Thứ Ba, 14 tháng 12, 2021

Việt Nam xây dựng nền ngoại giao mềm mại, khôn khéo nhưng rất sáng tạo, kiên cường

 

 

Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra vào sáng 14/12. Báo CAND trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị. Tít bài do Tòa soạn đặt.

Giải pháp xây dựng Đảng về đạo đức


     Một là, cần quan tâm tới công tác giáo dục tư tưởng, chính trị.

     Có quan điểm cho rằng chúng ta giáo dục nhiều, nhưng công tác giáo dục đó hiện nay không còn tác dụng. Nghĩ như vậy là sai lầm.Trong đời sống kinh tế - xã hội, muốn thực hiện tốt mọi công việc đều cần phải đi “hai chân” là hiểu thấu và làm đúng. Không hiểu thấu thì không thể làm đúng. Hiểu sai, lệch lạc sẽ dẫn tới hành động sai. Cán bộ, đảng viên lại càng cần phải được giáo dục. Không phải chỉ nâng cao dân trí mà phải nâng cao “đảng trí”.Bởi vì, tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó, còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân. Nhất là cán bộ, đảng viên có quyền mà không được giáo dục, rèn luyện thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của nhân dân.

     Một mặt, nhiều cán bộ, đảng viên không hiểu thấu rằng, bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, còn bổn phận của mình là đày tớ, công bộc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, khi chưa có quyền thì họ mua quyền, chạy chức; khi có một chút quyền hành trong tay thì họ thường hay lạm dụng, đè đầu dân, cưỡi cổ dân, vác mặt làm quan cách mạng, bán quyền, lộng quyền, tham quyền cố vị.

     Mặt khác, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không thấy hết sự nguy hại, tổn thất không lường được đối với Tổ quốc và nhân dân do sự tha hóa quyền lực. Họ chưa ý thức được rằng, nếu cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, cán bộ cao cấp không tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức thì sẽ làm “đổ vỡ tất cả”. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Cần khẳng định, ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”(8).

     Nội dung giáo dục tập trung vào nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm. Cụ thể là, cần tăng cường giáo dục toàn Đảng về mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về nhiệm vụ, trách nhiệm và đạo đức của người cán bộ, đảng viên, cao nhất là chí công vô tư.

     Hai là, bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức, có quyền, cán bộ cao cấp phải tu thân, chính tâm, rèn luyện, tu dưỡng hằng ngày, suốt đời, tận tâm, tận lực, vì nước, vì nhân dân.

     Không tu dưỡng, không có tính liêm sỉ sẽ trở thành những con người phi nhân tính. Bởi lẽ, mọi việc đều do con người làm ra và một khi con người đã hư hỏng thì không một bộ máy, cơ chế nào có thể phát huy nổi hiệu lực, thậm chí còn biến thành công cụ của cái ác, cái tiêu cực. Sự tu dưỡng, tự giác của cá nhân vô cùng quan trọng. Đặc biệt là sự nêu gương, vì văn hóa phương Đông cho thấy “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

     Thực tế cho thấy, có việc pháp luật không cấm nhưng lương tâm, đạo đức, đạo lý không cho phép làm. Vì vậy, sự tu thân, chính tâm là điều hết sức thiêng liêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói pháp luật không trị hết được. Tự mình phải tạo ra pháp luật để trị mình. Mỗi người phải có tòa án lương tâm của riêng mình.

     Ba là, hoàn thiện cơ chế, tính khoa học của bộ máy, cơ bản nhất là xây dựng nền dân chủ.

    Sự tha hóa không thể chấm dứt chỉ bằng tu dưỡng đạo đức, mà nó bị đánh bại bằng cơ chế.Giáo dục và tu dưỡng là nói đến “đức trị”; cơ chế, bộ máy là nhấn mạnh mặt “pháp trị”. Chúng ta đã có một hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh. Các nghị quyết, quy định, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương liên quan đến công tác xây dựng Đảng cũng khá đầy đủ. Tuy nhiên, vì đời sống thực tiễn vô cùng phong phú, nên phải được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện. Nội dung “xây” và “chống” trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng cần được nghiên cứu bổ sung, đặc biệt là nhận diện biểu hiện quan liêu, kẻ dung túng cho tham nhũng, lãng phí.

       Quan trọng hơn là việc thể chế hóa, hiện thực hóa, cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị. Muốn vậy, cần kết hợp nghiên cứu lý luận về xây dựng đạo đức trong Đảng với tổng kết thực tiễn, thường xuyên xem xét các nghị quyết, chỉ thị nói chung, liên quan đến đạo đức nói riêng đã thi hành đến đâu, thi hành như thế nào, nếu không sẽ chỉ là lời nói suông, gây tổn hại đến lòng tin của nhân dân.

     Đặc biệt nhất là phải thực hành dân chủ, phát huy thực sự quyền làm chủ của nhân dân.Dân chủ là dựa vào quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng; pháp luật là tối thượng, nhưng phải dựa vào quần chúng thì mới thật sự vững chắc. Theo quan điểm của V.I. Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu không xử bắn lũ ăn của đút lót, mà chỉ xử chúng một cách pha trò, mềm mỏng, nhẹ nhàng, thì đó là một điều xấu hổ đối với những người cộng sản, những người cách mạng. Tuy nhiên, Người cũng nhấn mạnh, bắt một tên trộm thì có nghĩa lý gì, vì còn có hàng nghìn, hàng vạn tên giặc như nó.Cần phải áp dụng biện pháp nghiêm ngặt hơn để trừng trị chúng. Theo Người, “biện pháp ấy là gây nên một đạo đức để ngăn ngừa trộm cắp, gây nên một phong trào quần chúng gớm ghét, bao vây lũ giặc ấy. Biện pháp ấy là gây nên một cuộc vận động trong công nông chống trộm cắp; làm cho lũ trộm cắp “đường hoàng” cũng như trộm cắp kín đáo - không sống còn được”(9).

     Nhân dân có nhiều tai, mắt, cái gì họ cũng nghe, cũng thấy, cũng biết. Họ có nhiều kinh nghiệm, hay so sánh và so sánh đúng. Họ tài trí, sáng tạo, sức mạnh, hăng hái. “Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng phải bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay”(10). Từ nhận thức khoa học đó, để chống sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta phải phát động tư tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tội tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”(11).

     Quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị trường tồn, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Với tinh thần đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Phải biết dựa vào dân, lắng nghe dân, cái gì mà quần chúng nhân dân hoan nghênh, ủng hộ thì chúng ta phải quyết tâm làm và làm cho bằng được; ngược lại, cái gì nhân dân không đồng tình, thậm chí căm gh


Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay


      Nói đến Đảng là nói đến tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Vì vậy, xây dựng Đảng về đạo đức phải tập trung vào xây dựng đạo đức của tổ chức đảng và từng người. Tuy nhiên, tổ chức và cá nhân có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi cá nhân tồn tại và trưởng thành thông qua tổ chức, nhờ tổ chức. Ngược lại, tổ chức đảng lớn lên cũng là do mỗi đảng viên trưởng thành lên. Quan điểm xuyên suốt khi bàn về tư cách của một Đảng chân chính cách mạng là Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Đảng phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tức là giành được độc lập và phải làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào hạnh phúc. Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đại biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc, nên Đảng phải là đạo đức, là văn minh.

     Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của nước ta; tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị.

     Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đảng phải kết hợp giữa “xây” và  “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Hủ bại, tha hóa làm đổ vỡ nhân tính của cán bộ, đảng viên là điều hết sức nghiêm trọng, làm cho nhân dân oán thán nhất, làm xói mòn bản chất của Đảng, gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng và chế độ. Mà mất niềm tin là mất tất cả. Vì vậy, phải kiên quyết đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội thực dụng, bè phái, lợi ích nhóm, nói không đi đôi với làm.

     Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải nhấn mạnh nhiệm vụ chống quan liêu hiện nay. Cùng với chủ nghĩa cá nhân thì tệ quan liêu chính là nguồn gốc của mọi suy thoái về đạo đức và là thủ phạm nguy hiểm nhất. C. Mác và Ph. Ăng-ghen từng cảnh tỉnh giai cấp vô sản rằng chủ nghĩa quan liêu có thể dẫn các đảng cầm quyền tới chỗ đánh mất một lần nữa chính quyền vừa giành được, đi vào con đường tiêu vong như đã từng xảy ra đối với mọi loại hình nhà nước từng xuất hiện từ trước đến nay.

     V.I. Lê-nin nhiều lần khẳng định, nguồn gốc chủ yếu sức mạnh của Đảng là ở mối liên hệ mật thiết với nhân dân; đối với một đảng cầm quyền thì một trong những nguy cơ lớn nhất, đáng sợ nhất là tự cắt đứt quan hệ với quần chúng. Ông viết: “Chúng ta khốn khổ trước hết về tệ quan liêu. Những người cộng sản đã trở thành những tên quan liêu. Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”(6).

     Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, làm việc theo cách quan liêu, thì dân oán; cách xa dân chúng, chẳng khác gì đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại. Người viết: “Vì những người và những cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là những người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí. Thế là bệnh quan liêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu”(7).

     Ngăn chặn, đẩy lùi những kẻ tham nhũng, lãng phí là cần nhưng chưa đủ. Đó mới chỉ là ngọn. Cái gốc là những người, cơ quan mắc bệnh quan liêu, vô trách nhiệm, giả đui, giả điếc, giả mù với “đường dây”, “sự ăn cánh” của một nhóm người, tạo ra lợi ích nhóm. Cán bộ có chức, có quyền, kể cả cán bộ cao cấp một mình không thể tham nhũng, mà là sự liên kết bè phái, lập nhóm với những lực lượng hậu thuẫn phía sau, chống lưng vô cùng tinh vi, phức tạp; vì vậy, phải đào tận gốc bệnh quan liêu.


Xây dựng Đảng về đạo đức là yêu cầu cấp thiết hiện nay

 


     Đã có nhiều nghị quyết về xây dựng Đảng trong đó có nội dung về đạo đức; nhiều chỉ thị của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quy định đảng viên không được làm, nhưng hiện nay vẫn phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Đảng về đạo đức, vì mấy lý do cơ bản sau đây:

     Một là, đạo đức cách mạng luôn luôn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng, đặc biệt là trong điều kiện Đảng cầm quyền.

     Đây là bài học lớn, được đúc kết sâu sắc trong suốt quá trình 90 năm xây dựng và lãnh đạo của Đảng ta. Đạo đức là thước đo “chất người’, “trình độ người”. Trước đây, khi chuẩn bị cho Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bằng sự chuẩn bị kỹ lưỡng, qua tác phẩm Đường cách mệnh, một tác phẩm khai tâm, khai đức, khai trí cho thanh niên và nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tư cách của người cách mạng lên hàng đầu. Trong nhiều tác phẩm, Người chỉ rõ hai mặt trong mối quan hệ giữa quyền lực và đạo đức với một quan điểm căn cốt: “Có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”(1). Người còn nói rõ có quyền mà “không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”(2).

     Khi cách mạng thành công, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Trong Di chúc - quốc bảo xây dựng đất nước theo tinh thần đổi mới  - Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

     Sự sụp đổ của Liên Xô có một nguyên nhân rất cơ bản là sự suy thoái đạo đức, biến chất do quan liêu, tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong Đảng Cộng sản Liên Xô. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng từng lưu ý: “Đây là bài học vô cùng sâu sắc và đắt giá mà mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta cần phải thấm thía, luôn luôn khắc sâu, ghi nhớ, đừng để đi vào “vết xe đổ” đó”(3).

     Thực tế hiện nay cho thấy, càng đi vào đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, lại càng phải xây dựng Đảng về đạo đức.Đây là một trong bốn mục tiêu bảo đảm thành công đối với công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Những năm qua nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác, ở các cấp khác nhau, cán bộ vẫn chưa nhận thức một cách sâu sắc vấn đề này; có chỗ chỉ tư duy nặng về kinh tế, chưa quan tâm đầy đủ nội dung đạo đức trong xây dựng Đảng; hoặc xem nhẹ, làm chưa đến nơi đến chốn, làm chiếu lệ. Thậm chí có ý kiến cho rằng phát triển kinh tế thị trường, phát triển kinh tế nhanh và bền vững, mà kêu gọi cán bộ, đảng viên trong sạch, liêm chính thì làm sao làm giàu được (?).

     Từ thực tiễn phong phú của cách mạng, một khía cạnh trong bài học xây dựng Đảng được Đảng nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) là Đảng phải không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức; phải chống các nguy cơ của Đảng cầm quyền, trong đó là sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

      Hai là, nhiệm vụ chính trị của nước ta hiện nay rất to lớn, nặng nề, khó khăn, đòi hỏi Đảng không phải chỉ ngang tầm nhiệm vụ mà còn phải nâng tầm lãnh đạo, cầm quyền lên cao hơn nữa, nâng sức chiến đấu mạnh hơn nữa.

      Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu một trong tám phương hướng để nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Để bảo đảm được vai trò lãnh đạo của Đảng, cùng với sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phải tập trung xây dựng Đảng về đạo đức; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Không đạt được mục tiêu này, Đảng sẽ suy yếu và không thể giữ được vai trò cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới.

Ba là, bên cạnh mặt tích cực, công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm; có những biểu hiện tiêu cực, phức tạp mới về đạo đức.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và XII của Đảng chỉ rõ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tình trạng “chạy chức”, “chạy tội”, tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm” vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào một số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Cùng với tệ quan liêu, xa rời quần chúng, xuất hiện một căn bệnh vô cùng nguy hiểm là “lợi ích nhóm”. Lợi ích nhóm vừa là lợi ích cục bộ, vừa là sự móc ngoặc với nhau, thành đường dây, “ăn cánh” của nhiều bộ phận, nhóm người mưu lợi ích riêng. Nguy hiểm nhất là sự móc ngoặc, câu kết giữa kinh tế với chính trị, mà theo cách nói của C. Mác, đó là tư bản đầu sỏ tài chính cấu kết với quyền lực chính trị.

Người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta hiện nay chỉ rõ: “Thực tế đã có một bộ phận suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tình trạng tham nhũng, quan liêu, xa dân… Đây là điều đáng lo ngại nhất và cũng là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền như Lê-nin và Bác Hồ đã cảnh báo”(4). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(5).

