Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

Bộ Tài chính: 'Tăng lương sớm từ 1.1.2023 sẽ khó kiểm soát lạm phát' Bộ trưởng Tài chính vừa có báo cáo gửi Quốc hội giải trình các ý kiến đại biểu Quốc hội khi thảo luận tại tổ về tình hình ngân sách nhà nước 2022, dự kiến kế hoạch 2023. Chưa xác định thời điểm cải cách tiền lương Giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị thực hiện tăng lương từ 1.1.2023 thay vì 1.7.2023, Bộ Tài chính khẳng định cải cách tiền lương là nhiệm vụ chính trị, xã hội quan trọng, cấp thiết, nhất là trong bối cảnh dịch Covid-19 và giá cả xăng dầu, hàng hóa cơ bản... tác động tới nhân dân cả nước, trong đó có độ ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, Bộ Tài chính cũng cho rằng, trước nguy cơ lạm phát cao, việc cải cách chính sách tiền lương cần được thực hiện một cách thận trọng, hài hòa với các mục tiêu điều hành kinh tế - xã hội nói chung. Do đó, Chính phủ tiếp tục tham mưu các cấp thẩm quyền chưa thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27 trong năm 2023. Thay vào đó, Chính phủ đề xuất thực hiện tăng lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức lên mức 1,8 triệu đồng/tháng (khoảng 20,8%) từ 1.7.2023. Theo Bộ Tài chính, mức tăng nói trên "cơ bản bù đắp mức độ trượt giá thời gian qua". Ngoài ra, Bộ Tài chính cho rằng, thời điểm thực hiện từ ngày 1.7.2023 thay vì từ đầu năm là do thời điểm đầu năm gần với tết dương lịch và âm lịch, nhu cầu mua sắm sử dụng hàng hóa dịch vụ của người dân và doanh nghiệp tăng mạnh. "Nếu thực hiện cải cách tiền lương vào thời điểm này sẽ gây thêm sức ép lên điều hành giá cả do tâm lý tăng lương đi kèm với tăng giá, gây khó khăn cho việc kiểm soát lạm phát", báo cáo của Bộ Tài chính nêu. Đối với đề nghị của các đại biểu về xác định thời gian cụ thể thực hiện cải cách tiền lương từ năm 2024 trong nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tài chính cho biết tại các báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm 2023 trình Quốc hội, Chính phủ đã báo cáo nhu cầu và nguồn tích lũy để thực hiện cải cách tiền lương theo quy định. Do bối cảnh thế giới, trong nước đang chịu áp lực lạm phát lớn, nên Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội lùi thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27 sau năm 2023. Theo Bộ Tài chính, trong trường hợp các áp lực lạm phát giảm, không có biến động lớn về kinh tế - xã hội, Chính phủ sẽ trình các cấp thẩm quyền về lộ trình thực hiện cải cách tiền lương Nghị quyết 27. Các cơ quan thanh tra được tăng lương cơ sở Về ý kiến đề nghị cần lưu ý việc điều chỉnh tăng trợ cấp cho người có công, trợ cấp bảo trợ xã hội cần đảm bảo cao hơn chuẩn nghèo đô thị, Bộ Tài chính nêu quan điểm cho rằng, việc so sánh chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công năm 2023 với chuẩn nghèo giai đoạn 2021 - 2025 là chưa đồng chất và cần được xem xét kỹ. Theo Bộ Tài chính, thì mức trợ cấp người có công dự kiến điều chỉnh tăng 20,8% từ 1.7.2023, cũng là mức tăng khá. Ngoài ra, chuẩn trợ cấp bảo trợ xã hội mới được điều chỉnh năm 2021 theo nghị định số 20 năm 2021 có hiệu lực từ 1.7.2021 đã có mức tăng khá (tăng 33,3% từ mức 270.000 đồng/tháng lên mức 360.000 đồng/tháng). Về ý kiến tăng lương cơ sở cho cán bộ không chuyên trách cấp xã, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định hiện hành, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước nhưng không phải là đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả hỗ trợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế để chi trả hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Đối với ý kiến đề nghị làm rõ cơ quan thanh tra có thuộc đối tượng tăng lương cơ sở đợt này hay không, Bộ Tài chính cho hay, theo chủ trương, định hướng tại Nghị quyết 27, thì tiền lương, thu nhập của các cơ quan thanh tra nhà nước sẽ không như một số cơ quan hành chính nhà nước đang được hưởng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù với mức lương, thu nhập gấp 1,8 - 3 lần mức lương ngạch bậc hiện nay. Do đó, các cơ quan thanh tra nhà nước thuộc đối tượng được điều chỉnh lương cơ sở năm 2023 như các đối tượng cán bộ, công chức không được hưởng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù hiện nay.
1. Biện pháp nâng cao khả năng đề kháng của cán bộ, đoàn viên thanh niên Học viện Quốc phòng trước thông tin xấu, độc trên mạng xã hội Những năm gần đây, mạng xã hội đã có bước phát triển mạnh mẽ, tác động lớn đến đời sống xã hội ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có nước ta. Mạng xã hội giúp cho người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin nhanh chóng, hiệu quả, góp phần tích cực vào sự phát triển của đời sống văn hóa tinh thần của xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, mạng xã hội đã và đang trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành phá hoại trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Các thế lực thù địch, phản động đã lập ra và sử dụng hàng ngàn trang mạng xã hội vào các hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, văn hóa. Chúng lợi dụng chiêu bài phản biện xã hội, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, dân chủ, nhân quyền… để đăng tải những nội dung thông tin sai lệch, không được kiểm chứng, suy diễn xuyên tạc, từ đó kết luận các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước là sai lầm và đòi xóa bỏ; kích động dư luận, hình thành tâm lý phản kháng, tư tưởng bất mãn, chống đối, tiến tới kêu gọi biểu tình, bạo loạn lật đổ chế độ. Lợi dụng mạng xã hội, các thế lực thù địch tuyên truyền, cổ vũ lối sống tôn thờ tự do cá nhân, lối sống thực dụng, ấn phẩm đồi trụy, bạo lực… đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn.... Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, trong quá trình sử dụng mạng xã hội, cơ bản cán bộ, đoàn viên thanh niên Quân đội nói chung, cán bộ, đoàn viên thanh niên Học viện Quốc phòng nói riêng luôn đề cao cảnh giác, không mắc mưu các thế lực thù địch đồng thời tích cực tham gia viết bài, chia sẻ, bình luận, đấu tranh góp phần vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tuy nhiên, trước việc lồng ghép thông tin thật, giả lẫn lộn cùng những chiêu trò tung hỏa mù nguy hiểm của các thế lực thù địch, một số cán bộ, đoàn viên thanh niên còn biểu hiện dao động tâm lý, mơ hồ, mất cảnh giác. Một số cán bộ, đoàn viên do thiếu kinh nghiệm, kỹ năng xử lý thông tin nên đã vô tình tương tác, chia sẻ, phát tán thông tin xấu độc trên không gian mạng; một số hình ảnh đăng tải chưa đúng quy định, vô tình lộ lọt thông tin mật của đơn vị; thể hiện quan điểm qua “nút like” vẫn còn cảm tính, tâm lý đám đông, thiếu suy nghĩ. Chính vì vậy, nâng cao khả năng đề kháng của cán bộ, đoàn viên thanh niên Học viện Quốc phòng là một yêu cầu đặt ra nhằm ngăn chặn các nguy cơ, tác động xấu từ mạng xã hội đồng thời góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Theo đó, cần tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả một số biện pháp cơ bản sau: Một là, phát huy vai trò cấp ủy, tổ chức đảng và ban chấp hành Đoàn các cấp trong giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đoàn viên thanh niên. Nội dung giáo dục, tuyên truyền, tập trung làm rõ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, truyền thống văn hóa, lịch sử của Đảng và dân tộc, lý tưởng cách mạng cho thanh niên. Coi trọng giáo dục thanh niên trong hoạt động thực tiễn và các phong trào thi đua yêu nước. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đoàn viên thanh niên cần nhận thức đầy đủ hệ thống các quy định, văn bản, chỉ thị, hướng dẫn của các cấp về an toàn thông tin mạng, các hoạt động trên mạng xã hội, nhất là những nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng năm 2018, Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành ngày 17/6/2021, Thông tư 56 của Bộ Quốc phòng về Quy định quản lý và bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong Bộ Quốc phòng để hình thành thái độ, nhận thức đúng đắn, có trách nhiệm cao khi tham gia các trang mạng xã hội. Hai là, nâng cao kỹ năng phân tích, xử lý thông tin, kỹ năng tác chiến trên mạng xã hội cho cán bộ, đoàn viên thanh niên. Trước những thông tin mới, cán bộ, đoàn viên thanh niên cần thận trọng trong xác định nguồn gốc, tính chất, nội dung thông tin, tiến hành đầy đủ các bước trong tiếp nhận và xử lý thông tin, gồm: Đọc kỹ, nghiên cứu thông tin có liên quan; phân tích, phân loại thông tin; sàng lọc thông tin; xác định mục đích và tiến hành sử dụng thông tin. Nếu thông tin đến từ các nguồn không chính thức hoặc báo mạng thì cần phải xác minh thông tin bằng cách tìm các nguồn tin chính thức để đối chiếu. Tránh tiếp cận thông tin một cách thụ động, thiếu sàng lọc, thông tin chưa được thẩm định. Cùng với đó, mỗi cán bộ, đoàn viên thanh niên cần tích cực học tập, nâng cao trình độ để có nhận thức đầy đủ, toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh từ đó tránh bị các thông tin xấu, độc tác động, chi phối hay dẫn dắt. Ba là, phát huy vai trò của cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tham gia đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng là hoạt động tích cực của cán bộ, đoàn viên thanh niên trong việc nâng cao khả năng đề kháng của bản thân đối với các thông tin xấu, độc đồng thời góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Do vậy, mỗi cán bộ, đoàn viên thanh niên cần bám sát thực tiễn, đa dạng hóa các hình thức đấu tranh, trong đó, đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch là hình thức cần được coi trọng, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, thường xuyên. Cùng với đó, mỗi cán bộ, đoàn viên thanh niên cần chú trọng đăng tải, chia sẻ các giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc, các tấm gương tiêu biểu trong học tập, rèn luyện, công tác, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đời thường đẹp”, “những việc làm tử tế” đăng trên mạng xã hội, để tin tốt át tin xấu, lấy chuyện đẹp dẹp các chuyện bịa đặt do các thế lực thù địch phát tán, góp phần định hướng giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đoàn viên thanh niên. 2. Một số giải pháp góp phần đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới Với chiến lược “Diễn biến hòa bình”, kẻ địch sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn chống phá ta trên tất cả các lĩnh vực. Trên mặt trận tư tưởng, lý luận chúng tập trung đánh phá nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối chính trị, mục đích, lý tưởng của Đảng; nguyên tắc tập trung dân chủ… Đặc biệt, chúng gia tăng các hoạt động chống phá khi chúng ta tiến hành rất thành công công cuộc phòng, chống tham nhũng hiện nay. Thời gian qua, các thế lực thù địch với nhiều thủ đoạn mới tiếp tục đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, giảm sút lòng tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Những kẻ cơ hội chính trị đã phụ họa với các thế lực thù địch ra sức chống phá Đảng và Nhà nước ta. Họ xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận vai trò và đường lối lãnh đạo của Đảng, định hướng xã hội chủ nghĩa, xuyên tạc lịch sử… Hiện nay, chúng càng ráo riết hoạt động, viết và phát tán các tài liệu có nội dung xấu để kích động, bịa đặt nhằm bôi đen chế độ, nói xấu Đảng và một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta. Trước tình hình đó, đặt ra cho chúng ta luôn phải tích cực, chủ động tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, thông tin, văn hóa, các hoạt động khoa học… theo những định hướng giá trị của chủ nghĩa xã hội; nhạy bén bám sát thực tiễn và giải quyết kịp thời những vấn đề mới nảy sinh. Để góp phần vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản, lâu dài và cấp bách sau đây: Một là, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, làm cho những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thâm nhập sâu sắc vào cuộc sống, chuyển hóa thành thế giới quan, phương pháp tư duy khoa học trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Trở thành những yếu tố chỉ đạo mục tiêu, lý tưởng chính trị, hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội. Định hướng, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thái độ chính trị của mỗi người. Trên cơ sở đó, hình thành và phát triển ở mỗi người cũng như toàn xã hội trạng thái chính trị- tinh thần vững mạnh, có sức “đề kháng” cao để vô hiệu hóa mọi thủ đoạn công kích, phá hoại của kẻ thù trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Giải đáp những vấn đề băn khoăn trong nhận thức, tư tưởng và dư luận, những hoài nghi về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Qua đó, khẳng định tính đúng đắn của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, xây dựng cách nhìn, quan điểm đúng đắn, tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động trong toàn Đảng và quần chúng nhân dân. Tập trung giáo dục mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giáo dục lòng tự tôn dân tộc, nêu cao chủ nghĩa yêu nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Để thực hiện tốt giải pháp này, chúng ta cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục; nội dung cần thiết thực, cụ thể gắn với từng đối tượng. Cụ thể hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đưa Nghị quyết vào cuộc sống. Hai là, chủ động, kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, kịp thời phát hiện các hoạt động và mức độ tác động của các luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân của các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch, từ đó có phương sách đối phó và chủ trương xử lý một cách hiệu quả. Phải uốn nắn những quan điểm sai trái, lệch lạc, nhận thức mơ hồ, dao động về tư tưởng, đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội, hữu khuynh và giáo điều, bảo thủ. Bởi vì, các thế lực thù địch rất chú ý lợi dụng những quan điểm sai lầm, lệch lạc, những nhận thức mơ hồ, sự dao động về lý tưởng, niềm tin trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Thực tiễn, từ hơn một năm trước đây, bằng việc đưa ra những bình luận, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện, khi chúng ta chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ XIII và tiến hành bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, chúng xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với công tác Đại hội và công tác bầu cử. Thực hiện những chiêu trò “tự ứng cử” để gây rối, phá hoại cuộc bầu cử. Đồng thời, chúng còn ra sức xuyên tạc công tác tổ chức bầu cử, đưa ra những kiến nghị vô căn cứ… Do đó, chúng ta cần phân loại, định hướng thông tin để chủ động, kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái đó. Để thực hiện tốt vấn đề này, chúng ta cần nhận diện chính xác, cụ thể những quan điểm sai trái, thù địch, cần “phân cấp” những quan điểm sai trái theo từng cấp độ dể chủ động phòng, chống và xử lý có hiệu quả. Từ đó xây dựng niềm tin, chống quan điểm mơ hồ, dao động trong mọi tầng lớp nhân dân. Ba là, tăng cường thông tin xuống cơ sở, nâng cao dân trí, phát huy dân chủ; đồng thời, chống âm mưu, thủ đoạn làm “nhiễu thông tin” của các thế lực thù địch. Trong tình hình hiện nay, việc định hướng thông tin, làm cho quần chúng có những hiểu biết sâu sắc, toàn diện về bản chất không hề thay đổi của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, về tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự chủ dân tộc trong bối cảnh mới là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng. Làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân dân không mơ hồ, ảo tưởng, mất cảnh giác, nhạy bén phát hiện âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch. Tránh “đói” thông tin, nhất là đối với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; khi đã “đói” thông tin thì dân trí sẽ thấp và quần chúng rất dễ bị hoang mang bởi những thông tin lệch lạc. Hoặc tình trạng “lạm phát” thông tin và thông tin “thiếu định hướng” thì rất nguy hiểm, quần chúng sẽ không biết thông tin nào đúng, thông tin nào sai và phải tin theo nguồn tin nào. Nhất là trong giai đoạn bùng nổ cuộc Cách mạng 4.0 hiện nay. Điều đó rất dễ bị địch lợi dụng để xuyên tạc, bóp méo thông tin, lôi kéo, mua chuộc quần chúng. Phải ngăn chặn bằng được những “kênh” mà thông qua đó, các quan điểm sai trái thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận tác động vào như: mạng xã hội; từ các diễn đàn chính trị quốc tế và từ một số kẻ cơ hội chính trị trong và ngoài nước; từ nguồn sách, báo, tạp chí, phim ảnh không chính thống, hay lợi dụng vấn đề tôn giáo, vấn đề dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân hoặc thúc đẩy xu hướng ly khai… Để làm tốt giải pháp này, trước hết chúng ta cần đi sâu sát đến cơ sở, nắm bắt nhu cầu từ cơ sở để có những biện pháp sát, đúng. Phát huy dân chủ từ cơ sở để mọi người dân thực hiện tốt quyền làm chủ của mình. Từ đó, mọi người sẽ tự “đề kháng” với những âm mưu, thủ đoạn của địch. Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Trong đó, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, công tác quản lý của Nhà nước đối với công tác tư tưởng, lý luận. Phối hợp hành động có hiệu quả giữa các cơ quan tiến hành công tác tư tưởng-văn hóa của Đảng và Nhà nước, lực lượng vũ trang; các đoàn thể quần chúng, các lực lượng nghiên cứu giảng dạy lý luận, các nhà khoa học và văn nghệ sĩ… Thực hiện phương châm “Toàn Đảng làm công tác tư tưởng”, và “Lấy quần chúng giáo dục quần chúng”. Đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng, lý luận của các đoàn thể, tổ chức xã hội, sử dụng nhiều loại phương tiện và hình thức tuyên truyền, giáo dục sinh động, hiệu quả thiết thực, sát với từng đối tượng; mở rộng hình thức học tập lý luận chính trị trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trong tình hình hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận vì thế không chỉ là tất yếu mà đã trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước…”. Do đó, cần tiếp tục có những giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp theo hướng chủ động, kịp thời, hiệu quả, nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục và tính thuyết phục sát với yêu cầu thực tiễn hiện nay. Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là một vấn đề mang tính xã hội phức tạp, sâu sắc, rộng lớn và lâu dài. Vì vậy, trong tình hình hiện nay cần làm cho mọi lĩnh vực hoạt động, mọi tổ chức, mọi thành viên trong xã hội đều quan tâm và có trách nhiệm cao, tạo nên một loại hình “Chiến tranh nhân dân” trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Đó là sự bảo đảm cho thắng lợi của chúng ta trên mặt trận này, làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 3. Một số giải pháp nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật trong Học viện Quốc phòng hiện nay Quán triệt, thực hiện khâu đột phá về chấp hành kỷ luật, pháp luật Nhà nước đã được xác định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Đảng ủy Học viện Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn Học viện, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của trên về công tác chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước và bảo đảm an toàn, góp phần xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện, mẫu mực tiêu biểu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Quân đội nói chung, với Học viện Quốc phòng nói riêng. Trong những năm qua, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn Học viện. Trong đó, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, quản lý tư tưởng, duy trì nghiêm lễ tiết tác phong quân nhân, các chế độ, nền nếp chính quy trong cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị luôn được chú trọng. Đồng thời, chấp hành nghiêm các quy tắc, quy định bảo đảm an toàn trong huấn luyện, diễn tập, tham gia giao thông; phát huy hiệu quả vai trò của các cấp, các ngành và tổ chức, lực lượng trong công tác tuyên truyền, phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các tiêu cực, các tệ nạn xã hội tác động vào Học viện. Cùng với đó, Học viện luôn duy trì thường xuyên chế độ kiểm tra của cấp ủy, chỉ huy các cấp theo quy định; kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý kiên quyết các vụ việc vi phạm xảy ra. Đã và đang đầu tư xây dựng doanh trại, cảnh quan môi trường sáng, xanh, sạch, đẹp; phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tạo môi trường sống lành mạnh, góp phần ngăn chặn vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội trong toàn Học viện. Tuy nhiên, công tác quản lý giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ có thời điểm còn hạn chế, một số ít cán bộ, chiến sĩ còn vi phạm kỷ luật phải xử lý. Để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội ở Học viện Quốc phòng, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp cơ bản sau: Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp đối với việc chấp hành kỷ luật, pháp luật của mọi cán bộ, chiến sĩ. Đây là nội dung quan trọng trong nghị quyết lãnh đạo của từng cấp ủy, tổ chức đảng, với chủ trương, biện pháp đồng bộ, sát với từng cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị. Cấp ủy các cấp tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy Học viện “Về tăng cường công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên; công tác xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật của Học viện Quốc phòng”. Trong đó, bảo đảm an toàn đơn vị là một khâu đột phá, nội dung trọng tâm, cần phải thường xuyên rà soát, bổ sung chủ trương, biện pháp lãnh đạo kịp thời. Đồng thời, triển khai cho cấp ủy đảng các cấp, cụ thể hóa nghị quyết của Đảng ủy, kết luận của ban thường vụ Học viện, bằng nghị quyết và kế hoạch công tác của người chỉ huy các cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị trong toàn Học viện. Trên cơ sở đó, cán bộ chủ trì các cấp, bám sát yêu cầu nhiệm vụ của từng cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị mình để tổ chức thực hiện theo nghị quyết và kế hoạch đã đề ra. Hai là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Đây là giải pháp rất quan trọng nhằm biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục và chuyển thành tự giác chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội của cán bộ, chiến sĩ trong toàn Học viện. Vì vậy, hoạt động giáo dục cần phải tiếp tục đổi mới toàn diện theo hướng đồng bộ, thiết thực, hiệu quả, với nhiều biện pháp phù hợp từng cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị. Trong đó tập trung vào giáo dục, xây dựng đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh cho mọi quân nhân trong Học viện có ý nghĩa rất quan trọng. Lấy việc xây dựng lối sống “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để đấu tranh có hiệu quả lối sống thực dụng, vi phạm nhân cách đạo đức, vi phạm kỷ luật Quân đội, pháp luật Nhà nước. Đồng thời, cần chủ động giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đơn vị như: Mối quan hệ cấp trên với cấp dưới, quan hệ đồng chí, đồng đội, quan hệ với nhân dân. Gắn kết với thực hiện các cuộc vận động, phong trào Thi đua Quyết thắng, nhất là Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Nâng cao chất lượng hiệu quả thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở; xây dựng Học viện có môi trường văn hóa lành mạnh; kịp thời giải quyết những vướng mắc và có biện pháp ngăn chặn các hiện tượng vi phạm, tiêu cực có thể xảy ra, tránh các biểu hiện giản đơn trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của chỉ huy các cấp trong công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội của cán bộ, chiến sĩ. “Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”, kỷ luật Quân đội ta là sự thống nhất chặt chẽ giữa tự giác và nghiêm minh. Do vậy, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật cho mọi quân nhân đòi hỏi chỉ huy các cấp phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhắc nhở và kết hợp chặt chẽ giữa quản lý, giáo dục, rèn luyện ý thức tự giác chấp hành kỷ luật với xử lý nghiêm, kịp thời mọi hành vi vi phạm. Cấp ủy, chỉ huy các cấp thực hiện tốt “5 chủ động trong công tác tư tưởng”, làm tốt việc phân tích, dự báo tình hình kỷ luật của đơn vị mình; bên cạnh đó, tiến hành xử lý, thi hành kỷ luật nghiêm túc, kịp thời và nghiêm minh. Khi đơn vị xảy ra vi phạm kỷ luật, pháp luật, một mặt, lãnh đạo, chỉ huy báo cáo kịp thời, trung thực; mặt khác, cần tập trung tìm biện pháp giải quyết dứt điểm vụ việc, xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của từng cấp, từng người; chủ động làm tốt công tác tư tưởng, ổn định tình hình đơn vị. Việc xem xét, xử lý kỷ luật phải bám sát các văn bản hiện hành, tránh xử lý theo cảm tính, thiếu khách quan, gây bất bình trong đơn vị. Đồng thời, thực hiện tốt việc phân công quản lý, giúp đỡ để quân nhân vi phạm có điều kiện thuận lợi rèn luyện phấn đấu, sửa chữa khuyết điểm. Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội trong Học viện luôn chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố, cả khách quan và chủ quan, đòi hỏi, cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp phải vận dụng linh hoạt, sáng tạo, có hiệu quả, sát với tình hình thực tiễn của từng cơ quan, khoa giảng viên, đơn vị các giải pháp nêu trên để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho đơn vị mình, góp phần xây dựng Học viện ngày càng chính quy, tiên tiến, mẫu mực, vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
