Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra vào sáng 14/12. Báo CAND trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị. Tít bài do Tòa soạn đặt.
Hôm nay, tôi rất vui mừng được đến dự Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trước hết, tôi xin được thay mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và với tình cảm cá nhân, gửi tới các đồng chí cùng toàn thể anh chị em cán bộ, công chức, viên chức, những người làm công tác đối ngoại ở trong và ngoài nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng nồng nhiệt nhất. Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp.
Hội nghị hôm nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng (cũng có
đồng chí gọi đây là Hội nghị có ý nghĩa lịch sử) vì đây là Hội nghị đối ngoại
toàn quốc đầu tiên do Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo tổ chức để bàn
về công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và của
cả hệ thống chính trị. Hội nghị diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta đang ra sức phấn đấu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đất nước ta vừa có nhiều thuận lợi, thời
cơ lớn, vừa phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới, gay gắt hơn so với
dự báo.
Sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc với yêu cầu
rất cao trong thời kỳ mới đòi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ nội lực, kết
hợp với ngoại lực, quyết tâm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó
khăn, thách thức để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Kể từ sau thành công
tốt đẹp của Đại hội XIII của Đảng, Quốc hội khoá XV đã tổ chức 2 kỳ họp đầu
tiên; Chính phủ nhiệm kỳ khoá XIII, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và các ngành Nội
chính, Văn hoá, Xây dựng Đảng cũng đã lần lượt tổ chức hội nghị toàn quốc để
triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Tất cả các hội nghị đều
được chuẩn bị rất công phu, nghiêm túc, bài bản và đã rất thành công, đúng với
tinh thần "Tiền
hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng",
và "Dọc ngang thông suốt".
Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc hôm nay, cũng với tinh
thần đó, chúng ta sẽ cùng nhau nhìn lại quá trình triển khai thực hiện Nghị
quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng về công tác đối ngoại, quán triệt tinh thần
và nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và bàn các biện pháp để thực hiện
có hiệu quả nhiệm vụ đối ngoại trọng tâm trong những năm tới. Đây cũng là dịp
để các cấp, các ngành, các địa phương và đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại
nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn nữa về tình hình, vị thế của đất nước ta trong
khu vực và trên thế giới; vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác đối
ngoại trong tổng thể chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo ra khí thế mới,
quyết tâm mới và xung lực mới cho toàn hệ thống chính trị, các cấp, các ngành,
từng tổ chức và cá nhân trong hoạt động đối ngoại.
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của
dân tộc ta, độc lập, tự cường và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc
luôn luôn là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt
động của chúng ta. Bên cạnh các cuộc chiến đấu ngoan cường bảo vệ giang sơn,
độc lập, chủ quyền của đất nước, ông cha ta đã luôn luôn chú trọng hoạt động
đối ngoại, tạo dựng nên những truyền thống và bản sắc riêng, rất độc đáo của
nền ngoại giao và hoạt động đối ngoại Việt Nam: Đầy hào khí, giàu tính nhân
văn, hoà hiếu, trọng
lẽ phải, công lý và chính nghĩa: "Đem đại nghĩa để thắng hung
tàn; Lấy chí nhân mà thay cường bạo!"; "Dập tắt muôn đời lửa chiến
tranh; Mở nền muôn thủa thái bình!" ("Bình Ngô đại cáo" - Nguyễn
Trãi). Dùng đối ngoại để phòng ngừa, ngăn chặn chiến tranh hoặc để sớm kết thúc
chiến tranh trong vị thế có lợi nhất; đối ngoại phải luôn luôn phục vụ tốt nhất
cho sự nghiệp đối nội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những tư tưởng, triết
lý vượt thời đại của cha ông ta, mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị.
Những truyền thống và bản sắc tốt đẹp ấy càng được bồi
đắp, phát huy và toả sáng trong thời đại Hồ Chí Minh, đã phát triển lên thành
nền ngoại giao Việt Nam hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc. Là Bộ trưởng Bộ
Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập ngay sau
cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã đặt
nền móng, trực tiếp chỉ đạo và dẫn dắt sự phát triển của nền ngoại giao cách
mạng Việt Nam. Những nội dung cơ bản của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đều
bắt nguồn từ triết lý và truyền thống ngoại giao của ông cha ta, và chính Người
đã phát triển những giá trị đó lên tầm cao mới; kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa
yêu nước, văn hoá dân tộc, truyền thống ngoại giao Việt Nam với tinh hoa văn
hoá và kinh nghiệm ngoại giao thế giới.
Trong đó, luôn luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh
thần hoà hiếu, hữu nghị, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột; gắn với
thực tiễn của thế giới, để đưa Việt Nam hoà nhập vào dòng chảy của thời đại.
