Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

Không thể xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp và xã hội

 Mỗi lần Đảng, Nhà nước ta công bố việc xử lý, kỷ luật đối với tổ chức đảng hoặc cán

bộ, đảng viên, những người có sai phạm nghiêm trọng, lập tức lại xuất hiện những

luận điệu sai trái của những phần tử thù địch, cơ hội cố tình xuyên tạc, phủ nhận vai

trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và thành tựu phát triển của đất nước; gây

mất niềm tin trong nhân dân. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đang quán triệt,

triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; toàn quân, toàn dân và cả hệ


thống chính trị đang tập trung phòng chống đại dịch Covid-19; vậy mà, vẫn còn những

luận điệu xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Những chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch đối với vai trò lãnh đạo của Đảng ta

Trong thời điểm hiện nay, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại tăng cường chống phá nền tảng tư

tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Họ tuyên truyền,

xuyên tạc, kích động lôi kéo những người bất mãn với chế độ, bôi nhọ, nói xấu Đảng Cộng sản; họ đòi “đổi

mới thể chế chính trị” ở Việt Nam,... gây ra sự hoài nghi về vai trò, khả năng lãnh đạo của Đảng Cộng sản,

từng bước làm mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; họ đòi đa nguyên chính trị, đa đảng

đối lập,… không lạ gì đây chỉ là những “chiêu trò” lừa bịp, xuyên tạc, kích động nhằm xóa bỏ vai trò lãnh

đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội ở nước ta.

Như chúng ta đã biết, những mục tiêu cơ bản của cách mạng nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam xác

định từ những năm 30 của thế kỷ trước, đến nay đã và đang được thực hiện hiệu quả. Chúng ta đã đạt

được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm

trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được

cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [1] . Những thành tựu đó, là sản phẩm kết tinh sức

sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tuy nhiên, kinh tế đất nước vẫn chưa phát triển toàn diện do ảnh hưởng

của đại dịch Covid-19. Cùng với đó, “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về về tư tưởng chính trị,

đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ,... còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù

địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta” [2] . Trên một số trang mạng xã hội,

những phần tử cơ hội cùng với các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ

nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất

ổn định chính trị trong đời sống xã hội, làm tổn hại mối quan hệ giữa ý Ðảng, lòng dân. Chúng xuyên tạc,

chống phá nền tảng tư tưởng của Ðảng.

Lợi dụng việc một số cán bộ cấp cao bị kỷ luật do vi phạm các nguyên tắc của Ðảng để coi đó là mất đoàn

kết, thống nhất trong Ðảng; thổi phồng một số hạn chế, bất cập về mô hình tổng thể tổ chức bộ máy thuộc

hệ thống chính trị chưa được hoàn thiện để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng. Ðây là thủ đoạn tinh vi,

thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tập trung chống

phá, từng bước làm mất uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Bởi vậy, chúng ta cần

tăng cường cảnh giác, tích cực đấu tranh vạch trần, bác bỏ các luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận vai

trò lãnh đạo của Đảng; qua đó trực tiếp khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là chính Ðảng duy nhất cầm

quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Lịch sử 92 năm qua đã chứng minh, từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phấn đấu rèn

luyện để xứng đáng là đội tiên phong, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động,

của dân tộc Việt Nam. Khái niệm đảng cầm quyền với đảng lãnh đạo chính quyền của Ðảng Cộng sản Việt

Nam là sự thống nhất biện chứng. Bởi lẽ, sự tồn tại và phát triển của Ðảng là tiền đề, điều kiện cho sự tồn

tại, hoạt động của Nhà nước, và Nhà nước là một phương thức hoạt động của Ðảng, là đối tượng lãnh

đạo của Ðảng. Khi Ðảng Cộng sản Việt Nam trở thành Ðảng duy nhất cầm quyền thì: “mỗi đảng viên và

cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ

gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân

dân” [3] .

Từ một đất nước bị tàn phá nặng nề bởi nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, bị các

thế lực thù địch điên cuồng chống phá, bị bao vây, cấm vận kinh tế, lại phải chịu nhiều tổn thất do thiên tai

khắc nghiệt gây ra, Việt Nam đã nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế-xã hội; đời sống của các tầng

lớp nhân dân lao động không ngừng được cải thiện; chính trị ổn định; lòng tin của nhân dân đối với Đảng

được củng cố; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Với những thành tựu to lớn của

công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam trở thành một trong những nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên tiến

hành đổi mới thắng lợi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân, dân tộc Việt Nam có quyền tự hào về

Đảng Cộng sản Việt Nam - người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân. Từ thắng lợi của công

cuộc đổi mới đất nước, chúng ta có thể khẳng định một cách có cơ sở khoa học, được trang bị bằng chủ

nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, được các tầng lớp nhân dân đồng tình ủng hộ, tin tưởng đi theo

Đảng có đủ bản lĩnh, trí tuệ, khả năng lãnh đạo nhân dân Việt Nam không chỉ thắng lợi trong đấu tranh

giành và giữ chính quyền trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, mà cả trong xây dựng phát

triển kinh tế, xây dựng đất nước theo mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn

minh”.


Có thể nói, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp, dân tộc và xã hội được xây

dựng trên nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và

đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Điều lệ Đảng “cố tình” quy định

hay xếp đặt. Đây là một yếu tố quan trọng, bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Điều 4 Hiến

pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Nhiệm vụ, giải pháp Để giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp, dân tộc và xã

hội; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội

chính trị; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ,

Trước hết, kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó

là nhiệm vụ thường xuyên then chốt. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu

cấp thiết có ý nghĩa sống còn đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới của đất nước. Đây là

quan điểm nhất quán, nguyên tắc chỉ đạo cơ bản của Đảng và là bài học kinh nghiệm quý báu xuyên suốt

quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo

chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên

định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc

Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [4] . Đồng thời, tiếp tục nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo

đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức đảng, của

cán bộ, đảng viên.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến

đấu của toàn đảng và mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, nhất là

cấp chiến lược; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái của các thế lực thù địch” [5] .

Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, quy định; thực hành dân chủ gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương

của Đảng. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ

giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa; có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển

mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và Nhân dân. Trên cơ sở đó,

huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan, đơn vị đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý

luận tiến hành phản bác kịp thời, có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận vai trò

lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các

thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Đặc biệt, kiên quyết, kiên trì bác bỏ những mầm mống tư tưởng đa

nguyên chính trị, đa đảng đối lập; kiên trì và tăng cường đấu tranh bác bỏ những quan điểm, tư tưởng sai

trái bảo vệ nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng.

Hai là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái,

thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là giải pháp rất quan trọng để xây dựng Đảng vững

mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về

mọi mặt đối với Quân đội nhân dân. Cấp ủy, đội ngũ chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp trong

toàn quân cần quan tâm chăm lo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức,

con người, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về

chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ, lọt thông tin; có biện pháp phòng ngừa “từ sớm, từ xa”,

không để xảy ra tình trạng cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội; chủ

động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”,

chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo

vệ vững chắc trận địa tư tưởng, văn hóa của Đảng. Trong quá trình đó, phải đẩy mạnh đấu tranh trực diện

với các âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch; kiên quyết bác bỏ những luận điệu tuyên

truyền xuyên tạc, kích động, gây tâm lý hoài nghi, bi quan, chán nản ở cán bộ, đảng viên, đi đôi với bảo vệ

giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu của cách mạng,

của Đảng và của nhân dân Việt Nam.

Ba là, kiên quyết phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng sai trái và ý đồ thực hiện đòi “đổi mới thể chế

chính trị” ở Việt Nam. Chủ động đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ

nghĩa thực dụng, cơ hội chính trị. Đảng ta yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản

lý chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái

của các thế lực thù địch” [6] . Kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là mục

tiêu, lý tưởng, con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn; phát triển đường lối đổi mới theo

định hướng xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nguyên tắc tổ chức và hoạt

động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước xã hội chủ nghĩa; có biện pháp thiết thực

củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với lực lượng vũ trang nhân dân và các thành tố

trong hệ thống chính trị và Nhân dân.


Bốn là, tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống những luận điểm sai trái, thù địch phủ nhận vai trò lãnh

đạo của Đảng để có luận chứng bác bỏ có sức thuyết phục từng luận điểm. Trên cơ sở đó, huy động và

phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng hợp thành trên mặt trận tư tưởng - văn hóa tiến hành

phản bác kịp thời, có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, với các luận điệu phủ nhận, xuyên tạc chủ

nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp

luật của Nhà nước; vạch trần thủ đoạn thổi phồng những sơ hở, yếu kém của Đảng, Nhà nước ta trong

công tác xây dựng Đảng, trong quản lý kinh tế - xã hội nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối, chia rẽ

nội bộ, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cán bộ, đảng viên, cơ quan báo chí, lực lượng chuyên trách

trong đấu tranh phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái thù địch xuyên tạc, phủ định vai trò lãnh đạo

của Đảng. Hiện nay, trong điều kiện internet, mạng xã hội ngày càng phát triển và trở nên phổ cập, việc

cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp nhận những thông tin đa chiều, phải, trái, trắng, đen, đúng, sai lẫn lộn

là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, hơn lúc nào hết, các tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên, các cơ

quan báo chí và lực lượng nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan

điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời có những bài viết có cơ

sở khoa học phản bác; phê phán những quan điểm, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của

Đảng; chủ động nắm bắt thông tin, định hướng dư luận trước những vấn đề nóng bỏng mà xã hội cũng

như nhân dân ta đang quan tâm, chú ý.

Kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp và xã hội là vấn đề chiến lược có tính nguyên tắc,

đang đặt ra những yêu cầu mới rất cao và toàn diện. Đảng ta yêu cầu: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn

Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền

và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây

dựng Nhà nước tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” [7] .

Với bản lĩnh đã được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng, nhất định Đảng ta sẽ hoàn thành xuất sắc sứ

mệnh lịch sử mà dân tộc và nhân dân giao phó. Mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của

Đảng nhằm làm mất uy tín, danh dự, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai

cấp, dân tộc và xã hội nhất định sẽ bị vạch trần và thất bại thảm hại. Đảng, cần kế thừa và phát triển

những bài học kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân ta phấn đấu giữ gìn, phát huy bản

sắc văn hóa dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường tổng kết thực tiễn kết hợp

với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vai trò lãnh đạo của Đảng; không ngừng bổ

sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với Nhà

nước, xã hội trong giai đoạn cách mạng mới./.


Trung tướng ĐỖ VĂN THIỆN

Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Tổng cục Hậu cần QĐND Việt Nam

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng

 Bảo vệ chính trị nội bộ là một nhiệm vụ quan trọng, liên quan đến sự sống còn của

Đảng và chế độ; đồng thời, là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây

dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đáp ứng

được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng. Xuyên suốt 91 năm xây dựng và

phát triển của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng luôn được chú trọng;

được các cấp uỷ, các tổ chức cơ sở Đảng và mọi cán bộ, đảng viên trong hệ thống

chính trị triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định, góp phần quan trọng vào

thành công của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.


Bảo vệ chính trị nội bộ là một nhiệm vụ quan trọng, liên quan đến sự sống còn của

Đảng và chế độ; đồng thời, là một trong những nội dung quan trọng của công tác xây

dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đáp ứng

được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng. Xuyên suốt 91 năm xây dựng và

phát triển của Đảng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng luôn được chú trọng;

được các cấp uỷ, các tổ chức cơ sở Đảng và mọi cán bộ, đảng viên trong hệ thống

chính trị triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng quy định, góp phần quan trọng vào

thành công của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

1. Nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ

Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn liền với sự ra đời, phát

triển của Đảng. Đó là quá trình thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng và chỉnh đốn Đảng theo

nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; theo đúng Điều lệ Đảng và nghị quyết các kỳ

Đại hội của Đảng trên tinh thần kết hợp giữa “chống và xây”, “xây và chống”, "lấy phòng ngừa là chính" để

xây dựng từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh.