Với những lý do trên, theo tinh thần của V.I. Lê-nin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể khẳng định rằng, không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nói chung, tha hóa quyền lực, sự suy thoái về đạo đức nói riêng. Nếu vì tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí mà đánh mất niềm tin của nhân dân, thì tất cả sự nghiệp của chúng ta sẽ sụp đổ. Tình hình hiện nay cho thấy, chúng ta có thể truy tìm thủ phạm, nhận diện những biểu hiện suy thoái đạo đức trong chúng ta. Có thể đưa ra một đúc kết rằng: Ở đâu Đảng cầm quyền và cán bộ, đảng viên xa rời nguyên lý tu thân, chính tâm, không luôn luôn tự hoàn thiện mình, vun bồi tư cách làm người, làm đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam thì ở đó, sớm hay muộn, khó tránh khỏi tai họa.



Xây dựng Đảng về đạo đức - nhiệm vụ quan trọng hiện nay


     Song song với nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng Đảng về đạo đức là một nhiệm vụ quan trọng hiện nay. Qua đó, nhằm tạo sự chuyển biến về chất để Đảng ta tiếp tục nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo đất nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một mệnh đề nổi tiếng và có ý nghĩa to lớn về Đảng: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Mệnh đề đó ngày càng trở thành mệnh lệnh và yêu cầu sống còn trong công tác xây dựng Đảng để giữ vững vị trí, vai trò, bản chất và năng lực của một Đảng cầm quyền. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên; xác định đạo đức là gốc của người cách mạng. Tuy vậy, vấn đề đạo đức trong xây dựng Đảng lại chưa được đặt xứng tầm với các nội dung khác. Bên cạnh đó, tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhiều tầng lớp trong xã hội, nhất là lớp trẻ đang là vấn đề nhức nhối trong đời sống hiện nay. Vấn nạn này được coi là một trong bốn nguy cơ đe dọa đến vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi hỏi Đảng phải đối diện và có trách nhiệm lớn đối với vấn đề văn hóa, đạo đức để xây dựng và phát triển nguồn lực con người nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Vì vậy, Đại hội XII của Đảng xác định: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức1. Đây là lần đầu tiên trong văn kiện, Đảng ta đưa thành tố “đạo đức” vào nội dung xây dựng Đảng, ngang hàng cùng với thành tố: Chính trị, tư tưởng và tổ chức, coi đó là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng hiện nay.

     Xây dựng Đảng về đạo đức thực chất là xây dựng văn hóa Đảng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Đó vừa là phương diện hợp thành của nội dung xây dựng Đảng, vừa là nhân tố đảm bảo thành công cho xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Bởi lẽ, cán bộ, đảng viên có đạo đức trong sáng thì chính trị, tư tưởng sẽ trong sáng, tổ chức sẽ đoàn kết, vững mạnh, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng được khẳng định trong thực tiễn.

     Một làtiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ chính trị (khóa XII), gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chính đốn Đảng. Đây là giải pháp quan trọng để xây dựng Đảng về đạo đức, được các cấp ủy, tổ chức đảng triển khai với nhiều cách làm mới, hiệu quả, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động, “góp phần củng cố, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, ngăn chặn tình trạng suy thoái”2 của cán bộ, đảng viên. Việc xây dựng và thực hiện các quy chế, quy định ngày càng đi vào nền nếp; xử lý nghiêm các vụ việc vi phạm. Qua đó, góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Tuy vậy, để việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt hiệu quả cao, trở thành việc làm thường xuyên của các tổ chức đảng cũng như cán bộ, đảng viên, cần tiếp tục đẩy mạnh với tinh thần kiên quyết, kiên trì, “xây” đi liền với “chống”, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Cùng với đó, cần “đẩy mạnh công tác tuyên truyền quá trình tổ chức thực hiện, biểu dương những nơi làm tốt, phản ánh, nhân rộng những việc tốt, người tốt; đồng thời, tích cực nhắc nhở, phê phán những nơi làm chưa tốt”3, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

     Hai làđề cao tính tự giác, nêu gương trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Để xây dựng Đảng về đạo đức, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân theo tiêu chí, chuẩn mực được xác định. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”4. Yêu cầu về đạo đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay là: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; tin tưởng vào thắng lợi của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, luôn xứng đáng là người lãnh đạo và là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; có lòng nhân ái và gương mẫu về đạo đức, lối sống; thực hiện tốt cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không ngừng học tập để nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra; có tinh thần tự giác học tập, rèn luyện; tích cực đổi mới phương pháp, tác phong công tác; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tích cực, dũng cảm trong đấu tranh tự phê bình và phê bình; chăm lo xây dựng khối đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân. Có như vậy, Đảng ta mới khẳng định được uy tín, tạo ra sức hút để tập hợp, quy tụ và phát huy cao độ sức mạnh của quần chúng trong thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự gương mẫu, tính tiên phong của cán bộ, đảng viên, coi đó là một phương pháp cơ bản trong giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức cần quán triệt, tổ chức cho cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm các quy định về nêu gương5, làm cho việc nêu gương của cán bộ, đảng viên trở thành lẽ sống hằng ngày, tạo sức lan tỏa trong Đảng và ngoài xã hội, làm cho cái tốt, cái đẹp được nhân lên, cái xấu và cái tiêu cực bị đẩy lùi.

     Ba làphát huy vai trò của nhân dân trong giám sát cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng là chủ trương nhất quán của Đảng ta, đồng thời là nguyên tắc trong hoạt động của Đảng. Để phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, được cụ thể hóa thành luật, làm cơ sở pháp lý thực hiện6. Trong đó, quy định nhân dân thực hiện quyền giám sát gián tiếp (thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội) và giám sát trực tiếp (thông qua phản ánh, kiến nghị đến cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan có thẩm quyền) về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trách nhiệm nêu gương, thực thi công vụ, chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nghĩa vụ công dân,… của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp. Để thực hiện tốt, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, địa phương phải tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho quần chúng nhân dân về quyền được tham gia xây dựng Đảng, chính quyền các cấp ngày càng trong sạch, vững mạnh; tổ chức thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước về phát huy dân chủ. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, có nhiều hình thức để nhân dân thực hiện quyền giám sát cán bộ, đảng viên thực hiện tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống; làm tốt công tác khen thưởng, động viên đối với những người dân kịp thời phát hiện, tố cáo các vụ, việc sai phạm của cán bộ, đảng viên; kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, trù dập người phát hiện, tố cáo.

     Bốn làđẩy mạnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, lãng phí. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng nêu rõ: “Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện;… sa vào cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”7. Biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức, lối sống là: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”8; “tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn… Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”9.

     Với quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước, sự ủng hộ của nhân dân, thời gian qua, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, nhất là việc xử lý những vụ tham nhũng lớn bằng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã mang lại hiệu quả quan trọng, góp phần cảnh tỉnh, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên về mọi mặt, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Phát huy kết quả đó, các cấp cần tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm cao, sự kiên trì, kiên quyết, bằng những giải pháp đồng bộ. Bên cạnh việc đấu tranh xử lý những vụ tham nhũng lớn, cần hoàn thiện chính sách pháp luật để ngăn ngừa tham nhũng, lãng phí và đẩy mạnh giáo dục, xây dựng đạo đức, phong cách, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhằm triệt tiêu hành vi “tham nhũng vặt” gây bức xúc đối với nhân dân.

     Xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, ra sức tu dưỡng, rèn luyện, thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm nhiệm vụ thời kỳ mới..

NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC


     Thứ nhất, đạo đức trong Đảng, đó là đạo đức trong sáng, lành mạnh, là đạo đức cách mạng, lý tưởng lớn lao cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được xây dựng là yếu tố đầu tiên, yếu tố nền móng, quan trọng nhất. Đạo đức không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà phải trở thành ngọn cờ lý luận tiên phong, ăn sâu, thẩm thấm trong toàn Đảng, một nhân tố lớn lao đủ sức mạnh lấn át mọi kẻ thù trong lý trí, lấn át và hủy diệt các yếu tố quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham ô, tham nhũng, giết chết chủ nghĩa cơ hội, xét lại và mọi cám dỗ của các thế lực thù địch. Một khi đã xây dựng được lý luận về đạo đức trong toàn Đảng, sẽ làm cho tư tưởng trở nên trong sáng, khách quan, trở thành chân lý sáng ngời. Chân lý sẽ là thước đo cho đại cục và đạo lý làm người. Đó là mọi lợi ích là của dân, vì dân và do dân, vì cộng đồng và vì toàn dân tộc.

     Thứ hai, phải đặt vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức trong nội dung, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để xây dựng được xã hội mới trên đất nước ta, không thể chỉ quan tâm đến xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của xã hội mới, dù rằng đấy là cái chúng ta đang rất thiếu, mà xao nhãng việc xây dựng nền tảng đạo đức, tinh thần, văn hóa của xã hội. Ngoài ra xây dựng Đảng về đạo đức phải thường xuyên, phải quy định thành trách nhiệm của cấp ủy đảng các cấp, tạo chuyển biến thực sự trong Đảng, đủ sức phòng ngừa, ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đã chỉ ra.

     Thứ ba, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; học tập và làm theo Bác gắn với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân phải trở thành một nhu cầu văn hóa, phải có nhận thức đúng, toàn diện về di sản Hồ Chí Minh gắn liền tư tưởng với đạo đức và phong cách của Người.

     Thứ tư, tiếp tục  thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” vì đây chính là một nhân tố quan trọng góp phần củng cố, nâng cao và thống nhất nhận thức tư tưởng trong Đảng về công tác xây dựng đảng nói chung và xây dựng đảng về đạo đức nói riêng.

     Thứ năm, xây dựng Đảng về đạo đức cần chú trọng sự kết hợp giữa giáo dục nhận thức với rèn luyện lập trường quan điểm, bồi dưỡng tư tưởng chính trị, tình cảm cách mạng trong sáng, hình thành niềm tin khoa học và thực hành đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, trong từng tổ chức đảng và trong toàn Đảng. Đề cao trách nhiệm chính trị và trách nhiệm đạo đức của cấp ủy, của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và đoàn thể. Xây dựng Đảng về đạo đức gắn liền với xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, tổ chức thông qua thực hành đạo đức, thực hành dân chủ trong toàn đảng, thực hành tự phê bình và phê bình, thường xuyên lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân về xây dựng Đảng, thực hiện sự giám sát, kiểm tra của quần chúng nhân dân đối với tổ chức đảng và các cán bộ, đảng viên.

Xây dựng Đảng về đạo đức


Đạo đức là những chuẩn mực giá trị được hình thành một cách khách quan trong xã hội, có tác dụng chi phối hành vi của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là gốc của người cách mạng. Bác khẳng định con người không có đạo đức thì không làm nổi việc gì; làm cách mạng là công việc to tát, nếu không có đạo đức thì làm sao làm nổi; làm sao lãnh đạo được nhân dân. Về tổ chức, Bác Hồ dạy, Đảng ta là đạo đức, là văn minh và phải là Đảng đạo đức, Đảng văn minh. Như vậy, vấn đề đạo đức của đảng viên và xây dựng đạo đức trong Đảng phải coi là vấn đề rất quan trọng, phải được quan tâm đúng mức trong mọi giai đoạn cách mạng.

    Thực tế hiện nay, nền kinh tế thị trường đã tác động tích cả cực lẫn tiêu cực vào đời sống xã hội, vào đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tiền bạc, chức quyền, danh lợi cùng với chủ nghĩa cá nhân đã xâm nhập, thẩm thấu vào các quan hệ giữa con người với tổ chức. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối   sống đã bộc lộ một cách nghiêm trọng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, kể cả cấp cao. Quan liêu, xa dân, thói vô trách nhiệm, thậm chí cả thói vô cảm đã ở mức độ nặng nề. Tham nhũng đã trở thành quốc nạn, với những mức độ, hậu quả khác nhau. Đây là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của đảng viên và nhân dân đối với Đảng. Thực trạng này đang đe dọa tới sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ như Đảng đã cảnh báo. Đây là vấn đề cấp bách trong Đảng hiện nay.

     Suy thoái đạo đức, lối sống tất yếu đi liền với những biến dạng, tha hóa về động cơ chính trị, về lý tưởng cách mạng. Nó cũng đi liền với suy thoái tư tưởng, chính trị, sự yếu kém, rệu rã về tổ chức. Lãnh đạo mà hách dịch, cầm quyền mà xa dân, nhũng nhiễu quần chúng cũng tất yếu dẫn đến sự suy thoái như vậy. Sự mất niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, làm lung lay, phai mờ mối quan hệ mật thiết giữa dân với Đảng sẽ là nguy cơ tan rã Đảng. Đó chính là những biểu hiện của sự xuống cấp về đạo đức, đặc biệt là đạo đức trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong cán bộ, đảng viên ở cấp chiến lược. Bài học phải trả giá từ sự sụp đổ Liên Xô và hệ thống các nước XHCN Đông Âu là sự suy thoái trầm trọng của đạo đức, sự phát triển yếu ớt của dân chủ, sự thiếu vắng trách nhiệm, lảng tránh trách nhiệm khi cầm quyền.

     Trong Báo cáo của BCH Trung ương Đảng khóa XI về các văn kiện Đại hội XII đã nhấn mạnh: “Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng. Tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”. Một lần nữa, đạo đức lại được đặt ở vị trí ngang hàng với chính trị tư tưởng và tổ chức, điều này đã chứng tỏ vị trí, vai trò quan trọng của đạo đức trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

     Theo quan điểm của Đảng, xây dựng đảng về đạo đức là một yếu tố cấu thành nên nội dung công tác xây dựng đảng, đồng thời là cơ sở bảo đảm đạo đức cho xây dựng đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng Đảng về đạo đức là cái cốt của xây dựng Đảng về văn hóa, là nền tảng tinh thần của Đảng. Trong đó đạo đức sẽ được thể hiện trong văn hóa chính trị, văn hóa ứng xử trong Đảng, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa đảng viên với đảng viên, đảng viên với quần chúng nhân dân.

     Đạo đức cùng với năng lực tạo nên nhân cách của mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên. Trong mỗi tổ chức đảng và trong toàn Đảng, nhân cách của từng đảng viên, của cấp ủy, nhất là người đứng đầu cấp ủy phản ánh diện mạo đạo đức, nhân cách của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên rằng: “Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy rõ tầm quan trọng của đạo đức, coi đó là đặc trưng bản chất của một chính đảng cách mạng.

     Trong Di chúc để lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh không quên căn dặn "mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư". Và, để "giữ gìn Đảng ta thật trong sạch", "xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân", "Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng" cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng và coi đó là "một việc hết sức quan trọng và rất cần thiết".

T

Hãy cảnh giác và làm thất bại thủ đoạn của các thế lực thù địch


Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ XHCN mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là mục tiêu không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch. Dù không mới nhưng âm mưu, thủ đoạn để thực hiện mục tiêu của chúng thì ngày càng tinh vi hơn. Lợi dụng phản biện xã hội (PBXH), xem PBXH là "chiêu bài" để chống phá Đảng, Nhà nước là một trong những thủ đoạn như thế.