Người chủ trương: Độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tự lực,
tự cường phải gắn với đoàn kết quốc tế; phát huy sức mạnh dân tộc gắn với sức
mạnh thời đại; chăm lo, xây dựng mối quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, nhất
là các nước láng giềng, bạn bè truyền thống và nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà
bình trên toàn thế giới. Trong hoạt động đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn
quán triệt quan điểm chỉ đạo là "phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ" để biết
mình, biết người, luôn làm chủ tình thế; hiểu rõ vị trí chiến lược của Việt Nam
trong mối quan hệ giữa các nước lớn.
Người đặc biệt coi trọng việc xử lý khéo léo quan hệ với
các nước, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn; luôn chủ trương tôn
trọng và giữ thể diện cho nước lớn; luôn luôn phải "biết mình, biết
người", "biết thời, biết thế" để "cương nhu kết hợp" vì lợi ích tối cao của
Quốc gia, Dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh không muốn đất nước phải chịu cảnh
chiến tranh, và cũng không muốn chiến tranh xảy ra với các nước khác. Chính tư
tưởng nhân văn, nhân đạo của Người, đề cao chính nghĩa, đạo lý vì hoà bình và cuộc
sống độc lập tự do hạnh phúc của nhân dân tất cả các dân tộc là biểu hiện sự
kết hợp nhuần nhuyễn nhất giữa văn hoá của dân tộc với văn hoá của nhân loại.
Với tư tưởng nhân văn ấy, trong hoạt động ngoại giao của
mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương phải phát huy vai trò của luật pháp
quốc tế, vận dụng những giá trị của văn hoá và của ngoại giao truyền thống Việt
Nam, cũng như các tư tưởng phổ biến, tiến bộ của nhân loại, chú ý tìm ra những
điểm tương đồng, nêu cao tính nhân văn, nhân nghĩa và đạo lý, pháp lý trong
quan hệ quốc tế để thuyết phục, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới...
Trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua, kế thừa và phát huy
truyền thống đối ngoại vẻ vang của Dân tộc, nhất là tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, Người đặt nền móng cho nền ngoại giao Thời đại Hồ Chí Minh, Đảng ta
đã kế thừa và không ngừng bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, rộng mở vì hoà bình, hợp tác và phát triển, thực thi chính
sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc
tế.
Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng mới đây, toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân ta đã thống nhất rất cao về nhận thức và quyết tâm "Thực hiện nhất
quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát
triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích
quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc
và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu
rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách
nhiệm trong cộng đồng quốc tế" (Văn kiện Đại hội XIII của Đảng -
Tr. 161 - 162).
Có thể khái quát lại: Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo
của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối
ngoại, ngoại giao và văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế
giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái
đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của Thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm
bản sắc "cây
tre Việt Nam", "gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển"
("Thân gầy guộc, lá mong manh, mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi!"),
thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Đó là: Mềm mại,
khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản
lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc,
vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì
bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế;
biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, "tuỳ cơ ứng biến",
"lạt mềm buộc chặt"!
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng ta về công tác đối
ngoại, trong 35 năm qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ khoá XII gần đây, chúng ta
đã đạt được nhiều kết quả, thành tích rất tốt đẹp. Nổi bật là (4 vấn đề sau
đây):
Một là, từ phá thế
bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã tạo dựng và củng cố ngày càng vững chắc cục
diện đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, thuận lợi cho công cuộc đổi
mới. Cho đến nay,
chúng ta đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với tất cả các nước láng
giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, từ đó tranh
thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của quốc tế đối với công cuộc đổi mới
của nhân dân ta. Tính ra, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong
tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có "quan hệ
đặc biệt", 17 nước "đối tác chiến lược" và 13 nước "đối tác
toàn diện". Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và
có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp
quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO...
Hai là, chúng ta đã
tạo dựng được môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được các nguồn lực từ
bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế - xã
hội. Từ một nước
có nền kinh tế kế hoạch tập trung, bị bao vây, cấm vận, đến nay nước ta đã trở
thành một nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa liên kết
kinh tế sâu rộng; đã ký 15 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 3 FTA
thế hệ mới có tiêu chuẩn rất cao, và mạng lưới liên kết kinh tế sâu rộng với
hầu hết các nền kinh tế quan trọng trên thế giới. Nếu cách đây 30 năm, chúng ta
mới có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ thì đến
nay đã có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu đến nay đã đạt khoảng 600 tỉ USD, gấp khoảng 120 lần so
với những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Chúng ta đã thu hút được hơn 400 tỉ đô
la Mỹ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong đó đã giải ngân được khoảng
250 tỉ USD v.v… Công tác người Việt Nam ở nước ngoài cũng đã huy động được
nguồn lực to lớn của kiều bào ta để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, hiện
nay, chúng ta đã chủ động đóng góp có trách nhiệm vào sự nỗ lực chung của quốc
tế trong phòng, chống dịch Covid-19, đồng thời tranh thủ được sự hỗ trợ của
quốc tế về vắc-xin, thiết bị y tế và thuốc điều trị, đóng góp quan trọng vào
việc phòng, chống dịch Covid-19 và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.