Đặc biệt, xuất phát từ sự biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình quốc tế, khu vực và

trong nước; từ sự gia tăng các hoạt động chống phá của thế lực thù địch vào Đảng Cộng sản Việt Nam,

vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, vào việc thực thi dân

chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam… trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác bảo vệ

chính trị nội bộ đã được đẩy mạnh; được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quan tâm lãnh đạo,

chỉ đạo sâu sát.

Theo đó, hệ thống các văn bản quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ qua các nhiệm kỳ Đại hội của

Đảng cũng được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Trong đó, phải kể

đến các văn bản sau: Quyết định 42-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Bảo vệ

chính trị nội bộ Trung ương (Bộ Chính trị ban hành ngày 15/7/2002); Chỉ thị số 39-CT/TW về “Tăng cường

công tác bảo vệ Chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay” (Bộ Chính trị khóa XI ban hành ngày 18/8/2014);

Quy định số 126-QĐ/TW “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” (Bộ Chính trị khóa XII ban hành

ngày 28/2/2018) thay thế Quy định số 57-QĐ/TW ngày 3/5/2007 của Bộ Chính trị khóa X “Một số vấn đề về

bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” và Hướng dẫn số 19-HD/BTCTW ngày 12/9/2019 của Ban Tổ chức Trung

ương về thực hiện một số điều trong Quy định số 126-QĐ/TW…

Có thể thấy, bên cạnh những nội dung được ghi rõ trong Điều lệ Đảng, trong văn kiện mỗi kỳ Đại hội Đảng

như Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là "bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; bảo vệ nguyên tắc tổ chức và

hoạt động của Đảng; bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ cán bộ, đảng viên về mặt chính trị. Gắn công

tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những

hiện tượng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết trong Đảng; xử lý nghiêm những cán bộ,

đảng viên vi phạm quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm,

nhất là phát ngôn, tuyên truyền, tán phát tài liệu trái Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định

của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, hoạt động “diễn biến

hòa bình” của các thế lực thù địch”[1], trong những nhiệm kỳ gần đây, công tác bảo vệ chính trị nội bộ

được quan tâm hơn, góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, xây

dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Từ nội dung các văn bản nêu trên, có thể thấy công tác bảo vệ chính trị nội bộ không chỉ có thêm những

nội dung mới cụ thể, chặt chẽ hơn mà còn chuyển trọng tâm từ việc xem xét các vấn đề lịch sử sang nắm

bắt và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay, gắn với việc phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng

chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mỗi cơ quan, địa

phương, đơn vị theo đúng tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây

dựng Đảng hiện nay" và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng;

ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự

chuyển hóa" trong nội bộ".

Đồng thời, cũng từ nội dung trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ,  có thể thấy, đối với mỗi cấp

ủy, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị, việc quán triệt và thực hiện nghiêm túc các chỉ thị, nghị

quyết, quy định, hướng dẫn về công tác bảo vệ chính trị nội bộ là vấn đề quan trọng hàng đầu. Cùng với

đó, việc tiến hành công tác bảo vệ chính trị nội bộ - một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng

chính là yêu cầu vừa cấp bách vừa thường xuyên để Đảng luôn trong sạch và vững mạnh, đoàn kết và


thống nhất; đồng thời, đảm bảo sự chủ động trong việc phòng ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ và những

nhân tố tiềm ẩn có thể gây mất ổn định chính trị, xã hội do các thế lực thù địch, phản động thực hiện nhằm

chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa đang xây dựng ở Việt Nam.

Vì có tầm quan trọng như vậy, cho nên trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, công tác bảo vệ chính trị nội bộ

luôn gắn liền với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đó chính là nền tảng quan trọng cho việc giữ vững

an ninh chính trị của Đảng, Nhà nước. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã được triển khai thường xuyên,

liên tục trong cả hệ thống chính trị; từ Trung ương đến địa phương gắn với văn kiện các kỳ Đại hội Đảng,

Điều lệ Đảng, với các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng; với việc kiên định nền tảng tư tưởng của

Đảng - đó là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền

chủ nghĩa xã hội.

Cụ thể, trong những năm qua, việc thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác bảo vệ

chính trị nội bộ gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây

dựng và chỉnh đốn Đảng, với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học

tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" (Chỉ thị 03) và Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa

XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05), Kết luận

01 của Bộ Chính trị khóa XIII về 'Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị

khóa XII "về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" (Kết luận 01) và

các Quy định về những điều đảng viên không được làm, về nêu gương… đã góp phần quan trọng trong

giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; nâng cao bản lĩnh chính trị và

nhận thức cho mỗi cán bộ, đảng viên để chủ động phòng và đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ

đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nhằm

phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng của các thế lực thù địch…

2. Tiếp tục thực hiện nghiêm công tác bảo vệ chính trị nội bộ

Thực tế cho thấy, những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã góp phần:

Một là, làm cho công tác đấu tranh, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, bảo vệ tổ chức và cán bộ,

đảng viên trước những diễn biến phức tạp của tình hình và âm mưu, hoạt động chống phá nội bộ của các

thế lực thù địch đạt hiệu quả rõ rệt. Thông qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc hơn về quan điểm,

đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời cũng nhận thức sâu sắc hơn về tính

chất quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay và âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa

bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch.

Hai là, để mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên chân chính nhận diện rõ những biểu hiện suy thoái về chính

trị tư tưởng, đạo đức, lối sống; những tư tưởng sai trái, những suy nghĩ và hành động đi ngược với lợi ích

của Đảng, của nhân dân và cả sự xâm nhập của tư tưởng phản động, lối sống thực dụng, các biểu hiện

tiêu cực tác động vào mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, từ đó biết tự bảo vệ mình và kịp thời báo cáo tổ

chức xem xét, giải quyết những vướng mắc nảy sinh theo đúng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà

nước.

Ba là, làm cho các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các dấu hiệu, biểu hiện vi phạm về chính trị nội bộ;

thực hiện thẩm định tiêu chuẩn chính trị nhân sự phục vụ yêu cầu công tác cán bộ, phục vụ Đại hội Đảng

các cấp và kết nạp đảng viên; công tác thẩm tra, xác minh và kết luận đối với những trường hợp có dấu

hiệu vi phạm về tiêu chuẩn chính trị… được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định, mang lại hiệu quả thiết

thực, góp phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Bốn là, thiết thực làm cho việc thực hiện công tác rà soát, thẩm định, thẩm tra, xác minh kết luận về tiêu

chuẩn chính trị nhân sự gắn với nắm bắt, quản lý chặt chẽ tình hình vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ,

đảng viên được kịp thời. Đi liền cùng đó, là sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với

công tác cán bộ để kịp thời phát hiện, kiên quyết đấu tranh, vô hiệu hóa những luận điệu bịa đặt, vu khống,

nói xấu nhằm chia rẽ, hạ uy tín của tổ chức đảng, đảng viên và thực hiện nghiêm quy định của Đảng về bí

mật nhà nước…

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, thì vẫn còn một số cấp

ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên và người đứng đầu chưa nhận thức sâu sắc, thiếu thống nhất về chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; nhất là, vẫn còn "một bộ phận cán bộ,

đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,

lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"[2]. Trong khi đó, công tác tự phê bình và phê

bình chưa sâu sắc, thực chất, ở nhiều nơi còn hình thức. Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là

của người đứng đầu trong mọi mặt công tác chưa thuyết phục, chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng trong

mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị…


Những khuyết điểm này đòi hỏi Đảng phải nhìn thẳng vào thực trạng để chú trọng hơn về công tác tư

tưởng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đảm bảo để công tác tư tưởng luôn đi trước một bước, kịp

thời và thuyết phục. Đồng thời, Đảng phải tiếp tục nỗ lực khắc phục những hạn chế trong công tác bảo vệ

chính trị nội bộ gắn với xây dựng Đảng, để Đảng thực sự là đội tiền phong của giai cấp và dân tộc, lãnh

đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII đã

khẳng định. 

Thực tế là, công tác bảo vệ chính trị nội bộ là một nội dung/gắn với xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là

nhiệm vụ vừa cấp bách vừa thường xuyên, cho nên bất kỳ ở đâu và lúc nào, mỗi tổ chức cơ sở Đảng

trong cả hệ thống chính trị cũng phải thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám

sát, chỉnh đốn tổ chức gắn với bảo vệ chính trị nội bộ trên tinh thần "không sợ có khuyết điểm", "chỉ sợ

không có quyết tâm sửa đổi"[3] để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh từ chi bộ, làm cho Đảng xứng

đáng với vai trò tiền phong; đồng thời, để phát hiện và kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người đã rời xa lý

tưởng cách mạng, thiếu rèn luyện, tu dưỡng về mọi mặt…

Cuối cùng, phải khẳng định rằng, công tác bảo vệ chính trị nội bộ được thực hiện theo quan điểm “kiên

quyết, thận trọng, khách quan, toàn diện” kết hợp với phương châm “tích cực, chủ động phòng ngừa, tự

bảo vệ mình là chính” là nhằm mục đích xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Vì thế, mỗi cấp ủy, mỗi tổ

chức Đảng các cấp, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò và nhiệm vụ của

công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo Chỉ thị số 39-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo

vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay”, Quy định số 126-QĐ/TW của Bộ Chính trị về “Một số vấn đề

về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”, hướng dẫn số 19-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương, hướng dẫn

thực hiện một số Điều trong Quy định số 126-QĐ/TW gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI,

XII; với Chỉ thị 03, Chỉ thị 05, Kết luận 01; với Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về

"Việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền" và các Quy định 47, 55,

08 về nêu gương… để xây dựng Đảng. Đồng thời, cần phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư

tưởng, nhất là về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ

nghĩa xã hội; nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của người đảng viên chân chính gắn với

việc phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự

chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm… để

nhằm tự bảo vệ mình và bảo vệ tổ chức.

Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các cấp không chỉ phải kịp thời nắm bắt tình hình chính trị nội bộ, những

vấn đề liên quan đến công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác cán bộ, nhân sự cấp ủy… mà còn phải chủ

động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan để nắm tình hình, giải quyết những vụ, việc mới phát

sinh, nhất là những cơ quan, địa phương, đơn vị có đơn, thư tố cáo, khiếu kiện kéo dài gây mất đoàn kết,

thống nhất nội bộ. Việc giải quyết những vấn đề thuộc về tình hình chính trị nội bộ cần đúng quy định, đảm

bảo tính minh bạch, khách quan, khoa học, tránh suy diễn chủ quan để không chỉ góp phần củng cố khối

đoàn kết, thống nhất nội bộ, tạo ra được sự đồng thuận cao trong nội bộ mà còn không để cho các đối

tượng xấu, cơ hội có điều kiện lợi dụng tình hình nhằm bôi đen, xuyên tạc, vu khống, kích động, gây ảnh

hưởng tới sự ổn định nội bộ nói riêng, ổn định xã hội nói chung.

Đồng thời, cùng với việc cần phải tiếp tục củng cố, kiện toàn cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ các cấp theo

hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là việc phát huy hơn nữa vai trò của từng tập thể, của người

đứng đầu cấp ủy trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo đảm sự lãnh đạo thường xuyên, trực tiếp, toàn

diện của cấp ủy trong công tác này, để công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại mỗi tổ chức Đảng góp phần làm

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thực hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ

 1. Tập trung dân chủ là một nguyên tắc căn bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng Mácxít

Lêninnít

Tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng để phân biệt một chính Đảng Mácxít Lêninnit với một đảng

phái khác. Tập trung và dân chủ là hai mặt không mâu thuẫn với nhau mà luôn thống nhất biện chứng,


không thể tách rời. Trong đó, tập trung được thực hiện trên cơ sở dân chủ, hỗ trợ, bảo đảm để dân chủ

được kiểm soát trong khuôn khổ; chứ không phải tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền… Còn dân

chủ được thực hiện và bảo đảm của tập trung, giúp cho tập trung được thực hiện linh hoạt, hiệu quả; tránh

dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức, hình thức…

V.I.Lênin đã khẳng định rằng: "Giai cấp vô sản không thể giành được thắng lợi bằng cách nào tốt hơn là

thông qua chế độ dân chủ, nghĩa là bằng cách thực hiện chế độ dân chủ triệt để và đem những yêu sách

dân chủ được đề ra một cách kiên quyết nhất mà gắn liền với từng giai đoạn đấu tranh của họ"[1]. Vì thế,

trong tư tưởng của V.I.Lênin, “chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu

chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ” [2]  và “không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn

chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc” [3] .