Những người mang động cơ xấu, nhằm mục đích chống phá đất nước không bày tỏ quan điểm theo quy trình tổ chức và các kênh chính thống. Các đối tượng triệt để lợi dụng ưu thế của internet, nhất là mạng xã hội (MXH) để tiến hành các hoạt động chống phá núp dưới danh nghĩa PBXH. Dưới sự giật dây của các thế lực thù địch, một số phần tử cơ hội trong nước và cả ở nước ngoài đã soạn ra các văn bản dưới dạng “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý” (cả chính danh, nặc danh và mạo danh); thậm chí họ còn soạn hẳn một dự thảo văn kiện mới, hoàn toàn khác với dự thảo văn kiện chính thống được công bố... để thể hiện những ý kiến trái ngược với quan điểm của Đảng, Nhà nước rồi gửi đến các đồng chí lãnh đạo. Với kiểu lập luận của họ, thông qua các câu từ bóng bẩy, chau chuốt... thoáng qua người ta dễ lầm tưởng đó là những "ý kiến tâm huyết", "những đóng góp chân thành"... Nhưng thực chất, trước khi những “tâm thư”, “thư ngỏ”, “thư góp ý”... kia được gửi đi thì nó đã được các đối tượng đưa lên MXH. Để minh họa cho những quan điểm sai trái đã nêu, núp dưới chiêu bài PBXH, họ dựng chuyện, tung ra nhiều thông tin thất thiệt, tuyên truyền xuyên tạc, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, kích động, gây áp lực, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

Trên không gian mạng, họ lập ra các hội, nhóm trá hình, sau đó tuyên truyền vận động, lôi kéo những người thiếu bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin tham gia. Thông qua đó, họ khơi gợi các thành viên trong từng hội, nhóm theo danh nghĩa PBXH nêu những quan điểm, ý kiến trái chiều, nhưng thực chất là tuyên truyền xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ chống đối. Đặc biệt, trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, như: Dân tộc, tôn giáo, môi trường, chủ quyền biển, đảo... họ sử dụng các hội, nhóm và những đối tượng đã được móc nối, nuôi dưỡng đội lốt PBXH đưa lên MXH hàng loạt quan điểm, ý kiến đi ngược lại với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Họ mưu toan phát triển đưa các hội, nhóm trên không gian mạng thành tổ chức, hoạt động dưới dạng câu lạc bộ tự do, hòng từ đó biến hoạt động PBXH trở thành một trào lưu làm méo mó thực tiễn.

Ngoài sử dụng những đối tượng PBXH đã được móc nối, để chống phá Việt Nam lâu dài, các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam rất quan tâm đến việc gieo mầm, nuôi dưỡng, phát triển lực lượng phản biện mới. Đối tượng PBXH trong giới trẻ và cán bộ, đảng viên, công chức... được họ đặc biệt để mắt. Cùng với tài trợ về tài chính, họ còn hướng dẫn nội dung, kế hoạch hoạt động liên kết thành mạng lưới. Khi xuất hiện những quan điểm đi ngược chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên không gian mạng, thì ngay lập tức họ huy động lực lượng "chân rết" vào bình luận, chia sẻ, tung hô... Họ thường đánh tráo khái niệm giữa ý kiến PBXH chính thống được Đảng, Nhà nước ta tiếp thu, với những giọng điệu tuyên truyền chống phá; hoặc đánh đồng giữa những người có ý kiến khác với những đối tượng cơ hội chính trị, lợi dụng PBXH để gây bất ổn trong dư luận. Vì thế, khi một số đối tượng lợi dụng PBXH để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Nhà nước bị đưa ra xử lý trước pháp luật thì họ cho rằng Việt Nam “đàn áp người bất đồng chính kiến”, “vi phạm quyền tự do ngôn luận”... rồi từ đó kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp.

Thực tế cho thấy nhận thức về PBXH của nhân dân ta còn có những khoảng trống. Do vậy, muốn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn lợi dụng PBXH để chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, chúng ta cần đặt lên hàng đầu việc tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về hoạt động PBXH. Có như vậy mới giúp người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này, phân biệt được đâu là PBXH tích cực, đâu là PBXH tiêu cực, từ đó đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh với những hành vi lợi dụng PBXH để chống phá.

Vai trò định hướng để hoạt động PBXH diễn ra đúng mục đích, ý nghĩa và đem lại hiệu quả tích cực của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng là rất quan trọng. Cùng với phát huy tốt vai trò định hướng, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân được tiếp cận thông tin, nghiên cứu, thể hiện quan điểm, chính kiến của mình đối với từng nội dung liên quan tới đường lối, chủ trương, chính sách, thể chế... tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân.

Đối với từng người dân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu, nhất là những nội dung thuộc quan điểm về các vấn đề hệ trọng, nhạy cảm của đất nước tán phát trên MXH, cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở khách quan, đâu là thông tin xuyên tạc. Nâng cao hiểu biết, tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết là cách tốt nhất để mỗi người nâng cao "sức đề kháng", tránh bị cuốn theo những giọng điệu xuyên tạc, kích động chống phá của các thế lực thù địch.

Đi đôi với mở rộng dân chủ, tổ chức chặt chẽ hoạt động PBXH tích cực, cần làm tốt việc nắm bắt, tổng hợp, tiếp thu ý kiến của nhân dân để trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. Trong tổng hợp và ghi nhận những ý kiến đóng góp của nhân dân, các cơ quan chức năng cần có sự đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, không để kẻ xấu lợi dụng PBXH để thực hiện những mục đích đen tối.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tiến hành chặt chẽ, lấy phòng là chính nhưng cũng phải kiên quyết đấu tranh để vừa bảo vệ, vừa ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị trong nội bộ, lợi dụng PBXH để thực hiện những động cơ, mục đích không trong sáng. Đặc biệt, cần quan tâm quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là lớp trẻ để bồi dưỡng xây dựng những nhân tố tích cực, kịp thời phát hiện những tư tưởng, hành động sai trái. Đối với những cán bộ, đảng viên, công chức thoái hóa biến chất về chính trị lợi dụng PBXH tiếp tay cho các thế lực thù địch, cần xử lý kịp thời, nghiêm minh. Cần coi trọng công tác phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả âm m­ưu, thủ đoạn lợi dụng hoạt động PBXH để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện những hội, nhóm, cá nhân lợi dụng PBXH để tuyên truyền, tán phát những quan điểm sai trái trên MXH, từ đó có biện pháp kiên quyết đấu tranh. Đối với những trang mạng lợi dụng PBXH để tuyên truyền theo kiểu xuyên tạc, kích động chống phá Nhà nước Việt Nam, âm mưu làm mất ổn định chính trị ở Việt Nam thì cần tổ chức lực lượng phối hợp với các nhà mạng, kết hợp giữa biện pháp kỹ thuật với biện pháp hành chính để đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật. 

 

Hiệu quả tích cực từ phản biện xã hội

 

Theo cách hiểu phổ quát, phản biện xã hội (PBXH) là sự tương tác, giao thoa qua lại về quan điểm, tư duy của các lực lượng, thành phần trong xã hội trước những vấn đề thuộc chủ trương, chính sách, thể chế... có liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các thành viên trong xã hội. Thông qua việc lắng nghe, tiếp thu những ý kiến phản biện xác đáng, có cơ sở khoa học mà các chủ trương, chính sách, thể chế... của cộng đồng ngày càng phù hợp, đáp ứng tốt hơn với những đòi hỏi của thực tiễn.