Ba là, đối ngoại
đóng vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, góp
phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Các vấn đề biên giới với các nước liên quan từng bước được giải
quyết, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để bảo vệ chủ quyền, giữ vững
đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội, đồng thời góp phần vào việc củng cố hoà bình, ổn định trong khu vực. Đối
với những vấn đề phức tạp về biên giới lãnh thổ, chúng ta luôn giương cao ngọn
cờ hoà bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan kiểm soát
bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp
hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Bốn là, vị thế và
uy tín quốc tế của nước ta trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực và đầy
tinh thần trách nhiệm vào việc giữ vững hoà bình, hợp tác phát triển và tiến bộ
trên thế giới. Chúng ta đã tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn
và hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế quan trọng với tư cách Uỷ viên không
thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên ASEAN, chủ nhà
Hội nghị cấp cao ASEM, Hội nghị thượng đỉnh APEC, Diễn đàn Kinh tế thế giới về
ASEAN…; đã cử hàng trăm lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia lực lượng gìn giữ hoà
bình của Liên hợp quốc ở Châu Phi. Trong nhiều vấn đề quốc tế quan trọng, tiếng
nói, sáng kiến và cách thức giải quyết có lý, có tình trên tinh thần bình đẳng,
hoà hiếu và nhân văn của nước ta đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ của cộng
đồng quốc tế, nhờ đó vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên
trường quốc tế.
Những cố gắng, kết quả và thành tích của chúng ta nói
trên đã góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung to lớn, có ý nghĩa lịch sử
của Đất nước ta sau 35 năm đổi mới như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định, làm
cho "đất
nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy
tín quốc tế như ngày nay".
Có được những kết quả, thành tích đó là do có sự lãnh đạo
đúng đắn, sáng suốt, bình tĩnh, tỉnh táo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Bộ
Chính trị, Ban Bí thư; sự điều hành chủ động, linh hoạt của Nhà nước; sự đồng
tình, đoàn kết, ủng hộ của toàn thể nhân dân; sự vào cuộc và hoạt động tích cực
của cả hệ thống chính trị, tất cả các ngành, các cấp, trong đó Ban Đối ngoại
Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương và các cơ quan, đơn vị trực tiếp làm
công tác đối ngoại trong cả nước là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan
trọng. Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan
nghênh, biểu dương và cảm ơn những đóng góp to lớn, rất có ý nghĩa của toàn thể
anh chị em đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại.
Tuy nhiên, công tác đối ngoại của chúng
ta thời gian qua cũng còn một số hạn chế; có việc chưa làm được hoặc làm chưa
tốt như Đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra. Cụ thể là, hoạt động đối ngoại và hội
nhập kinh tế quốc tế có lúc, có việc chưa thật chủ động và hiệu quả chưa cao.
Chúng ta còn thiếu những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để hạn chế tối đa các tác
động tiêu cực trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế; nhận thức và chỉ đạo
thực tiễn có lúc chưa theo kịp những chuyển biến mau lẹ, phức tạp của tình
hình; sự phối hợp, kết hợp giữa các ngành, các cấp, các địa phương còn thiếu
chặt chẽ; công tác nghiên cứu chiến lược, dự báo tình hình chưa thật bài bản,
kết quả chưa được như mong muốn.