Tập trung dân chủ là nguyên tắc rường cột chỉ đạo toàn bộ, xuyên suốt quá trình xây dựng tổ chức, sinh

hoạt và hoạt động lãnh đạo của một Đảng Cộng sản để xây dựng Đảng thành một tổ chức thống nhất, chặt

chẽ, kỷ luật; đồng thời, chi phối các nguyên tắc khác của Đảng, bảo đảm để vừa phát huy được tính chủ

động, năng động, sáng tạo mỗi cán bộ, đảng viên vừa kiểm soát được, để Đảng luôn là một tổ chức lãnh

đạo/hành động/chiến đấu thống nhất chứ không phải là một "câu lạc bộ". Điều đó cũng có nghĩa là, trong

Đảng, tất cả mọi công việc đều cần phải được toàn thể các đảng viên, "hoàn toàn bình quyền và không có

ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu"; đồng thời, tất cả những người có trách

nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo của Đảng, tất cả các cơ quan của Đảng "đều được bầu ra, đều

có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn” như V.I.Lênin đã khẳng định.

Là liên minh tự nguyện của những người cùng chung chí hướng cộng sản; cùng đồng chí, đồng lòng đấu

tranh để xây dựng chủ nghĩa xã hội/một chế độ xã hội tự do, dân chủ, công bằng vì con người và cho con

người thì tất yếu Đảng Cộng sản phải là một tổ chức dân chủ mới phù hợp với bản chất và mục đích; đồng

thời, phải được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật và thống nhất mới đảm đương được sứ mệnh lịch sử ấy. Cho

nên, Đảng phải được tổ chức, sinh hoạt và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; trong đó, tập

trung và dân chủ có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời.

Bất cứ quan điểm/luận điệu nào cho rằng tập trung và dân chủ là hai mặt đối lập; cho nên, nếu thực hiện

tập trung sẽ tất yếu dẫn đến thu hẹp dân chủ, triệt tiêu dân chủ và ngược lại, nếu muốn thực hiện dân chủ,

ắt phải từ bỏ tập trung thì đều phản động, là trái với nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trên thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn là mục tiêu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch,

cơ hội, xét lại… hòng phá hoại các Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Việc

xuyên tạc bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong các thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản

động, cơ hội chính trị chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức,

nhằm từng bước hạ thấp vị thế, uy tín, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà

nước và xã hội Việt Nam.

Mọi suy diễn cho rằng, trong tập trung dân chủ, nếu đặt tập trung ở phia trước và dân chủ ở phía sau

nghĩa là tập trung chính là mục đích, còn dân chủ chỉ là phương tiện, thì đều là khiên cưỡng (có chủ đích)

để từ đó đưa ra một luận điểm sai. Từ luận điểm sai này, những người nhân danh dân chủ, khoác áo dân

chủ đã cho rằng, tập trung dân chủ chính là một hình thức "tập quyền, độc đoán bảo thủ" được thực hành

trong các Đảng Cộng sản dẫn đến sự kìm hãm tư duy sáng tạo của con người/người dân; và vì thế, nó chỉ

là dân chủ hình thức… Từ đó, họ đã không chỉ tán dương dân chủ tự do kiểu phương Tây mà còn nhân

danh dân chủ để đòi dân chủ vô hạn độ, kích động, ủng hộ nhiều người/phe nhóm đối lập sử dụng chiêu

bài dân chủ để đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tự do ra báo, lập hội, biểu tình...

Thực tế cũng cho thấy, nguyên tắc tập trung dân chủ không phải lúc nào/nơi nào cũng được thực hiện một

cách nghiêm túc. Lịch sử đã chứng kiến nguyên tắc này bị vô hiệu hóa trong quá trình cải cách, cải tổ của

Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu những thập niên trước. Việc từ bỏ

nguyên tắc tập trung dân chủ chính là một trong những sai lầm nghiêm trọng làm cho các Đảng này tan rã,

mất vai trò lãnh đạo xã hội. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.Goócbachốp đã vi phạm nguyên tắc

tập trung dân chủ khi quyết định giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng… làm cho Đảng Cộng sản Liên

Xô tan vỡ.

Vì thế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ rút kinh nghiệm sâu sắc bài học của Liên Xô và các nước

xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu để kiên định thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, không ngừng hoàn thiện

và thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc này; đồng thời, tiếp tục xử lý đúng đắn quan hệ giữa

lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ được thực

hiện nghiêm trong Đảng mà còn trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại nhằm xây

dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.


2. Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ và luôn phát huy

dân chủ xã hội chủ nghĩa

 Chỉ dẫn của C.Mác và Ph.Ăngghen về “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền,

phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc" và lý luận sáng tạo của V.I.Lênin

về dân tộc và dân tộc thuộc địa đã được các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa vận dụng trong cuộc đấu

tranh giành độc lập dân tộc, trong đó có Việt Nam.

Cụ thể là, không chỉ lựa chọn đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn vận dụng và phát

triển sáng tạo lý luận cách mạng vô sản vào Việt Nam, xây dựng học thuyết giải phóng và phát triển dân

tộc theo khuynh hướng vô sản, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội khi sáng lập Đảng

Cộng sản Việt Nam - nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời xác định rõ chiến lược của cách mạng Việt Nam là

“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (được thông qua tại Hội

nghị thành lập Đảng, mùa Xuân năm 1930).

Đảng Cộng sản Việt Nam được xây dựng theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnit chân chính. Trong

quá trình xây dựng và phát triển, Đảng luôn khẳng định và kiên trì thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ

là xuất phát từ bản chất của Đảng; từ yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử của Đảng; từ kinh nghiệm của các Đảng

Cộng sản và công nhân quốc tế, bởi: "Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng. Nội

dung của nó là tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Mục đích của nó một

mặt là phát huy và nâng cao tính tích cực cách mạng, tính sáng tạo của đông đảo đảng viên và các tổ

chức của Đảng, mặt khác là bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động và gìn giữ kỷ luật của Đảng. Đảng

phải luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp

với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ

luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể,

coi thường cấp dưới” [4] . Điều 9 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam

tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ".

Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây

dựng, chỉnh đốn Đảng, thì "tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung" và “lãnh đạo mà

không tập thể thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không có

cá nhân thì sẽ đi đến tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ.Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá

nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”. Dân chủ trong Đảng nghĩa là mọi cán bộ, đảng viên

đều được tự do bày tỏ chính kiến của mình trong sinh hoạt Đảng, để bàn bạc, thảo luận và đi đến thống

nhất về quan điểm, chủ trương… để không chỉ trong xây dựng nghị quyết, đưa nghị quyết vào cuộc sống

mà còn thể hiện rõ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Tập trung trong Đảng chính là để toàn thể đảng viên

tư tưởng nhất trí và hành động nhất trí, để tránh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược"…

Nguyên tắc tập trung dân chủ luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ thống nhất, đồng bộ với các

nguyên tắc khác về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đó là các nguyên tắc tự phê bình và phê bình;

đoàn kết thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân; thực hiện chủ

nghĩa quốc tế trong sáng. Sự thống nhất của các nguyên tắc đó bảo đảm không ngừng nâng cao bản chất

cách mạng và sức chiến đấu của Đảng.

Thực tế, hơn 91 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ vận dụng và phát triển lý luận về chuyên

chính vô sản để xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa/nhà nước của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam) mà còn xử lý tốt mối quan hệ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương.

Đồng thời, khẳng định trong thực tế, "nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu

thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung.

Từ hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít

phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là

vừa dân chủ vừa tập trung” [5] .

Dân chủ vừa là bản chất vừa là động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa

mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong gần chục thập niên qua. Theo

đó, từng cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức,

viên chức nhà nước đã nỗ lực thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội trong thực

hiện nhiệm vụ chính trị; trong cuộc sống đời thường… Đó là sự thật và sự thật này đã được kiểm chứng

bởi lịch sử Việt Nam hiện đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi nhận

của các tổ chức quốc tế…


Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chế độ dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc được

hình thành và trở thành mục tiêu, động lực phát triển đất nước. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, người

dân Việt Nam thấy được một chế độ xã hội mới, một chính quyền cách mạng kiểu mới và đi liền cùng đó là

việc từng bước thực thi những quyền tự do, dân chủ và những nguyện vọng của nhân dân trên tinh thần:

“Chính phủ tỏ rõ ý muốn duy nhất là làm sao đem lại cho dân chúng được tự do, độc lập hoàn toàn và để

cho tất cả mọi phần tử quốc dân được hưởng tự do độc lập ấy như muôn vật được hưởng ánh sáng Mặt

trời” [6] .

Tại Việt Nam, dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội, được thụ hưởng

những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "NƯỚC TA LÀ NƯỚC . Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng

là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến

Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại,

quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [7] …

Cùng với thời gian, chế độ dân chủ ở Việt Nam/dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng hoàn

thiện hơn gắn với kỷ luật, kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm và được

phổ biến đến mọi người dân. Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; trong đó xác định rõ: "Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm" [8] …

Trong thực tế, luôn vì con người, nên mọi chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều xuất phát từ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân và hướng đến lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu gắn với thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Cho nên, việc xuyên tạc bản chất nguyên tắc tập trung dân chủ, đòi xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ (vì cho rằng, ở Việt Nam chỉ có một Đảng lãnh đạo độc đoán và chuyên quyền, nên không có dân chủ) là những luận điệu phản động, cần được mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao cảnh giác để nhận diện đúng.

Trong thực tế, việc kiên trì nguyên tắc tập trung dân chủ và tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn được chú trọng thực hiện gắn với tăng cường kỷ cương, pháp luật. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị và kinh tế,v.v.. Cùng với đó, việc khắc phục tình trạng dân chủ hình thức; phòng và chống sự quan liêu, cửa quyền, lạm quyền, lộng quyền gây phiền hà cho nhân dân tại một số cơ quan công quyền, của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái… đã từng bước được ngăn chặn, đẩy lùi, góp phần làm cho quyền lực thuộc về nhân dân và thực hành quyền làm chủ của nhân dân trong thực tiễn ngày càng được hiện thực hóa thực chất và rộng rãi hơn. 

TS. Văn Thị Thanh Mai

Mở rộng công tác phòng, chống tham nhũng với công tác phòng chống tiêu cực

 Đẩy mạnh/tăng cường phòng và đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ vừa cấp

bách vừa thường xuyên và lâu dài để Đảng trong sạch vững mạnh, xứng đáng với vai

trò tiền phong/cầm quyền/độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Để nâng cao hiệu

quả công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác phòng, chống tham nhũng nói riêng,

ngày 16/9/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về

phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã ký ban hành Quy định số 32-

QĐ/TW (Quy định số 32); trong đó, gắn công tác phòng, chống tham nhũng đồng bộ

với công tác phòng, chống tiêu cực, nhất là chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo

đức, lối sống.

1. Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng để xây dựng Đảng

 Ở Việt Nam, theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, thì tham nhũng là hành vi của những người

có chức vụ, quyền hạn khi họ lợi dụng/lạm dụng chức vụ, quyền hạn được trao/được đảm nhiệm nhằm

mục đích vụ lợi cho cá nhân, người thân, nhóm lợi ích… Cụ thể, đó là các hành vi: Tham ô tài sản; nhận

hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành

nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ,

quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi… và đó cũng chính là các biểu hiện của sự suy

thoái. Vì thế, phòng và đấu tranh chống tham nhũng luôn là một nhiệm vụ quan trọng, được Đảng và Nhà

nước đặc biệt quan tâm; được đẩy mạnh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn

đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về "Tăng cường xây dựng,

chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện

"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ" và một số văn bản khác.