Thực tế cho thấy, trước mỗi kỳ đại hội đảng, mỗi lần sửa đổi Hiến pháp, ban hành các đạo luật hay trước các sự kiện lớn, những vấn đề hệ trọng của đất nước... Đảng và Nhà nước ta đều công bố rộng rãi các văn kiện dự thảo, đưa ra quan điểm, chủ trương... để lấy ý kiến thảo luận, đóng góp của toàn dân. Đại đa số nhân dân có ý thức trách nhiệm cao, luôn coi mỗi đợt đóng góp ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng và hưởng ứng tích cực. Các cơ quan chức năng luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tiếp cận sớm, hướng dẫn người dân nghiên cứu, bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về từng nội dung trong dự thảo các văn kiện và những vấn đề quan trọng. Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị tổ chức hàng trăm hội nghị, hội thảo, tọa đàm... nhằm tạo điều kiện để người dân có cơ hội bày tỏ quan điểm. Hằng ngày, hằng giờ, mọi người dân đều có thể tiếp nhận thông tin và phản ánh quan điểm, ý kiến của mình qua hàng trăm xuất bản phẩm báo chí in, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình từ Trung ương đến địa phương.

Tất cả ý kiến dù đồng thuận hay không đồng thuận đều được cơ quan chức năng tổng hợp báo cáo với Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ để xem xét quyết định. Chính nhờ mở rộng dân chủ, phát huy tinh thần PBXH của toàn dân mà các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta đều thể hiện sự kết tinh giữa ý Đảng với lòng dân, được sự đồng thuận trong xã hội và sớm đi vào cuộc sống.

Thực tế chứng minh, để hoạt động PBXH đi đúng hướng, theo đúng ý nghĩa tích cực thì việc bày tỏ các quan điểm, nêu ý kiến đóng góp phải theo đúng quy trình, trên nền tảng khoa học, với thái độ khách quan, đặc biệt là phải đặt lợi ích của cộng đồng, lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết. Thế nhưng, trên thực tế đã có không ít người lợi dụng hoạt động PBXH để mưu mô cơ hội, phản biện kiểu phủ nhận sạch trơn, với các quan điểm hoàn toàn không vì lợi ích của cộng đồng, lợi ích của đất nước. Những quan điểm này càng trở nên nguy hiểm khi được các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá. Hãy cảnh giác và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.


TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG: Ngoại giao “cây tre” phát huy sức mạnh mềm của dân tộc Việt Nam

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, hơn 70 năm qua, ngoại giao Việt Nam đã làm nên nhiều thành tích vẻ vang, xây dựng nên một trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, mềm mại mà cứng cỏi, nhân ái mà quật cường, biết nhu biết cương, biết thời biết thế, biết mình biết người, thể hiện tâm hồn và khí phách của dân tộc Việt Nam. Tổng Bí thư khẳng định vai trò của đối ngoại là một phương thuốc hòa bình, thu hẹp bất đồng, ngăn chặn xung đột, gia tăng hợp tác, mở đường cho những giải pháp.

Tổng Bí thư hoan nghênh và biểu dương những thành tựu của toàn ngành ngoại giao trong nhiều năm qua. Hoạt động đối ngoại cũng góp phần xứng đáng vào nhiệm vụ giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; ngành ngoại giao đã đóng vai trò tiên phong trong thời bình, góp phần bảo vệ an ninh, độc lập và chủ quyền đất nước. Hội nhập quốc tế được triển khai mạnh và hiệu quả, trên tất cả các kênh gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Quốc hội, ngoại giao nhân dân, diễn ra trên hầu khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đối ngoại cũng đóng góp thiết thực và việc tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn với nhiều nhà đầu tư nước ngoài, đàm phán thành công các hiệp định thương mại tự do... Công tác vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có những chuyển biến rõ rệt; các cơ quan đại diện đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ công dân, thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy của cộng đồng.

Dĩ bất biến, ứng vạn biến

Nhấn mạnh ý nghĩa rất quan trọng của hội nghị ngoại giao lần này, Tổng Bí thư nêu rõ hội nghị diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2.9, hai sự kiện đã để lại những bài học vô giá về vị trí, vai trò của ngoại giao trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Hội nghị là dịp để nhìn lại quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI về công tác đối ngoại, quán triệt tinh thần và nội dung Nghị quyết Đại hội XII và đề xuất các nhiệm vụ đối ngoại trọng tâm trong những năm tới. Tổng Bí thư căn dặn các cán bộ ngoại giao phải nắm vững và áp dụng nhuần nhuyễn các bài học rút ra từ quá trình triển khai hoạt động đối ngoại, làm sao phải kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, hài hòa lợi ích quốc gia dân tộc với nghĩa vụ quốc tế; lợi ích quốc gia dân tộc lúc này là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi. “Sách lược của chúng ta là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo vấn đề, tuỳ từng thời điểm và tuỳ theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng lớn của Bác Hồ “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “thêm bạn bớt thù”, “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với ai” - Tổng Bí thư nhấn mạnh.

Tổng Bí thư cũng chỉ rõ đối ngoại chỉ thành công khi xây dựng được sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Sự nghiệp thành công bởi chữ đồng”. “Mang chuông đi đánh xứ người” là một công việc rất khó khăn và vất vả, đòi hỏi những phẩm chất đặc biệt của người làm công tác đối ngoại. Những nỗ lực trên mặt trận đối ngoại thời gian qua đã tạo ra lớp lớp thế hệ cán bộ đối ngoại ngày càng hội đủ tố chất vừa hồng vừa chuyên” - Tổng Bí thư nói.

Phát huy “sức mạnh mềm”, tạo thương hiệu quốc gia

Ngoài việc khẳng định ngoại giao cần góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, Tổng Bí thư cũng nhấn mạnh đến việc nâng cao thực lực và vị thế của Việt Nam, không chỉ là sức mạnh vật chất mà cả “sức mạnh mềm”. “Thành bại của ngoại giao tùy thuộc vào thực lực và vị thế. Thực lực và vị thế ở đây không chỉ thể hiện trong sức mạnh vật chất mà cả trong sức mạnh mềm” - Tổng Bí thư nói.

Giải thích về “sức mạnh mềm”, Tổng Bí thư chỉ rõ đó là tính chính nghĩa trong sự nghiệp; là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; sự đồng tình ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới.

Theo đó, Tổng Bí thư yêu cầu trong triển khai cần hết sức chú trọng quan hệ với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống và các nước lớn, củng cố đoàn kết và nâng cao vai trò của ASEAN, tăng cường hợp tác với nước lớn trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Ngoại giao cũng cần đi đầu, phát huy “sức mạnh mềm” của Việt Nam, đó là các giá trị văn hóa, giá trị tinh thần và giá trị con người Việt Nam. “Chúng ta phải phát huy được những giá trị đó để tạo nên “thương hiệu” cho quốc gia, có sức thu hút thế giới bên ngoài, góp phần nâng cao tinh thần tự tôn dân tộc, sự tự tin trong giao tiếp và quảng bá rộng rãi giá trị văn hóa của Việt Nam ra thế giới - Tổng Bí thư nói.

Cuối cùng, Tổng Bí thư nhấn mạnh bài học về sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước; đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, học tập và làm việc theo gương nhà ngoại giao lỗi lạc Hồ Chí Minh, để nhạy bén trong nhận định và nắm bắt tình hình, quyết đoán trong việc đưa ra các biện pháp, chính sách cụ thể.

