Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022
Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022
Về hội nhập quốc tế và tham gia tiến trình toàn cầu hóa của Việt Nam
Từ quá trình nhận thức về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế”…
Trước Đại hội IX năm 2001, văn kiện của Đảng chỉ nói đến “quốc tế hóa”, chưa đề cập tới “toàn cầu hóa”. Từ Đại hội IX của Đảng, Việt Nam đề cập đến “toàn cầu hóa kinh tế”. Khi đó, Báo cáo chính trị Đại hội IX nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”(1). Qua hai nhiệm kỳ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh tới “toàn cầu hóa kinh tế”. Đến Đại hội XI của Đảng (năm 2011), Việt Nam chuyển từ nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” sang nhận thức về “toàn cầu hóa”. Báo cáo chính trị Đại hội XI nhận định: “Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức”(2). Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục khẳng định: “Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh”(3). Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh: “Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc...”(4).
Cùng với nhận thức về toàn cầu hóa, Việt Nam từng bước tiến hành hội nhập quốc tế. Đại hội IX của Đảng đã đề ra chủ trương: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(5). Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiến thêm một bước trong nhận thức và hành động hội nhập quốc tế; đề ra chủ trương: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”(6). Đến Đại hội XI của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh đến hội nhập quốc tế: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”(7).
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định 8 phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó phương hướng thứ năm là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(8). Cương lĩnh đặt ra yêu cầu: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(9). Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “Về hội nhập quốc tế”. Một trong những nhiệm vụ tổng quát mà Đại hội XII của Đảng đề ra là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(10). Đại hội XII đề ra chủ trương: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng, ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước… Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”(11). Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng lớn bao quát những vấn đề phát triển quan trọng của đất nước trong giai đoạn 10 năm tới, trong đó “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn”(12).
Như vậy, từ Đại hội IX của Đảng đến nay, quan điểm của Đảng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” ngày càng đầy đủ và đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Từ nhận thức về “quốc tế hóa” đã phát triển thành nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” và đi đến nhận thức về “toàn cầu hóa”. Trên cơ sở thực tiễn về “toàn cầu hóa”, Đảng và Nhà nước ta đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” và ngày nay là chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, “nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế”, “đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”.
Những năm gần đây, ở Việt Nam, cũng như trên thế giới, có ý kiến cho rằng, “toàn cầu hóa” đang chững lại; thậm chí có ý kiến đề cập đến “phi toàn cầu hóa”. Luồng ý kiến này nhấn mạnh đến xu hướng gia tăng hoạt động bảo hộ ở nhiều nước trên thế giới, đến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc và những tranh chấp về thương mại giữa các trung tâm kinh tế lớn của thế giới, đến việc Mỹ đe dọa rút và đã rút khỏi một vài định chế quốc tế... Do vậy, câu hỏi đặt ra hiện nay là phải chăng toàn cầu hóa đang chững lại? Việc trả lời câu hỏi này là một trong những cơ sở căn bản để Đại hội XIII của Đảng hoạch định đường lối phát triển đất nước trong những năm tiếp theo.Xét về bản chất, “toàn cầu hóa” là quá trình hình thành nên “cái toàn cầu”, phân biệt với “cái khu vực” (chỉ liên quan đến những khu vực địa - kinh tế - chính trị nhất định trên thế giới), “cái phe, khối” (chỉ liên quan đến các tập hợp lực lượng trên thế giới), “cái quốc gia - dân tộc” (chỉ liên quan đến từng đất nước). Xã hội loài người ngày nay, với nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại, cho thấy toàn cầu hóa đã tiến rất xa và sâu rộng; đồng thời, khẳng định “toàn cầu hóa” thực sự là một xu thế khách quan, không thể đảo ngược. Điều rõ ràng là, dù còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết hay khuyết tật... trong cả ba hệ thống lớn nói trên, nhưng nhu cầu phát triển nội tại, tự thân của xã hội loài người chính là gốc rễ quy định xu thế toàn cầu hóa. Điều đáng chú ý là tiến trình toàn cầu hóa không diễn ra một cách tuyến tính, mà có những bước nhảy vọt, gắn với các cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất xã hội loài người. Có thể khẳng định rằng, trong thời gian tới, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) bùng nổ, nhất định sẽ có bước nhảy vọt mới trong tiến trình toàn cầu hóa, toàn cầu hóa hoàn toàn không chững lại.
