số người có nhận thức lệch lạc tham gia chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... Như vậy, các hoạt động của nhóm này đều không liên quan đến hoạt động báo chí, nên việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật của họ cũng không liên quan gì đến việc họ viết báo. Mới đây, khi bà Phạm Đoan Trang chuẩn bị được đưa ra xét xử do bị cáo buộc “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, nhiều báo, đài ở nước ngoài và một số trang mạng xã hội của những kẻ chống phá Nhà nước Việt Nam đã gọi bà Trang là “nhà báo”, “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động”, “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà tranh đấu nhân quyền”… Bà Phạm Đoan Trang từng viết cho nhiều tờ báo trong nước nhưng trên thực tế lúc bị bắt, bà không còn làm việc cho tờ báo nào và hành vi bị cáo buộc sai phạm cũng không liên quan đến hoạt động báo chí. Theo cơ quan điều tra, hành vi sai trái của bà Phạm Đoan Trang là đã có mối liên hệ mật thiết với các tổ chức phản động lưu vong như “Việt Tân”, “VOICE”, tham gia vào việc hình thành Mạng lưới blogger, đoàn vận động nhân quyền do Việt Tân vẽ ra nhằm phản đối Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền của Liên hiệp quốc, nhằm vận động chính giới phương Tây gây áp lực để Việt Nam thay đổi chính sách nhân quyền… Còn các “nhà” khác được tô vẽ kỳ thật là những hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam. Nhiều trường hợp cá nhân khác khi có các hành vi mang tính lợi dụng quyền tự do dân chủ hoặc có tính chất chống phá Nhà nước đều được gắn các “mác” như “nhà báo”, “blogger”, “facebooker”, “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”, “tù nhân lương tâm”… Đôi khi, các danh xưng này có liên quan chút ít đến một vài công việc họ có tham gia, chẳng hạn, bà Phạm Đoan Trang từng tham gia “sáng lập” cái gọi là “Tạp chí Luật khoa”, một trang mạng không được Nhà nước ta công nhận là báo hay tạp chí; hay trường hợp ông Phạm Chí Dũng cũng được gọi là “nhà báo” do ông tham gia “sáng lập” cái gọi là “Việt Nam thời báo”, một trang web không được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Ngoài ra, còn nhiều trường hợp khác chỉ viết blog, mạng xã hội hoặc thỉnh thoảng cộng tác với một số tờ báo chống Việt Nam ở nước ngoài, cũng được “xướng tên” là “nhà báo”! Thực ra một số người đặt ra các danh xưng đó có ý đồ cả. Nếu thừa nhận việc các công dân Trương Châu Hữu Danh, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng… bị xử lý vì các vi phạm pháp luật của Việt Nam thì chắc chẳng có chuyện gì để nói, chẳng thể nhân đó mà công kích, phê phán Đảng hay Nhà nước Việt Nam được. Nhưng khi những kẻ phá hoại, những phần tử chống đối muốn hạ uy tín, muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng thì phải biến các việc làm bình thường ở bất kỳ một quốc gia, một thể chế nào thành những hoạt động mang tính đàn áp, như “đàn áp tiếng nói phản biện”, “hạn chế tự do ngôn luận, tự do báo chí”, “trả thù người bất đồng chính kiến”… Rồi từ đó, các bảng xếp hạng của những tổ chức tự cho là đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ, tự do báo chí… với các tiêu chí chủ quan và phiến diện, mới có cớ xếp Việt Nam vào nhóm thấp, để rồi một số quốc gia, một số nhà hoạt động chính trị lấy đó làm con bài để mặc cả này nọ. Chứ chỉ nói rằng Việt Nam xử lý những phần tử chống phá Nhà nước thì tìm đâu ra cớ mà phê phán, chống phá! Trong khi đó, việc thực hiện các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin… ở nước ta ngày càng được mở rộng; người dân ngày càng được phát huy quyền làm chủ của mình trên tất cả các mặt của đời sống; quyền bày tỏ chính kiến và tiếng nói phản biện được thể hiện dưới nhiều hình thức, nhất là qua môi trường mạng internet và mạng xã hội. Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện để mở rộng các quyền tự do đó, không phải để phù hợp với xu hướng mà chính là để lắng nghe, ghi nhận, tiếp thu những phản ánh, những đề xuất..., từ đó có thể làm tốt hơn vai trò lãnh đạo, quản lý của mình. Đồng thời, các cơ quan chức năng cũng tăng cường xử lý những người lợi dụng các quyền tự do đó để xâm phạm lợi ích của các chủ thể khác, như Nhà nước, xã hội, tổ chức, cá nhân… nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể. Hồi tháng 6/2021, về Báo cáo về tình hình nhân quyền thế giới 2020 của Cơ quan Đối ngoại EU (EEAS), Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013, các văn bản pháp luật liên quan và được tôn trọng, triển khai trên thực tế, được khẳng định qua các thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, y tế, công tác phòng chống dịch Covid-19. Các nỗ lực và thành công đó cũng được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong nhiều khuôn khổ song phương và đa phương, như Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc... Tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin ở Việt Nam được thể hiện rõ qua sự phát triển đa dạng về loại hình và phong phú về nội dung của báo chí Việt Nam và thực tế hơn 70% dân số Việt Nam sử dụng mạng internet và mạng xã hội quốc tế và trong nước. Tại Việt Nam, không ai bị bắt giữ, xét xử chỉ vì “bày tỏ chính kiến”, “bảo vệ nhân quyền”. Như các quốc gia khác, Việt Nam cũng kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Quá trình điều tra, xét xử và giam giữ được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật; quyền của người bị giam giữ được bảo đảm… Do đó, khi tiếp nhận thông tin, mỗi người cần thận trọng suy xét, đừng vội tin theo các danh xưng, cách diễn đạt của các báo đài nước ngoài và những người có thành kiến với Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, mỗi cá nhân cần nhận thức rằng, việc thực hiện các quyền tự do của mình nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật; mọi biểu hiện lợi dụng quyền tự do để làm ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác đều có thể bị xử lý nghiêm!

"CHỖ ĐỨNG" CHO NHỮNG KẺ LỢI DỤNG TỰ DO……!

 Thoạt nhìn bức ảnh bên trái, khiến người ta cứ ngỡ đây là hình ảnh của ban nhạc Backstreet Boys huyền thoại, nhưng chỉ khác là body của mấy anh nhà báo hơi mỡ so với mấy anh đi hát tít bên trời Tây. Mấy anh tự xưng nhà báo đứng đó như muốn phóng tầm mắt ra xa xa để gửi đi một giấc mơ về một thứ được tự cho là "sạch". Nhưng giấc mơ đó không thể bay cao, bay xa được mà lại “cắm đầu ngay xuống đất” vì những người nuôi mơ ước đó đã không giữ được cái tâm của nghề. Vậy nên cả nhóm "Báo sạch" thay vì được tiếp tục đứng trên núi mà vươn tầm mắt ra xa hơn nữa thì lại được đứng sát bên nhau trước vành móng ngựa tại phiên tòa xét xử sơ thẩm do TAND H.Thới Lai, TP.Cần Thơ mở bắt đầu từ sáng nay 26/10.