Vì tham nhũng chính là trở lực lớn đối với sự nghiệp xây dựng, đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước;

làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng

thời là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, cho nên, để phòng và đấu tranh

chống tham nhũng hiệu quả, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 1039/2006/NQ-

UBTVQHXI về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về

phòng, chống tham nhũng; Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1009/2006 về nhân sự Ban Chỉ đạo;

Quốc hội cũng đã ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm

2012 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; ngày 1/2/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay

mặt Bộ Chính trị ký Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham

nhũng (Ban Chỉ đạo)...

 Đặc biệt, lần đầu tiên vấn đề phòng, chống tham nhũng được ghi tại khoản 2, Điều 8 Hiến pháp năm

2013: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải... kiên quyết đấu tranh chống tham

nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền". Cùng với Hiến pháp và Luật Phòng,

chống tham nhũng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và

biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm

2017) cũng đã có một chế định pháp lý riêng, quy định các tội phạm tham nhũng… Đây chính là tổ chức bộ

máy và những cơ sở pháp lý vững chắc để công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng đạt hiệu quả.

Trên thực tế, sau gần 9 năm (tính đến tháng 1/2022) kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo, thì công tác phát

hiện, xử lý tham nhũng ở các địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục tình

trạng "trên nóng, dưới lạnh". Kết luận của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Phiên họp thứ 21 (ngày

20/1/2022) của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cho thấy: Năm 2021, các

cơ quan điều tra, truy tố, xét xử đã phối hợp chặt chẽ và vào cuộc kịp thời, xử lý đồng bộ các vụ việc, vụ

án; đã tạo được sự thống nhất cao trong việc xử lý, không để tồn đọng, kéo dài (các vụ án xảy ra tại Bình

Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Quản lý Dược - Bộ Y tế; Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam; Bộ đội

Biên phòng…). Các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 3.725 vụ/7.066 bị can (tăng 1.186

vụ/2.652 bị can so với năm 2020) về tội tham nhũng chức vụ, kinh tế; trong đó, án tham nhũng, chức vụ đã

khởi tố là 390 vụ/1.011 bị can. Năm 2021, đã thi hành kỷ luật đối với 223 tổ chức đảng và 20.257 đảng


viên, trong đó có 618 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 132 đảng viên so với năm

2020)…

Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo (từ sau Phiên họp thứ 19 đến nay) đã

kết thúc điều tra, truy tố, đưa ra xét xử sơ thẩm 21 vụ án/179 bị cáo, xét xử phúc thẩm 13 vụ án/74 bị cáo;

khởi tố mới 10 vụ án/40 bị can, khởi tố thêm 103 bị can trong 20 vụ án. Cùng với đó, công tác thu hồi tài

sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án tiếp tục có chuyển biến tích cực; trong đó, đã thu giữ, tạm

giữ, kê biên tài sản, phong toả tài khoản, ngăn chặn giao dịch tài sản trên 15.000 tỷ đồng và nhiều tài sản

có giá trị lớn… đã cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng ngày càng được triển khai quyết liệt, hiệu

quả, chứ không phải chỉ là "hình thức", chỉ "để rung cây dọa khỉ" và "không hiệu quả" như luận điệu phản

động của các thế lực thù địch.

Tiếp đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022 của Ban Chỉ đạo là tập trung chỉ đạo kết

thúc điều tra 16 vụ án, kết thúc xác minh, xử lý 40 vụ việc; truy tố 20 vụ án; xét xử sơ thẩm 22 vụ án, xét

xử phúc thẩm 1 vụ án theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo. Đặc biệt, tập trung chỉ đạo xử lý vụ án xảy ra tại

Công ty Việt Á và các vụ việc, vụ án liên quan đến lĩnh vực y tế; các vụ việc, vụ án xảy ra tại Khánh Hòa,

Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang…

Những kết quả đạt được không chỉ khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh phòng,

chống tham nhũng mà còn cho thấy cuộc đấu tranh này được thực hiện quyết liệt, "không có ngoại lệ, bất

kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào" và đã tạo được sức răn đe, cảnh tỉnh lớn.

Đấu tranh chống tham nhũng thực sự "đã trở thành phong trào, xu thế", được cán bộ, đảng viên và nhân

dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao; được quốc tế ghi nhận.

2. Gắn phòng và chống tham nhũng với các biểu hiện tiêu cực

Bên cạnh những kết quả nêu trên, thì thực trạng vấn nạn tham ô, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện

tiêu cực/suy thoái khác như vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; công tác cán bộ;

thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý; vi phạm các quy định pháp luật về đất đai, tài nguyên, tài

chính; vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm; vi phạm đạo đức, lối sống… của đội

ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền trong hệ thống chính trị ngày

càng gây bức xúc trong nhân dân; làm ảnh hưởng  đến uy tín, vai trò lãnh đạo/cầm quyền của Đảng; làm

tổn hại đến lợi ích của Nhà nước, của quốc gia và nhân dân.

Thực tế là, trong hơn 110 cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý bị kỷ luật có 48% vi phạm

nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; 40% thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý;

14,5% vi phạm về công tác tổ chức cán bộ; 27% vi phạm các quy định pháp luật về đất đai, tài nguyên, tài

chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản; 5,4% vi phạm quy định về trách nhiệm nêu gương; 2,7% vi

phạm quy định về những điều đảng viên không được làm,v.v.. Trong khi đó, số đảng viên bị kỷ luật do

tham nhũng là hơn 3.200 người, chỉ chiếm 3,7%.

Vì thế, đã đến lúc phải mở rộng diện đấu tranh; trong đó không chỉ đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh

vực kinh tế mà cả trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống - Nghĩa là phải gắn phòng và đấu tranh chống

tham nhũng với các biểu hiện tiêu cực/suy thoái: "Hai cái này nó có liên quan đến nhau, sự suy thoái về tư

tưởng chính trị, đạo đức, lối sống thì mới dẫn đến tham nhũng, đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải

chống. Cái lợi ích kinh tế nó thường gắn liền với quyền lợi chính trị, chức quyền, với sự hư hỏng về đạo

đức, lối sống” đúng như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Cuộc họp

Thường trực Ban Chỉ đạo ngày 18/3/2021

Thực tế cũng cho thấy là, tiêu cực nói chung và tham nhũng nói riêng đều là sự suy thoái về tư tưởng

chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; làm mất đi sự trong sạch, vững

mạnh của Đảng và Nhà nước; làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, đạo đức và vai trò gương

mẫu của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng; đồng thời, làm suy giảm

niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, yêu cầu phải gắn phòng, chống tham

nhũng với phòng, chống tiêu cực trở nên cần thiết và cấp bách. Đồng thời, để đẩy mạnh toàn diện, đồng

bộ các nhiệm vụ, giải pháp của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng và thiết thực đưa Nghị quyết Đại hội

XIII của Đảng về quyết tâm phòng và đấu tranh chống tham nhũng: “Triển khai đồng bộ có hiệu quả quy

định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng… Thực hiện quyết liệt nghiêm minh có hiệu quả cuộc đấu

tranh phòng, chống tham nhũng…Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát

tham nhũng. Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí” [1]  vào cuộc

sống, Quy định số 32 đã được ban hành thay thế Quy định số 211-QĐ/TW ngày 25/12/2019 của Bộ Chính

trị khóa XII về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo.


Quy định số 32 gồm 4 chương, 17 điều; trong đó, quy định rõ về chức năng, phạm vi chỉ đạo, nguyên tắc,

nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo; áp dụng đối với Ban Chỉ đạo,

Thường trực Ban Chỉ đạo, các thành viên Ban Chỉ đạo, Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo và các cấp

ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan.

Quy định số 32 ghi rõ: Ban Chỉ đạo "chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống

tham nhũng, tiêu cực trong phạm vi cả nước"; "chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; phòng, chống

tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công

chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị

trong phạm vi cả nước"; "chỉ đạo trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu

tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; các vụ án, vụ việc tiêu cực khác ngoài tham

nhũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ,

đảng viên, công chức, viên chức, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ

(gọi chung hai loại vụ án, vụ việc này là vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư

luận xã hội quan tâm) với nguyên tắc Ban Chỉ đạo chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban

Bí thư".

Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể thảo luận, trưởng ban kết luận và chỉ đạo

thực hiện; hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; tuân thủ quy định của Đảng

và pháp luật của Nhà nước; tôn trọng, không làm cản trở hoạt động bình thường và không làm thay nhiệm

vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có thẩm quyền trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu

cực...

Ban Chỉ đạo, các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tỉnh ủy,

thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan có trách

nhiệm thi hành quy định này. Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo; có

trách nhiệm tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của Ban Chỉ đạo và Thường trực Ban Chỉ đạo...

Với Quy định số 32, có thể thấy nhiệm vụ và "diện phủ" của Ban Chỉ đạo rộng hơn; trọng tâm là gắn đấu

tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống các biểu hiện tiêu cực. Nói như Tổng Bí thư thì sự tiêu

cực nguy hiểm nhất, tác hại khôn lường nhất lại chính là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối

sống, bởi nó có nguồn gốc sâu sa từ chủ nghĩa cá nhân và chính là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng,

dẫn đến việc rời xa lý tưởng cách mạng của người đảng viên cộng sản. Tiêu cực trong tư tưởng, suy nghĩ,

trong đạo đức, lối sống dẫn đến tiêu cực trong hành động có ranh giới "mỏng manh". Khi người cán bộ,

đảng viên thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng, kém rèn luyện bản lĩnh chính trị, thì rất dễ sa vào tiêu cực;

từ tiêu cực nhỏ, vặt dẫn đến tiêu cực lớn, thậm chí là vi phạm pháp luật, rơi vào vòng lao lý. Vì thế, gắn

đấu tranh phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực/sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo

đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên chính là góp phần ngăn chặn từ gốc, phát hiện từ sớm và xử lý ngay

từ đầu để ngăn chặn những vi phạm nhỏ, không để chúng tích tụ thành những sai phạm lớn, vụ án lớn;

không để những cành cây làm hỏng một thân cây, không để một thân cây bệnh lây lan cả rừng cây...

Có thể nói, Quy định số 32 chính là sự "hiện thực hóa" quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước, đáp ứng

yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói

riêng. Sự ra đời của Quy định số 32 không chỉ đúng cả về lý luận mà còn đáp ứng yêu cầu của thực tiễn,

phù hợp với chủ trương làm quyết liệt, không ngừng, không nghỉ, nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ,

đảng viên, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử và niềm tin, sự kỳ vọng của nhân dân đối với Đảng cầm

quyền. Đây chính là cơ sở để công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Ban Chỉ đạo Trung ương

do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đứng đầu đạt được kết quả như kỳ vọng, chứ không phải là "loay hoay

mãi mà không có kết quả gì" như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch./.


TS. TRẦN THỊ BÌNH

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Cần làm rõ hành vi vụ lợi của ông Nguyễn Thanh Long khi can thiệp, hỗ trợ Việt Á

 Thạc sĩ Hoàng Trọng Giáp (Giám đốc Công ty Luật TNHH Hoàng Sa) trích dẫn

thông tin của bà Nguyễn Thị Thanh, Trưởng ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban

Thường vụ Quốc hội cho biết, theo kết luận của các cơ quan có thẩm quyền, ông

Long đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, thiếu kiểm tra,

giám sát, can thiệp, tác động, hỗ trợ Công ty Việt Á trong quá trình cấp sổ đăng ký

lưu hành tạm thời và chính thức; hiệp thương giá và kiểm tra giá hiệp thương với

bộ kit xét nghiệm để việc ban hành các thông báo giá các sinh phẩm, trang thiết bị

y tế chẩn đoán Covid-19.