BẢO VỆ KHÔNG GIAN MẠNG - YÊU CẦU CẤP THIẾT Lợi ích và các thách thức Không gian mạng đã và đang mang lại nhiều giá trị tích cực cho sự phát triển của xã hội, tổ chức và cá nhân. Cùng với sự phát triển không ngừng của các dịch vụ internet, các công nghệ mạng 4G, 5G, các trang mạng xã hội, các thiết bị IoT, dịch vụ điện toán đám mây... không gian mạng đang làm cho con người tương tác đa chiều hơn, phản ánh sinh động, tức thời hơn với mọi mặt đời sống và các mối quan hệ xã hội. Chính điều này đã biến không gian mạng trở thành không gian xã hội mới, nơi con người có thể thực hiện các hành vi mang bản chất xã hội của mình, như giao tiếp, sáng tạo, lao động, sản xuất, tiêu dùng, học tập và vui chơi giải trí, không bị giới hạn bởi địa lý, ngôn ngữ, không gian và thời gian. Lợi ích của không gian mạng còn được biết đến là nền tảng số trong chương trình chuyển đổi số quốc gia, các Chiến lược phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3-6-2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, không gian mạng là nơi diễn ra các hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, người dân trên môi trường số; các giao tiếp giữa chính quyền và người dân, doanh nghiệp cơ bản diễn ra trên không gian mạng. Khi đó, không gian mạng thật sự trở thành không gian với nguồn tài nguyên số vô tận, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là con người. Cùng với những lợi ích to lớn, không gian mạng đang tạo ra các nguy cơ và thách thức đối với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự an toàn xã hội. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật Nhà nước sẽ bị lộ lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy; hệ thống tài chính, ngân hàng và nhiều lĩnh vực khác bị đình trệ hoặc rối loạn hoạt động. Thời gian qua, các thế lực thù địch đã lợi dụng môi trường mạng xã hội để xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng; lôi kéo, kích động các phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối; tán phát tài liệu, kêu gọi tuần hành, biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, không gian mạng còn bị lợi dụng gây nên những thiệt hại về tài sản, tinh thần, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng con người. Không ít vụ lừa đảo qua mạng, những người đăng tải lời nhận xét, bình luận, chia sẻ, thậm chí tự dựng lên những câu chuyện, clip sai sự thật gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân. Không những thế, không gian mạng đang trở thành và là môi trường trong một hình thái tác chiến mới, đó là tác chiến không gian mạng. Nó đang tạo ra các nguy cơ về chiến tranh không khói súng, không chiến tuyến, không biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia với sự tham gia của mọi đối tượng trên môi trường mạng bao gồm: Các nhóm tin tặc được nhà nước tài trợ; các nhóm tin tặc chuyên nghiệp, phi chính phủ; các nhóm Script Kiddies (hacker nghiệp dư)... Theo lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông (trong tham luận tại hội thảo và triển lãm quốc tế về an toàn không gian mạng Việt Nam-Vietnam Security Summit 2022 diễn ra ngày 23-6-2022): Tội phạm mạng có xu hướng sử dụng các công nghệ mới, hiện đại, nhiều tính năng phức tạp khiến cho việc phát hiện và xử lý hậu quả của những cuộc tấn công trở nên phức tạp hơn, mất nhiều thời gian hơn. Những cuộc tấn công mã độc kết hợp với công nghệ trí tuệ nhân tạo hoặc sử dụng công nghệ giả lập hành vi của người dùng, để tấn công vào các hạ tầng trọng yếu, các chuỗi cung ứng, nhà máy... đang đặt ra nhiều thách thức trong quá trình xây dựng chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đẩy mạnh tuyên truyền, xác định rõ trách nhiệm Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: Bảo đảm an toàn, an ninh mạng là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số, công dân số trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao đối với công tác bảo vệ an toàn, an ninh mạng, đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản quy phạm pháp luật, như: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, Luật An ninh mạng năm 2018, Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 18-10-2019 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 30 của Bộ Chính trị... Xây dựng và bảo vệ môi trường không gian mạng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhằm tạo ra một xã hội ảo trên internet lành mạnh, an toàn, bền vững, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc. Để nâng cao hiểu biết trách nhiệm về xây dựng và bảo vệ không gian mạng, các cấp, các ngành cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức về trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong đó, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Bộ luật Hình sự (năm 2015) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Luật An toàn thông tin mạng (năm 2015); Luật An ninh mạng (năm 2018)... Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Lên án các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội. Đấu tranh với các biểu hiện, hành động tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi... Các cơ sở giáo dục sớm đưa nội dung giáo dục bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia vào chương trình dạy học phù hợp với ngành học, cấp học. Hoạt động tấn công mạng rất đa dạng và tinh vi, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần cảnh giác trước thủ đoạn của các thế lực thù địch. Hiện nay, chúng đang có âm mưu tấn công đánh sập các website của Chính phủ, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp; giả mạo các website nhằm lừa đảo, đánh cắp dữ liệu cá nhân; tấn công bằng mã độc; tấn công ẩn danh bằng những phần mềm độc hại;... Các thế lực thù địch sẽ lợi dụng blog cá nhân để lôi kéo, kích động những phần tử bất mãn, tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức chống đối xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, nền tảng tư tưởng của Đảng... Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm xây dựng và bảo vệ không gian mạng. Nêu cao ý thức chính trị, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ không gian mạng quốc gia. Tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ an ninh mạng; kịp thời cung cấp thông tin liên quan đến an ninh mạng, nguy cơ đe dọa an ninh mạng và các hành vi xâm phạm khác, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Mỗi cá nhân cần nghiên cứu và sử dụng tốt các biện pháp kỹ thuật bảo đảm an toàn thông tin như bảo vệ tài khoản cá nhân bằng xác thực mật khẩu 2 lớp; tạo thói quen quét virus trước khi mở file; thực hiện sao lưu dự phòng với các dữ liệu quan trọng;... Người dùng cần cảnh giác với những trang web lạ, những email chưa rõ danh tính và đường dẫn đáng nghi ngờ; cập nhật bản trình duyệt, hệ điều hành và các chương trình sử dụng; dùng những phần mềm diệt virus uy tín và được cập nhật thường xuyên, không tắt chương trình diệt virus trong mọi thời điểm. Cùng với đó, các cơ quan chuyên trách an ninh mạng cung cấp đầy đủ thông tin về xu hướng phát triển, những nguy cơ từ không gian mạng; các biện pháp phòng, chống tấn công trên không gian mạng. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tăng cường cảnh báo khả năng mất an ninh mạng do đơn vị mình cung cấp và hướng dẫn biện pháp phòng ngừa; xây dựng các phương án xử lý với sự cố an ninh mạng; phối hợp, tạo điều kiện cho lực lượng chuyên trách trong hoạt động bảo vệ an ninh mạng.