Lần lượt, nào là Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Phước Trung Bảo, Lê Thế Thắng, Nguyễn Thanh Nhã và Đoàn Kiên Giang, hội tụ đủ cả...  Âu đây cũng là cái giá phải trả cho những kẻ khoác áo “tự do báo chí”, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, để viết, đăng tải, phát tán những thông tin chưa kiểm chứng, không đúng sự thật, tiêu cực, một chiều để lôi kéo những kẻ thiếu thiện chí vào chống phá Đảng, Nhà nước tạo ra những tiền lệ xấu trong xã hội... Thế mới thấy, để giữ cho được “lòng trong bút sắc”  thì nhất thiết người cầm bút cũng phải hiểu rõ một chân lý rằng: "Trước khi biết đến tự do thì hãy học cái tất yếu đi đã". Không có sự tự do nào được tạo ra bằng sự bất chấp pháp luật để tìm cách trói buộc người khác phải nghe theo mình đâu. Chỗ đứng hôm nay của mấy anh "Báo sạch" mà nội dung "toàn bẩn" đã minh chứng rất rõ cho điều đó. 

Tự do không có lỗi, nhưng người lợi dụng tự do để làm bậy thì việc trả giả trước pháp luật là điều không có gì là lạ và khó hiểu cả. Cuối cùng là chờ một cái kết với những bản án thích đáng cho những kẻ coi thường luật pháp.


NGHIỆP QUẬT

 Như thường lệ, hễ khi nào chuẩn bị diễn ra phiên xét xử các đối tượng chống đối, vi phạm pháp luật liên quan đến giới rận chủ trong nước, các tổ chức nhân quyền quốc tế, các báo đài hải ngoại lại cấu kết với một số kẻ cơ hội chính trị người Việt tung tin bài trên các diễn đàn, các trang mạng xã hội âm mưu gây nhiễu loạn thông tin, hòng đổi trắng thay đen, cãi tội, chối tội, đòi thả tự do cho các đối tượng đó. Đơn cử như trường hợp của Phạm Đoan Trang và Trịnh Bá Phương chuẩn bị đứng trước vành móng ngựa vào ngày 3-4 tháng 11 tới đây, vẫn phương thức, âm mưu tương tự, hàng loạt các bài viết của các cá nhân có tư tưởng chống đối, thù địch xuất hiện trên các trang mạng xã hội.

Đài BBC Tiếng Việt một trong những nhà đài nổi tiếng thân phương Tây, chống cộng cực đoan đăng tải bài viết “Thấy gì trước phiên tòa xử nhà hoạt động Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương?” với những dòng trích lời của những "quan thầy" vốn là những người cầm đầu của của tổ chức nhân quyền danh giá này, tổ chức nhân quyền tiến bộ nọ nhưng thực chất lại đang lợi dụng những vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. 

Cụ thể, Phil Robertson, Phó giám đốc Châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), khi được hỏi về Phạm Đoan Trang đã dẻo hoạt như sau: "Bà Trang là kiểu nhà văn và nhà tư tưởng đầy nội lực mà chính phủ Việt Nam không muốn được tự do. Họ sẽ trừng phạt bà nặng nhất có thể và bà sẽ không thỏa hiệp”. Còn lão John Sifton, Giám đốc vận động châu Á của HRW thì coi gia đình Trịnh Bá Phương là "Những người bảo vệ nhân quyền dám thẳng thắn lên tiếng ở Việt Nam. Chính phủ Việt Nam nên lắng nghe những người như gia đình dũng cảm này, không nên đẩy họ vào tù".

Rõ ràng những phát ngôn của người đại diện Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) vốn "uy tín" nhưng lại không tỏ ra "uy tín" tẹo nào? Đây khác gì những luận điệu nhằm “kêu oan” cho Phạm Đoan Trang và Trịnh Bá Phương, và cũng là để phá hoại phiên tòa xét xử. Phải chăng những người này thiếu thiện cảm với Nhà nước Việt Nam? Phải chăng những tổ chức này là trá hình, nơi chứa chấp, dung túng cho những đối tượng, hành vi chống phá chính quyền Việt Nam. 

Không ít độc giả khi đọc bài viết “Thấy gì trước phiên tòa xử nhà hoạt động Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương?” đầy giọng điệu xuyên tạc của BBC Tiếng Việt đã cảm thán một cách hài hước rằng: Tôi thấy nghiệp nó quật vào Phạm Đoan Trang và Trịnh Bá Phương. Những hành vi chống phá Đảng, Nhà nước của Trang và Phương là quá rõ ràng. Họ với tư cách là công dân Việt Nam không thể sống, làm việc đi ngược lại với những quy định của pháp luật Việt Nam được! Nói láo, làm sai thì phải gánh chịu hậu quả là lẽ đương nhiên và nhất định một bản án nghiêm khắc đang chờ đợi 2 nhà zân chủ giả cầy này.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: CHUYỆN VỀ MỘT ANH HÙNG LLVTND!

       Thiếu tá Lê Quang Ninh, chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 50 (viết tắt là 1/50) thuộc Sư đoàn 25 VNCH.

Ông thực chất là một điệp viên mang bí số 110 của Trung ương Cục miền Nam, được cài cắm và ẩn mình trong quân lực VNCH hơn 10 năm để rồi làm cú chốt: dẫn đơn vị mang đầy đủ vũ khí, khí tài đi thẳng vào vùng giải phóng để “đầu hàng” ngày 28/4/1975.

Lê Quang Ninh sinh năm 1942, tại xã Đạo Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay là tp Mỹ Tho). Cha ông là một cán bộ tiền khởi nghĩa đã từng bị Pháp bắt 3 lần. Ông là con áp út trong số 8 anh chị em. Tất cả các anh chị của ông đều tham gia hoạt động cách mạng kháng Pháp, chống Mỹ. Sau này, mẹ ông được phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng. Ông được kết nạp Đảng năm 1963.

Năm 1963, sau khi tốt nghiệp tú tài toàn phần, ông được ông Mười Hòa - Trưởng ban Binh vận tỉnh yêu cầu phải đăng ký học khóa sĩ quan trù bị Thủ Đức để hoạt động nội tuyến. Cuối năm 1964, tốt nghiệp khóa sĩ quan ở Thủ Đức, ông trở thành sĩ quan thuộc Sư đoàn 25 VNCH. Một buổi chiều đầu tháng 4/1975, thiếu tá Lê Quang Ninh nhận được chỉ thị mật của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam: "Từ ngày 25 đến 28/4, phải tổ chức tiểu đoàn làm binh biến, về với cách mạng". 