Hành vi của ông Long đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát, lãng phí lớn

ngân sách Nhà nước; ảnh hưởng đến công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe cho

nhân dân, gây bức xúc trong xã hội. Do đó, luật sư Giáp có quan điểm cho rằng,

cơ quan điều tra cần làm rõ thêm hành vi vụ lợi với ông Nguyễn Thành Long.

Trường hợp có căn cứ cho thấy bị can đã nhận tiền, tài sản từ Công ty Việt Á, cơ

quan điều tra sẽ làm rõ việc nhận tiền, tài sản này có sự thỏa thuận để thực hiện

công việc theo yêu cầu của người đưa tiền hay không. Nếu nhận tiền để thực hiện

công việc theo yêu cầu của người đưa tiền thì đây là hành vi “nhận hối lộ”, sẽ bị xử

lý hình sự theo Điều 354 Bộ luật Hình sự, số tiền nhận hối lộ từ 1 tỷ đồng trở lên,

hình phạt ở khung cao nhất là phạt tù 20 năm, chung thân hoặc tử hình.

Vẫn theo luật sư, nếu trường hợp ông này nhận tiền, lợi ích vật chất từ phía Công

ty Việt Á nhưng không có thỏa thuận thực hiện công việc theo yêu cầu của người

đưa tiền thì hành vi không cấu thành tội “nhận hối lộ” mà đây là hành vi “lợi dụng

chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Cơ quan tố tụng sẽ làm rõ mức độ

gây thiệt hại tài sản của bị can gây ra cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân để đánh giá

trách nhiệm bồi thường.

“Quá trình điều tra, cơ quan tiến hành tố tụng cần áp dụng mạnh các biện pháp

ngăn chặn để phong tỏa, kê biên tài sản của các bị can để đảm bảo thi hành án về

sau”, luật sư Giáp nêu quan điểm.

Phản bác luận điệu xuyên tạc lịch sử Việt Nam

 Ngày 12/3/2022, tờ báo Odessa Daily của Ukraine đã xuyên tạc, bịa đặt về

cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, thể hiện tư tưởng phát xít

nặng nề, đổi trắng thay đen và thù địch với Việt Nam, cụ thể bài viết có tiêu đề tạm

dịch là “Tiền lệ lịch sử cho sự xâm lược hiện tại của Putin đối với Ukraine”, xin

trích dẫn một số câu, đoạn trong bài viết như sau: “Đối với chiến tranh Việt Nam,

trên thực tế, mọi thứ diễn ra theo chiều ngược lại. Đây thực sự là một cuộc chiến

tranh đế quốc, chỉ có điều, vai trò của bọn đế quốc không phải là Hoa Kỳ, mà là

những người Cộng sản Việt Nam”. “Và sau khi chiếm được Trung Quốc, những

người cộng sản quyết định hướng sự chú ý của họ sang Việt Nam. Trong Thế chiến

thứ 2, các nhóm nhỏ người Việt cực đoan hoạt động giữa những người cộng sản

Trung Quốc. Người Trung Quốc đã trang bị vũ khí và ném chúng để chống lại

người Pháp”. “Sau khi chính phủ Pháp bảo đảm việc rút quân của người Pháp khỏi

miền Bắc Việt Nam, những người cộng sản đã chuyển sự chú ý của họ sang miền

Nam Việt Nam. Và họ bắt đầu một chiến dịch để chiếm lấy vùng đất ấy. Tất nhiên

không phải Mỹ tấn công miền Bắc Việt Nam mà là cộng sản Bắc Việt tấn công

miền Nam Việt Nam. Hàng chục ngàn lính Bắc Việt đã vượt biên giới và tấn công

miền Nam Việt Nam”.

Không chỉ vậy, một số trang mạng xã hội Việt Nam chỉ ra rằng kênh 24 (24

Канал) của Ukraina và báo mạng Pravda Ukraine (Sự thật Ukraine) từng đăng

video và bài viết gây ảnh hưởng đến hình ảnh của lãnh tụ Việt Nam. Ngày

7/11/2017, kênh 24 (24 Канал) của Ukraina đã phát một bộ phim, có tên: "Хо Ши

Мін – "богоподібний старець-диктатор з більшовицьким серцем" (có nghĩa là

"Hồ Chí Minh - ông già độc tài thần thánh với dã tâm bolshevich). Bộ phim xuyên

tạc này nằm trong seri "Các nhà độc tài" do kênh 24 sản xuất năm 2017, trong danh

sách này có Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Tito, Lý Quang Diệu,

Yesser Araphat, Phidel Castro, Margaret Thatcher .... Đoạn đầu của bộ phim, như

chính lời giới thiệu của kênh 24 là tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ nhỏ, sang

Pháp cho đến khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Phần sau, là một sự xuyên tạc về

cuộc đời của Bác, như lời của kênh 24, khi viết Bác trở thành đặc vụ của Moskva

đỏ (Хо Ши Мін спочатку став агентом "червоної" Москви), khi kể về hành

trình cách mạng của Bác. Bộ phim cũng xuyên tạc về đời tư của Bác và số lượng

các nạn nhân của Cải cách ruộng đất v.v.... Những tưởng bộ phim xuyên tạc về

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên truyền hình Ukraina đã đánh lừa được nhiều người

thiếu thông tin. Nhưng không, vẫn có những người Ukraina biết tôn trọng sự thật.


Một số báo chí Ukraina như Zaxid.net, lenta.lviv.ua, beztabu.net, ... ngày

31/3/2018 đưa tin nữ nghị sĩ Oksana Yurinets, người đứng đầu nhóm nghị sĩ về

quan hệ liên nghị viện với Việt Nam đã có công văn gửi tới lãnh đạo kênh 24 nêu

rõ ý kiến về bộ phim xuyên tạc trên. Theo bà Oksana Yurinets, các thông tin của

bộ phim đã "làm giảm uy tín của nhà lãnh đạo Việt Nam" và do đó bà yêu cầu bác

bỏ "các thông tin không chính xác" này. Ngày 7/11/2017, kênh 24 đã upload lên

Youtube bộ phim láo lếu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh và dù nhận được

công văn phản đối của nghị sĩ Oksana. Trong số 149 bình luận dưới bộ phim này,

trong khá nhiều bình luận nhiều chiều, có các bình luận phản đối nội dung của bộ

phim của các người xem. Sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của

nhân dân Việt Nam của kênh 24 Ukraina là một điều không thể chấp nhận được, nó

chỉ đánh lừa được những người thiếu thông tin và sợ sự thật mà thôi.

Trước sự lên án mạnh mẽ của cộng đồng mạng Việt Nam, bà Nataliya

Zhynkina - Đại biện lâm thời Ukraine tại Việt Nam đã lên tiếng “bào chữa” cho

những sai lầm trên bằng những quan điểm thiếu thuyết phục, lấp liếm sai lầm của

giới truyền thông nước này với logic: “Đã có kẻ cố tình chia rẽ quan hệ Việt Nam

– Ukraine thông qua hành vi xới lên video trên”; “Video của Ukraine 24 không

nhận được sự quan tâm của công chúng”…. (cần nhớ rằng trước đó, bà Nataliya

Zhynkina cũng từng gây tranh cãi về việc cho rằng Việt Nam là “nước nhỏ” và áp

đặt Việt Nam phải đứng về phe chống Nga, hành xử để bảo vệ Ukraine; bà cũng đã

bị dư luận lên án khi gặp gỡ các đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam, …).

Những lời bào chữa đó là không đủ, nó không hề thuyết phục và quan trọng nhất là

không có sự chân thành! Là con dân Việt Nam, chúng ta không thể chấp nhận sự

xuyên tạc trắng trợn về cuộc kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh biết bao xương

máu của ông cha ta để giành độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ trước thực dân

Pháp và đế quốc Mỹ. Chúng ta đã đánh tan Mỹ, ngụy và chư hầu để thống nhất đất

nước. Việt Nam là đất nước thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không có cái gọi là “Tổ

quốc miền Nam” hay “Tổ quốc Miền Bắc”. Đó là lịch sử hào hùng của dân tộc

Việt Nam không phải bàn cãi. Chúng ta càng không thể chấp nhận được sự xuyên

tạc, xúc phạm đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và đã là bôi nhọ thì ở thời điểm nào

đi chăng nữa, dù thời lượng có ít hay nhiều thì nó đều không thể tha thứ. Hơn thế

nữa, sự bôi nhọ trên đã xuất hiện được 5 năm, nó chỉ được phát hiện khi cộng đồng

mạng Việt Nam lên tiếng chứ không phải là chính quyền Ukraine phát hiện và xử

lý. Nếu có thiện chí, thì phía Ukraine nên ngừng những chiêu trò chặn người dùng

Việt Nam mà hãy nhận lỗi một cách chân thành./.

Bài hát “Quyền được sống trong hòa bình”

 Thật xúc động khi xem đoạn phim tư liệu quý giá ghi lại hình ảnh nhạc sĩ

người Chile – Victor Jara đang thể hiện bài hát “Quyền được sống trong hòa bình”

do chính ông sáng tác năm 1969. Bài hát ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc

đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam chống quân xâm lược.

“Tôi sẽ hát cho các bạn nghe về 1 người chiến sĩ. Người chiến sĩ ấy đã có

những ngày tháng hoạt động bí mật, rồi đến một ngày dưới ánh mặt trời Phương

đông rực rỡ, người chiến sĩ ấy đã xuất hiện cùng với sự đoàn kết của dân tộc Việt

Nam. Ông đã mang lại tự do cho Tổ quốc mình. Và bài hát này của tôi là dành cho

người chiến sĩ ấy - Hồ Chí Minh và cũng là dành cho cả dân tộc Việt Nam.” – Lời

tự sự của Victor Jara ở phần đầu clip.

“Quyền được sống trong hòa bình

Đó là cuộc đời nhà thơ Hồ Chí Minh

Cuộc ch.iến ở Việt Nam đã chấn động toàn nhân loại

Nhưng không họng súng nào có thể chôn vùi những thân lúa vươn lên

Hồ Chí Minh - Người là bài ca của chúng ta

Là ngọn lửa tình yêu thuần khiết

Là ngôi nhà của bầy chim câu

Là những lùm cây ô-liu đang trĩu quả

Là lời ca vang trên khắp thế gian này

Là điệp khúc ca ngợi - quyền được sống trong hòa bình.

Hồ Chí Minh - hình ảnh Người rực sáng mọi phương trời

Và trái tim tôi ngập tràn lời hát

Với lòng kính trọng thiết tha dành tặng cho Người

Một người Việt Nam tuyệt vời bình dị như bao người khác

Nhưng tình yêu bao la dành cho Tổ quốc

Tỏa sáng như vầng hào quang

Hồ Chí Minh - Người là lòng dũng cảm


Hồ Chí Minh - Người là chiến sĩ đấu tranh

Hồ Chí Minh - Người là nhà thơ hòa bình

Hồ Chí Minh - con người vĩ đại

Vinh quang Hồ Chí Minh!

Tên Người bất t.ử trên khắp hành tinh

Người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam.”

Ca khúc “El Derecho de Vivir en Paz (Quyền được sống trong hòa bình)” do

Victor Lidio Jara Martinez (hay còn gọi là Victor Jara) sáng tác năm 1969. Victor

Jara sinh ngày 28/9/1932. Ông là một trong những nhạc sỹ, ca sỹ, nhà giáo, đạo

diễn sân khấu và nhà thơ nổi tiếng của Chile. Ông còn được biết tới như là một nhà

hoạt động chính trị không mệt mỏi, dùng lời ca, tiếng hát của mình để chống lại sự

bất công của chế độ tư bản và cuộc sống bị đầy đọa của những người lao động.