Sự gia tăng các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây không đồng nghĩa với việc chia cắt thị trường thế giới thành những thị trường quốc gia hay phe, khối biệt lập, không làm đứt đoạn các dòng đầu tư xuyên quốc gia, không làm mất đi các vấn đề toàn cầu nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế thế giới mà việc giải quyết chúng đòi hỏi phải tăng cường hợp tác và những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế. Có chăng, chủ nghĩa bảo hộ chỉ đặt ra những “trở ngại” mới về thuế quan và phi thuế quan cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mà những trở ngại này luôn tồn tại trong tiến trình toàn cầu hóa. Những số liệu thống kê của thế giới về thương mại và đầu tư cho thấy rất rõ rằng, bất chấp sự gia tăng của các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây, thương mại thế giới và đầu tư quốc tế vẫn tăng lên.
Việc hình thành “cái toàn cầu” trong quá trình toàn cầu hóa kéo theo việc ra đời các định chế toàn cầu, như Liên hợp quốc và các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)... Các định chế này không phải là “nhất thành, bất biến”, cơ chế hoạt động của chúng phải luôn cần đổi mới, cập nhật cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của “cái toàn cầu”. Đây là sự thích nghi, bảo đảm sức sống, nâng cao tính hiệu quả của các định chế quốc tế, chứ không phải và càng không thể ngăn cản tiến trình toàn cầu hóa. Bước phát triển mới của toàn cầu hóa gắn với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tất yếu kéo theo những đổi mới, cải tổ, cải cách các định chế toàn cầu hiện có và có thể ra đời những định chế quản trị toàn cầu mới.
Có thể hiểu quá trình hội nhập quốc tế của một đất nước (quốc gia) là sự tham gia vào hệ thống thế giới và trở thành một bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới, trước hết là bộ phận cấu thành của “nền kinh tế thế giới”, “nền chính trị thế giới” và “nền văn minh nhân loại”. Sự tham gia ở đây là thông qua các hoạt động tương tác (hợp tác, cạnh tranh và đấu tranh...) với các bộ phận cấu thành khác nhau trong “hệ thống”, bao gồm cả việc gia nhập hay rút khỏi các “phân hệ” khác nhau trong hệ thống. Tất cả các hoạt động này đều là hoạt động có chủ đích, nhằm: 1- Phát triển quốc gia; 2- Khẳng định bản sắc quốc gia; 3- Giành vị thế xứng đáng cho quốc gia trong hệ thống; 4- Tham gia hoàn thiện và phát triển hệ thống...
Cần loại bỏ lối suy nghĩ giản đơn nhưng cũng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam, rằng “hội nhập quốc tế” là hình thức phát triển cao của “hợp tác quốc tế”. Vấn đề là ở chỗ “hợp tác quốc tế” và “hội nhập quốc tế” là thuộc các lớp khái niệm khác nhau. Hợp tác quốc tế chỉ là một trong nhiều phương thức tương tác giữa các nước với nhau; bên cạnh hợp tác quốc tế còn có cạnh tranh, đấu tranh, liên minh, liên kết, đối đầu, chiến tranh... Điểm cơ bản là ở chỗ, khác với khái niệm “hội nhập quốc tế”, khái niệm “hợp tác quốc tế” không đề cập tới việc cấu thành hệ thống chỉnh thể thế giới.
Để đánh giá thực trạng hội nhập quốc tế của một quốc gia, cần lấy phạm vi, mức độ tham gia và vị thế của quốc gia đó trong các mặt đời sống của cộng đồng quốc tế, trong các hệ thống thế giới làm tiêu chí:
Về chiều “rộng - hẹp”, có ba cấp độ hội nhập: Một là, hội nhập hẹp, khi quốc gia hội nhập chỉ tham gia một vài lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế; hai là, hội nhập tương đối rộng, khi quốc gia hội nhập tham gia phần lớn các lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế; ba là, hội nhập rộng, khi quốc gia hội nhập tham gia tất cả các lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế.