Ngày 25/4/1975, từ hai hướng Phước Chỉ (Trảng Bàng) và Trung Hưng (Trung Lập Thượng, Củ Chi) Quân đoàn 3 đã tạo thành gọng kìm áp sát tuyến phòng thủ của Sư đoàn 25 VNCH. Khi các máy bay L.19 do thám bay trên bầu trời Trảng Bàng, Gò Dầu báo cáo đã nhìn thấy "Cộng quân". tướng Lý Tòng Bá vội đưa lực lượng ứng cứu cơ động (Tiểu đoàn 1/50 và Thiết đoàn 10) lên án ngữ Lộc Giang. 

Sáng ngày 28/4/1975, nhận được lệnh rút quân về Đồng Dù, "thiếu tá" Lê Quang Ninh biết đã đến lúc lật lá bài tẩy. Ông đề nghị cho tiểu đoàn mình đi trước mở đường, 2 tiếng sau các xe tăng của Thiết đoàn 10 mới di chuyển theo. Đề nghị này được chấp nhận. Khi dừng lại ở đình Gia Lộc, ấp Gia Huỳnh (Trảng Bàng). Thiếu tá Ninh thấy đây là địa điểm thuận lợi để tổ chức ly khai phản chiến. Ông mời các sĩ quan trong ban chỉ huy tiểu đoàn, 4 sĩ quan đại đội trưởng hội ý tại chỗ.

Bằng lời lẽ chân thành, thiếu tá Ninh phân tích tình hình chính trị Sài Gòn: "Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã bỏ chạy tháo thân ra nước ngoài, Bộ Tổng tham mưu không còn ai. Ta tiếp tục chiến đấu thì chiến đấu cho ai, có ích lợi gì? Tình hình này ta phải tự cứu lấy mình. Tôi yêu cầu các anh em cùng với tôi ly khai quân đội VNCH trở súng về với quân Giải phóng". Mọi người bất ngờ nhưng chẳng ai có ý kiến gì. "Thiếu tá" Ninh tự giới thiệu mình là người của Mặt trận Giải phóng miền Nam rồi đọc chính sách 7 điểm của Mặt trận. Ông kết thúc bằng câu hỏi: "Anh em có đồng ý phản chiến không?". Tất cả đồng loạt giơ tay.

Đại úy Tiểu đoàn phó Bùi Văn Nam Sơn được ông cử đi bắt liên lạc với Quân Giải phóng. Đại úy Nam Sơn và hai người lính đeo máy truyền tin vô tuyến, không vũ khí, cột võng lên cây tre làm cờ ám hiệu, chạy xe Jeep hướng về phía Quân Giải phóng đang đóng quân. Bùi Văn Nam Sơn được các cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 98 (Quân đoàn 3 QĐND Việt Nam) tiếp đón.

Hầu hết các đơn vị khác của tuyến phòng thủ Tây Bắc đều mất tinh thần khi nghe tin lực lượng ứng cứu cơ động đã phản chiến. Các đơn vị tuyến phòng thủ Củ Chi tan rã dần. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 50 lui về rừng cao su cạnh chợ Củ Chi rồi tan hàng. Thiết đoàn 10 rời Lộc Giang, chia ra từng tốp nhỏ ba bốn chiếc chạy về Chà Rầy, đâm thẳng về hướng Củ Chi rồi cũng tự giải tán. Tiểu khu Tây Ninh, Chi khu Trảng Bàng, Chi khu Gò Dầu tự tan hàng mà không có giao tranh gì. Trung đoàn 49 và một số binh sĩ địa phương quân Đức Hòa lùi về tuyến phòng thủ của Biệt khu thủ đô, rồi tan rã trên cánh đồng An Hạ.

Sau chiến tranh, điệp viên Lê Quang Ninh được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng nhất và hạng ba. Ông mất ngày ngày 20/6/2018 tại TPHCM./.

Ảnh: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Quang Ninh.

Yêu nước ST.