Không chỉ dừng lại trong việc tham gia các tổ chức tiến bộ của giới tri thức, ông đã

trở thành đảng viên Đảng cộng sản Chile, một trong những chính đảng cánh tả

được tập hợp trong liên minh Đoàn kết nhân dân đã đưa Tổng thống Salvador

Allende lên cầm quyền năm 1970. Sau cuộc đảo chính do tướng Augusto Pinochet

cầm đầu ngày 11/9/1973, do hoạt động tích cực trong phong trào cánh tả, Victor

Jara đã bị bắt, bị tra tấn và đã bị hành quyết dã man bởi 44 phát đạn ngày

16/9/1973.

Người thanh niên Chilê ưu tú anh dũng ấy chưa bao giờ được tiếp kiến Chủ

tịch Hồ Chí Minh. Anh chỉ biết về Người qua sách báo hay qua câu chuyện kể của

Tổng thống Salvador Allende song đã bày tỏ lòng ngưỡng mộ, sự tôn kính Người

bằng khúc ca giàu cảm xúc và khi bị sát hại, anh đặt hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí

Minh vào tim mình hô vang ‘‘Viva Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh muôn năm)!” cho

đến khi trút hơi thở cuối cùng dưới bàn tay đẫm máu của chế độ độc tài Pinochet.

Gần 5 thập kỷ sau khi bị sát hại, Victor Jara vẫn luôn là biểu tượng của cuộc đấu

tranh vì sự công bằng xã hội tại Chile.

“Quyền sống trong hòa bình” được sáng tác vào thời điểm ấy, cuộc kháng

chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đang diễn ra cam go, ác liệt.

Nhằm phản đối chiến tranh, ủng hộ cuộc kháng chiến Việt Nam, Đại hội thanh

niên thế giới tổ chức tại Helsinki (Phần Lan) và Victor Jara được giao nhiệm vụ

sáng tác ca khúc cho Đại hội. Đang giữa lúc tìm cảm hứng sáng tác thông qua

những bức ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam trao

cho Victor Jara bức thư (viết bằng tiếng Pháp) của Người gửi các đại biểu thanh

niên quốc tế tham dự “Cuộc gặp gỡ thế giới của thanh niên và sinh viên vì thắng

lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam” ngày 22/8/1969. Trong thư có đoạn: “Cuộc

gặp mặt của các bạn là một biểu hiện rực rỡ của nhiệt tình và quyết tâm của thế hệ


trẻ muốn thực hiện những lý tưởng cao đẹp là tự do, độc lập và hòa bình. Giữa lúc

chính quyền Nich-xon đang ngoan cố tăng cường chiến tranh xâm lược, cuộc họp

mặt đó càng cổ vũ mạnh mẽ nhân dân chúng tôi ra sức đấu tranh bảo vệ Tổ quốc,

tiến lên giành thắng lợi cuối cùng”. Đọc bức thư trong lòng trào dâng niềm cảm

xúc và bài hát đã được Victor Jara viết trong niềm xúc cảm ấy.

Hơn 5 nghìn đại biểu thanh niên, sinh viên trên khắp thế giới và hàng vạn

bạn trẻ Helsinki đã nồng nhiệt đón nhận bài hát. Ngay trong lễ khai mạc cuộc gặp

gỡ vào 9 giờ sáng ngày 23/8/1969, cả quảng trường Hakaniemi rộng lớn giữa thủ

đô Helsinki vang lên lời bài hát mà người lĩnh xướng trên đài cao chính giữa quảng

trường là Victor Jara cùng nhóm bạn của mình. Quốc kỳ Việt Nam cùng hàng trăm

khẩu hiệu về Việt Nam, về Hồ Chí Minh tung bay hòa nhịp cùng lời bài hát.

Với ca từ đậm chất thơ và giàu hình ảnh cùng giai điệu mang âm hưởng La

tinh, bài hát đã khích lệ thanh niên thế giới ủng hộ nhiệt liệt cách mạng Việt Nam

cuối thập kỷ 60. Ngày nay, sau gần nửa thế kỷ, bài hát ấy vẫn được lưu truyền và

vang lên trong các sinh hoạt chính trị của người dân Chile./.

Công - tội của Nguyễn Ánh

 Vừa qua báo chí có đưa tin về buổi Toạ đàm của dòng họ Nguyễn Phúc - ở

Thừa Thiên - Huế, thực ra nếu đây là việc riêng của dòng họ Nguyễn Phúc thì có lẽ

chẳng có gì đáng nói song báo chí nhiều tờ đã đăng với những nội dung trái ngược

với sự thật lịch sử, lại còn đề nghị Nhà nước đặt tên đường cho một con người mà

lịch sử đã gọi là kẻ “cõng rắn cắn gà nhà, rước voi dày mã tổ" Nguyễn Ánh - Gia

Long.

Thiết nghĩ đã đến lúc Trung ương cần có chỉ đạo thống nhất công tác tuyên

truyền về lịch sử, đừng để hiện tượng đảo ngược sự thật lại cứ xảy ra mà không

chấn chỉnh, không có kết luận rõ ràng thì rồi vài chục năm sau cái sai sẽ biến thành

cái “đúng”, cái giả biến thành cái “thật" và hậu quả thật khôn lường.

Về việc này, hãy nghe những câu nói đanh thép của Nữ tướng Bùi Thị Xuân

trả lời Nguyễn Ánh trước lúc bị hành hình:

Nguyễn Ánh hỏi: “Ta và Nguyễn Huệ ai hơn?”

Nữ tướng Bùi Thị Xuân trả lời: “Chúa công ta (Nguyễn Huệ) tay kiếm tay

cờ mà làm nên sự nghiệp. Trong khi nhà ngươi thì đi cầu viện ngoại bang, hết quân

Xiêm đến quân Tàu làm tan nát cả Sơn hà, cũng đều bị Chúa công ta đánh cho

không còn manh giáp. Đem so với Chúa công ta nhà ngươi chỉ là nước vũng so với

ao trời. Còn nói về đức độ, thì Tiên đế ta lấy nhân nghĩa mà đối đãi với kẻ trung

thần thất thế, như đã đối với Nguyễn Huỳnh Đức bề tôi của nhà ngươi. Còn ngươi

lại dùng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với bậc nghĩa liệt, đã hết lòng vì Chúa, chẳng

nghĩ rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người cũng là khuyến khích tôi

trung của mình. Chỗ hơn kém rõ như ban ngày và đêm tối ...”

Còn so sánh giữa Nguyễn Huệ với Nguyễn Ánh nhiều người đã vạch rõ:

Nguyễn Huệ đại diện cho giai cấp cần lao, còn Nguyễn Ánh đại diện cho dòng dõi

quý tộc. Nguyễn Huệ dấy binh khởi nghĩa vì quyền lợi của Lê dân rên xiết dưới

ách thống trị của chế độ phong kiến Đàng Trong mà Nguyễn Ánh là một trong

những kẻ đại diện, còn Nguyễn Ánh lại đấu tranh vì quyền lợi của dòng tộc và cá

nhân mình. Nguyễn Huệ muốn đập tan cát cứ đưa giang sơn về một mối, còn

Nguyễn Ánh chỉ lo bảo vệ Chúa Nguyễn Đàng Trong của mình. Nguyễn Huệ lo

đánh tan các thế lực ngoại bang để bảo vệ bờ cõi, giữ nền độc lập, đem lại niềm tự

hào cho dân tộc, còn Nguyễn Ánh lại cúi đầu quỳ gối cầu xin ngoại bang sang xâm


lược nước mình. Nguyễn Huệ đặt độc lập dân tộc lên trên tất cả, còn Nguyễn Ánh

đặt lợi ích dòng tộc lên hàng đầu.

So sánh như vậy ai hơn ai đã rõ, vậy mà tại buổi Toạ đàm nêu trên có người

mang danh sử học lấy công Nguyễn Huệ mà ghép vào Nguyễn Ánh. Họ có xứng là

nhà sử học hay không?

Cần quy định môn lịch sử là môn học bắt buộc ở cấp trung học phổ thông

 Sáng 22/5/2022, Ủy ban Văn hóa, giáo dục của Quốc hội đã tổ chức phiên

họp toàn thể lần thứ 3. Tại phiên họp, phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục

Nguyễn Thị Mai Hoa đã báo cáo về việc triển khai chương trình giáo dục phổ

thông đối với môn lịch sử cấp trung học phổ thông. Theo báo cáo, đa số các ý kiến

không đồng tình đối với việc đưa môn lịch sử cấp trung học phổ thông thành môn

lựa chọn với một số lý do. Trong đó, lịch sử là môn học đặc biệt quan trọng, giữ

vai trò chủ đạo trong việc giáo dục chính trị, tư tưởng đối với thế hệ trẻ; giáo dục

lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, truyền thống văn hóa, lịch sử; bồi dưỡng

năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội; từ đó

hình thành những phẩm chất của công dân .... Bên cạnh đó, xét về tâm sinh lý lứa

tuổi, học sinh trung học phổ thông (15-17 tuổi) có sự trưởng thành về nhận thức,

khả năng tiếp nhận tốt hơn về lịch sử đất nước và lịch sử cách mạng Việt Nam.

Đây cũng là lứa tuổi quyết định sự hình thành thế giới quan, hệ thống quan điểm

về tự nhiên, về xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, định hướng giá trị của

con người. Xét về khoa học giáo dục, việc bồi dưỡng kiến thức lịch sử cho học

sinh trung học phổ thông là cần thiết nhằm phát triển con người toàn diện, khơi dậy

truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất

nước phồn vinh, hạnh phúc của con người Việt Nam. Tuy nhiên, nếu học sinh

không lựa chọn môn lịch sử ở cấp trung học phổ thông (số lượng có thể lên tới

50% học sinh), các em sẽ không được tiếp cận với những kiến thức rất quan trọng,

có ý nghĩa giáo dục đối với lứa tuổi này. Cùng với đó, ở nhiều nước trên thế giới,

môn lịch sử trong chương trình trung học phổ thông luôn là môn học bắt buộc. Từ

đó Ủy ban Văn hoá, giáo dục cho rằng môn lịch sử có vị trí đặc biệt, có ý nghĩa rất

quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, học sinh cần được trang bị khối

lượng kiến thức này, vì vậy cần tiếp thu ý kiến đông đảo của cử tri, nhân dân theo

hướng quy định môn lịch sử là môn học bắt buộc đối với cấp trung học phổ thông

trong chương trình giáo dục phổ thông 2018 với khối lượng kiến thức phù hợp.

Đồng thời thiết kế bao gồm khối lượng kiến thức lịch sử (phần bắt buộc) và khối

lượng kiến thức định hướng nghề nghiệp (phần lựa chọn).

Ủy ban Văn hóa, giáo dục đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp thu và quy

định môn học lịch sử cấp trung học phổ thông trong Chương trình giáo dục phổ

thông 2018 là môn học bắt buộc. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tăng cường công

tác tuyên truyền về chương trình giáo dục phổ thông 2018 nói chung, chương trình

môn lịch sử nói riêng; để tăng thêm sự đồng thuận, ủng hộ của xã hội trong việc


triển khai thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018; đồng thời truyền cảm

hứng cho học sinh yêu thích môn lịch sử.

Nêu ý kiến thảo luận, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Dương) bày tỏ

nhất trí kiến nghị trong báo cáo về việc quy định môn học lịch sử là môn học bắt

buộc trong chương trình trung học phổ thông. Theo bà Nga, qua tiếp xúc cử tri, lấy

ý kiến của giáo viên đều đồng tình nên để môn lịch sử là bắt buộc trong chương

trình trung học phổ thông. Bà Nga cũng nêu một kiến nghị về việc qua nghiên cứu

thấy hiện nay học sinh phổ thông không mặn mà với môn lịch sử, qua nhiều kỳ thi

điểm rất kém và phỏng vấn một số em nói không thích môn lịch sử. Bà Nga cho

hay nguyên nhân của việc này không hẳn do bộ môn này không hấp dẫn mà do

chương trình nặng về kiến thức hàn lâm, ôm đồm và cách trình bày khá tẻ nhạt.