Về chiều “nông - sâu”, cũng có ba cấp độ hội nhập: Một là, hội nhập nông, khi quốc gia hội nhập hầu như không có vị trí, vai trò trong cộng đồng quốc tế; hai là, hội nhập tương đối sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò nhất định trong cộng đồng quốc tế; ba là, hội nhập sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò đáng kể trong cộng đồng quốc tế. Nói theo ngôn ngữ của lý thuyết hệ thống, hội nhập sâu là trường hợp quốc gia hội nhập với tư cách là một bộ phận cấu thành hệ thống, có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành và phát triển “tính trồi” (emergent) của cả hệ thống; còn hội nhập nông là trường hợp quốc gia hội nhập hầu như không có ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển “tính trồi” của cả hệ thống.
Với cách tiếp cận trên, có thể thấy, sau hai thập niên chủ động và tích cực hội nhập quốc tế từ Đại hội IX của Đảng đến nay, Việt Nam từng bước tham gia tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội quốc tế; trở thành thành viên có trách nhiệm, có vị trí, vai trò và ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng quốc tế, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội... Điều đó có nghĩa là Việt Nam tích cực hội nhập vào chỉnh thể thế giới. Do vậy, để phát triển đất nước trong bối cảnh mới của “toàn cầu hóa” và giai đoạn mới của “hội nhập quốc tế”, cần quan tâm một số vấn đề lớn sau:
Thứ nhất, nhận thức đúng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” để làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, cần thấy rõ bước phát triển mới của toàn cầu hóa trong những năm tới khi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ; từ đó, tính toán sách lược, chiến lược trong tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Thứ hai, Việt Nam hiện tham gia các mặt đời sống chính trị - xã hội quốc tế, tức là đã hội nhập rộng vào chỉnh thể thế giới, nhưng mới chỉ dừng ở mức độ hội nhập tương đối sâu với vị trí, vai trò nhất định trong một số lĩnh vực. Tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đưa Việt Nam trở thành bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới. Tới đây, cần xác định việc giành lấy vị trí, vai trò ngày càng đáng kể trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại là nội dung chủ yếu của tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Về kinh tế, cần phấn đấu giành chỗ đứng trong các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; ưu tiên thúc đẩy phát triển nhanh các ngành kinh tế số và công nghiệp 4.0. Cơ hội đang mở ra cho Việt Nam ở thời hậu dịch bệnh COVID-19, không được bỏ lỡ. Muốn thế, cần ưu tiên phát triển các mạng kết nối Việt Nam với thế giới, cả “kết nối cứng” và “kết nối mềm”.
Về chính trị, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, nhất là các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong ASEAN. Chủ động tham gia xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực. Thể hiện vai trò của Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Về văn hóa - xã hội, cần đẩy mạnh quảng bá lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam với thế giới; bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, công viên sinh thái, di sản văn hóa thế giới, cả vật thể lẫn phi vật thể; khẳng định các giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, bản sắc Việt Nam; tích cực tham gia sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học... có tầm ảnh hưởng quốc tế; tham gia xử lý các vấn đề nhân đạo trên trường quốc tế; tham gia đấu tranh với các hiện tượng, hoạt động phi văn hóa, phản văn hóa, chống lại nhân loại... Cần đặc biệt quan tâm việc nhân thêm và phát huy “sức mạnh mềm” của đất nước, cạnh tranh về “sức mạnh mềm” trên trường quốc tế. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng có vai trò lớn trong quảng bá văn hóa và cả trong “xâm lăng” văn hóa, lan tỏa các giá trị xã hội và cả làm xói mòn các giá trị xã hội, phát huy “sức mạnh mềm” và cả hạn chế “sức mạnh mềm” của các quốc gia, phát triển ổn định xã hội và cả gây bất ổn xã hội... Phương tiện truyền thông xã hội trở thành một hiện tượng văn hóa, một kênh thông tin, một công cụ quản trị. Bên cạnh việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các phương tiện truyền thông xã hội, một số nước chủ động sử dụng và phát huy vai trò kênh thông tin, công cụ quản trị của các phương tiện truyền thông này. Việt Nam cần có cách tiếp cận mới đối với các phương tiện truyền thông xã hội, không chỉ dừng ở chỗ coi chúng là đối tượng quản lý.