Kiên quyết đập tan âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính

Hiện nay, Trên các phương tiện thông tin, nhất là mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị tung ra đủ mọi “lý lẽ”, “cơ sở” của việc đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Chúng kết hợp bên trong với bên ngoài, tập trung tiến công trực diện vào những quan điểm cơ bản của chúng ta về chính trị của lực lượng vũ trang, của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Chúng giương lên ngọn cờ: bảo vệ "nhân dân, Tổ quốc, lãnh thổ", yêu cầu cần phải "bỏ hẳn cách hiểu lực lượng vũ trang chỉ cần trung thành với Đảng Cộng sản và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa"! Các thế lực thù địch, phản động cho rằng: Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam có một truyền thống oai hùng gắn với vận mệnh của dân tộc, của đất nước, đã anh dũng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân trong nhiều thập kỷ qua của lịch sử Việt Nam hiện đại; có quan hệ mật thiết với nhân dân, là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Từ đó, chúng đặt vấn đề lực lượng vũ trang “chỉ là của dân tộc”, “của đất nước”, “của nhân dân” là “phù hợp”, chứ không cần phải đặt dưới sự lãnh đạo của một đảng phái nào, một lực lượng chính trị nào! Trơ tráo hơn, chúng còn phủ nhận tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, hòng tạo cơ sở cho việc đòi “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an nhân dân. Chúng tập trung công kích nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với LLVT; cho rằng nguyên tắc đó thể hiện Đảng tự cho mình quyền đứng trên xã hội, trên luật pháp, bởi LLVT là để “bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, Đảng chỉ là một bộ phận của xã hội, sao lại giành “độc quyền lãnh đạo” cho riêng mình! Luận điệu trên tưởng như là khách quan, không chính trị, không giai cấp, nhưng lại nằm trong âm mưu “phi chính trị hóa” QĐND và CAND của các thế lực thù địch, thực chất là nhằm lái chính trị của lực lượng vũ trang sang chính trị tư sản. Bằng quan điểm đó, chúng đã khéo léo đi đến nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND và CAND, xóa nhòa bản chất chính trị giai cấp, tiến tới làm biến chất Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam. Thực chất của luận điệu xuyên tạc đó là nhằm tách QĐND và CAND ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, kích động tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Cùng với đó, chúng ra sức phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới đất nước,… hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mất lòng tin vào nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo khoảng trống về tư tưởng – lý luận, để luồn lách quan điểm, lập trường giai cấp tư sản. Đây là luận điệu đặc biệt nguy hiểm; thực sự phản động về chính trị và phản khoa học cả về lý luận và thực tiễn. Nhưng lại rất dễ làm cho chúng ta lầm tưởng rằng, các quan điểm đó là phù hợp, cần thiết và những lý lẽ, lời “khuyên nhủ” của chúng là hợp lý, khách quan đúng với thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Không thể nói rằng, lực lượng vũ trang là "của nhân dân, của dân tộc” một cách chung chung, không cần sự lãnh đạo của một đảng phái, lực lượng chính trị nào. Lịch sử phát triển của nhân loại từ khi có giai cấp, nhà nước đến nay cho thấy, không bao giờ có cái gọi là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, "đứng ngoài chính trị", "phi giai cấp", "không can dự vào chính trị"… Quân đội, công an luôn gắn chặt với giai cấp, nhà nước sinh ra nó và mang bản chất giai cấp sâu sắc. Vì thế, không thể có và không bao giờ có lực lượng vũ trang “phi giai cấp”, “siêu giai cấp”, “phi chính trị”, “đứng ngoài chính trị”. V.I.Lê-nin đã vạch rõ bản chất phản động của luận điệu lực lượng vũ trang “đứng ngoài chính trị”, coi đó là “cái giáo lý tầm thường”, “giả nhân, giả nghĩa và dối trá”; và Người đã khẳng định một cách dứt khoát: Không thể có quân đội, công an “trung lập về chính trị”. Vì thế, mọi luận điệu “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang thực chất chỉ là chiêu trò lừa bịp những ai nhẹ dạ, cả tin, ấu trĩ về chính trị mà thôi. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập, giáo dục, rèn luyện các Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, lấy QĐND và CAND làm nòng cốt. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND và CAND. Vì vậy, lực lượng vũ trang mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng QĐND và CAND theo phương hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,” lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao sức mạnh tổng hợp của lực lượng QĐND, CAND, đủ sức hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trong mọi điều kiện, tình huống. Tuy nhiên, đến nay vẫn có không ít người thiếu tỉnh táo đã cổ súy một cách mê muội cho những luận điệu đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang mà các thế lực thù địch rao giảng và được một số hãng truyền thông phương Tây như: VOA, BBC, RFA, RFI... cùng những kẻ cơ hội chính trị, phản bội Tổ quốc, những người có thâm thù với cách mạng tung hô, cổ vũ nhiệt thành đã ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp xây dựng QĐND và CAND, đến sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, cần phải bác bỏ. Mọi luận điệu cổ súy cho quan điểm “lực lượng vũ trang phải trung lập về chính trị”, đòi bỏ quy định sự trung thành của lực lượng vũ trang đối với Đảng Cộng sản Việt Nam… Đó chính là những cái bẫy “phi chính trị hóa” hết sức tinh vi và thâm hiểm của các thế lực thù địch. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu; và gần đây là những sự kiện ở bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi, khiến chúng ta phải hết sức cảnh giác, không mắc mưu trước những chiêu trò “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch, tập trung chăm lo xây dựng các tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện lệch lạc về chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trong lực lượng vũ trang; tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 05CT/TW của Bộ chính trị khóa XII về: “Học tập tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh”. Qua đó, xây dựng tổ chức đảng các cấp trong lực lượng vũ trang thật sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, lãnh đạo đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống./.

Đảng viên không được phép phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái

Theo Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW, đảng viên không được dao động, hoài nghi; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa ban hành Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW, ngày 29/11/2021, hướng dẫn việc thực hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm. Trước đó, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Quy định nêu rõ 19 điều đảng viên không được làm. Quy định 37 thay thế Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về những điều đảng viên không được làm. Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã thống nhất ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm; coi đây là căn cứ, cơ sở quan trọng để xem xét, xử lý các vi phạm của cán bộ, đảng viên. (Ảnh: Ngọc Thành) Trong Hướng dẫn số 02, Ủy ban Kiểm tra nêu cụ thể, chi tiết những điều đảng viên không được làm. Đảng viên không được dao động, hoài nghi, đòi thực hiện "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự" Một nội dung hoàn toàn mới trong Quy định 37 so với Quy định 47 nêu rõ: Đảng viên không được phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng. Theo Hướng dẫn số 02, những nội dung này được hiểu là đảng viên không được làm: Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, quyết định, kết luận của Đảng. Phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, hoài nghi; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái, đòi thực hiện "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự", "đa nguyên, đa đảng", đòi "phi chính trị hóa lực lượng vũ trang"...; giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm, không đầy đủ trách nhiệm nêu gương theo quy định của Đảng. Thâu tóm quyền lực, lấy danh nghĩa tập thể để áp đặt, hợp thức hóa quyết định sai trái của cá nhân. Cơ hội, vụ lợi, đặt lợi ích của cá nhân lên trên lợi ích của tập thể. Chạy theo mục tiêu trước mắt, trong ngắn hạn để thu vén lợi ích cho bản thân, gia đình, cho nhóm lợi ích mà bỏ qua những mục tiêu, lợi ích dài hạn của tập thể, cộng đồng và đất nước; Đoàn kết xuôi chiều, nể nang, né tránh, ngại va chạm, im lặng, không đấu tranh hoặc phụ họa theo ý kiến, quan điểm sai trái, lệch lạc; bao che, giấu giếm vi phạm, khuyết điểm của bản thân, của người khác hoặc của tổ chức; không bảo vệ nhân tố tích cực, cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; Độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, không tôn trọng ý kiến của tập thể. Quan liêu, xa rời thực tế, không sâu sát công việc, không nắm chắc tình hình trong cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị. Không gần gũi, tôn trọng, lắng nghe ý kiến góp ý của đồng nghiệp tại cơ quan, đơn vị và của quần chúng nhân dân; không giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú. Đảng viên không được nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ dưới mọi hình thức Đối với quy định đảng viên không được tham ô, đưa, nhận, môi giới hối lộ hoặc lợi dụng vị trí công tác để môi giới, hối lộ dưới mọi hình thức; tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện thực hiện hoạt động rửa tiền, đi vay, cho vay trái quy định của pháp luật, Hướng dẫn 02 nêu rõ: Đảng viên không được chiếm đoạt tài sản của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế mà mình được giao phụ trách, quản lý; Không được nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ dưới mọi hình thức; tiếp tay, bao che, dung túng cho việc đưa, nhận, môi giới hối lộ; gợi ý, đòi hỏi tổ chức, cá nhân đưa chi phí ngoài quy định trong giải quyết các thủ tục hành chính, dịch vụ công. Đặc biệt, không được tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện cho việc chuyển đổi các khoản lợi nhuận hoặc tài sản khác có được từ hành vi vi phạm pháp luật trở thành tiền và các tài sản có nguồn gốc hợp pháp; Không được tổ chức, tham gia việc huy động vốn, tài sản và cho vay trái quy định của pháp luật. Xử lý nghiêm đảng viên vi phạm quy định Về tổ chức thực hiện, Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo việc nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện Quy định của Ban Chấp hành Trung ương và Hướng dẫn của ủy ban Kiểm tra Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới, đảng viên chấp hành nghiêm chỉnh Quy định và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện (sơ kết hằng năm, tổng kết 5 năm) gửi cấp uỷ, ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp trên. Đảng viên có trách nhiệm gương mẫu chấp hành quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Quy định, Hướng dẫn về những điều đảng viên không được làm. Đối với nội dung chưa được hướng dẫn trong Quy định này thì căn cứ vào các quy định của Trung ương để thực hiện. Đảng viên vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm phải xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Hướng dẫn này được phổ biến đến chi bộ và có hiệu lực kể từ ngày ký. 29/11/2021./.