Việt Nam hiện thực hóa quyền con người bằng nhiều chính sách thiết thực

 

Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai các biện pháp đồng bộ, ưu tiên dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Các thành tựu về phát triển kinh tế, xã hội và việc tăng cường hội nhập quốc tế đã tạo ra các điều kiện vật chất và nguồn lực để Việt Nam bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của người dân.

Nghiêm túc với các cam kết quốc tế

Cho đến nay, với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào tiến trình hợp tác quốc tế, khu vực, đa phương và song phương trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Đặc biệt, Việt Nam đã hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG).

Trước những diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19, Việt Nam cũng nhanh chóng đưa ra các chính sách, biện pháp đồng bộ, hiệu quả, trong đó, kiểm soát dịch bệnh là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo vệ sức khỏe, bảo đảm quyền tối thượng là quyền được sống của người dân; đồng thời thực hiện hiệu quả, đồng bộ các giải pháp giảm thiểu tác động của dịch đối với nền kinh tế, duy trì và phục hồi sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và đời sống của người dân, nhất là những người dễ bị tổn thương.

Từ năm 2019 đến nay, Việt Nam đã thông qua 36 luật, trong đó có nhiều văn bản luật quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền công dân, góp phần cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Bộ luật Lao động, Luật Thanh niên, Luật Cư trú, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Thư viện... Các luật này đã góp phần kiến tạo thể chế, khung pháp lý điều chỉnh trên lĩnh vực kinh tế-xã hội có liên quan trực tiếp đến việc thụ hưởng quyền của người dân.

Thực hiện một số khuyến nghị theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam cũng đang xem xét sửa đổi, bổ sung một số Luật phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam như việc sửa đổi Luật Trẻ em, cụ thể là định nghĩa trẻ em là người dưới 18 tuổi, nghiên cứu xây dựng dự thảo Luật Phòng, chống mại dâm, quy định cụ thể định nghĩa quấy rối tình dục trong Bộ luật Lao động 2019...

Nhiều Chương trình hành động cấp quốc gia được ban hành như Chương trình hỗ trợ người khuyết tật giai đoạn 2021-2030, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, Chương trình bảo vệ trẻ em trên không gian mạng và Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030, Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030, Chương trình phát triển xã hội giai đoạn 2021-2030…, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Việt Nam đang tiếp tục triển khai Luật Bình đẳng giới, Luật Người khuyết tật và tích cực nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật về các vấn đề này.

Việc bảo đảm các quyền con người của Việt Nam được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Việt Nam hiện là thành viên của 7/9 Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người. Việt Nam cũng là thành viên của 25 Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, trong đó có 7/8 Công ước cơ bản; đang nghiên cứu phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại là Công ước 87 về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức. Việt Nam luôn thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết nghĩa vụ theo các công ước này, trong đó có nghĩa vụ báo cáo tình hình thực thi các Công ước tại Việt Nam.

Những thành tựu nổi bật

Nỗ lực trong phát triển kinh tế và bảo đảm sinh kế, tạo nền tảng cho việc thụ hưởng các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân, Việt Nam đã tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo; hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo vượt lên mức sống tối thiểu, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 đã có những kết quả tích cực như tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 2,75%, bình quân trong 5 năm giai đoạn giảm khoảng 1,43%/năm; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo còn khoảng 24%, bình quân trong 5 năm giảm 5,65%. Trong thời kỳ đại dịch COVID-19, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động; chủ trương bảo đảm tiêm vaccine phòng COVID-19 miễn phí cho người dân theo các đối tượng ưu tiên mà WHO khuyến nghị.

Về giáo dục, tại Việt Nam, người dân được tạo điều kiện để học liên tục mọi nơi, học suốt đời theo nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, trong giai đoạn 2012-2020 đã xóa mù chữ cho 295.308 người trong độ tuổi 15-60, nâng tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-60 là 97,85% và tỷ lệ biết chữ độ tuổi từ 15-35 là 99,3%. Việt Nam cũng đã ban hành nhiều chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho các nhóm yếu thế, trong đó tập trung hỗ trợ học sinh vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, việc tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được phát triển, rộng mở, đặc biệt là người dân tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo.

Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Mạng lưới viễn thông tiếp tục được hiện đại hóa và phát triển rộng khắp với mức phủ sóng đạt 99,7% dân số, trong đó mạng 3G và 4G phục vụ 98% dân số. Theo báo cáo xếp hạng An toàn an ninh mạng toàn cầu (GCI) năm 2020 do ITU công bố mới đây, Việt Nam đã tăng 25 bậc trong 2 năm, vươn lên vị trí thứ 25 trong tổng số 194 quốc gia, vùng lãnh thổ và đứng thứ 7 trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thứ 4 trong khu vực ASEAN.

Trong lĩnh vực tự do tôn giáo, tín ngưỡng, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và có hàng ngàn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung độc lập được đăng ký sinh hoạt tôn giáo (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam).

Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước hiện có 50.703 cơ sở tín ngưỡng; có 29.801 cơ sở tôn giáo, 53.390 chức sắc, 95.360 chức việc; 40.075 người vừa là chức sắc, vừa là chức việc tại 62/63 tỉnh, thành phố và 26.548.509 tín đồ. Việt Nam hiện có 63 cơ sở giáo dục, đào tạo tôn giáo gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo với hơn 18.000 học viên đăng ký theo học các khóa đào tạo tôn giáo mỗi năm. Năm 2020 có khoảng 230 cơ sở thờ tự được xây mới, 308 cơ sở thờ tự được nâng cấp, sửa chữa...

Những chính sách thiết thực, hiệu quả nêu trên đã khẳng định quyền con người ở Việt Nam hiện được bảo đảm và không ngừng nâng cao.

Huyền Chi

                                                                                                                                                                                 Cand.com.vn

Xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội - trò “bình mới, rượu cũ” của các thế lực thù địch

  Như một thông lệ, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ra sức “tấu” những điệp khúc xuyên tạc quen thuộc, hòng chia rẽ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Bởi vậy, cảnh giác, nhận rõ và chủ động đấu tranh, bác bỏ các luận điệu, chiêu trò đó là vấn đề quan trọng, cấp thiết.

Vẫn luận điệu cũ, họ tiếp tục rêu rao rằng: “Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân”. Thực chất luận điểm trên của các thế lực thù địch không có gì mới trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Nó vẫn nằm trong mục tiêu hòng “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, phủ nhận phẩm chất trung thành của Quân đội ta, đưa Quân đội vào trung lập hóa, mất phương hướng chính trị, xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất sức chiến đấu. Cần khẳng định rõ: đây là luận điểm lố bịch về khoa học - trò hề trong trò chơi chính trị của các thế lực thù địch. Do đó, cần vạch rõ tính chất phản khoa học, phản động của luận điểm trên.

Về hình thức ngôn ngữ thì loại luận điểm trên, nếu nghe qua dễ làm cho người ta cảm thấy chưa có vấn đề gì, thậm chí không ít người còn gật gù chấp nhận. Vì, nó cũng bàn đến phẩm chất trung thành của Quân đội, nhất là sự trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân. Nhưng suy xét một cách kỹ lưỡng chúng ta thấy, ẩn chứa sau đó là âm mưu chống phá rất thâm độc của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Bởi, cách họ không bao giờ công khai lập trường, quan điểm phản động, mà dùng lối cắt xén từ ngữ, đánh tráo khái niệm trong thuật ngụy biện để che đậy bản chất chống phá một cách tinh vi. Thuật ngụy biện cũng để ý tới các mặt, những mối liên hệ khác nhau của sự vật, nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất và ngược lại. Trên thực tế, với thủ đoạn tinh vi, họ đã nhiều lần dùng thuật ngụy biện để xuyên tạc bản chất, phủ nhận giá trị khoa học chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, quan điểm của Đảng. Song, những việc làm đó của họ khó đánh lừa được dư luận và sẽ chịu thất bại.