Thứ ba, khi triển khai các hoạt động hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh những vấn đề cần xử lý về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đơn cử như, trong tiến trình hội nhập quốc tế, cần luôn điều chỉnh, sửa đổi hệ thống pháp luật trong nước, tuy nhiên, phải có lộ trình, bước đi cẩn trọng, để vừa củng cố độc lập, tự chủ, vừa hội nhập quốc tế thành công. Hay là vấn đề đối phó với nguy cơ lệ thuộc vào thị trường bên ngoài, lệ thuộc kinh tế dẫn đến lệ thuộc về chính trị...; hoặc vấn đề phải đối phó với sự xâm lăng văn hóa, xử lý hiện tượng giao thoa văn hóa trong hội nhập quốc tế, những mâu thuẫn trong xây dựng con người Việt Nam dưới tác động của trào lưu hình thành công dân toàn cầu, sự xâm nhập của các giá trị xã hội không phù hợp đối với nước ta...
Thứ tư, Việt Nam cần chủ động và tích cực tham gia vào việc đổi mới, cải tổ, cải cách hay thiết lập các định chế toàn cầu và khu vực; đóng góp nhiều hơn vào xây dựng “luật chơi”, coi đây là lợi ích quan trọng của quốc gia.
Thứ năm, trong quá trình hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh ngày càng nhiều những tranh chấp. Ngoài những cơ chế quốc tế phổ biến, thế giới còn có những cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế mang tính khu biệt, chuyên ngành mà ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Do đó, vấn đề cấp bách trong quá trình hội nhập là nâng cao năng lực phòng, chống, xử lý, giải quyết những tranh chấp quốc tế, gắn với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên sâu về các lĩnh vực này./.
Hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển là mục tiêu chung của cả hai nước
Nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay
Đảng ta rất coi trọng công tác dự báo chiến lược. Sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã minh chứng rõ rằng, những thành tựu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng đưa tới những thắng lợi vĩ đại trong công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới, có sự đóng góp quan trọng của công tác dự báo chiến lược.
Công tác dự báo chiến lược là một trong những nhiệm vụ đặc biệt của công tác xây dựng Đảng. Kết quả của công tác dự báo chiến lược thể hiện năng lực, tư duy dự báo, tầm nhìn chiến lược của Đảng. Mục đích của công tác này là nghiên cứu, đánh giá và tiên lượng từ sớm, từ xa các biến động, các yêu cầu phát triển của thực tiễn; từ đó, chủ động phòng, chống, đẩy lùi và triệt tiêu các nguy cơ, gia tăng các yếu tố có lợi. Kết quả dự báo là nền tảng, cơ sở khoa học và lý luận, cung cấp hệ thống luận cứ quan trọng để Đảng hoạch định đường lối, chủ trương trong lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước đúng định hướng, đạt hiệu quả, mục tiêu đề ra qua mỗi nhiệm kỳ đại hội.
Tư duy chiến lược là sự phản ánh trình độ của năng lực tư duy, thể hiện qua cách tư duy rộng, tư duy sâu, tư duy dài hạn, để từ đó xác định chiến lược phát triển, điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức, rà soát, phân tích các điều kiện khách quan và chủ quan trong tương lai, chỉ ra các cơ hội, nguy cơ, thách thức; trên cơ sở đó, có định hướng đúng đắn, đề xuất được các giải pháp hiệu quả, phù hợp với quy luật khách quan, nhằm đạt tới mục tiêu chiến lược. Với tư duy chiến lược, khả năng của chủ thể trong phát hiện bản chất, quy luật, xu hướng vận động của hiện thực khách quan, tầm nhìn xa, tính sáng tạo sẽ được thể hiện đầy đủ, rõ nét.
Điều mấu chốt quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng chính là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, có năng lực, trình độ, khả năng phân tích, dự báo các vấn đề nảy sinh, các nhân tố ảnh hưởng, nắm rõ các mục tiêu của đường lối, chủ trương, định hướng chính sách, để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng. Khả năng dự báo đúng và trúng của đội ngũ cán bộ sẽ góp phần giúp cho Đảng có những quyết sách đúng đắn, phù hợp; ngược lại, nếu dự báo sai lầm về mặt chiến lược, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.
Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử với tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng cao. Đây chính là nền tảng và động lực quan trọng để đưa đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.
Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá và khẳng định: “Năng lực dự báo, hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng được nâng lên rõ rệt... Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong đó có các chủ trương, nghị quyết để lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ mới, quan trọng. Việc Trung ương ban hành kịp thời, đồng bộ hệ thống văn bản trên hầu hết các lĩnh vực đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã khẩn trương chỉ đạo việc thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp luật của Nhà nước để thực hiện. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã kịp thời cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kế hoạch, chương trình hành động sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị”(1).