CỔ ĐỘNG VIÊN MŨ CỐI!

      Như vậy, chúng ta đã có một chiến thắng quan trọng trước đội tuyển Malaysia khi những phẩm chất tuyệt với nhất đã được thể hiện trong trận đấu này. Sau một đợt tập huấn khắc nghiệt tiền giải AFF Cup trước các đội bóng hàng đầu châu lục thì đội tuyển Việt Nam đã thể hiện sức mạnh vượt trội của đương kim vô địch trước đương kim á quân. Trong 6 trận vòng loại WC vừa qua, hàng tiền đạo của chúng ta được mài dũa khi đối mặt với các hàng thủ hàng đầu, hàng thủ thì rút ra nhiều kinh nhiệm trước các hàng công sắc bén.

Nhưng khác với trận đấu gặp Lào, khán giả đã có 1 trận đấu trọn vẹn từ trên sân cho tới khán đài. Quốc ca được vang lên, chúng ta nghe rõ từng câu mà các cầu thủ chúng ta hát thể hiện niềm tự hào, sự quyết tâm. Mặc dù cách xa về địa lý nhưng trận đấu này chẳng khác gì sân nhà đối với chúng ta khi số lượng cổ động viên vượt trội, lá cờ đỏ tung bay trên khán đài và đặc biệt, tôi ấn tượng nay với cố động viên mũ cối.

Đám rân chủ, phản động hay 3/// luôn không bao giờ chịu hiểu vì sao không ít trận bóng, cổ động viên Việt Nam mang ảnh Bác Hồ, Bác Giáp lên khán đài để cổ vũ bóng đá cả. Vì chúng không thể hiểu lịch sử, tinh thần tự hào, ý chí kiên cường là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, ngấm vào máu mỗi người Việt Nam. Thôi thì lần này, cổ động viên ta tế nhị không giơ ảnh Bác nữa vì sợ khác văn hóa, nhiều người không hiểu, lắm kẻ gièm pha. Chính có khi vì vậy, cổ động viên mũ cối đã xuất hiện.

Xuất hiện không dưới 3 lần theo như tôi đếm trên khuôn hình. Mạnh dạn ngồi ngay cạnh với các cổ động viên Malaysia. Không biết do diễn biến trên sân hay do anh cổ động viên mũ cối này ngồi cạnh mà cổ động viên Malaysia ngồi cạnh anh đều rất im lặng, trật tự và hơi trầm cảm.

Nghe nói trong thế giới vũ trụ điện ảnh Marvel có bàn tay Thanos kinh khủng lắm khi nó bình định cả thế giới. Còn tôi tin rằng, mũ cối Việt Nam và cao sao vàng thì uy lực chẳng kém gì cho những ai nhìn thấy nó./.



Môi Trường ST.

Giá trị văn hóa quân sự Việt Nam

Thực tiễn đã cho thấy, quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã hình thành và phát triển những giá trị văn hóa quân sự đặc sắc, thể hiện tinh thần yêu nước, nhân đạo, nhân văn và nghệ thuật quân sự độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Giá trị văn hóa quân sự Việt Nam là một hệ giá trị với những đặc trưng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Đó là những giá trị cơ bản sau:

Thứ nhất, tinh thần yêu nước trong hoạt động quân sự.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII đã nhấn mạnh, bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định, dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là một truyền thống quý báu và mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần yêu nước lại kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Yêu nước trong hoạt động quân sự được thể hiện qua tinh thần kiên cường, bất khuất, không sợ khó khăn, gian khổ, dám xả thân vì nghĩa lớn, dám đứng lên chiến đấu, hy sinh vì sơn hà, xã tắc... của những người lính, người chiến sĩ, người dân từ xưa đến nay trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Thứ hai, tinh thần nhân đạo, nhân văn trong hoạt động quân sự.

Đây cũng là một trong những giá trị văn hóa quân sự Việt Nam tiêu biểu, độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, với tinh thần đạo lý “lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, “lấy chí nhân thay cường bạo”, với ý thức cố kết cộng đồng “tướng sĩ một lòng phụ tử”, “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, thể hiện sâu sắc đức bao dung, độ lượng, kể cả sẵn sàng “mở lượng hiếu sinh” với kẻ thù khi chúng buông giáo quy hàng, thể hiện tinh thần lạc quan tìm cái “thái lai” ngay trong cái “bĩ cực”.

Thứ ba, nghệ thuật quân sự độc đáo.

Giá trị văn hóa quân sự Việt Nam còn được thể hiện  phương châm hướng toàn bộ hoạt động quân sự đến chân - thiện - mỹ với nghệ thuật dựng binh (xây dựng quân) độc đáo (tổ chức lực lượng vũ trang nhiều thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc); với nghệ thuật dụng binh (sử dụng quân) độc đáo (“dùng quân mai phục”, “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “dĩ đoản binh chế trường trận”, “đánh cốt đuổi, không cốt diệt”, “đánh lấy khéo, không lấy mạnh”…).

Thứ tư, văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây là giá trị văn hóa quân sự Việt Nam tiêu biểu trong thời đại Hồ Chí Minh, được cấu thành bởi những phẩm chất cơ bản, như trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân; yêu thương đồng chí, đồng đội; kỷ luật tự giác, nghiêm minh; thủy chung, son sắt với bạn bè quốc tế; có tinh thần lạc quan cách mạng; có tinh thần và ý chí khắc phục khó khăn; luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao; kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Những giá trị văn hóa quân sự đó phản ánh bản chất, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân Việt Nam, quân đội của dân, do dân và vì dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Giá trị văn hóa quân sự đó cũng chính là sự phản ánh tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, được thể hiện cụ thể ở tư tưởng, tình cảm, thái độ và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, thể hiện trong bản chất, truyền thống của các quân chủng, binh chủng, của các cơ quan, đơn vị và của cả Quân đội nhân dân Việt Nam. Giá trị văn hóa quân sự đó còn được thể hiện trong quá trình hoạt động thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động, sản xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam cả trong thời chiến và thời bình.