Bên cạnh đó hiện nay dạy học và thi môn lịch sử vẫn theo phương pháp cũ là cứ

ghi nhớ sự kiện, con số khiến học sinh không hứng thú. Do đó bà Nga đề nghị cần

thay đổi cách đánh giá và cần có tư duy tiếp cận mới mẻ, khuyến khích các em có

sự nhìn nhận, đánh giá chứ không phải chỉ thụ động tiếp thu, nhồi sọ ….

Trong khi dư luận xã hội ở nước ta đang nổi lên vấn đề tranh luận “Môn lịch

sử nên tự chọn hay bắt buộc ở cấp trung học phổ thông” thì ở một số nước như

Hàn Quốc, Nhật Bản, …, môn lịch sử đã chuyển từ tự chọn sang bắt buộc ở cấp

trung học phổ thong. Trong đó, đáng chú ý là từ tháng 01/4/2022, Nhật Bản chính

thức đưa vào giảng dạy bắt buộc môn lịch sử hiện đại và đương đại ở cấp trung học

phổ thông và cho thấy sự chuyển đổi đáng kể từ phương pháp giáo dục dựa trên

nội dung vốn còn nặng nề tính "học vẹt" sang phương pháp giáo dục dựa trên năng

lực, tập trung đào luyện các kỹ năng và năng lực riêng của mỗi học trò. Cách dạy

lịch sử theo phương pháp cũ của Nhật Bản (giống như nhiều nước đã và đang áp

dụng), tức là thiên về liệt kê sự kiện theo biên niên, có những điểm tích cực và tiêu

cực. Ở mặt tích cực, nó cung cấp một góc nhìn chi tiết và có hệ thống về các sự

kiện trong quá khứ. Nhưng ở mặt tiêu cực, các cuốn sách giáo khoa lịch sử bậc

trung học phổ thông tràn ngập các tên tuổi, ngày tháng, các thuật ngữ... và bất cứ

thông tin nào trong đó đều có thể xuất hiện trong các kỳ thi tuyển sinh đại học có

môn lịch sử. Với môn lịch sử hiện đại và đương đại mới, các trường sẽ dạy mỗi

tuần hai buổi, mỗi buổi 50 phút, thời lượng dạy không nhiều nhưng kỳ vọng đặt ra

thì khá lớn. Những người cải cách chương trình kỳ vọng đề xuất một giải pháp

"thoát ly" cách dạy lịch sử đã định hình lâu nay, khi giáo viên chỉ phát các tài liệu

photo của môn học và giảng giải, còn học sinh sẽ cố gắng chép lại những thuật ngữ

sẽ phải nằm lòng cho tới kỳ thi tiếp theo và sau đó "chữ thầy giả thầy" rất nhanh.

Với chương trình mới, mục tiêu đặt ra là để học sinh đọc các nội dung kiến thức về


lịch sử, đặt ra những câu hỏi về các thay đổi đã diễn ra trong giai đoạn lịch sử đang

học, và tìm câu trả lời cho những vấn đề đó. Các cuốn sách giáo khoa được soạn

cho chương trình học mới này cũng đề xuất những câu hỏi mẫu và các vấn đề cần

tiếp tục tìm hiểu thêm. Bên cạnh việc giúp học sinh suy nghĩ sâu hơn về các xu thế

lớn trong lịch sử, các câu hỏi như vậy cũng sẽ tạo tư duy kết nối, liên hệ giữa Nhật

Bản với phần còn lại của thế giới. Sách giáo khoa cũng khuyến khích học sinh đọc

và hiểu các tài liệu nguồn, mài giũa kỹ năng tư duy, diễn đạt khi xem xét các vấn

đề đương đại từ nhiều góc nhìn khác nhau. Với tất cả những thay đổi đó, nhiều nhà

giáo dục ở Nhật Bản kỳ vọng môn lịch sử hiện đại và đương đại mới sẽ mang lại

sự thay đổi "lịch sử" trong cách học và dạy môn này, chuyển đổi hoàn toàn từ học

vẹt sang học để có kiến thức làm nền tảng cho tư duy phân tích và bày tỏ quan

điểm.

Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nỗ lực phấn đấu trong

việc cải cách giáo dục, song bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, vẫn còn

nhiều tồn tại, hạn chế, hiệu quả chưa tương xứng với kỳ vọng, chương trình cải

cách giáo dục còn những bất cập, sạn rất nhiều trong sách giáo khoa mới …. Điều

lạ lùng khiến người dân lo lắng là tại sao không lựa chọn những chuyên gia, nhà

giáo có uy tín, những người có chuyên môn hàng đầu về giáo dục, những người có

tư tưởng chính trị vững vàng mà lại trọng dụng những Nguyễn Minh Thuyết, Trần

Đình Sử, Đỗ Ngọc Thống, ... những kẻ lệch lạc về tư tưởng, nhận thức chính trị,

công khai phỉ báng chế độ trên mạng xã hội. Thậm chí Nguyễn Minh Thuyết còn là

một thành viên “Nhóm 72” đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt

Nam, ... những người như thế mà giao cho họ trọng trách cải cách giáo dục thì

đúng là đại hoạ đối với dân tộc này. Chắc chắn họ sẽ gửi gắm tư duy trở cờ, hại

dân, phản Đảng trong chương trình cải cách giáo dục, sách giáo khoa mới và nhân

dân có quyền nghi ngờ về động cơ biến môn lịch sử thành môn học tự chọn ở

chương trình trung học phổ thông mới khi mà Tổng Chủ biên là Nguyễn Minh

Thuyết. Việt Nam không thiếu những người đủ đức, đủ tài để phục vụ cho công

cuộc cải cách giáo dục - "quốc sách hàng đầu", Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

cần trả lời cho nhân dân được rõ về vấn đề này.

Trong báo cáo của Chính phủ tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội

khóa XV, Phó Thủ tướng Lê Văn Thành cho biết, Chính phủ sẽ nghiên cứu tiếp thu

ý kiến của nhân dân, đại biểu Quốc hội về việc quy định Lịch sử là môn bắt buộc

trong chương trình giáo dục ở cấp trung học phổ thông./.

LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN QUY ĐỊNH MỚI VỀ NHỮNG ĐIỀU ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC LÀM Lợi dụng vấn đề ngày 25/10/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW trước đây, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động suy diễn, xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37. Từ đó, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vai trò của Đảng. Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”. Trên đài RFA, VOA, BBC… đăng tải nhiều bài xuyên tạc Quy định 37. Họ tự cho mình vai trò “phán xét”, viện dẫn ý kiến của đối tượng vốn có tư tưởng chống đối Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn. Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình. Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
Đấu tranh, ngăn chặn thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ mang tính đột phá, như: trí tuệ nhân tạo, internet của vạn vật, máy tính lượng tử, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu cực lớn và nhanh,... đã làm không gian mạng thay đổi sâu sắc cả về chất và lượng. Dựa trên thế mạnh của không gian mạng, hoạt động truyền thông được các thế lực thù địch tận dụng triệt để, tạo nên sự hỗn loạn, nhiễu loạn thông tin trong xã hội với mưu toan làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân ta dao động về tư tưởng, mất phương hướng về chính trị để “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện thông tin đại chúng, công nghệ kỹ thuật số, các phương tiện trực tuyến, các diễn đàn, hội nghị quốc tế, các sự kiện chính trị, xã hội trong nước,... để xuyên tạc và tuyên truyền các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Các thế lực thù địch lợi dụng hệ thống thông tin mạng toàn cầu với lượng thông tin lớn, có thể tán phát cả trong và ngoài nước, tốc độ truyền tin nhanh, truy cập dễ dàng, thỏa mãn nhu cầu nghe - nhìn,… để xây dựng hàng loạt các trang thông tin, blog có nội dung lôi kéo, kích động, chống phá, phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm và vai trò lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta. Các trang tin này được thiết kế sử dụng tiếng Việt với nhiều hình thức thông tin hấp dẫn, nhằm thu hút, lôi kéo người truy cập, lợi dụng vào đó để cài các thông tin có tính chất phản động, chống đối để gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước các vấn đề có tính nhạy cảm, làm cho mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ dễ có cái nhìn lệch lạc về lịch sử, xã hội và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó, bị lung lạc niềm tin và có những hành động đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Một trong những thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang “ưa chuộng” là làm giả các website, blog mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lão thành cách mạng, v.v. Đáng chú ý là, để tạo lòng tin cho người đọc và thu hút nhiều người truy cập, quản trị các website này đã cung cấp nhanh và đúng những thông tin mà báo chí chính thống tại Việt Nam đã đăng, sau khi thu hút được số lượng lớn người truy cập, chúng cài dần các thông tin xấu độc, theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Từ các trang mạng này, nhiều người truy cập sẽ mắc mưu và bị động, lúng túng khi tiếp nhận thông tin, dẫn đến những suy nghĩ lệch lạc và hành vi sai trái. Chúng thường triệt để sử dụng mạng xã hội, như: Facebook, Twitter, Yahoo,... để nhanh chóng kết nối các thành viên, truyền bá tư tưởng phản động, tung tin bịa đặt, gây tâm lý hoang mang, dao động trong xã hội. Trong lĩnh vực quân sự, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các loại vũ khí thế hệ mới được tạo ra, như: vũ khí năng lượng, gen sinh học, rô bốt tác chiến,... với những tính năng vượt trội, có sự nhảy vọt về chất sẽ làm cho các hình thái, tính chất, quy mô, phương thức và thủ đoạn tác chiến của các cuộc chiến tranh trong tương lai trở nên tinh vi, nguy hiểm, mức độ sát thương lớn gấp nhiều lần so với các cuộc chiến tranh trước đây. Thực tế này, làm cho người dân, cũng như mỗi quân nhân có trạng thái tâm lý căng thẳng, bất an, lo lắng. Và nó trở thành một trong những “cái cớ” mà các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền cho quan điểm “vũ khí luận”, nhằm tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí hiện đại, khuếch trương sức mạnh khoa học và quân sự của chủ nghĩa tư bản, xuyên tạc bản chất mối quan hệ giữa con người và vũ khí, v.v. Thực trạng trên, đặt ra nhiều vấn đề phức tạp và những khó khăn trong đấu tranh với thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Để kịp thời phát hiện ngăn chặn, làm thất bại mọi ý đồ của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên, quân nhân cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: Một là, tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của mọi tổ chức, lực lượng nhằm tạo ra được nhận thức đầy đủ, đúng đắn và thống nhất trong mỗi tổ chức, cá nhân về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng nước ta; tuyệt đối không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị (khóa XII) về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, xác định: tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không chủ quan, nóng vội, duy ý chí. Vì vậy, cần khắc phục triệt để các biểu hiện giản đơn khi cho rằng, Cách mạng công nghiệp 4.0 chỉ thuần túy là vấn đề khoa học và công nghệ hiện đại, không liên quan đến vấn đề chính trị nên không tác động, ảnh hưởng đến công tác đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng cuộc Cách mạng này để chống phá cách mạng Việt Nam. Chỉ có nhận thức đúng mới có thái độ và trách nhiệm cao trong tham gia cuộc đấu tranh với những thủ đoạn lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta hiện nay. Từ đó, mới bảo đảm cho nhiệm vụ này được tiến hành một cách chủ động, tích cực, có hiệu quả và khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn. Hai là, tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho lực lượng chuyên trách đấu tranh chống địch lợi dụng Cách mạng công nghiệp 4.0 để chống phá cách mạng nước ta. Tham gia cuộc đấu tranh này là trách nhiệm chính trị của các cấp, các ngành, không phải là công việc, nhiệm vụ của riêng ai. Trong khi đó, điều kiện, khả năng thu thập, xử lý thông tin và kỹ năng sử dụng, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta còn hạn chế. Vì vậy, để giữ thế chủ động, đấu tranh kịp thời, có chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi phải xây dựng được lực lượng chuyên trách, có năng lực chuyên môn, trình độ về mọi mặt để giữ vai trò nòng cốt, xung kích trong cuộc đấu tranh này. Thực tiễn đã chứng minh, lực lượng chuyên trách cũng như bất kỳ cá nhân, tổ chức, lực lượng nào cũng đều không thể đấu tranh có hiệu quả với những quan điểm, tư tưởng, lý luận sai trái với một bản lĩnh chính trị hèn yếu, một nền tảng lý luận nghèo nàn, một hệ thống tri thức không đầy đủ, trình độ ngoại ngữ và công nghệ thông tin yếu kém, ít am hiểu những vấn đề thực tiễn xã hội đang diễn ra, v.v. Vì vậy, vấn đề vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản lâu dài là cần phải bồi dưỡng lực lượng chuyên trách trong đấu tranh tư tưởng, lý luận một cách toàn diện để họ trở thành những người có bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, trình độ, tư duy, lý luận cao, có phương pháp luận nhạy bén, sắc sảo, am hiểu thời cuộc; mục tiêu xa hơn là trở thành những “chuyên gia” giỏi về lý luận, những cây “bút chiến” sắc bén. Trong đó, chú trọng bồi dưỡng chuyên biệt cho lực lượng này, bảo đảm cho họ thành thạo về công nghệ thông tin, làm chủ các phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng tốt ngoại ngữ để thu thập, tiếp nhận và xử lý nhanh chóng các thông tin, các tình huống đặt ra. Ba là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện các chính sách và khung pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tích cực tham gia đấu tranh, cần quan tâm chính sách đãi ngộ thỏa đáng, tạo điều kiện về mọi mặt, cả về bảo vệ chính trị, bảo vệ “sinh mệnh chính trị” của những người tham gia; chú trọng cung cấp thông tin đầy đủ, nhiều chiều và có định hướng đúng để phản bác quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước, trách nhiệm của các tổ chức và từng cá nhân trong sử dụng mạng xã hội; thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, triệt để Luật An ninh mạng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Chủ động sử dụng các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để nhận diện, ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản động do các thế lực thù địch tuyên truyền, tán phát trên không gian mạng. Cơ quan chức năng các cấp cần quản lý chặt chẽ, đúng quy định việc truy cập, khai thác thông tin trên mạng xã hội, internet và phòng, chống việc lộ lọt thông tin bí mật nhà nước, bí mật quân sự mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước./.