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

Về hội nhập quốc tế và tham gia tiến trình toàn cầu hóa của Việt Nam

 

Từ quá trình nhận thức về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế”…

Trước Đại hội IX năm 2001, văn kiện của Đảng chỉ nói đến “quốc tế hóa”, chưa đề cập tới “toàn cầu hóa”. Từ Đại hội IX của Đảng, Việt Nam đề cập đến “toàn cầu hóa kinh tế”. Khi đó, Báo cáo chính trị Đại hội IX nhận định: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”(1). Qua hai nhiệm kỳ Đại hội IX và Đại hội X của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh tới “toàn cầu hóa kinh tế”. Đến Đại hội XI của Đảng (năm 2011), Việt Nam chuyển từ nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” sang nhận thức về “toàn cầu hóa”. Báo cáo chính trị Đại hội XI nhận định: “Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức”(2). Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục khẳng định: “Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh”(3). Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh: “Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc...(4).


Cùng với nhận thức về toàn cầu hóa, Việt Nam từng bước tiến hành hội nhập quốc tế. Đại hội IX của Đảng đã đề ra chủ trương: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(5). Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiến thêm một bước trong nhận thức và hành động hội nhập quốc tế; đề ra chủ trương: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”(6). Đến Đại hội XI của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh đến hội nhập quốc tế: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”(7).

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định 8 phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó phương hướng thứ năm là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(8). Cương lĩnh đặt ra yêu cầu: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(9). Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW “Về hội nhập quốc tế”. Một trong những nhiệm vụ tổng quát mà Đại hội XII của Đảng đề ra là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(10). Đại hội XII đề ra chủ trương: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng, ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước… Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”(11). Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng lớn bao quát những vấn đề phát triển quan trọng của đất nước trong giai đoạn 10 năm tới, trong đó “tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt NamĐa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn”(12).

Như vậy, từ Đại hội IX của Đảng đến nay, quan điểm của Đảng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” ngày càng đầy đủ và đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Từ nhận thức về “quốc tế hóa” đã phát triển thành nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” và đi đến nhận thức về “toàn cầu hóa”. Trên cơ sở thực tiễn về “toàn cầu hóa”, Đảng và Nhà nước ta đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” và ngày nay là chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, “nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế”, “đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”.

Những năm gần đây, ở Việt Nam, cũng như trên thế giới, có ý kiến cho rằng, “toàn cầu hóa” đang chững lại; thậm chí có ý kiến đề cập đến “phi toàn cầu hóa”. Luồng ý kiến này nhấn mạnh đến xu hướng gia tăng hoạt động bảo hộ ở nhiều nước trên thế giới, đến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc và những tranh chấp về thương mại giữa các trung tâm kinh tế lớn của thế giới, đến việc Mỹ đe dọa rút và đã rút khỏi một vài định chế quốc tế... Do vậy, câu hỏi đặt ra hiện nay là phải chăng toàn cầu hóa đang chững lại? Việc trả lời câu hỏi này là một trong những cơ sở căn bản để Đại hội XIII của Đảng hoạch định đường lối phát triển đất nước trong những năm tiếp theo.

Xét về bản chất, “toàn cầu hóa” là quá trình hình thành nên “cái toàn cầu”, phân biệt với “cái khu vực” (chỉ liên quan đến những khu vực địa - kinh tế - chính trị nhất định trên thế giới), “cái phe, khối” (chỉ liên quan đến các tập hợp lực lượng trên thế giới), “cái quốc gia - dân tộc” (chỉ liên quan đến từng đất nước). Xã hội loài người ngày nay, với nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại, cho thấy toàn cầu hóa đã tiến rất xa và sâu rộng; đồng thời, khẳng định “toàn cầu hóa” thực sự là một xu thế khách quan, không thể đảo ngược. Điều rõ ràng là, dù còn rất nhiều hạn chế, khiếm khuyết hay khuyết tật... trong cả ba hệ thống lớn nói trên, nhưng nhu cầu phát triển nội tại, tự thân của xã hội loài người chính là gốc rễ quy định xu thế toàn cầu hóa. Điều đáng chú ý là tiến trình toàn cầu hóa không diễn ra một cách tuyến tính, mà có những bước nhảy vọt, gắn với các cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất xã hội loài người. Có thể khẳng định rằng, trong thời gian tới, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) bùng nổ, nhất định sẽ có bước nhảy vọt mới trong tiến trình toàn cầu hóa, toàn cầu hóa hoàn toàn không chững lại.

Sự gia tăng các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây không đồng nghĩa với việc chia cắt thị trường thế giới thành những thị trường quốc gia hay phe, khối biệt lập, không làm đứt đoạn các dòng đầu tư xuyên quốc gia, không làm mất đi các vấn đề toàn cầu nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế thế giới mà việc giải quyết chúng đòi hỏi phải tăng cường hợp tác và những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế. Có chăng, chủ nghĩa bảo hộ chỉ đặt ra những “trở ngại” mới về thuế quan và phi thuế quan cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, mà những trở ngại này luôn tồn tại trong tiến trình toàn cầu hóa. Những số liệu thống kê của thế giới về thương mại và đầu tư cho thấy rất rõ rằng, bất chấp sự gia tăng của các hoạt động bảo hộ trong những năm gần đây, thương mại thế giới và đầu tư quốc tế vẫn tăng lên.

Việc hình thành “cái toàn cầu” trong quá trình toàn cầu hóa kéo theo việc ra đời các định chế toàn cầu, như Liên hợp quốc và các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)... Các định chế này không phải là “nhất thành, bất biến”, cơ chế hoạt động của chúng phải luôn cần đổi mới, cập nhật cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của “cái toàn cầu”. Đây là sự thích nghi, bảo đảm sức sống, nâng cao tính hiệu quả của các định chế quốc tế, chứ không phải và càng không thể ngăn cản tiến trình toàn cầu hóa. Bước phát triển mới của toàn cầu hóa gắn với sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 tất yếu kéo theo những đổi mới, cải tổ, cải cách các định chế toàn cầu hiện có và có thể ra đời những định chế quản trị toàn cầu mới.

Có thể hiểu quá trình hội nhập quốc tế của một đất nước (quốc gia) là sự tham gia vào hệ thống thế giới và trở thành một bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới, trước hết là bộ phận cấu thành của “nền kinh tế thế giới”, “nền chính trị thế giới” và “nền văn minh nhân loại”. Sự tham gia ở đây là thông qua các hoạt động tương tác (hợp tác, cạnh tranh và đấu tranh...) với các bộ phận cấu thành khác nhau trong “hệ thống”, bao gồm cả việc gia nhập hay rút khỏi các “phân hệ” khác nhau trong hệ thống. Tất cả các hoạt động này đều là hoạt động có chủ đích, nhằm: 1- Phát triển quốc gia; 2- Khẳng định bản sắc quốc gia; 3- Giành vị thế xứng đáng cho quốc gia trong hệ thống; 4- Tham gia hoàn thiện và phát triển hệ thống...

Cần loại bỏ lối suy nghĩ giản đơn nhưng cũng khá phổ biến hiện nay ở Việt Nam, rằng “hội nhập quốc tế” là hình thức phát triển cao của “hợp tác quốc tế”. Vấn đề là ở chỗ “hợp tác quốc tế” và “hội nhập quốc tế” là thuộc các lớp khái niệm khác nhau. Hợp tác quốc tế chỉ là một trong nhiều phương thức tương tác giữa các nước với nhau; bên cạnh hợp tác quốc tế còn có cạnh tranh, đấu tranh, liên minh, liên kết, đối đầu, chiến tranh... Điểm cơ bản là ở chỗ, khác với khái niệm “hội nhập quốc tế”, khái niệm “hợp tác quốc tế” không đề cập tới việc cấu thành hệ thống chỉnh thể thế giới.