Những giá trị văn hóa quân sự Việt Nam tiêu biểu được hình thành, phát triển, giữ vững và phát huy trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước oai hùng của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Nhờ vận dụng và phát huy những giá trị văn hóa quân sự mà dân tộc Việt Nam đã luôn giành được thắng lợi vẻ vang trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.

MNM

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ lên đường thăm chính thức Hàn Quốc, Ấn Độ

Chuyến thăm nhằm tiếp tục củng cố và thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam với Hàn Quốc, Ấn Độ đang ở giai đoạn tốt đẹp nhất kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao.

Cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa trong giai đoạn hiện nay

Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa là mũi đột phá nhằm gây chia rẽ, suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có biện pháp phòng, chống hiệu quả, điều này rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm qua được thể hiện trên các thủ đoạn và nội dung chủ yếu như xuyên tạc bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa - những giá trị tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ra sức truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta, đây là lối sống thực dụng, vụ lợi, cá nhân sùng bái đồng tiền, dâm ô trụy lạc… kích thích sự phục hồi phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần, tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội,... Qua đó, lôi kéo vào con đường chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, chúng cũng ra sức phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội. Đồng thời, chúng tăng cường đả kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng cho rằng con đường đó không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa ở nước ta trong những năm qua thể hiện là: Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng kích động, lôi kéo những phần tử bất mãn trong nội bộ Đảng, nội bộ Nhà nước ta để làm nòng cốt chuyển hóa từ bên trong, kích động tâm lý hoài nghi dẫn đến phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế đã có một bộ phận nhân dân trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như con đường mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội xét lại đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gây hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, chúng muốn thúc đẩy “tự diễn biến” từ bên trong xã hội ta. Trước hết là “tự diễn biến” về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những “tự diễn biến” về các mặt khác. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề nhân quyền để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thỏa hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng; núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước; kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn ra sức vu khống, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc; chính sách đối với văn nghệ sĩ. Âm mưu của chúng là tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hòa bình” phát triển. Trong lĩnh vực văn hóa, kẻ thù tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa. Chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập sâu vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh thiếu niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu trong thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chúng. Ngoài ra, “diễn biến hòa bình” còn tác động xấu đến đạo đức, lối sống nhân dân ta, đó là sùng ngoại, coi thường giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, ích kỉ, ham muốn làm giàu không chính đáng, ham muốn quyền lực cực đoan… đã và đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta và về lâu dài sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tóm lại, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với Việt Nam hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Điều đó đòi hỏi các cấp, các ngành tích cực, chủ động đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới một cách thường xuyên, liên tục và không khoan nhượng. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách và là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

Việt Nam hiện thực hóa quyền con người bằng nhiều chính sách thiết thực

 

 

Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

ĐĂNG TẢI THÔNG TIN SAI SỰ THẬT, CÔNG KÍCH, KÊU GỌI THAY ĐỔI CHẾ ĐỘ TẠI VIỆT NAM - MỘT FACEBOOKER TẠI HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH LÂM ĐỒNG BỊ TRIỆU TẬP, XỬ PHẠT 12,5 TRIỆU ĐỒNG


          Qua công tác bảo đảm an ninh trên không gian mạng, Công an huyện Bảo Lâm phát hiện tài khoản Facebook cá nhân “T.B” (do ông T.B, sinh năm 1964, thường trú tại xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng) đăng tải nhiều bài viết sai sự thật với nội dung công kích, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, kêu gọi thay chế độ ở Việt Nam.

          Xác định các bài viết có dấu hiệu vi phạm pháp luật, Công an huyện Bảo Lâm đã triệu tập ông T.B lên làm việc. Tại buổi làm việc với cơ quan Công an, ông T.B thừa nhận thời gian qua, ông T.B đã sử dụng tài khoản Facebook cá nhân “T.B” để đọc tin tức, xem video liên quan đến các vấn đề chính trị - xã hội trên không gian mạng. Đáng chú ý, trong tìm hiểu, ông T.B không chắt lọc thông tin, không kiểm chứng tính chính xác, bị tiêm nhiễm bởi các thông tin xấu, độc, sai sự thật dẫn đến nhận thức sai lệch; sau đó, chính ông T.B tiếp tục chia sẻ, tự biên soạn các bài viết sai sự thật với nội dung công kích, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, kêu gọi thay đổi chế độ ở Việt Nam, đăng tải trên trang Facebook cá nhân “T.B”. Sau khi làm việc với cơ quan Công an, T.B đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, tự nguyện gỡ bỏ các bài viết và cam kết không tái phạm.

          Cơ quan Công an đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính với ông T.B bằng hình thức phạt tiền với mức phạt 12.500.000 đ về hành vi “đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức” quy định tại điểm a, khoản 3, điều 99 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/2/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

          CƠ QUAN CÔNG AN KHUYẾN CÁO:

          Không gian mạng là ảo nhưng hậu quả pháp lý là thật. Mỗi cá nhân phải tỉnh táo, sáng suốt, biết sàng lọc trong quá trình tìm hiểu thông tin trên không gian mạng, tránh tình trạng bị tiêm nhiễm, ảnh hưởng tiêu cực bởi những thông tin xấu, độc, lệch lạc, sai sự thật dẫn đến hậu quả khôn lường, đáng tiếc. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cần trang bị những kiến thức, tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình sử dụng mạng xã hội nói riêng, mạng Internet nói chung. Mọi hành vi đăng tải thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân trên không gian mạng đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

 

Trần Thị Nga công cụ, những “con tốt” để kẻ địch điều khiển, mượn danh nhân quyền chống phá Việt Nam.