Dù vậy, kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời. Việc ban hành nghị quyết của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nghị quyết còn chưa nghiêm, hiệu quả thấp, chưa đạt yêu cầu đề ra. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật chủ động. Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm sâu sắc được Đại hội XIII của Đảng rút ra là, phải chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ.
Thực tế cho thấy, khả năng, năng lực dự báo của một bộ phận cán bộ các cấp vẫn còn hạn chế về trình độ, hạn hẹp về tầm nhìn, bảo thủ, giáo điều, nặng về chủ nghĩa kinh nghiệm; thiếu tư duy sáng tạo, thiếu sự nhạy bén với thời cuộc, với cái mới, nhất là còn mang nặng tư duy nhiệm kỳ, không nắm bắt được những quy luật khách quan, dẫn đến hệ quả là trong tham mưu ban hành các chủ trương, nghị quyết chưa đánh giá hết các yếu tố khách quan, chủ quan; do vậy, không sâu sát, thiếu tính khả thi, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phong phú, sinh động.
Những hạn chế này có nhiều nguyên nhân, cả về khách quan và chủ quan. Một mặt, công cuộc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp cách mạng lâu dài và khó khăn. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng nảy sinh nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn, không thể giải quyết trong “một sớm, một chiều”. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ nước ta đại đa số có nguồn gốc xuất phát từ văn hóa nông nghiệp, lại chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề bởi hậu quả các cuộc chiến tranh, bởi tư duy kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp...; mặt khác, một bộ phận cán bộ chưa thực sự nhận thức sâu sắc về tư duy chiến lược; việc cập nhật tri thức khoa học - công nghệ, kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ chưa theo kịp và chưa đáp ứng với sự phát triển nhanh chóng của xu hướng thời đại. Đồng thời, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn nhiều bất cập.
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng ngày càng cao, phức tạp hơn trong tình hình mới, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đội ngũ làm công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, công tác thống kê, phân tích. Đội ngũ này phải có năng lực dự báo, tiên lượng đúng và ứng phó nhanh nhạy trước các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình thế giới. Đó là nhân tố quan trọng, điều kiện cần thiết để đội ngũ cán bộ nâng cao được chất lượng công tác tham mưu phục vụ việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước; giúp đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của công cuộc đổi mới, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại”(2). Nâng cao năng lực dự báo chiến lược sẽ tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng, góp phần làm cho đất nước giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, Hiến pháp và pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp”(3).
Theo đó, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thì phải chú trọng tiếp tục “đổi mới và nâng cao chất lượng công tác hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Coi trọng nâng cao năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình. Khi hoạch định đường lối, chủ trương, giải pháp phải bám sát và xuất phát từ thực tiễn, đánh giá tác động, cân đối, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng”(4).
Việc nâng cao chất lượng công tác dự báo, tầm nhìn chiến lược phải bảo đảm hai yếu tố: 1- Tính khách quan, xác thực dựa trên cơ sở phương pháp khoa học, tin cậy; dự báo đầy đủ cả hai mặt thuận - nghịch, hai chiều thuận lợi và rủi ro, cơ hội, thời cơ và nguy cơ, thách thức. Dự báo càng sát, càng trúng thì giá trị của dự báo càng cao; 2- Phải bám sát thực tiễn, thời cuộc và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng; kết quả dự báo phải có tầm nhìn xa, dài hạn, có tác động tích cực đến các vấn đề căn cốt của cách mạng, bảo đảm lợi ích của quốc gia - dân tộc và phải có tính hướng đích rõ ràng.
Trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Nghị quyết xác định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng.
Đảng xác định mục tiêu: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đất nước ngày càng phồn vinh, nhân dân ngày càng hạnh phúc.
Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”; theo đó, cần tập trung xây dựng “đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(5).