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2022

THỦ TƯỚNG CAMPUCHIA HUN SEN: “Bữa cơm hôm đó bằng cả trăm, cả ngàn tấn gạo của hôm nay”

 

Đó là chia sẻ chân tình của Thủ tướng Campuchia Hun Sen trong ngày Ông trở lại khu vực thuộc ấp Hoa Lư, xã Lộc Tấn, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước (nay là ấp Thạnh Tây, xã Lộc Tấn) nhân Lễ Kỷ niệm “45 năm con đường tiến tới đánh đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Campuchia Hun Sen (20/6/1977 - 20/6/2022) được tổ chức sáng nay 20-6, tại cụm công trình X16 thuộc huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
“Bước chân sang Lộc Ninh, Bình Phước, bữa cơm đầu tiên tôi được ăn sau hàng năm trời đói khổ có ý nghĩa hơn hàng vạn tấn gạo lúc bình thường; tính mạng của tôi được bảo toàn.
Nếu không có sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam thì có thể không có một Hun Sen cũng như Campuchia như hiện nay”, Thủ tướng Hun Sen khẳng định.
(Nguồn internet - Nguyệt Hàn St)

BÁO CHÍ VỚI SỨ MỆNH KHƠI DẬY, ĐỊNH HƯỚNG DÒNG CHẢY VĂN HOÁ TÍCH CỰC TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

 

Nhân dịp kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925-21/6/2022), đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, có bài viết đề cập những vấn đề quan trọng của công tác báo chí. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Cùng với những giá trị đạo đức, nhà báo cách mạng, phải có “bút sắc”, không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, cơ sở quan trọng để tạo nên những tác phẩm mang tính chiến đấu, tính hấp dẫn, tính thuyết phục. Mỗi tác phẩm báo chí đòi hỏi phải hội tụ đủ yếu tố nhân văn và hiện đại. Để đạt được mục tiêu đó, mỗi nhà báo phải chịu khó rèn giũa kỹ năng, “mài sắc ngọn bút” với sự đam mê nghề nghiệp, nêu cao tinh thần sáng tạo, cầu thị, học hỏi, nhất là thường xuyên nghiên cứu học tập phong cách viết báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Người làm báo phải bám sát thực tiễn cuộc sống, “phải đi tận nơi, xem tận chỗ”, thấu cảm tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân, “phải học cách nói của quần chúng”, “Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết, phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ước ao của quần chúng”; viết cho dân phải giản dị, cụ thể, biến lý luận thành những điều dễ nhớ, dễ thuộc, “Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được. Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình. Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?”. Và “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”.
(Báo Nhân dân)

NỪ TÙ NHÂN NHỎ TUỔI NHẤT CHUỒNG CỌP

 

Thiều Thị Tân sinh ra trong một gia đình khá giả ở quận 5, Sài Gòn. Say mê võ thuật từ nhỏ, năm 11 tuổi bà bắt đầu tập Judo và ngồi thiền mỗi ngày với Thượng tọa Thích Tâm Giác. Rồi một lần đến võ đường Vovinam (Việt võ đạo) tại quận 10, chứng kiến những đòn thế đẹp mắt, lại đọc được 10 điều tâm niệm của môn võ này, bà lập tức xin học ngay. Bà được các võ sư CM Lê Sáng, Trần Huy Phong trực tiếp truyền dạy. Năm 13 tuổi, Thiều Thị Tân giác ngộ cách mạng. Sau đó bà làm việc tại Ban Binh vận Trung Ương Cục miền nam. Năm 1968 bà là đội phó Đội Võ trang tuyên truyền F105, nhận nhiệm vụ vận chuyển chất nổ, kíp nổ từ Trảng Bàng (Tây Ninh) để chuẩn bị tấn công các vị trí trọng điểm của địch mà tổ chức đã vạch ra. Do bị đồng đội phản bội, Tân ra tòa và bị xử 1 năm án treo. Lẽ ra Tân đã về để tiếp tục theo học nhưng vào đêm 22/6/1968, một cuộc đấu tranh dữ dội do cô và các nữ tù tổ chức trong nhà giam đã dẫn tới một cái án khác: Tù nhân nguy hiểm. Năm 1969 cô bị đày ra Côn Đảo cùng người chị của mình lúc mới tròn 16 tuổi, nữ tù trẻ nhất lúc bấy giờ.

Những ngày bị thẩm vấn cũng là ngày đầu tiên dấu hiệu dậy thì đến với cô nhỏ. Tân thấy điều gì thật khác lạ đang xảy ra với mình, xin vào nhà vệ sinh kiểm tra và chết đứng hồi lâu trong đó không dám ra vì… sợ! Ở trường tuy có dạy về sự thay đổi dậy thì nhưng khi điều đó xảy ra, bất kỳ cô gái nào cũng không khỏi chấn động. Viên cảnh sát già gõ cửa phòng vệ sinh, hối thúc: “Làm gì lâu vậy? Có cần tôi giúp gì không?”. Tân ngần ngừ mở cửa, nhờ kéo giúp… dây rút quần. Vốn chỉ quen mặc đầm, áo dài, vào đây phải mặc những bộ đồ dải rút khiến cô nữ sinh tiểu thư đâm ra lúng túng. Càng lúng túng hơn vì cô vừa phải lót một xấp giấy vệ sinh bùng nhùng để thấm máu đang chảy ra. Viên cảnh sát nhận ra “vấn đề” nhạy cảm mà “đối phương nhí” của mình đang phải trải qua, cười thân thiện, ánh mắt lộ vẻ cảm thông. Giúp cô bé kéo dây quần, ông thở dài: “Đang tuổi ăn tuổi lớn không lo học hành, theo đám Việt Cộng chi cho ra nông nỗi này hả cô bé. Đến cái dây quần còn không biết cột sao cho chặt…”. Về sau, viên cảnh sát ấy càng khiến chị em Tân cảm động khi trộm hai bức hình trong hồ sơ Tổng nha ra đưa cho má Chín Bình, mẹ của 2 chị em.

Không lâu sau đó, cũng như những tù nhân bị liệt vào hàng nguy hiểm, cứng đầu khác, hai chị em bị đày ra Côn Đảo, trở thành những tù nhân trẻ tuổi nhất bước vào chuồng cọp - khu vực giam tù nổi tiếng về sự tàn bạo và trải qua nhiều gian khổ. Cơ hội bất ngờ xuất hiện. Một nhóm tù nhân là sinh viên khi được trả tự do đã vẽ lại sơ đồ chuồng cọp, khu vực được xem là bí mật đối với các đoàn kiểm tra quốc tế khi đến Côn Đảo. Một ngày, các tù nhân đang mơ màng trong ánh sáng nhập nhoạng, thì nghe tiếng xì xào… Tiếng người. Nhưng là tiếng nước ngoài chứ không phải tiếng Việt. Tù nhân chộn rộn hẳn lên như đang có những tia sáng quét vào. “Who are you? Where are you from?” - Tạo cố sức hỏi lớn như sợ sau bao trận đòn, giọng nói yếu ớt của cô không còn đủ để phái đoàn có thể nghe. Đoàn người giật mình dùng lại. Họ bất ngờ vì ở nơi như thế này lại có người sống. Họ càng ngạc nhiên hơn khi đó lại là một cô gái trẻ, nhưng giọng đầy tự tin khi nói chuyện bằng tiếng Anh với họ. Từ Tạo và Tân, phái đoàn hiểu rõ hơn về chốn địa ngục trần gian, nơi mà những người đang ở thế giới văn minh như họ không hề nghĩ là có thật. Thông tin về chuồng cọp Côn Đảo lan nhanh khắp thế giới. Làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam càng lan rộng hơn. Chế độ hà khắc nơi chuồng cọp được nới lỏng. Các tù nhân lớn tuổi nhìn hai cô bé bằng ánh mắt tin yêu xen lẫn nể phục: “Bé hạt tiêu mà gan lớn, giỏi giang”.

MỘT VIÊN GẠCH HỒNG, BÁC CHỐNG LẠI CẢ MÙA BĂNG GIÁ

 

“Viên gạch hồng” trong câu chuyện về Bác có tên gọi là: Chauffeuse. Đó là một loại gạch sưởi ấm thông dụng cho tầng lớp nghèo ở châu Âu những thế kỷ trước. Thậm chí có tài liệu còn cho biết cho tới những năm 60 của thế kỷ XX, gạch sưởi ấm vẫn còn được sử dụng ở những gia đình nghèo tại Pháp. Một bình luận trên facebook đã viết: “Hiện bên Pháp vẫn còn bán và hoàn toàn có thể đặt mua qua eBay”. Trước đó, trong nhiều thế kỷ, gạch sưởi ấm Chauffeuse được giới lao động nghèo ở châu Âu dùng phổ biến. Việc sử dụng lò sưởi lúc bấy giờ là xa xỉ và chỉ có giới quý tộc, sang giàu mới có lò sưởi để giữ ấm. Theo đó, gạch Chauffeuse không phải dạng gạch dùng để xây dựng bình thường, đây là loại gạch có khả năng chịu nhiệt rất cao để giữ nhiệt các lò sưởi, lúc bấy giờ được xây bằng gạch Chauffeuse. Tại các khu nhà trọ dành cho người lao động, mỗi sáng khi đi làm, người thuê nhà sẽ đưa chủ nhà trọ viên gạch sưởi, khi đốt lò sưởi, chủ nhà sẽ đặt viên gạch vào lò để nung. Khi trở về nhà, người thuê nhà sẽ bọc gói kỹ lưỡng, viên gạch sẽ giữ nhiệt được khoảng 5-7 giờ, đủ cho một đêm. Là một người cần lao, không có gì khó hiểu khi Bác Hồ sử dụng cách thức sưởi ấm bình dân này trong thời kỳ sinh sống ở châu Âu. Ngày nay, một viên gạch sưởi như vậy đang được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội như dấu ấn về một giai đoạn hoạt động cách mạng của Bác Hồ.