Sau một thời gian sống trên đất Mỹ, Trần Thị Nga đã lên mạng xã hội phát đi thông điệp “Mỹ là thiên đường của người này và là địa ngục của người kia”. Sự thật cay đắng của Nga đã cho thấy sự ảo tưởng và thân phận của những “con tốt”, “con rối” dưới bàn tay của những kẻ mượn danh nhân quyền chống phá Việt Nam. Trần Thị Nga sinh năm 1977, lớn lên tại tỉnh Hà Nam. Năm 2003, Nga đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và đã gặp gỡ, tiếp xúc với Nguyễn Văn Hùng, một kẻ từng sống lưu vong ở Úc, Đài Loan và là thành viên của tổ chức phản động Việt Tân. Khi còn ở trong nước, Nguyễn Văn Hùng đã có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, chống phá chính quyền. Sang Đài Loan, với danh nghĩa là Trưởng Văn phòng Trợ giúp pháp lý cho công nhân và cô dâu Việt ở Đài Loan, Hùng đã lôi kéo người lao động Việt Nam bỏ trốn hợp đồng, tham gia các hoạt động chống phá đất nước, trong đó có Trần Thị Nga. Đi theo sự cổ suý của đối tượng phản động, từ tháng 9/2014 đến tháng 1/2017, Trần Thị Nga đã lập các tài khoản Blog, Facebook “Thuy Nga, Tran Thi Nga” và tài khoản mạng xã hội Youtube “Trần Thúy Nga” để làm, tàng trữ và phát tán hàng chục video clip có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, tung tin giả, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, đối tượng còn xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang; kêu gọi tẩy chay bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 ở Việt Nam. Bên cạnh đó, đối tượng còn đưa ra những thông tin, hình ảnh sai sự thật về việc làm, hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức, lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong quá trình trả lời phỏng vấn của các đài, báo nước ngoài (những đài, báo có các hoạt động chống phá Việt Nam như Chân trời mới, RFA, SBTN…). Ngày 21/1/2017, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hà Nam thi hành lệnh bắt tạm giam và khám xét nơi ở đối với Trần Thị Nga về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 88, BLHS năm 1999. Ngày 25/7/2017, TAND tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo Trần Thị Nga 9 năm tù giam theo khoản 1, Điều 88, BLHS và phạt quản chế 5 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù. TAND cấp cao tuyên y án sơ thẩm. Trong thời gian chấp hành án tù, Trần Thị Nga thường xuyên không tuân thủ quy định của trại giam, khi được gọi điện cho người thân thì vu khống bị cán bộ trại giam “đàn áp, tra tấn”… Tuy nhiên, với chính sách nhân đạo, Trần Thị Nga đã được ra tù trước thời hạn và ngày 10/1/2020 bị trục xuất, sang định cư tại Mỹ cùng 3 người thân trong gia đình. Như thường lệ, khi Trần Thị Nga bị bắt, xét xử và thi hành án, một số tổ chức, cá nhân thù địch ở nước ngoài lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền đã tiến hành nhiều hoạt động chống phá Việt Nam. Các đối tượng tung hô Trần Thị Nga là “người đấu tranh cho những thân phận bị dồn vào đường cùng”; “người đã hết mình cho cuộc chiến bất bạo động, vì những quyền tự do căn bản, bất chấp những truy bức, hành hạ, ngược đãi”; “tù nhân lương tâm”; “một blogger hoạt động bảo vệ cho những công nhân nhập cư”; “nhà hoạt động nhân quyền”… Đồng thời, các đối tượng phát tán nhiều tài liệu xuyên tạc, bóp méo vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Kèm theo đó, hàng loạt hoạt động vu cáo, xuyên tạc, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và hà hơi, tiếp sức cho đối tượng Trần Thị Nga thông qua cái gọi là “Giải thưởng về nhân quyền”. Ngày 20/8/2018 và ngày 25/10/2018, Tổ chức Ân xá quốc tế (Al) ra “Thông cáo” và “Thư ngỏ khẩn cấp” kêu gọi cộng đồng quốc tế có hành động khẩn cấp cho Trần Thị Nga, xuyên tạc Việt Nam “vi phạm Công ước chống tra tấn” của Liên hiệp quốc và yêu cầu Việt Nam “trả tự do ngay lập tức, vô điều kiện” cho đối tượng này. Cũng trong năm 2018, Tổ chức Công giáo hành động chống tra tấn (ACAT) đã viết thư yêu cầu Tổng thống Pháp có các hoạt động can thiệp, gây sức ép để Việt Nam trả tự do cho 3 đối tượng, trong đó có Trần Thị Nga. Ngày 7/3/2019, Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra “Thông cáo báo chí” về tình trạng của những nữ tù nhân trên khắp thế giới, tung tin xuyên tạc đối tượng Trần Thị Nga đang bị giam giữ trong những điều kiện “vô nhân đạo” và kêu gọi Việt Nam “trả tự do ngay lập tức, vô điều kiện” cho đối tượng này. Tháng 5/2019, bên lề sự kiện “Đối thoại nhân quyền” giữa Việt Nam và Mỹ, Scott Busby – Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về dân chủ, nhân quyền và lao động, Bộ Ngoại giao Mỹ đã gặp gỡ Trần Thị Nga trong trại giam. Ngày 1/2/2020, Tổ chức Chống tra tấn và án tử hình của Pháp Fondation (ACAT – France) đã cổ suý cho Nga khi trao cho đối tượng này cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Engel-du Terte năm 2019” với lý do “để khen thưởng và ủng hộ cuộc đấu tranh vì quyền con người ở một đất nước, nơi mà những người bảo vệ nhân quyền – tiếng nói độc lập cuối cùng – bị cầm tù”. Trước đó, tháng 12/2018, Tổ chức khủng bố Việt Tân cũng đã trao cho đối tượng này cái gọi là “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”… Những việc làm trên thực chất là những hoạt động của một số tổ chức, cá nhân có tư tưởng thù địch với Việt Nam, tìm mọi cách để hà hơi, tiếp sức cho những đối tượng vi phạm pháp luật, là những thủ đoạn cụ thể trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam. Kể từ 10/1/2020, Trần Thị Nga bị trục xuất, đến Mỹ để định cư cùng 2 con nhỏ và một người già, ở một nơi mà nhiều người vẫn gọi là “thiên đường tự do”. Tuy nhiên, sau gần hai năm sống trên đất Mỹ, Trần Thị Nga đã vỡ mộng về “miền đất hứa” và quá bức xúc khi phải lên mạng xã hội để than thở. Nga viết rằng, Mỹ là thiên đường của người này nhưng là địa ngục của người kia khi: “Thuê nhà không được vì chủ nhà đòi phải có Social; có nhà rồi thì không được sử dụng điện, gas, nước, Internet. Vì các công ty đó chỉ bán hàng cho những người có Social. Không được mua bảo hiểm y tế vì không có Social. Bị bệnh thì tự mà làm bác sĩ cho mình chứ không được đi làm tiền đâu mà trả viện phí. Được sống nhưng không được phép kiếm sống vì không có Social. Đi làm giấy tờ gì cũng không được vì không có Social. Mà Social lại đòi phải có giấy tờ, sống thì phải ăn, ăn mà không được đi làm kiếm ăn thì lấy gì để sống. Sống mà không có ăn, phải đi xin trợ cấp thì không được trợ cấp vì trợ cấp chỉ dành cho người có Social. Được đến Mỹ, đất nước tự do như bao người nói là có “phúc”, phải biết ơn người này, biết ơn kẻ kia. Kết quả là đến Mỹ 2 năm rồi cả gia đình già trẻ lớn bé sống cảnh không giấy tờ, sống chờ đợi trong vô vọng. Được quyền sống nhưng không được quyền kiếm sống. Không trợ cấp cũng chẳng có cái quyền gì ngoài quyền hít không khí để tồn tại”… Thực tiễn vỡ mộng đó đã khiến cho Trần Thị Nga thốt lên chua xót: “Vậy là tôi đã có thêm một bài học một kinh nghiệm có giá trị”! Vậy mà, khi còn trong tù, Nga không hối lỗi cải tạo để sớm được trở về với xã hội, trở về với cộng đồng hưởng cuộc sống thanh bình, tự do, mà còn nuôi hy vọng “vớ được cọc rơm của kẻ sắp chết đuối”, tìm kiếm mộng ảo nơi “thiên đường đất Mỹ”, giờ đây mới đớn đau tỉnh ngộ thì chuyện đã muộn rồi. Lời than thở chua cay của Nga cũng như một số đối tượng khác có tư tưởng, hành vi phản bội lại quê hương, đất nước hãy biết dừng lại trước khi quá muộn. Có thể thấy rằng, các đối tượng chống phá Việt Nam được sự hà hơi, tiếp sức của các thế lực thù địch, nhất là với cái bánh vẽ về việc được định cư ở những nơi gọi là “thiên đường, miền đất hứa” chẳng qua cũng chỉ là những công cụ, những “con tốt” để kẻ địch điều khiển. Không sớm thì muộn, các đối tượng lạc bước sai đường nếu không tỉnh ngộ, hối cải thì sẽ có chung một kết quả giống nhau, dù có sang “xứ thiên đường” thì cũng trở nên lạc lõng và đáng nói hơn, bị chính những kẻ từng hứa hão đường mật “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” gạt bỏ. Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách để hiện thực hóa âm mưu chống phá nhằm thay đổi thế chế chính trị ở Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn khác nhau theo từng thời điểm cụ thể. Trong đó, hoạt động câu móc, tuyển lựa, đào tạo các đối tượng chống đối ở trong nước và tung hô, cổ súy, hà hơi tiếp sức cho các đối tượng này luôn là chiêu bài quen thuộc. Những cá nhân ảo tưởng, ngộ nhận, mơ mộng hão huyền khi được dụ dỗ, trao cho ít tiền bạc, vật chất sẽ rơi vào “vòng xoáy” đó. Thực tiễn cuộc sống của Trần Thị Nga trên đất Mỹ hiện nay là một minh chứng, bài học cảnh tỉnh cho những kẻ lầm đường, lạc lối, nếu lỡ tin và đi theo cái gọi là “vì dân chủ, nhân quyền” thì hãy dừng lại trước khi quá muộn.