Từ tất cả những kết quả và hạn chế nêu trên và nói chung
là từ toàn bộ hoạt động phong phú, sôi động trên mặt trận đối ngoại thời gian
qua, chúng ta có thể tiếp tục khẳng định, kế thừa và phát huy những bài học
thiết thực được rút ra từ nhiều nhiệm kỳ vừa qua. Đó là 5 bài học:
1. Bài học về kết
hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; xử lý hài hoà mối quan hệ
giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Tình hình thế giới biến chuyển
nhanh chóng, phức tạp, song xu thế lớn và nguyện vọng thiết tha của các dân tộc
vẫn luôn luôn là giữ vững hoà bình, mở rộng hợp tác vì sự phát triển. Chúng ta
đã xác định đúng đắn và rõ ràng vị trí, vai trò của mình trong hợp tác và phân
công lao động quốc tế, cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị, chuỗi sản xuất và
cung ứng khu vực và toàn cầu. Đường lối, chính sách và mục tiêu trước sau như
một của chúng ta luôn luôn phù hợp với xu thế lớn đó của thời đại. Lợi ích quốc
gia - dân tộc của chúng ta lúc này vẫn là bảo đảm môi trường quốc tế thuận lợi
để phát triển. Điều đó hoàn toàn phù hợp với lợi ích của nhân dân thế giới vì
hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
2. Bài học về sự
kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong sách lược. Nguyên tắc của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Sách
lược của chúng ta là cơ động, linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo từng vấn
đề, từng thời điểm và tuỳ theo đối tượng hay đối tác, tuân thủ những tư tưởng
lớn của Bác Hồ: "Dĩ bất biến ứng vạn biến", "thêm bạn bớt
thù", "sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù
oán với ai". Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách
nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế.
3. Bài học về xây
dựng sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân như lời căn dặn của Bác Hồ:
"Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng". Đường lối đối ngoại đúng đắn, giương cao
ngọn cờ chính nghĩa và sự triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách cụ
thể đã góp phần tạo ra sự đồng thuận cao của toàn bộ hệ thống chính trị, sự
đoàn kết của toàn dân tộc và sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế.
Thể chế, chính sách quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại dưới sự lãnh đạo
của Đảng ngày càng được hoàn thiện đồng bộ và phù hợp hơn; cơ chế phối hợp giữa
đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân với các hoạt động đối
ngoại trên tất cả các lĩnh vực, như: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc
phòng, an ninh, bảo vệ môi trường...; giữa trung ương và địa phương,... đã có
nhiều cải tiến, ngày càng đồng bộ hơn, góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, phát huy
sự năng động, sáng tạo, hiệu lực hiệu quả cao của hoạt động đối ngoại, đóng góp
xứng đáng vào việc thực hiện mục tiêu bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa",
giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định, tạo những thời cơ và điều kiện thuận lợi
nhất để phát triển đất nước.
4. Bài học về công
tác xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ mà lâu nay chúng ta vẫn thường nói
là "cái gốc của mọi công việc". Các thế hệ cán bộ đối ngoại đã hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong những giai đoạn lịch sử khác nhau của
đất nước, trong đó có đội ngũ cán bộ của Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ Ngoại
giao, Bộ Công Thương với chức năng tham mưu và trực tiếp triển khai công tác
đối ngoại của Đảng và Nhà nước. "Mang chuông đi đánh xứ người" là một
công việc rất khó khăn, vất vả, đòi hỏi những phẩm chất đặc biệt của người làm
công tác đối ngoại. Những nỗ lực trên mặt trận đối ngoại thời gian qua đã tạo
ra lớp lớp thế hệ cán bộ đối ngoại ngày càng hội đủ tố chất vừa hồng vừa
chuyên, bước đầu thể hiện được bản lĩnh, đạo đức, cốt cách của ngoại giao Hồ
Chí Minh.
5. Cuối cùng, bao trùm tất cả là bài học về sự lãnh đạo
thống nhất, tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước. Các
cơ quan lãnh đạo của Đảng, trước hết là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cùng các cơ
quan tham mưu đã có sự nhạy bén trong nhận định và nắm bắt tình hình, quyết
đoán trong việc đưa ra các chính sách, biện pháp cụ thể. Nhiều chủ trương, giải
pháp xử lý những vấn đề phức tạp, những tính toán lựa chọn đúng thời điểm tiến
hành những hoạt động đối ngoại lớn, trong đó có các việc đón và thực hiện các
chuyến thăm cấp cao, đã tác động mạnh mẽ có sức thuyết phục, tạo được sự đồng
thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, và được dư luận quốc tế đồng
tình, ủng hộ.
Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất
tốt đẹp, đề ra Chiến
lược xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới, trong
đó có Chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045,
phấn đấu đến năm 2025 - kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước, nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt
qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 - kỷ niệm 100 năm thành lập
Đảng, nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, thu
nhập trung bình cao; và đến năm 2045 - kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam
dân chủ cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước ta trở
thành nước phát triển có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đồng
thời, Đại hội cũng đề ra chủ trương, đường lối đối ngoại trong thời kỳ mới với
những nội dung cốt lõi sau đây:
- Về tư tưởng
chỉ đạo: Thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác
và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác
tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Xử
lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu
rộng. Ý chí tự lực, tự cường và nội lực là quyết định, cơ bản, lâu dài; sự ủng
hộ, giúp đỡ và nguồn lực từ bên ngoài là vô cùng quan trọng.