Trong luận điểm: Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân thuật ngụy biện đã tái hiện lại sự cắt xén từ ngữ, đánh tráo khái niệm để biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất. Về thực chất là họ phủ nhận phẩm chất trung thành của Quân đội ta đã được hình thành, tôi luyện, củng cố ngay từ khi thành lập đến nay. Họ cắt xén nội dung: phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam làm cho nội hàm của khái niệm phẩm chất trung thành bị biến dạng hoàn toàn về bản chất. Tách và bỏ nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự xuyên tạc trắng trợn, nhằm chống phá Quân đội ta. Ở đây, diễn đạt đầy đủ và đúng đắn phải là: Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trung thành với mục tiêu bảo vệ cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Điều này được hiến định rõ tại Điều 65, Chương IV, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Do đó, việc họ tách và bỏ một nội dung có tính đặc trưng quan trọng nhất là trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi khái niệm phẩm chất “trung thành” của Quân đội là cắt xén nội dung, xuyên tạc bản chất một cách trắng trợn. Đó là biểu hiện của sự tùy tiện, chủ quan, phi lôgíc mà thuật ngụy biện thường dùng. Họ chỉ dùng nội dung phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân nhằm hướng nhận thức của mọi người vào cái chung chung “lửng lơ”, mà không đi đến gốc rễ của vấn đề. Mục đích của họ là để dẫn mọi người đến nhầm lẫn, hòa tan giữa Tổ quốc mang bản chất của giai cấp tư sản và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mang bản chất giai cấp công nhân là một. Và, từ đó sẽ dẫn tới Quân đội ta mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đây là sự xảo trá, hết sức thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm tách bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội ta. Vấn đề này đã được C.Mác - Ph. Ăngghen chỉ rõ: dưới chế độ bóc lột “công nhân không có tổ quốc”1. Vì thế, quần chúng nhân dân không việc gì phải hy sinh xương máu cho cái “Tổ quốc” của giai cấp tư sản. Như vậy, nếu cụ thể vào luận điểm, chỉ trung thành với Tổ quốc, với nhân dân “trần trụi” như thế thì rõ ràng đó là một hình thức đánh lừa quần chúng nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta hiện nay.

Về nội dung, điều đặc biệt nguy hiểm là các thế lực thù địch đã tách, bỏ nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì nội dung này là cái quyết định nhất đến cái tổng thể của khái niệm trung thành. Trung thành với sự lãnh đạo của Đảng là quyết định nhất bản chất chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nếu không còn nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng thì sẽ dẫn Quân đội ta đi vào trung lập hóa, bị “phi chính trị hóa” và cuối cùng cái trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân cũng sẽ không còn. Về bản chất, giữ vững nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bao hàm sự trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và mục tiêu bảo vệ cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Việc tách và bỏ nội dung trên là làm cho khái niệm phẩm chất trung thành của Quân đội ta trở lên trống rỗng, đánh mất bản chất chính trị cách mạng, bản chất giai cấp công nhân; xa rời mục tiêu lý tưởng, mục tiêu chiến đấu,… trượt khỏi chế độ xã hội chủ nghĩa để đi vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản.

Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ: không có và không thể có bất kỳ một quân đội nào lại không gắn với một đảng cầm quyền. Và quân đội luôn mang bản chất chính trị, bản chất của một giai cấp nhất định, đó là giai cấp, nhà nước tổ chức ra, sử dụng nó. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo Quân đội, được khẳng định rõ tại Điều 25, Chương VI, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; sự lãnh đạo của Đảng được tập trung thống nhất vào Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Đảng quyết định những vấn đề cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, tham gia xây dựng đất nước. Nhà nước thống nhất quản lý đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Trong đó, chính trị của Quân đội ta tập trung cao nhất ở phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng rồi mới đến các phẩm chất trung thành khác. Việc tách và bỏ phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng có nghĩa đưa Quân đội rơi vào “phi chính trị hóa”, mất định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa, vu vơ về chính trị, như một thể xác không có linh hồn. Điều này đã được thực tiễn minh chứng rõ từ việc các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô trước đây là khi đất nước, Tổ quốc diễn ra chính biến chính trị thì quân đội tuyên bố trung lập, mất định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa dẫn đến sụp đổ cả một chế độ xã hội. Có nhiều nhân tố dẫn đến việc đánh mất nội dung trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng; trong đó, trực tiếp là việc để các quan điểm phản động xâm nhập vào đời sống tinh thần xã hội, mà không được khắc phục, ngăn ngừa, đẩy lùi kịp thời, có hiệu quả từ sớm. Quá trình chuyển từ thúc đẩy “diễn biến” đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng bắt đầu từ phương pháp dùng thuật ngụy biện, đánh tráo khái niệm, mà cụ thể là luận điểm: quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân. Từ chỗ xem nhẹ loại luận điểm này đến chấp nhận, nhượng bộ, thỏa hiệp, đánh mất phẩm chất trung thành tuyệt đối với sự lãnh đạo của Đảng và cuối cùng là đứng ngoài chính trị, “phi chính trị hóa” Quân đội. Đây là một ngón đòn rất “lợi hại” của các thế lực thù địch.

Với ý nghĩa đó chúng ta khẳng định rằng, không chấp nhận luận điểm: Quân đội không cần trung thành với Đảng, chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân. Bởi, nó là một chiêu trò đánh lừa dư luận, hòng phủ nhận sự độc tôn lãnh đạo của Đảng với Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm phá vỡ nền tảng chính trị của Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu chiến đấu, không còn khả năng làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ; tiếp tục quán triệt lời chỉ dẫn của V.I. Lênin: “Thống nhất về mặt tư tưởng bằng truyền bá những tư tưởng nhất định, làm sáng tỏ sự đối chọi giai cấp, sự phân định ranh giới về mặt tư tưởng. Thống nhất về mặt tư tưởng bằng truyền bá những tư tưởng có khả năng đẩy lên phía trước, những tư tưởng của giai cấp tiên phong”2 vào củng cố thái độ dứt khoát: “phẩm chất trung thành của Quân đội là không thể xuyên tạc” hiện nay. Trên cơ sở đó, định hướng cho các khâu, các bước tuyên truyền, giáo dục, nâng cao chất lượng, đổi mới phương pháp vạch trần thuật ngụy biện trong đấu tranh, phản bác các quan điểm phản khoa học, phản động của các thế lực thù địch. Chỉ như vậy chúng ta mới có cơ sở khoa học đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái một cách thuyết phục, làm vô hiệu hóa chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng Quân đội ta thật sự là một cơ thể cường tráng “miễn dịch” với các vi rút độc hại, sự chống phá của các thế lực thù địch.

ĐỨC MINH
________

1 - C. Mác và Ph. Ăngghen – Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, H. 2002, tr. 623.

2 - V.I. Lênin – Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 2005, tr. 530.

Tapchiqptd.vn