Như vậy, để nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, định hướng của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và những năm tiếp theo, yêu cầu đặt ra ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, dự báo, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cụ thể là:
Về tư tưởng chính trị: Không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tính chiến đấu; luôn tiên phong, gương mẫu; có khát vọng, góp phần cùng từng ngành, từng địa phương và cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa nước ta vươn lên trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; có ý chí, năng lực nổi trội, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Về đạo đức, lối sống: Phải thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình; luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; tự mình phòng, tránh và đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ; nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời; tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày; thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người cán bộ lãnh đạo. Đặc biệt, cán bộ cấp chiến lược càng phải nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ; thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm “cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu”; thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình; nghiêm túc tiếp thu ý kiến giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của bản thân.
Về năng lực và uy tín: Cần có năng lực nổi trội trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; có năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình thế giới; có năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chủ trương của Đảng; kiên quyết khắc phục những yếu kém, trì trệ, không né tránh trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện. Thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”, nắm bắt và giải quyết thỏa đáng, kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy những đột phá về công nghệ, như trí tuệ nhân tạo, internet siêu tốc, vật liệu mới, lưu trữ năng lượng và tin học lượng tử... xóa nhòa ranh giới trong nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tác động mạnh mẽ đến tốc độ, phạm vi của hệ thống kinh tế công nghiệp toàn cầu. Tình hình này sẽ có tác động mạnh, nhiều chiều đến các mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải không ngừng nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị; có ý thức tự rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức, có tư duy đổi mới, tư duy chiến lược, thì mới đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước nhanh, bền vững trong những năm tới.
Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương; đổi mới việc xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng các nghị quyết của Đảng; khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi. Đồng thời, nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả.
Lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ thể chế hóa và thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính, cải cách tư pháp”(7).
Nhận thức rõ bối cảnh, điều kiện mới, Đảng ta xác định: Cần chú trọng nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại; kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; thực hiện có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Trên tinh thần đó, cần tập trung nghiên cứu và thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ các cấp về vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của công tác dự báo chiến lược, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng; quán triệt những yêu cầu mới đối với công tác này cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Coi đây là một trong những tiêu chí quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng chú trọng tư duy chiến lược. Đa dạng hóa nội dung, cách thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn, qua trao đổi học tập ở trong nước và nước ngoài. Tạo cơ hội cho cán bộ có điều kiện tham gia vào hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rèn luyện năng lực tư duy biện chứng, phương pháp khoa học, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều.
Ba là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là tư duy biện chứng duy vật, khả năng nhận định, nắm bắt, phán đoán, dự liệu và tiên đoán. Yêu cầu đặt ra ở đây là, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính cách mạng và tính khoa học, giữa lập trường, quan điểm, nhận thức và phương pháp hành động, trên cơ sở nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp hài hòa các vấn đề dân tộc và thời đại, dự báo đúng và trúng các xu hướng phát triển, những nội dung, vấn đề chiến lược của khu vực và thế giới, giúp Đảng hoạch định đúng đắn, hiệu quả đường lối chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, chú trọng thực hiện, bảo đảm đội ngũ cán bộ, đảng viên thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, có ý thức trách nhiệm, hiểu rõ và thực hành đúng những chuẩn mực, giá trị về đạo đức công vụ và văn hóa chính trị; không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận, bản lĩnh chính trị để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ.
ốn là, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với hoạch định chủ trương, đường lối theo hướng toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, có tính đột phá với các vấn đề cốt lõi của chiến lược cần hoạch định, nhất là nhận diện kịp thời các nguy cơ, thách thức lớn có tác động đến chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh... của đất nước; giúp cho Đảng có khả năng hoạch định chiến lược theo hướng chủ động, tích cực, “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ” từ sớm, từ xa.
Năm là, tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức cán bộ, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu lý luận. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nòng cốt trong dự báo và hoạch định chiến lược; tích cực ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong công tác dự báo. Phát huy tối đa công năng, hiệu quả trong tổ chức, huy động trí tuệ tập thể của các cơ quan chuyên môn và chuyên gia tham gia phối hợp để có thể đưa ra các dự báo chiến lược phù hợp, hoàn chỉnh, có chất lượng cao, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đầu tư xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong bối cảnh, điều kiện mới; có cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ thỏa đáng các chuyên gia đầu ngành.
Đặc biệt, cần dự báo sát, nâng cao hơn nữa tính chủ động trong nắm bắt tình hình tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời xử lý thông tin, làm tốt công tác định hướng dư luận xã hội, bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội để tạo ra sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới./.
(Theo Tạp chí cộng sản ngày 25-10-2022)