- Về nguyên tắc đối
ngoại: Bảo
đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ
bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng,
hợp tác, cùng có lợi.
- Về phương hướng đối ngoại: Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả các
hoạt động đối ngoại, bao gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại
nhân dân; đối ngoại của các cấp, các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn
vị, cộng đồng các doanh nghiệp. Đưa các mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu,
thực chất, thiết thực; huy động và kết hợp có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài
với nguồn lực trong nước để phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và
bảo vệ Tổ quốc. Không ngừng đổi mới, sáng tạo trên cơ sở vận dụng nhuần nhuyễn
bài học "dĩ
bất biến, ứng vạn biến", kiên định về nguyên tắc, chiến lược, linh hoạt về phương pháp,
sách lược.
- Nhiệm vụ cơ bản của đối ngoại: Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong
việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, huy động các
nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất
nước. Các nhiệm vụ này có quan hệ chặt chẽ, tương hỗ lẫn nhau, trong đó giữ
vững hoà bình, ổn định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; phục vụ phát triển
đất nước là nhiệm vụ trung tâm; nâng cao vị thế và uy tín đất nước là nhiệm vụ
quan trọng.
Chúng ta thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong
bối cảnh có nhiều thời cơ thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. "Trong những năm
tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh
chóng, phức tạp, khó lường. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn,
song cũng đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Toàn cầu hoá và hội
nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng bị đe doạ bởi sự trỗi dậy của chủ
nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh
thương mại diễn ra gay gắt. Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào
khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát
triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách
thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát
triển nhằm thích ứng với tình hình mới. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp
tục có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Tại Đông Nam Á, môi trường an
ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp..." (SĐD
- Tr.30 - 31).
Để góp phần xứng đáng cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân ta hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng cũng
rất đỗi vẻ vang trong tình hình, bối cảnh nêu trên, trong quá trình triển khai
thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nêu tại Hội nghị hôm nay, tôi xin gợi mở,
nhấn mạnh thêm 6 vấn đề sau đây:
Một là, chúng ta cần tiếp tục thường xuyên theo
dõi, nghiên cứu, nắm chắc diễn biến tình hình để kịp thời có giải pháp thích
hợp trong công tác đối ngoại. Những diễn biến chính trị nhanh chóng, phức tạp
trên thế giới thời gian qua có rất nhiều vấn đề vượt ra ngoài dự báo thông
thường. Nếu chúng ta không nắm bắt đúng tình hình thì không theo kịp sự phát
triển của thực tiễn. Vấn đề là chúng ta phải nhạy bén, dám nghĩ, dám làm, có
tinh thần chủ động tiến công, dám vượt ra khỏi khuôn khổ những tư duy cũ, những
lĩnh vực quen thuộc để có suy nghĩ và hành động vượt tầm quốc gia, đạt tới tầm
khu vực và quốc tế. Chúng ta cần xây dựng vị thế và tâm thế mới của Việt Nam
trong ứng xử và xử lý mối quan hệ với các nước, song phương cũng như đa phương.
Thế và lực của nước ta trên các tiêu chí quan trọng như kinh tế, dân số, quốc
phòng và đối ngoại đã khác nhiều sau 35 năm đổi mới. Đặc biệt, các vấn đề thuộc
lợi ích cốt lõi, mang tầm chiến lược của Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải thể
hiện tiếng nói mạnh mẽ hơn và lập trường đối ngoại tích cực hơn, trước hết ở
trong khu vực. Đồng thời, cũng phải đẩy mạnh đổi mới tư duy, mạnh dạn đột phá,
sáng tạo trong công tác, tìm ra cách làm mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới, tìm
kiếm các đối tác mới, hướng đi mới. Đương nhiên, đổi mới phải trên cơ sở giữ
vững nguyên tắc, chắc chắn, thận trọng, kiên định mục tiêu và chân thành, khiêm
tốn.
Hai là, tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện
đúng đắn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển;
đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu
rộng, vì lợi ích quốc gia - dân tộc; vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vận dụng đúng
đắn quan điểm về "đối tượng", "đối tác"; tăng cường hợp
tác, tiếp tục tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước,
ngăn ngừa xung đột, tránh đối đầu, bị cô lập, phụ thuộc. Trong đó, mục tiêu bao
trùm là giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện các nhiệm vụ chiến lược về phát triển kinh tế - xã
hội; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, quyền
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chính đáng của ta phù hợp với luật
pháp quốc tế. Trong việc bảo đảm môi trường hoà bình thì một trong những yêu
cầu then chốt là phải luôn kiên trì, bình tĩnh, sáng suốt, khôn khéo, xử lý
đúng đắn các mối quan hệ đối ngoại, trong đó có vấn đề chủ quyền, lãnh thổ. Đây
là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cả hệ thống chính trị, trong đó ngành Ngoại
giao là những người đi đầu. Trước những diễn biến của tình hình thế giới như đã
nói ở trên, việc thực hiện nhiệm vụ bao trùm này sẽ có nhiều thách thức trong
thời gian tới.