 “Đảng viên, đoàn viên thanh niên lao động phải là những người xung phong gương mẫu trong mọi mặt sản xuất, công tác, học tập, đoàn kết”.

Lời căn dặn trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện với cán bộ và xã viên hợp tác xã Vĩnh Thành (Nghệ An)”, Người nói ngày 10 tháng 12 năm 1961.
Đây là thời kỳ miền Bắc nước ta thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1961-1965) nhằm tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề đó, Bác đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên thanh niên phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, công tác. Lời dạy của Bác có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giúp cho mỗi đảng viên, đoàn viên dễ nhớ, dễ hiểu, dễ làm. Thực hiện lời dạy của Bác, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng như trong hòa bình xây dựng đất nước, nhiều đảng viên, đoàn viên đã phát huy tốt vai trò tiên phong, gương mẫu trong lao động sản xuất, chiến đấu và công tác; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám xông pha vào việc khó, dám đi đầu đến nơi gian khổ, dám lao vào những nơi hiểm nguy và không bị sa ngã trước mọi cám dỗ vật chất tầm thường… Qua đó, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và giành được những thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, trước bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực và trong nước có nhiều thuận lợi, thời cơ và không ít thách thức, nguy cơ. Lời dạy của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi đảng viên, đoàn viên thanh niên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Để thực hiện tốt lời dạy của Bác đòi hỏi mỗi đảng viên, đoàn viên phải phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; khắc phục kịp thời mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị, với toàn thể xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, nhất là những đảng viên, đoàn viên phải nêu gương trong học tập nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống, tác phong; nói và làm theo nghị quyết, gương mẫu chấp hành mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, nền nếp, chế độ quy định của cơ quan, đơn vị; thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình với tinh thần thẳng thắn, không “dĩ hòa vi quý”; kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch.

 

THÀNH QUẢ KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẠN CỦA DÂN TỘC TA TỪ KHI CÓ ĐẢNG LÃNH ĐẠO

 

Đảng ta từ khi thành lập cho đến nay, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta coi là vấn đề “then chốt”, bảo đảm cho Đảng giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn; trong đó, bài học hàng đầu về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát triển trong lãnh đạo, chỉ đạo, vững vàng vượt qua những khó khăn, thách thức trong giai đoạn cách mạng mới.

Vậy mà vẫn còn có những kẻ bất mãn “trở cờ” lợi dụng đưa ra những luận điệu phản động hòng bóp méo, xuyên tạc nói xấu để chống phá Đảng. Vừa qua, trên trang mạng Bureau CTM Media - Âu Châu. Nguyễn Đình Cống, một kẻ “vô ơn, bội nghĩa” lại đăng bài viết “Loay hoay mãi làm gì” với nội dung xuyên tạc về quá trình xây dựng, chỉnh đốn đảng của Đảng; phủ nhận “sạch trơn” những thành quả to lớn của dân tộc ta từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay.

Thực tiễn cho thấy, xây dựng, chỉnh đốn đảng có tầm quan trọng đặc biệt nhằm giữ vững lý tưởng, mục tiêu; bảo đảm tính đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối; rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ đảng viên, bảo đảm dẫn dắt sự nghiệp cách mạng phát triển đúng hướng, đi đến thắng lợi. Có thể thấy rõ, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) là bước phát triển mạnh mẽ trong xây dựng Đảng về chính trị, đi đến quyết định đường lối đổi mới. Đại hội VI nhấn mạnh bài học xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bài học sâu sắc của Đại hội khẳng định: “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng”.

Nhìn lại quá trình 35 năm đổi mới và nhiệm kỳ vừa qua, Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết 5 bài học lớn; trong đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Sau đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Năm 1996, Việt Nam ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội; năm 2008, ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển và năm 2020, với gần 100 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người đạt 3.521 USD. Đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt về vật chất, văn hóa, tinh thần; nhất là về ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh,… Hệ thống chính trị được xây dựng, củng cố vững mạnh, bảo đảm sự ổn định chính trị xã hội. Quốc phòng, an ninh được tăng cường. Đối ngoại, hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng, kết hợp nội lực với ngoại lực, nâng cao vị thế của Việt Nam, tạo môi trường hòa bình, hợp tác và phát triển. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nêu rõ và Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Thực tiễn trên là minh chứng xác đáng để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ của Nguyễn Đình Cống. Chúng ta hãy hết sức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh vạch trần, phản bác các tư tưởng “trở cờ”, luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực phản động, thù địch như Nguyễn Đình Cống, làm hại dân, hại nước./.