Để đánh giá thực trạng hội nhập quốc tế của một quốc gia, cần lấy phạm vi, mức độ tham gia và vị thế của quốc gia đó trong các mặt đời sống của cộng đồng quốc tế, trong các hệ thống thế giới làm tiêu chí:

Về chiều “rộng - hẹp”, có ba cấp độ hội nhập: Một là, hội nhập hẹp, khi quốc gia hội nhập chỉ tham gia một vài lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế; hai là, hội nhập tương đối rộng, khi quốc gia hội nhập tham gia phần lớn các lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế; ba là, hội nhập rộng, khi quốc gia hội nhập tham gia tất cả các lĩnh vực trong đời sống cộng đồng quốc tế.

Về chiều “nông - sâu”, cũng có ba cấp độ hội nhập: Một là, hội nhập nông, khi quốc gia hội nhập hầu như không có vị trí, vai trò trong cộng đồng quốc tế; hai là, hội nhập tương đối sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò nhất định trong cộng đồng quốc tế; ba là, hội nhập sâu, khi quốc gia hội nhập có vị trí, vai trò đáng kể trong cộng đồng quốc tế. Nói theo ngôn ngữ của lý thuyết hệ thống, hội nhập sâu là trường hợp quốc gia hội nhập với tư cách là một bộ phận cấu thành hệ thống, có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành và phát triển “tính trồi” (emergent) của cả hệ thống; còn hội nhập nông là trường hợp quốc gia hội nhập hầu như không có ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển “tính trồi” của cả hệ thống.

Với cách tiếp cận trên, có thể thấy, sau hai thập niên chủ động và tích cực hội nhập quốc tế từ Đại hội IX của Đảng đến nay, Việt Nam từng bước tham gia tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị - xã hội quốc tế; trở thành thành viên có trách nhiệm, có vị trí, vai trò và ảnh hưởng nhất định trong cộng đồng quốc tế, cả về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội... Điều đó có nghĩa là Việt Nam tích cực hội nhập vào chỉnh thể thế giới. Do vậy, để phát triển đất nước trong bối cảnh mới của “toàn cầu hóa” và giai đoạn mới của “hội nhập quốc tế”, cần quan tâm một số vấn đề lớn sau:

Thứ nhất, nhận thức đúng về “toàn cầu hóa” và “hội nhập quốc tế” để làm cơ sở cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đặc biệt, cần thấy rõ bước phát triển mới của toàn cầu hóa trong những năm tới khi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ; từ đó, tính toán sách lược, chiến lược trong tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Thứ hai, Việt Nam hiện tham gia các mặt đời sống chính trị - xã hội quốc tế, tức là đã hội nhập rộng vào chỉnh thể thế giới, nhưng mới chỉ dừng ở mức độ hội nhập tương đối sâu với vị trí, vai trò nhất định trong một số lĩnh vực. Tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã đưa Việt Nam trở thành bộ phận cấu thành của chỉnh thể thế giới. Tới đây, cần xác định việc giành lấy vị trí, vai trò ngày càng đáng kể trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị thế giới và nền văn minh nhân loại là nội dung chủ yếu của tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Về kinh tế, cần phấn đấu giành chỗ đứng trong các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu; ưu tiên thúc đẩy phát triển nhanh các ngành kinh tế số và công nghiệp 4.0. Cơ hội đang mở ra cho Việt Nam ở thời hậu dịch bệnh COVID-19, không được bỏ lỡ. Muốn thế, cần ưu tiên phát triển các mạng kết nối Việt Nam với thế giới, cả “kết nối cứng” và “kết nối mềm”.

Về chính trị, tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, nhất là các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, trong ASEAN. Chủ động tham gia xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực. Thể hiện vai trò của Việt Nam “là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Về văn hóa - xã hội, cần đẩy mạnh quảng bá lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ Việt Nam với thế giới; bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản thiên nhiên, công viên địa chất, công viên sinh thái, di sản văn hóa thế giới, cả vật thể lẫn phi vật thể; khẳng định các giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp của Việt Nam, bản sắc Việt Nam; tích cực tham gia sáng tạo các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, khoa học... có tầm ảnh hưởng quốc tế; tham gia xử lý các vấn đề nhân đạo trên trường quốc tế; tham gia đấu tranh với các hiện tượng, hoạt động phi văn hóa, phản văn hóa, chống lại nhân loại... Cần đặc biệt quan tâm việc nhân thêm và phát huy “sức mạnh mềm” của đất nước, cạnh tranh về “sức mạnh mềm” trên trường quốc tế. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các phương tiện truyền thông xã hội ngày càng có vai trò lớn trong quảng bá văn hóa và cả trong “xâm lăng” văn hóa, lan tỏa các giá trị xã hội và cả làm xói mòn các giá trị xã hội, phát huy “sức mạnh mềm” và cả hạn chế “sức mạnh mềm” của các quốc gia, phát triển ổn định xã hội và cả gây bất ổn xã hội... Phương tiện truyền thông xã hội trở thành một hiện tượng văn hóa, một kênh thông tin, một công cụ quản trị. Bên cạnh việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các phương tiện truyền thông xã hội, một số nước chủ động sử dụng và phát huy vai trò kênh thông tin, công cụ quản trị của các phương tiện truyền thông này. Việt Nam cần có cách tiếp cận mới đối với các phương tiện truyền thông xã hội, không chỉ dừng ở chỗ coi chúng là đối tượng quản lý.

Thứ ba, khi triển khai các hoạt động hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh những vấn đề cần xử lý về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đơn cử như, trong tiến trình hội nhập quốc tế, cần luôn điều chỉnh, sửa đổi hệ thống pháp luật trong nước, tuy nhiên, phải có lộ trình, bước đi cẩn trọng, để vừa củng cố độc lập, tự chủ, vừa hội nhập quốc tế thành công. Hay là vấn đề đối phó với nguy cơ lệ thuộc vào thị trường bên ngoài, lệ thuộc kinh tế dẫn đến lệ thuộc về chính trị...; hoặc vấn đề phải đối phó với sự xâm lăng văn hóa, xử lý hiện tượng giao thoa văn hóa trong hội nhập quốc tế, những mâu thuẫn trong xây dựng con người Việt Nam dưới tác động của trào lưu hình thành công dân toàn cầu, sự xâm nhập của các giá trị xã hội không phù hợp đối với nước ta...

Thứ tư, Việt Nam cần chủ động và tích cực tham gia vào việc đổi mới, cải tổ, cải cách hay thiết lập các định chế toàn cầu và khu vực; đóng góp nhiều hơn vào xây dựng “luật chơi”, coi đây là lợi ích quan trọng của quốc gia.

Thứ năm, trong quá trình hội nhập quốc tế, luôn nảy sinh ngày càng nhiều những tranh chấp. Ngoài những cơ chế quốc tế phổ biến, thế giới còn có những cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế mang tính khu biệt, chuyên ngành mà ta chưa có nhiều kinh nghiệm. Do đó, vấn đề cấp bách trong quá trình hội nhập là nâng cao năng lực phòng, chống, xử lý, giải quyết những tranh chấp quốc tế, gắn với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên sâu về các lĩnh vực này./.

Hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển là mục tiêu chung của cả hai nước

Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Khắc Cường bày tỏ hết sức vui mừng được gặp lại Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhiệt liệt chào mừng Tổng Bí thư sang thăm chính thức Trung Quốc. Ông bày tỏ tin tưởng chuyến thăm Trung Quốc lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chắc chắn sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững trong giai đoạn mới. Thủ tướng Lý Khắc Cường chúc mừng những thành tựu to lớn mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong sự nghiệp Đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, khẳng định Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ với Việt Nam; nhấn mạnh hai nước có nhiều điểm chung. Thủ tướng Lý Khắc Cường bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc mừng thành công của Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc và những thành tựu to lớn mà Trung Quốc đã đạt được trong thời gian qua; chúc Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc thực hiện thành công nghị quyết do Đại hội XX đề ra và thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu "100 năm thứ hai", xây dựng Trung Quốc thành quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hài hòa, tươi đẹp. Tổng Bí thư thông báo với Thủ tướng Lý Khắc Cường kết quả rất tốt đẹp của cuộc hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình; đánh giá cao Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều đóng góp quan trọng vào củng cố, phát triển mối quan hệ hai nước; đề nghị với vai trò quan trọng của mình, chính phủ hai nước cần chỉ đạo các cơ quan, bộ, ngành triển khai thành công các thỏa thuận hợp tác được ký kết giữa hai bên trong chuyến thăm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, có truyền thống hữu nghị lâu đời, có nhiều điểm tương đồng về chế độ chính trị và con đường phát triển. Hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước đã dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày nay. Việt Nam hết sức coi trọng và luôn ưu tiên hàng đầu phát triển quan hệ với Trung Quốc; trước sau như một, kiên trì chính sách "một Trung Quốc". Tại cuộc hội kiến, hai bên bày tỏ vui mừng trước xu thế phát triển tích cực, lành mạnh của quan hệ hai Đảng, hai nước trong thời gian qua. Hai bên nhất trí trong giai đoạn phát triển mới của hai Đảng, hai nước và bối cảnh quốc tế hiện nay, cần tăng cường hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, duy trì thường xuyên trao đổi, tiếp xúc cấp cao, tăng cường tin cậy chính trị, phục hồi phát triển; đẩy mạnh hợp tác về thương mại, đầu tư, tạo nền tảng vật chất, động lực cho sự phát triển của quan hệ hai nước; phối hợp đưa kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng ổn định, bền vững; tăng cường hợp tác trong việc bảo đảm duy trì ổn định chuỗi cung ứng; phối hợp và tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do; tăng cường kết nối chiến lược phát triển góp phần phục hồi và phát triển kinh tế sau đại dịch COVID-19. Hai bên nhất trí tăng cường phối hợp tại các diễn đàn đa phương, khu vực quốc tế; cùng nhau nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực. Bá Duy 30A ST

Nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược của đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay


Đảng ta rất coi trọng công tác dự báo chiến lược. Sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã minh chứng rõ rằng, những thành tựu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng đưa tới những thắng lợi vĩ đại trong công cuộc giải phóng dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới, có sự đóng góp quan trọng của công tác dự báo chiến lược.

Công tác dự báo chiến lược là một trong những nhiệm vụ đặc biệt của công tác xây dựng Đảng. Kết quả của công tác dự báo chiến lược thể hiện năng lực, tư duy dự báo, tầm nhìn chiến lược của Đảng. Mục đích của công tác này là nghiên cứu, đánh giá và tiên lượng từ sớm, từ xa các biến động, các yêu cầu phát triển của thực tiễn; từ đó, chủ động phòng, chống, đẩy lùi và triệt tiêu các nguy cơ, gia tăng các yếu tố có lợi. Kết quả dự báo là nền tảng, cơ sở khoa học và lý luận, cung cấp hệ thống luận cứ quan trọng để Đảng hoạch định đường lối, chủ trương trong lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước đúng định hướng, đạt hiệu quả, mục tiêu đề ra qua mỗi nhiệm kỳ đại hội.

Tư duy chiến lược là sự phản ánh trình độ của năng lực tư duy, thể hiện qua cách tư duy rộng, tư duy sâu, tư duy dài hạn, để từ đó xác định chiến lược phát triển, điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức, rà soát, phân tích các điều kiện khách quan và chủ quan trong tương lai, chỉ ra các cơ hội, nguy cơ, thách thức; trên cơ sở đó, có định hướng đúng đắn, đề xuất được các giải pháp hiệu quả, phù hợp với quy luật khách quan, nhằm đạt tới mục tiêu chiến lược. Với tư duy chiến lược, khả năng của chủ thể trong phát hiện bản chất, quy luật, xu hướng vận động của hiện thực khách quan, tầm nhìn xa, tính sáng tạo sẽ được thể hiện đầy đủ, rõ nét.

Điều mấu chốt quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng chính là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, có năng lực, trình độ, khả năng phân tích, dự báo các vấn đề nảy sinh, các nhân tố ảnh hưởng, nắm rõ các mục tiêu của đường lối, chủ trương, định hướng chính sách, để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng. Khả năng dự báo đúng và trúng của đội ngũ cán bộ sẽ góp phần giúp cho Đảng có những quyết sách đúng đắn, phù hợp; ngược lại, nếu dự báo sai lầm về mặt chiến lược, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.

Qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử với tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng nâng cao. Đây chính là nền tảng và động lực quan trọng để đưa đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới.

Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng đã đánh giá và khẳng định: “Năng lực dự báo, hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng được nâng lên rõ rệt... Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều văn bản về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong đó có các chủ trương, nghị quyết để lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ mới, quan trọng. Việc Trung ương ban hành kịp thời, đồng bộ hệ thống văn bản trên hầu hết các lĩnh vực đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã khẩn trương chỉ đạo việc thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng thành các văn bản pháp luật của Nhà nước để thực hiện. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã kịp thời cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kế hoạch, chương trình hành động sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị”(1).

Dù vậy, kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém. Việc thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết của Đảng thành pháp luật của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời. Việc ban hành nghị quyết của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi; công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số nghị quyết còn chưa nghiêm, hiệu quả thấp, chưa đạt yêu cầu đề ra. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược về quốc phòng, an ninh có lúc chưa thật chủ động. Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm sâu sắc được Đại hội XIII của Đảng rút ra là, phải chủ động nghiên cứu, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, không để bị động, bất ngờ.

Thực tế cho thấy, khả năng, năng lực dự báo của một bộ phận cán bộ các cấp vẫn còn hạn chế về trình độ, hạn hẹp về tầm nhìn, bảo thủ, giáo điều, nặng về chủ nghĩa kinh nghiệm; thiếu tư duy sáng tạo, thiếu sự nhạy bén với thời cuộc, với cái mới, nhất là còn mang nặng tư duy nhiệm kỳ, không nắm bắt được những quy luật khách quan, dẫn đến hệ quả là trong tham mưu ban hành các chủ trương, nghị quyết chưa đánh giá hết các yếu tố khách quan, chủ quan; do vậy, không sâu sát, thiếu tính khả thi, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phong phú, sinh động.

Những hạn chế này có nhiều nguyên nhân, cả về khách quan và chủ quan. Một mặt, công cuộc xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp cách mạng lâu dài và khó khăn. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng nảy sinh nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn, không thể giải quyết trong “một sớm, một chiều”. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ nước ta đại đa số có nguồn gốc xuất phát từ văn hóa nông nghiệp, lại chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề bởi hậu quả các cuộc chiến tranh, bởi tư duy kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp...; mặt khác, một bộ phận cán bộ chưa thực sự nhận thức sâu sắc về tư duy chiến lược; việc cập nhật tri thức khoa học - công nghệ, kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ chưa theo kịp và chưa đáp ứng với sự phát triển nhanh chóng của xu hướng thời đại. Đồng thời, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận còn nhiều bất cập.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng ngày càng cao, phức tạp hơn trong tình hình mới, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là phải xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đội ngũ làm công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, công tác thống kê, phân tích. Đội ngũ này phải có năng lực dự báo, tiên lượng đúng và ứng phó nhanh nhạy trước các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình thế giới. Đó là nhân tố quan trọng, điều kiện cần thiết để đội ngũ cán bộ nâng cao được chất lượng công tác tham mưu phục vụ việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước; giúp đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trên con đường hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; hoàn thành thắng lợi các mục tiêu của công cuộc đổi mới, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại”(2). Nâng cao năng lực dự báo chiến lược sẽ tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng, góp phần làm cho đất nước giữ vững thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát; lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, Hiến pháp và pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp”(3).