Để tranh thủ và tận dụng tối đa cơ hội, kiểm soát và hoá
giải các thách thức, ứng phó tốt với những chuyển biến bên ngoài, chúng ta phải
luôn luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ là: "Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng", theo đó
phải luôn luôn đề cao việc xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết và đồng thuận trong
nước. Điểm đồng chung nhất, cao nhất ở đây là phải kiên quyết bảo vệ lợi ích
quốc gia - dân tộc; tất cả mọi người đều phải vì nước, vì dân. Có như thế,
trong triển khai công tác đối ngoại mới có thể "kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại", thực hiện phương châm "dĩ bất biến ứng vạn
biến"; giữ "trái tim nóng, cái đầu lạnh" và "kiên quyết,
kiên trì" để xử lý các thách thức đối ngoại, tranh thủ điểm đồng về lợi
ích để thúc đẩy hợp tác và phát triển trên cơ sở bảo vệ lợi ích quốc gia - dân
tộc và tôn trọng luật pháp quốc tế.
Ba là, phát huy tối đa mọi yếu tố thuận lợi
của đất nước để chủ động, tích cực tham gia đóng góp, xây dựng, định hình các
cơ chế đa phương, thực hiện Chỉ thị số 25 của Ban Bí thư về nâng tầm công tác
đối ngoại đa phương, coi đây là một định hướng chiến lược quan trọng, trong đó
có việc xây dựng Chiến
lược tổng thể về đối ngoại đến năm 2030. Công việc trọng tâm của thời gian
tới là triển khai và phát huy các kết quả quan trọng của các diễn đàn đa phương
mà Việt Nam đã tham gia, đặc biệt là phối hợp với các đối tác thúc đẩy việc
thực hiện các sáng kiến đã được thông qua của Việt Nam. Cần thể hiện vai trò
nòng cốt trong quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và củng cố vai trò trung tâm
của ASEAN trong các cấu trúc an ninh khu vực. Tiếp tục tham gia tích cực trong
khuôn khổ hoạt động của Liên hợp quốc, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu
phát triển bền vững và tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc. Tổng
kết việc thực hiện và hoàn thành trọng trách Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Uỷ viên
không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 để từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm cho thời gian tới trên các diễn đàn đa phương
khác trong và ngoài khuôn khổ của Liên Hợp Quốc.
Bốn là, cần mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu
quả các hoạt động đối ngoại, nhất là hợp tác kinh tế, văn hoá và hợp tác trên
lĩnh vực chính trị, an ninh - quốc phòng với các nước; tiếp tục đưa các mối
quan hệ với các đối tác mà ta đã có khuôn khổ quan hệ, trước hết là các nước
láng giềng và các nước lớn, đi vào chiều sâu, ổn định, hiệu quả; ưu tiên duy
trì ổn định và giữ đà quan hệ, tăng cường tin cậy chính trị, thúc đẩy hợp tác
trên các lĩnh vực, đồng thời xử lý các khác biệt và vấn đề nảy sinh trên tinh
thần hợp tác, hữu nghị, kiểm soát bất đồng, dựa trên luật pháp quốc tế và thông
lệ khu vực.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả chủ trương chủ động, tích
cực hội nhập quốc tế, nhất là Nghị quyết 06 của Ban Chấp hành Trung ương về
việc "Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững
ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương
mại tự do thế hệ mới" và "Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030". Thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc
tế, trọng tâm là các cam kết trong Tổ chức Thương mại thế giới, Cộng đồng Kinh
tế ASEAN, APEC, CPTPP, RCEP, EVFTA, EVIPA...
Nâng
cao hiệu quả công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển bền vững của đất
nước. Ưu tiên tìm kiếm và mở rộng thị trường cho hàng hoá, dịch vụ và lao động
Việt Nam, thu hút nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, nhất là FDI
hướng vào các lĩnh vực ưu tiên của đất nước. Tích cực cùng các nước thúc đẩy
đàm phán, ký kết, phê chuẩn và thực hiện các thoả thuận FTA đa phương; nghiên
cứu khả năng tham gia các sáng kiến đa phương trong khu vực về kết nối kinh tế
và phát triển cơ sở hạ tầng; tiến hành đàm phán các FTA song phương thế hệ mới
với các nước, nhất là với các đối tác thương mại lớn. Triển khai toàn diện và
mạnh mẽ hơn nữa công tác người Việt Nam ở nước ngoài theo đúng tinh thần người
Việt Nam ở nước ngoài là máu thịt, là một bộ phận không tách rời và là một
nguồn lực quan trọng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Các cơ quan có trách
nhiệm cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, cơ chế, luật pháp, tạo điều kiện
thuận lợi để bà con ta tham gia ngày càng tích cực, sâu rộng vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc để
yên tâm hoà hợp, sinh sống, làm việc, học tập, giữ gìn tiếng Việt và bản sắc
văn hoá của Dân tộc ta.
Năm là, hết sức coi trọng, nâng cao hơn nữa
chất lượng công tác nghiên cứu và dự báo chiến lược, tập trung đánh giá kỹ các
xu hướng vận động trong chính sách và quan hệ giữa các nước lớn, các nước láng
giềng, khu vực, các xu hướng chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội trên thế giới
và khu vực, nhất là trước tác động như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số và sự nguy hại của dịch bệnh
và biến đổi khí hậu. Trong trung và dài hạn, phải dự báo trước các kịch bản về
những biến đổi trong trật tự thế giới, khu vực và chuẩn bị sẵn các phương án để
ứng phó.
Phải nhận thức rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình;
tỉnh táo xác định giá trị và vị trí chiến lược của đất nước trong tình hình mới
để hoạch định chiến lược, chính sách cho phù hợp. Hoà bình, hợp tác và phát
triển của thế giới và khu vực là xu hướng chủ đạo của thời đại. Một quốc gia
không thể tuỳ hứng đưa ra những quyết định và hành động đơn phương mà không cân
nhắc những tổn thất gây ra cho các quốc gia khác và cho chính mình. Có thể nói,
công tác nghiên cứu và dự báo chiến lược là vô cùng quan trọng để giữ được sự
chủ động trong một thế giới đầy biến động phức tạp.
Trung ương Đảng mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư
luôn đánh giá cao các báo cáo chiến lược của các cơ quan tham mưu và các cơ
quan chức năng, chuyên môn của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, yêu cầu đối với
công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược trong thời gian tới là rất cao, rất
nhiều thách thức; tôi mong các đồng chí quan tâm nhiều hơn nữa đến công tác
này. Tôi vẫn thường nói vui rằng "chỉ sợ không biết, chứ đã biết thì không
sợ!".
Sáu là, để hoàn thành được những nhiệm vụ nêu
trên, phải đặc biệt chú trọng công tác xây dựng tổ chức, bộ máy và đào tạo, bồi
dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ.
Về tổ chức bộ
máy, hệ thống các
cơ quan đối ngoại, bao gồm Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công
Thương và các cơ quan, đơn vị có chức năng làm đối ngoại thuộc tất cả các ban,
bộ, ngành, địa phương và toàn hệ thống chính trị cần tiếp tục đẩy mạnh thực
hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Kết luận
của Hội nghị Trung ương 4 khoá XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng
viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự
diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Đồng thời, tiếp tục rà
soát, đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, sắp xếp, kiện toàn, nâng cao trình
độ, năng lực tổ chức bộ máy của Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công
Thương và các bộ, ngành, địa phương, nhất là các cơ quan, đơn vị có chức năng
làm công tác đối ngoại, từ các cơ quan đại diện của ta ở nước ngoài đến các đơn
vị trong nước, hướng tới tổ chức tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo
đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khoá XII về vấn đề này. Nâng cao hơn nữa
hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ban, ngành và địa phương, nhất là giữa Ban Đối
ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an
và các ban, bộ, ngành, địa phương có liên quan trong triển khai công tác đối
ngoại và hội nhập quốc tế của đất nước. Trong thời kỳ hội nhập toàn diện, xu
hướng toàn cầu hoá và liên kết, hợp tác là tất yếu thì sự phối hợp chặt chẽ
giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, và giữa các ban,
bộ, ngành, các cơ quan, đơn vị, các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đối
ngoại ở Trung ương cũng như ở địa phương, nhất là các địa phương biên giới có ý
nghĩa rất quan trọng để thực hiện thành công nhiệm vụ chung cũng như nhiệm vụ
của mỗi ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị.