Theo đó, để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thì phải chú trọng tiếp tục “đổi mới và nâng cao chất lượng công tác hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Coi trọng nâng cao năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình. Khi hoạch định đường lối, chủ trương, giải pháp phải bám sát và xuất phát từ thực tiễn, đánh giá tác động, cân đối, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng”(4).

Việc nâng cao chất lượng công tác dự báo, tầm nhìn chiến lược phải bảo đảm hai yếu tố: 1- Tính khách quan, xác thực dựa trên cơ sở phương pháp khoa học, tin cậy; dự báo đầy đủ cả hai mặt thuận - nghịch, hai chiều thuận lợi và rủi ro, cơ hội, thời cơ và nguy cơ, thách thức. Dự báo càng sát, càng trúng thì giá trị của dự báo càng cao; 2- Phải bám sát thực tiễn, thời cuộc và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng; kết quả dự báo phải có tầm nhìn xa, dài hạn, có tác động tích cực đến các vấn đề căn cốt của cách mạng, bảo đảm lợi ích của quốc gia - dân tộc và phải có tính hướng đích rõ ràng.

Trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn, Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Nghị quyết xác định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng.

Đảng xác định mục tiêu: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đất nước ngày càng phồn vinh, nhân dân ngày càng hạnh phúc.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh, công tác cán bộ phải thực sự là “then chốt của then chốt”; theo đó, cần tập trung xây dựng “đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(5).

Như vậy, để nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, định hướng của Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và những năm tiếp theo, yêu cầu đặt ra ngày càng cao đối với đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu, dự báo, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cụ thể là:

Về tư tưởng chính trị: Không ngừng nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tính chiến đấu; luôn tiên phong, gương mẫu; có khát vọng, góp phần cùng từng ngành, từng địa phương và cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, đưa nước ta vươn lên trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; có ý chí, năng lực nổi trội, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Về đạo đức, lối sống: Phải thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình; luôn vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng; tự mình phòng, tránh và đấu tranh có hiệu quả với mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu, cơ hội, cục bộ, bè phái, mất đoàn kết nội bộ; nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời; tự giác tu dưỡng, rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày; thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người cán bộ lãnh đạo. Đặc biệt, cán bộ cấp chiến lược càng phải nêu cao tinh thần vì nhân dân phục vụ; thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm “cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu”; thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình; nghiêm túc tiếp thu ý kiến giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của bản thân.

Về năng lực và uy tín: Cần có năng lực nổi trội trong việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; có năng lực dự báo và ứng phó với các thách thức, diễn biến rất nhanh, khó lường của tình hình thế giới; có năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chủ trương của Đảng; kiên quyết khắc phục những yếu kém, trì trệ, không né tránh trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện. Thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”, nắm bắt và giải quyết thỏa đáng, kịp thời tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

    Trước những biến đổi mau lẹ, phức tạp của tình hình chính trị thế giới, những quốc gia có tư duy chính trị sáng suốt mới có khả năng tận dụng cơ hội, hóa giải thách thức, xác định được đường hướng phát triển đúng đắn. Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Sau hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vị thế, sức mạnh tổng hợp và uy tín trên trường quốc tế được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt gay gắt hơn; các mối đe dọa độc lập, chủ quyền, lợi ích chiến lược của đất nước, nhất là trên Biển Đông; vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, xu hướng già hóa dân số; tình trạng suy thoái, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự chống, phá quyết liệt của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động”(6).

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy những đột phá về công nghệ, như trí tuệ nhân tạo, internet siêu tốc, vật liệu mới, lưu trữ năng lượng và tin học lượng tử... xóa nhòa ranh giới trong nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, tác động mạnh mẽ đến tốc độ, phạm vi của hệ thống kinh tế công nghiệp toàn cầu. Tình hình này sẽ có tác động mạnh, nhiều chiều đến các mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải không ngừng nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị; có ý thức tự rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức, có tư duy đổi mới, tư duy chiến lược, thì mới đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương, phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước nhanh, bền vững trong những năm tới.

Quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương; đổi mới việc xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng các nghị quyết của Đảng; khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi. Đồng thời, nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ thể chế hóa và thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng, chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính, cải cách tư pháp”(7).

Nhận thức rõ bối cảnh, điều kiện mới, Đảng ta xác định: Cần chú trọng nâng cao bản lĩnh, năng lực dự báo và chất lượng công tác hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại; kịp thời thể chế hóa, cụ thể hóa, triển khai đúng đắn, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khắc phục sự yếu kém trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; thực hiện có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Trên tinh thần đó, cần tập trung nghiên cứu và thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ các cấp về vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của công tác dự báo chiến lược, tầm nhìn chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng; quán triệt những yêu cầu mới đối với công tác này cho đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Coi đây là một trong những tiêu chí quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng chú trọng tư duy chiến lược. Đa dạng hóa nội dung, cách thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn, qua trao đổi học tập ở trong nước và nước ngoài. Tạo cơ hội cho cán bộ có điều kiện tham gia vào hoạt động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, rèn luyện năng lực tư duy biện chứng, phương pháp khoa học, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều.

Ba là, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là tư duy biện chứng duy vật, khả năng nhận định, nắm bắt, phán đoán, dự liệu và tiên đoán. Yêu cầu đặt ra ở đây là, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính cách mạng và tính khoa học, giữa lập trường, quan điểm, nhận thức và phương pháp hành động, trên cơ sở nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp hài hòa các vấn đề dân tộc và thời đại, dự báo đúng và trúng các xu hướng phát triển, những nội dung, vấn đề chiến lược của khu vực và thế giới, giúp Đảng hoạch định đúng đắn, hiệu quả đường lối chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, chú trọng thực hiện, bảo đảm đội ngũ cán bộ, đảng viên thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, có ý thức trách nhiệm, hiểu rõ và thực hành đúng những chuẩn mực, giá trị về đạo đức công vụ và văn hóa chính trị; không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận, bản lĩnh chính trị để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ.

ốn là, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nâng tầm tư duy lý luận của Đảng, hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Gắn tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với hoạch định chủ trương, đường lối theo hướng toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, có tính đột phá với các vấn đề cốt lõi của chiến lược cần hoạch định, nhất là nhận diện kịp thời các nguy cơ, thách thức lớn có tác động đến chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh... của đất nước; giúp cho Đảng có khả năng hoạch định chiến lược theo hướng chủ động, tích cực, “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ” từ sớm, từ xa.

Năm là, tiếp tục đổi mới mô hình tổ chức cán bộ, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, sự phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu lý luận. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nòng cốt trong dự báo và hoạch định chiến lược; tích cực ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong công tác dự báo. Phát huy tối đa công năng, hiệu quả trong tổ chức, huy động trí tuệ tập thể của các cơ quan chuyên môn và chuyên gia tham gia phối hợp để có thể đưa ra các dự báo chiến lược phù hợp, hoàn chỉnh, có chất lượng cao, cung cấp kịp thời cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đầu tư xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong bối cảnh, điều kiện mới; có cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ thỏa đáng các chuyên gia đầu ngành.

Đặc biệt, cần dự báo sát, nâng cao hơn nữa tính chủ động trong nắm bắt tình hình tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời xử lý thông tin, làm tốt công tác định hướng dư luận xã hội, bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội để tạo ra sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới./.

(Theo Tạp chí cộng sản ngày 25-10-2022)