Về công tác cán bộ, tôi xin nhắc lại bài học Đảng ta đã
rút ra, đó là "cán
bộ là cái gốc của mọi công việc". Chúng ta đang ở trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Công tác cán bộ cũng phải đáp ứng yêu cầu
này. Trong suốt chiều dài của cách mạng, Đảng ta luôn rất coi trọng công tác
cán bộ của ngành Ngoại giao nói riêng và đối ngoại nói chung. Trong những năm
tháng khó khăn, gian khổ nhất của cách mạng, chúng ta luôn luôn có những nhà
ngoại giao, nhà hoạt động đối ngoại xuất sắc, những con người đã trở thành tấm
gương của mọi thế hệ về lòng yêu nước, về tinh thần tự học hỏi, về bản lĩnh
chính trị, về phong cách và nghệ thuật ngoại giao và đối ngoại. Có thể nói, đó
là những nhà ngoại giao, những nhà hoạt động đối ngoại, những chính khách được
bạn bè quốc tế ghi nhận, nể trọng.
Thế hệ cán bộ đối ngoại hôm nay được thừa hưởng những
truyền thống, kinh nghiệm vô cùng quý báu mà các thế hệ trước để lại; được tạo
điều kiện thuận lợi về đào tạo và công tác. Mặt bằng chung về học vấn và trình
độ chuyên môn của cán bộ làm công tác đối ngoại là rất cao. Tôi được biết,
trong Ban Đối ngoại Trung ương, Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương hiện nay có nhiều
đồng chí có năng lực, được đồng nghiệp và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên,
trước đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ mới, chúng ta cần tiếp tục coi trọng hơn
nữa công tác đào tạo cán bộ ngoại giao, cán bộ đối ngoại cả về trình độ, năng
lực lẫn bản lĩnh chính trị, đặc biệt là bản lĩnh chính trị. Các đồng chí phải
không ngừng rèn luyện vững vàng về chính trị, luôn tuyệt đối trung thành với lý
tưởng của Đảng, với lợi ích của dân tộc, tỉnh táo trước sự tác động, lôi kéo
của các thế lực thù địch, chủ động tích cực phòng ngừa không để "tự diễn
biến", "tự chuyển hoá", vướng vào tham nhũng, tiêu cực.
Càng hội nhập sâu với thế giới, chúng ta càng cần có các
nhà ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng; đủ
trình độ, uy tín, phong cách để sánh vai với các nước, bạn bè quốc tế; toàn
tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Một nhà ngoại giao, một nhà
hoạt động đối ngoại giỏi trước hết phải là một nhà chính trị giỏi, luôn lấy lợi
ích của quốc gia - dân tộc, của chế độ làm kim chỉ nam trong hành động; đồng
thời phải có phong cách ứng xử văn hoá, bởi lẽ đối ngoại chính là văn hoá, là
đại diện cho văn hoá của dân tộc trong giao lưu với các dân tộc khác. Các nhà
ngoại giao, các nhà hoạt động đối ngoại cần luôn luôn ghi nhớ rằng, phía sau
mình là Đảng, là Đất nước, là Nhân dân. Phải tự tin, vững vàng, kiên định và
khôn khéo, mưu lược.
Thế giới đang chuyển biến mau lẹ. Đất nước ta dù còn khó
khăn, nhưng triển vọng tương lai rất sáng lạng. Toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta đang đồng lòng, quyết tâm cao nhất thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại
hội XIII của Đảng. Là
người Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài, ai cũng mong muốn nước ta hùng
cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu, như ước nguyện của
Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tôi tin rằng, Hội nghị của chúng ta hôm nay sẽ đánh một
dấu mốc mới và tạo nên bước chuyển biến mới, mạnh mẽ hơn nữa, hiệu quả cao hơn
nữa cho công tác đối ngoại. Tôi được biết, ngay sau Hội nghị hôm nay, ngành
Ngoại giao sẽ tổ chức hội nghị ngoại giao để quán triệt tinh thần, kết luận tại
Hội nghị này để thảo luận phương hướng, nhiệm vụ, biện pháp cụ thể trong lĩnh
vực ngoại giao, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đại
hội XIII. Đây là cách làm tốt cần tiếp tục phát huy.
Nhân dịp năm mới 2022 và xuân Nhâm Dần sắp đến, một lần
nữa, tôi xin chân thành cảm ơn và chúc các nhà ngoại giao, các đồng chí đại
biểu, cùng toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác đối ngoại
cả nước luôn luôn dồi dào sức khoẻ và thu được nhiều thắng lợi mới trong nhiệm
vụ đầy vinh quang và trọng trách của mình. Tôi cũng nhờ các đồng chí trưởng cơ
quan đại diện ngoại giao chuyển tới các cán bộ, công chức, viên chức và cộng
đồng người Việt Nam ta ở nước ngoài lời thăm hỏi chân tình, lời chúc mừng năm
mới tốt đẹp nhất. Chúc quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân ta và nhân dân
thế giới ngày càng phát triển và bền chặt.
Quyết tâm xây dựng
và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản
sắc dân tộc - trường phái ngoại giao "Cây tre Việt Nam"!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét