Thứ Tư, 2 tháng 11, 2022

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước và ý nghĩa đối với thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước được hình thành và phát triển trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam. Đó là sản phẩm tinh thần cao đẹp, tạo nên nguồn cổ vũ mạnh mẽ, đoàn kết nhân dân, đấu tranh giải phóng dân tộc. Là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thanh niên Việt Nam là nhân tố quan trọng, quyết định tương lai và vận mệnh của đất nước. Vì vậy, bồi dưỡng tư tưởng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên là hết sức cần thiết. Khi hiểu rõ và thấm nhuần được tinh thần chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh, lực lượng thanh niên sẽ rèn luyện, đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
 
 1. Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh - hệ tư tưởng mang tính thời đại.

Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã vun bồi tình cảm, tư tưởng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống của nhân dân. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam mang đậm những nét đặc sắc riêng của mình. Đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước; yêu nước gắn với thương dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; yêu nước gắn với khát vọng về tự do, khát vọng hoà bình. Tất cả những giá trị đó luôn thống nhất, không tách rời nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [5, tr.38]. Chủ nghĩa yêu nước chính là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến những thắng lợi lừng lẫy năm châu, là giá trị thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam hùng cường, bất khuất. Thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có ý thức tìm con đường cứu nước giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

Trên tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân yêu nước, tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa và phát triển mang tính thời đại, gắn liền với mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Nhận định về những thất bại của các phong trào đấu tranh từ phong trào Cần Vương đến các phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản mà tiêu biểu là phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, cải cách Dân Chủ… Người hiểu rõ không thể đi theo con đường cách mạng như các vị tiền bối. Theo Người, nước độc lập phải đi đôi với dân được hưởng quyền tự do, ấm no, hạnh phúc.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ nghĩa yêu nước đã chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người. Người đau đáu trong mình “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [4, tr.161]. Mọi kế sách đều là vô nghĩa nếu không đem lại tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc. Vì mục đích lý tưởng này đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, chịu bao gian khổ, đồng thời là cơ sở tư tưởng dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này được Người khẳng định: “Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [3, tr.128].

Hồ Chí Minh có ý thức rất rõ ràng về vị trí, vai trò, sức mạnh của tinh thần yêu nước. Khẳng định về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước.Theo Người, “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì dân mình mới được ấm no, Tổ quốc mới được giàu mạnh”. Yêu nước gắn liền với thương dân, nghĩa nước gắn chặt với tình thân, tình thân là cái gốc của chủ nghĩa yêu nước. Vì vậy, khi đọc được bản Sơ thảo Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Người đã đọc đi, đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã sung sướng, reo lên vui mừng khi tìm ra được con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác Lênin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường cách mạng vô sản”. Đây chính là con đường mà Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam đang tìm kiếm. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ [7, tr.53]. Từ đó, Người đã tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin tại Đại hội Tour tháng 12-1920. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong hành trình tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa yêu nước là động lực lớn của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu hơn ai hết truyền thống quý báo đó của dân tộc. Người khẳng định: “Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn của đất nước”, “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống của họ”. “Chủ nghĩa dân tộc ở đây là tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc. Từ niềm tin “người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Người đã khơi dậy truyền thống yêu nước đó, phát huy được sức mạnh của nhân dân cùng với Đảng đứng lên làm cách mạng giành lại độc lập tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Sức mạnh nội sinh to lớn từ chủ nghĩa yêu nước chính là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đoàn kết dân tộc. Bởi trừ những thành phần phản động, tay sai cho đế quốc, thì dù là địa chủ hay nông dân, thương gia… đều là người nô lệ. Xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất để đại đoàn kết dân tộc là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh. Phương châm đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là “cầu đồng tồn dị”. Minh chứng lịch sử đã cho thấy, đại đoàn kết dân tộc đã tạo sức mạnh vô địch giúp cho cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Không chỉ vậy, chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh còn mang tinh thần quốc tế khi Người gắn kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau” [6, tr.272]Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, mỗi dân tộc đều phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ và đồng thời tham gia vào nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Hai cuộc cách mạng này phải tiến hành đồng thời, tác động hỗ trợ lẫn nhau. Người kêu gọi tất cả những người yêu nước phải đoàn kết lại, “vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do” [1, tr.553]. Sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến cứu nước hoàn toàn.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hoá nhân loại và đặc biệt là dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước đã được đưa lên một tầm cao mới. Từ một người yêu nước tiến bộ trở thành người cộng sản, một lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện đã phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam. Người đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ - nhân dân ở Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, chủ nghĩa yêu nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững lợi ích của dân tộc mình và luôn tôn trọng lợi ích của các dân tộc khác.

Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay [9, tr.103, 104]. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đánh giá về những thành tựu đạt được, Đại hội XIII xác định: “Đây là niềm tự hào, là động lực; nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức; tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước” [10, tr.104].

2. Thế hệ thanh niên là lực lượng to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Cho đến nay, chủ nghĩa yêu nước vẫn là giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đó là một trong những động lực quan trọng nhất góp phần gắn kết cộng đồng, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triền. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, càng đòi hỏi phải phát huy “tinh thần yêu nước” cao độ của mỗi người, đặc biệt là thế hệ thanh niên.  

Ở bất cứ thời đại nào, thanh niên luôn lực lượng tiên phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Sức trẻ cùng với lòng nhiệt huyết của mình, thanh niên Việt Nam không ngại khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhận thức về vai trò của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, thanh niên là lực lượng quyết định sự phát triển của cách mạng, của dân tộc, “nhà nước thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Để hoàn thành trọng trách lịch sử đó, đội ngũ thanh niên cần phải có ý chí vươn lên, đồng thời Đảng phải có trách nhiệm chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng, vừa chuyên”.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ thanh niên. Người khẳng định: “cốt nhất của nhà trường là dạy học cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có ý chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” [2, tr.102]. Cách tốt nhất để bồi dưỡng lòng yêu nước cho thanh niên là giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng. Từ đó bồi đắp, củng cố cho thế hệ trẻ hiểu được giá trị lịch sử, giá trị của cuộc sống hoà bình, tự do, độc lập, xây dựng cho mình hoài bão, khát vọng, ý chí, quyết tâm vượt lên khó khăn, thử thách; có tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, sẵn sàng cống hiến và hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, có nhiều vấn đề tác động ảnh hưởng đến lòng yêu nước của thanh niên như: tác động của nền kinh tế thị trường, lối sống thực dụng, in-tơ-nét, mạng xã hội… Đặc biệt, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta vẫn diễn ra quyết liệt với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn. Là đối tượng nhạy cảm, dễ bị kích động, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để lôi kéo, lợi dụng giới trẻ, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong bộ phận thanh niên, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái đạo đức, lối sống trong thế hệ tương lai của đất nước. Vấn đề này nếu không được kịp thời giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng với tương lai, tiền đồ của đất nước. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) đã nhấn mạnh: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên” [8, tr.82].

Qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, thế hệ thanh niên Việt Nam luôn là lực lượng quả cảm, tiên phong trong các phong trào cách mạng, không ngại gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, tiếp nối truyền thống quý giá của cha ông để lại, thanh niên Việt Nam không ngừng ra sức phấn đấu lao động, học tập, rèn luyện về mọi mặt, có ý chí vươn lên trong cuộc sống. Họ có nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, kiên quyết đấu tranh những biểu hiện sai trái trong đạo đức và lối sống, có sức đề kháng và còn là lực lượng to lớn trong việc làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm gây tổn hại đến sự phát triển của đất nước. Phần lớn thanh niên, ngay từ khi còn trong ghế nhà trường đã luôn có ý thức chính trị - xã hội tốt, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động đoàn thể để được cống hiến và trưởng thành. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng ngày càng tăng. Minh chứng cho tinh thần yêu nước vẫn luôn là ngọn đèn sáng soi rọi cho mọi suy nghĩ và hành động của thanh niên, hình thành nên một thế hệ thanh niên nhiệt tình, dám làm, dám chịu trách nhiệm và luôn muốn được cống hiến, phụng sự vì một nước Việt Nam hùng mạnh và văn hiến.  

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống, lãng quên truyền thống cách mạng của Đảng và dân tộc, bàng quan trước tình hình của đất nước. Một số thanh niên còn mơ hồ về chính trị, chưa xác định được trách nhiệm của thanh niên nói chung và bản thân nói riêng, ngại tham gia các hoạt động đoàn thể và các hoạt động xã hội. Một bộ phận thanh niên đi học ở nước ngoài, tiếp cận các tư tưởng phương Tây nhưng không có bản lĩnh chính trị vững vàng nên bị phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có những thái độ chỉ trích phê phán chủ quan, phiến diện, thậm chí có thái độ đối lập. Đánh giá về thực trạng thanh niên hiện nay, Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X nhận định: “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hoá dân tộc”.

Vì vậy, bồi dưỡng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ Việt Nam là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ không chỉ là duy trì những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đó còn là tăng thêm sức mạnh nội sinh, phát huy tiềm lực con người cho quá trình phát triển đất nước.

3. Một số giải pháp nâng cao chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên Việt Nam hiện nay

Đại hội XIII của Đảng xác định:  “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” [11, tr.34]. Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục, làm rõ hơn nữa những nội dung của chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất cần thiết, mang tính chiến lược lâu dài trong giai đoạn hiện nay để nâng cao sức đề kháng cho thế hệ thanh niên trước âm mưu “diễn biến hoà bình”, giúp các em có khả năng chủ động đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên cần tập trung vào những giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên. Các chủ thể giáo dục như nhà trường, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải chú trọng nội dung, phương pháp phù hợp với thanh niên. Giáo dục không chỉ cần bám sát nội dung cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước mà cần phải được liên hệ, phản ánh với đặc điểm của thời đại. Cần giáo dục sinh động, hấp dẫn và dễ tiếp thu như thông qua: hình ảnh, phim truyện, đàm thoại, diễn đàn khoa học tạo điều kiện để các đoàn viên, thanh niên được trao đổi nhằm nâng cao nhận thức cả về lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, lý luận gắn với thực tiễn; kết hợp hiệu quả giữa giáo dục tại nhà trường với giáo dục trong gia đình và các tổ chức chính trị - xã hội.

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030 thông qua 3 phong trào lớn đó là: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo” và “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”. Những nội dung chủ nghĩa yêu nước cần phải được cụ thể, tổ chức sáng tạo, phù hợp với lứa tuổi, đơn vị, cơ quan, địa phương nhằm phát huy hiệu quả.

Hai là, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức, giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Vì vậy, phải xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, có uy tín, trở thành nơi “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, luôn là tấm gương sáng cho đoàn viên noi theo. Đoàn viên thanh niên không ngừng tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống. Mặt khác, tổ chức đoàn tiếp tục tăng cường, giáo dục tinh thần yêu nước, những truyền thống quý báu của dân tộc, tổ chức vận động đoàn viên thanh niên không ngừng học tập, rèn luyện ý chí, cống hiến sức mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Các tổ chức cơ sở đoàn cần thường xuyên quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên chi đoàn mình. Chủ động dự báo, nắm chắc và dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng của đoàn viên thanh niên để định hướng, giáo dục và kịp thời giải quyết các vấn đề mới nảy sinh. Đặc biệt, cần kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thi đua chính là điều kiện, tiền đề quan trọng để biến lòng yêu nước từ “học tập” trở thành “làm theo” trong từng hành động cụ thể.

Ba là, truyền cảm hứng cho thanh niên thông qua gương “người tốt, việc tốt” để giáo dục và tự giáo dục. Thanh niên luôn ngưỡng mộ những người tài giỏi nên cần phát huy các gương điển hình tiên tiến để lôi cuốn, cổ vũ và thuyết phục thanh niên. Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: một tấm gương tốt, một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn. Vì vậy, tăng cường tuyên truyền, biểu dương các tấm gương điển hình tiên tiến, bao gồm tiên tiến về: tư tưởng, đạo đức lối sống, tác phong và tiên tiến về mô hình, cách làm để tạo hiệu ứng lan toả, khích lệ tinh thần thi đua học tập và phấn đấu của mỗi người. Khi được truyền cảm hứng sẽ tạo nên sức mạnh nội lực bên trong, cổ vũ và thúc đẩy thế hệ thanh niên Việt Nam nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, sáng tạo với những quyết tâm lớn để kế tiếp những thế hệ trước hoàn thành giấc mơ xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, sánh vai cùng các nước trên thế giới.

Bốn là, xây dựng hệ giá trị văn hoá chuẩn mực để giáo dục dục cho thanh niên. Để phát huy được tinh thần yêu nước của thế hệ thanh niên theo chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải xây dựng một môi trường xã hội với các giá trị văn hoá chuẩn mực đạo đức. Đặc biệt, sự bùng nổ của in-tơ-nét khiến cho văn hoá phương Tây ảnh hưởng đến lối sống cùng với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch khiến cho một bộ phận thanh niên mơ hồ, hoài nghi và phai nhạt lý tưởng cách mạng. Do vậy, sớm xác định giá trị quốc gia và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam hiện đại, tạo cơ sở xây dựng, triển khai, thực hiện các chính sách, giải pháp phục vụ cho sự phát triển con người, khắc phục sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trong thế hệ trẻ hiện nay. Trên cơ sở đó, xây dựng môi trường xã hội văn hoá, gắn với việc xây dựng gia đình văn hoá, xã hội văn hoá, đồng thời tăng cường giáo dục ý thức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những âm mưu tấn công của các thế lực phi văn hoá, phản văn hoá, những suy đồi trong đạo đức, lối sống. Để làm được điều đó, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phù hợp trong xây dựng chính sách phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, sự phát triển kinh tế là tiền đề cho sự phát triển văn hoá, đạo đức. Phát huy sức mạnh của văn hoá, đặc biệt là những giá trị chân - thiện - mỹ, những giá trị phổ biến và phổ quát của văn hoá mà thanh niên cần phải được tiếp thu để trở thành những công dân có đức đức, có văn hoá. Phải có những hình thức, cơ chế, đặc biệt phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, giáo dục, tạo điều kiện cho thanh niên có thể tiếp cận và thấm nhuần các giá trị văn hoá dân tộc, chuyển biến những giá trị văn hoá tốt đẹp vào trong các hoạt động cuộc sống. Có như vậy, mới xây dựng được thế hệ thanh niên mang trong mình tinh thần yêu nước sâu sắc để từ đó kế tiếp và phát huy những truyền thống vẻ vang của dân tộc; để dù hội nhập quốc tế, Việt Nam vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc, kiên định, vững vàng trước mọi thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

 

TCCS - Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về tư chất, năng lực và phong cách lãnh đạo. Học tập phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của Người, đặc biệt là trong việc xây dựng, rèn luyện phong cách lãnh đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tát nước chống hạn với bà con nông dân ở cánh đồng Quai Chảo, xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông, tháng 1-1958_Nguồn: hochiminh.vn

Sự cần thiết của lãnh đạo bằng nêu gương theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Nêu gương là việc thực hành để những giá trị của đạo đức và tài năng của người lãnh đạo được lan tỏa, truyền cảm hứng; qua đó, dẫn dắt, thúc đẩy mọi hành động của cấp dưới và người dân. Sự nêu gương của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị là mệnh lệnh không lời để thuyết phục cấp dưới noi theo. Sự yếu kém về nhân cách và phong cách lãnh đạo của người đứng đầu sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy xấu cho hoạt động của cơ quan, đơn vị. Vì vậy, phát huy trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo trong các tổ chức của hệ thống chính trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Lãnh đạo bằng nêu gương là phương thức lãnh đạo khoa học, trí tuệ và nhân văn để Đảng xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong mỏi. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu”(1).

Phong cách Hồ Chí Minh dù là phong cách của vị lãnh tụ tối cao, nhưng cực kỳ gần gũi - “cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu”(2) - mang đậm dấu ấn riêng. Cả cuộc đời Người là sự mẫu mực về phong cách làm việc, phong cách lãnh đạo dân chủ, khoa học, có kiểm tra, kiểm soát cụ thể, thường xuyên; về tác phong luôn gần dân, tin dân, trọng dân; ứng xử tinh tế trong thực hành đoàn kết, dựa vào nhân dân để thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng; về tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, trung thành với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Sau khi giành được chính quyền, với tư cách “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(3), Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng”(4); theo đó, “Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ”(5), “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(6).

Hiện nay, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu giữ vai trò cực kỳ quan trọng, góp phần vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân - kẻ thù của đạo đức cách mạng, chống những nguy cơ suy thoái của cán bộ, đảng viên, nguy cơ đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Trong công cuộc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về nêu gương trong tình hình mới, thì vấn đề thực hiện trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo luôn được Đảng ta chú trọng, ban hành các quy định cụ thể(7). Các quy định, kết luận này đã kịp thời đáp ứng yêu cầu bức thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tạo hiệu ứng tích cực. Bước đầu, việc thực hiện các quy định đã tạo chuyển biến tích cực, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm nêu gương; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực. “Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực, nhất là vai trò tiền phong, gương mẫu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương(8).

Tuy nhiên, Đảng ta cũng chỉ rõ, “Việc tu dưỡng, rèn luyện, làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu chưa thường xuyên; một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các quy định của Đảng, vi phạm pháp luật”(9). “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”(10). Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Việc cam kết tu dưỡng, rèn luyện, gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiệu quả chưa cao”(11). Tổng kết công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cho thấy: Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu(12). Các cán bộ bị kỷ luật đều có hành vi vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, các quy định của Đảng, Nhà nước và công tác cán bộ; vi phạm trong ban hành chủ trương, nghị quyết về đầu tư, góp vốn, chỉ định thầu, cổ phần hóa; thiếu trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát; tham nhũng, “lợi ích nhóm”; vụ lợi, ưu ái vun vén cho gia đình, người thân; không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, sử dụng bằng cấp không đúng quy định.

Điều đáng lưu ý là, ở một số địa phương, người đứng đầu chưa nghiêm túc thực hiện công tác tiếp công dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo; không có chính kiến, quan điểm rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm; chưa tận tâm, tận lực, nhiệt huyết trong công việc; còn tình trạng mất đoàn kết nội bộ, nảy sinh mâu thuẫn cá nhân, ganh ghét, đố kỵ, so bì thiệt hơn,... Đặc biệt là, trong công cuộc phòng, chống dịch bệnh COVID-19, khi cả nước chung tay, gồng mình “chống dịch như chống giặc” thì vẫn còn một số cán bộ đứng đầu sở, ngành ở một số địa phương, bộ, ngành trung ương có hành vi xấu (không thực hiện nghiêm việc giãn cách xã hội, vi phạm trong đấu thầu mua trang, thiết bị y tế, kit xét nghiệm,...), bị kỷ luật, tạo dư luận tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm giảm uy tín tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi sinh hoạt, công tác; gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Rõ ràng, sự lãnh đạo bằng nêu gương đang bị thách thức và cuộc đấu tranh chống sự “thiếu gương mẫu”, “nêu gương xấu” của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, thử thách, đòi hỏi cần phải được giải quyết một cách quyết liệt, triệt để, rõ ràng, minh bạch. Vì vậy, cần phải tăng cường phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, nhất là người đứng đầu trong các tổ chức của hệ thống chính trị; qua đó, góp phần củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi công nhân làng nghề sản xuất gỗ truyền thống Gò Công, xã Tân Trung, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang_Ảnh: TTXVN

Xây dựng phong cách lãnh đạo bằng nêu gương cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Hiện nay, trước yêu cầu mới, việc noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”(13). Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là sự kế thừa truyền thống quý báu của Đảng ta về nêu gương để lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân, nhất là trong công cuộc đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh hiện nay. Việc xây dựng phong cách lãnh đạo bằng nêu gương theo tư tưởng của Người có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần truyền cảm hứng, tạo dựng niềm tin và động lực để đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu gương sáng trong phong cách, lề lối làm việc, trong ứng xử và phong cách sinh hoạt; từ đó, tạo ra sự lan tỏa và xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội để thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đại hội XIII của Đảng xác định, để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì phải tăng cường “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(14). Đặc biệt, để xây dựng phong cách lãnh đạo bằng nêu gương theo chỉ dẫn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhấtnâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về vai trò tiên phong, gương mẫu của người lãnh đạo.

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Vì Đảng ta không phải trên trời sa xuống, mà từ trong xã hội sinh ra”, nên “chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”(15). Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu đó là phải nâng cao nhận thức trên cơ sở khoa học về tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, về tầm quan trọng, vị trí, vai trò và nội dung nêu gương của đảng viên trước nhân dân với tư cách là những thành viên của Đảng tiên phong - Đảng cầm quyền.

Thứ haiphát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo.

Tiếp tục nghiên cứu, chỉ đạo nghiêm túc việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của các tổ chức đảng, gắn với thực hiện Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII; các chỉ thị, quy định về nêu gương của Đảng, các quan điểm chỉ đạo và nội dung về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng. Các cấp ủy phối hợp với lãnh đạo cùng cấp tiếp tục chỉ đạo, lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm phù hợp với tình hình cụ thể, tập trung giải quyết và kiên quyết xử lý thỏa đáng những vấn đề nổi cộm, tồn đọng kéo dài gây bức xúc trong dư luận xã hội; đồng thời, xây dựng kế hoạch cụ thể để khắc phục những vấn đề đó; phải có thái độ kiên quyết theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng cần phải hết sức ngăn ngừa hiện tượng ấy, phải kịch liệt chống lại nó; phải tẩy những phần tử đã hủ hoá ra khỏi Đảng và cơ quan chính quyền, để giữ gìn tính trong sạch của Đảng và của chính quyền”(16). Xử lý nghiêm minh, kịp thời, không nể nang những kẻ vi phạm theo phương châm “quan phạm tội, xử nặng hơn thứ dân”, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(17).

Mặt khác, cần đặt vấn đề thực hiện trách nhiệm nêu gương của đảng viên là một nội dung xem xét trong công tác tổ chức và bố trí cán bộ; hoàn thiện thể chế, quy định chuẩn mực về phong cách nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý từng cấp, từng ngành, từng đơn vị,... làm cơ sở cho đánh giá, giám sát, quản lý cán bộ. Tiếp tục cụ thể hóa để có thể đo lường lề lối, phong cách của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị một cách phù hợp, làm cơ sở cho việc đánh giá, phân loại và giám sát cán bộ hằng năm theo Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 4-8-2017, của Bộ Chính trị, “Về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”.

Thứ bahoàn thiện mô hình đào tạo, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ hướng tới xây dựng phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại đối với người đứng đầu.

Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu qua hoạt động thực tiễn; đặc biệt là đào tạo thông qua luân chuyển, xử lý tình huống, qua thực hiện hành vi chuẩn mực trước nhân dân và trong công việc; qua tự rèn luyện phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, giải quyết các vấn đề lãnh đạo một cách chuyên nghiệp, hiện đại. Theo đó, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo hướng có tinh thần tận tụy, gương mẫu, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh và có năng lực tìm tòi, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ được giao. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu phải gương mẫu, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, học tập suốt đời, học hỏi đồng nghiệp, học từ thực tiễn công việc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Cán bộ Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giúp đồng bào phát rẫy ở xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: baovephapluat.vn

Thứ tư, tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chủ động tham gia giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, nhất là về lập trường tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tham mưu, góp ý với Đảng về những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nâng cao và ngày càng hoàn thiện phẩm chất, năng lực, góp phần tích cực vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; bảo đảm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”.

Phát huy vai trò của nhân dân đối với công tác cán bộ, tham gia giám sát phong cách lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp; tăng cường vai trò của báo chí trong tổng kết, cổ vũ, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, phê phán phong cách quan liêu, hách dịch của một bộ phận cán bộ, đảng viên có hành vi ứng xử đi ngược lại lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, những khuyết điểm, sai lầm của cán bộ, đảng viên có thể không bị lãnh đạo, hoặc cơ quan kiểm tra phát hiện kịp thời, nhưng không thể che giấu được trước trăm nghìn “tai mắt” của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh bài học: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”(18). Từ đó, Đảng ta xác định, việc học tập phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vận dụng sáng tạo, phù hợp với cương vị, nhiệm vụ, phẩm chất, trí tuệ, điều kiện của người lãnh đạo sẽ góp phần làm phong phú và đem lại hiệu quả thiết thực trong việc đổi mới phương thức, phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong điều kiện hiện nay./.

                    Nguồn: PGS, TS. LÂM QUỐC TUẤN - TS. LÊ THỊ THU HỒNG

Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 Các cơ quan thông tấn báo chí có vai trò quan trọng trong việc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương tiếp đón đồng chí Luis Enrique González Acosta, Chủ tịch hãng thông tấn Cuba Prensa Latina. (Ảnh: TA)

Sáng ngày 1/11, tại trụ sở của Ban Tuyên giáo Trung ương số 2B, Hoàng Văn Thụ, Hà Nội, đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương đã tiếp xã giao đồng chí Luis Enrique González Acosta, Chủ tịch hãng thông tấn Cuba Prensa Latina.

Tại buổi làm việc, đồng chí Lại Xuân Môn rất vui mừng trước chuyến thăm của Đoàn công tác do đồng chí Luis Enrique González Acosta, Chủ tịch hãng thông tấn Cuba Prensa Latina tới thăm và làm việc nhằm trao đổi những kinh nghiệm trong quá trình chuyển đổi số các phương tiện thông tin, báo chí của hai quốc gia Việt Nam và Cuba. Đồng chí Lại Xuân Môn đã giới thiệu đôi nét chính về chức năng, nhiệm vụ và vai trò của cơ quan Ban Tuyên giáo Trung ương trong việc lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan thông tấn báo chí của Việt Nam hiện nay.

Được biết, trong chuyến công tác lần này, đồng chí Luis Enrique González Acosta đã tới thăm và làm việc với một số cơ quan tấn, báo chí uy tín của Việt Nam như TTXVN, Báo Nhân dân,... qua đó tìm hiểu rõ hơn về quá trình chuyển đổi số ở các cơ quan báo chí truyền thông tại Việt Nam trong thời gian qua.

Quang cảnh buổi làm việc. (Ảnh: TA)

Quang cảnh buổi làm việc. (Ảnh: TA)

“Qua 2 năm dịch bệnh Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, ảnh hưởng lớn tới mọi mặt của cuộc sống cũng như quan hệ hợp tác, ngoại giao có lúc bị đình trệ để phòng chống dịch, song hai cơ quan thông tấn báo chí là TTXVN và Prensa Latina vẫn thường xuyên trao đổi thông tin, hợp tác trên nhiều phương diện, cung cấp thông tin về tình hình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng...đạt hiệu quả cao, được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau của 2 kênh, nhằm tuyên truyền những thành quả mà hai Đảng, hai Nhà nước, Nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba đã đạt được trong suốt thời gian vừa qua. Tôi rất vui mừng trước chuyến thăm của các đồng chí, điều đó thể hiện sự gắn kết, hợp tác có hiệu quả giữa hai hãng trên nhiều phương diện, góp phần thiết thực vào tình hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa hai nước Việt Nam và Cuba. Bên cạnh đó, tái khẳng định cam kết hợp tác theo thỏa thuận giữa Prensa Latina và TTXVN gần đây nhất được ký ngày 29/3/2018 tại La Habana trước sự chứng kiến của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Bí thư thứ Nhất Đảng Cộng sản Cuba Raul Castro”, đồng chí Lại Xuân Môn nhấn mạnh.

Trong bối cảnh tình hình thế giới nhiều biến động hiện nay, các thế lực thù địch luôn lợi dụng mọi lúc, mọi nơi, cơ hội để tìm cách chống phá những thành tựu mà hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân Việt Nam - Cuba dày công vun đắp, xây dựng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro Ruz đã đặt nền móng vững chắc cho thế hệ sau không ngừng xây dựng, vun đắp mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt của Việt Nam - Cuba đời đời bền vững.

Đồng chí Lại Xuân Môn bày tỏ phấn khởi về sự hợp tác có hiệu quả giữa Thông tấn xã Việt Nam và hãng thông tấn Cuba Prensa Latina trong thời gian qua trên các lĩnh vực trao đổi thông tin, in và phát hành Báo ảnh Việt Nam, hợp tác chuyên gia, hỗ trợ phóng viên thường trú của nhau. Đồng chí đánh giá các chương trình hợp tác giữa hai hãng thông tấn có ý nghĩa quan trọng, góp phần tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam và Cuba. Theo đồng chí Lại Xuân Môn, các chương trình hợp tác sắp tới giữa Thông tấn xã Việt Nam và hãng thông tấn Cuba Prensa Latina rất có ý nghĩa, đặc biệt là việc lãnh đạo hai hãng thông tấn nhất trí phối hợp tổ chức triển lãm ảnh tại Việt Nam và Cuba nhân kỷ niệm 50 năm lãnh tụ Cuba Fidel Castro có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam.

Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương đánh giá qua 35 năm đổi mới đất nước, các cơ quan thông tấn báo chí chính là cánh tay nối dài của Đảng, có vai trò quan trọng trong việc định hướng dư luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, nắm bắt dư luận xã hội,… thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng Đảng và phát triển đất nước phồn vinh. Minh chứng cụ thể nhất gần đây, Việt Nam được Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, nhiệm kỳ 2023-2025, điều đó khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đồng chí Lại Xuân Môn mong muốn hai hãng TTXVN và Prensa Latina thời gian tới sẽ tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, tiếp tục trao đổi kinh nghiệm trong việc chuyển đổi số truyền thông, báo chí hiện nay, định hướng thông tin, dự luận, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, những thành phần cơ hội, chống phá trên không gian mạng hiện nay, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam - Cuba đã đặt ra.

Đáp lời, đồng chí Luis Enrique González Acosta, Chủ tịch hãng thông tấn Cuba Prensa Latina cảm ơn sự đón tiếp nồng hậu, ân cần của đồng chí Lại Xuân Môn đối với Đoàn công tác. Chủ tịch Thông tấn xã Mỹ Latin đánh giá cao những trao đổi kinh nghiệm, hợp tác trong chuyến đi lần này của đoàn tới các cơ quan thông tấn, báo chí uy tín của Việt Nam, qua đó tái khẳng định cam kết đã ký giữa thuận giữa Prensa Latina và TTXVN gần đây nhất được ký ngày 29/3/2018 tại La Habana trước sự chứng kiến của Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Bí thư thứ Nhất Đảng Cộng sản Cuba Raul Castro. Trong chuyến thăm lần này, Đoàn cũng đã có cơ hội để tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi công tác quản lý, nghiệp vụ báo chí, xuất bản, truyền thông theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, áp dụng công nghệ tiên tiến vào nghiệp vụ báo chí hiện nay.

Nhất trí cao về vai trò của của báo chí truyền thông trong việc phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá nhằm lật đổ chính quyền, đồng chí Luis Enrique González Acosta tin tưởng những trao đổi trong việc quản lý báo chí, ứng dụng công nghệ vào hoạt động báo chí trên không gian mạng là việc làm cần thiết, cần được trao đổi, học hỏi giữa hai nước.

“Nhằm góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam-Cuba, kỷ niệm 50 năm Lãnh tụ Cuba Fidel Castro có chuyến thăm lịch sử tới Việt Nam (tháng 9/1973-9/2023), Lãnh đạo hai hãng thông tấn Prensa Latina TTXVN và nhất trí phối hợp tổ chức triển lãm ảnh tại Việt Nam và Cuba”, đồng chí Luis Enrique González Acosta thông tin thêm.

Đồng chí Lại Xuân Môn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và đồng chí Luis Enrique González Acosta, Chủ tịch Thông tấn xã Mỹ Latin cùng Đoàn công tác chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: TA)

Đồng chí Lại Xuân Môn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương và đồng chí Luis Enrique González Acosta, Chủ tịch Thông tấn Cuba Prensa Latina cùng Đoàn công tác chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: TA)

Được biết, trong chuyến thăm và làm việc với TTXVN ngày 30/10 mới đây, Lãnh đạo TTXVN và Prensa đã kiểm điểm việc thực hiện các chương trình hợp tác song phương từ năm 2020 đến nay trên các lĩnh vực trao đổi thông tin, in và phát hành Báo ảnh Việt Nam, hợp tác chuyên gia, hỗ trợ phóng viên thường trú của nhau. Hai bên khẳng định tầm quan trọng của hoạt động hợp tác giữa hai hãng; tái khẳng định sự hợp tác đó tiếp tục góp phần tăng cường sự hiểu biết và tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam và Cuba. Hai bên đánh giá cao việc hợp tác về in và phát hành Báo ảnh Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh thời gian qua; nhất trí sẽ ký lại Thỏa thuận hợp tác về lĩnh vực này vào năm 2023./.

                                                                                                                Nguồn: Nhật Minh

ĐÃ RẮP TÂM CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC THÌ ĐỪNG NGỘ NHẬN MÌNH LÀ "MỘT PHẦN DÂN TỘC" ! Mới đây, đài phản động VOA hải ngoại đưa bài viết quảng bá cái Trung tâm chống cộng Thúy Nga paris đến Thái Lan biểu diễn có đá sang mấy từ đại loại những người chối bỏ Tổ quốc trước năm 1975 là "một phần dân tộc bị tách rời". Thực ra mấy anh chị đã chống phá Tổ quốc thì ngoài ăn hại ra các anh chị VOA làm được gì cho Tổ quốc mà xưng danh là "một phần dân tộc bị tách rời"? Nói mà không biết ngưỡng cái miệng. Trước năm 1975, Mỹ ngụy cố tình chia rẽ Bắc - Nam mà chính ông bà hoặc cha mẹ của họ đã cấu kết với Mỹ giày xéo miền Nam, phải hơn 20 năm đất nước mới giải phóng, thống nhất. Hàng triệu đồng bào chiến sĩ phải hi sinh thì đất nước mới vẹn toàn. Trong cái lớp lỗi lầm, chối bỏ Tổ quốc ra đi thì cũng đã có hàng triệu người Việt hải ngoại hối lỗi trở về với đất nước, trở thành công dân tốt góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh như hôm nay, họ mới xứng đáng là "một phần dân tộc và dân tộc Việt Nam không bao giờ bỏ rơi những con người lầm đường biết hối lỗi để trở về với chính nghĩa dân tộc. Còn lại một nhúm suốt ngày ôm dẻ vàng chống phá, bỉ bôi Tổ quốc mà chính cái Trung tâm Thúy Nga Paris của các vị trong đó có Nguyễn Ngọc Ngạn là một trung tâm chống cộng, truyền bá tư tưởng phản động, đồi trụy khét tiếng từ xưa đến nay thì ai gọi các vị là "một phần dân tộc"? Có chăng, các vị chỉ là một "bộ tộc" của Mỹ nói tiếng Việt thôi, đừng ngộ nhận! ST PQ
LÀM GÌ ĐỂ BÍ MẬT QUÂN SỰ KHÔNG LỌT VÀO TAY CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Nhận thức đúng vị trí, tầm quan trọng và thực hiện tốt việc bảo đảm bí mật quân sự không lọt vào tay các thế lực thù địch, phản động sẽ là cơ sở quan trọng để chống lại âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo đảm an ninh, an toàn cho mọi hoạt động, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, thực sự là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để bí mật quân sự không lọt vào tay các thế lực thù địch đòi hỏi chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung, biện pháp. Tuy nhiên, tùy vào tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của từng đơn vị mà người chỉ huy, cơ quan chính trị, chính ủy, chính trị viên cần xây dựng chủ trương biện pháp cụ thể. Tập trung làm tốt các vấn đề sau: Thứ nhất, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, thực hiện tốt Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới; xây dựng và thực hiện tốt các chế độ phòng gian, giữ bí mật. Qua đó, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; không mơ hồ, mất cảnh giác, vô tình tiếp tay cho địch; chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Hai là, các cơ quan, đơn vị tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn và có biện pháp ngăn ngừa, chấn chỉnh, khắc phục kịp thời những hạn chế, sai sót trong công tác bảo mật. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, bổ sung hoàn thiện các quy chế, quy định của cơ quan về công tác bảo vệ bí mật quân sự cho phù hợp với thực tiễn cơ quan, đơn vị; làm tốt công tác biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong thực hiện tốt công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Ba là, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, cũng như các phương tiện bảo mật phù hợp, đáp ứng yêu cầu phục vụ cho công tác bảo vệ bí mật quân sự; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về nghiệp vụ quản lý, trang thiết bị kỹ thuật, bảo đảm tốt kinh phí nghiệp vụ và có chế độ, chính sách phù hợp cho cán bộ, nhân viên, những người trực tiếp làm công tác cơ mật của quân đội.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC MỘT CHUYẾN THĂM HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT

Những ngày vừa qua, khi các cơ quan báo chí truyền thông Việt Nam và Trung Quốc đưa tin về chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (từ ngày 30/10 đến 2/11) theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, thì mạng xã hội “dậy sóng” những loạt tin xấu độc theo hướng “bài Hoa, thân Mỹ”. Trong các luận điệu xuyên tạc phản động ấy, nổi lên một số quy chụp, suy diễn hồ đồ khi cho rằng đó là “một chuyến đi vội vã”, là “đi sang cống thiên triều”, là thể hiện sự “thần phục của Việt Nam trước Trung Quốc”… Và vì thế, Việt Nam sẽ gặp bất lợi trong mối quan hệ với Mỹ; Việt Nam sẽ tiếp tục mất biển, đảo với Trung Quốc; Việt Nam “hãy học Đài Loan” trước tham vong của Trung Quốc và Tập Cận Bình… Song, sự thật vẫn ngời sáng, nên bất chấp những thông tin xấu độc đó, chuyến thăm hữu nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến đất nước Trung Hoa ngay sau khi Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc kết thúc thắng lợi đã khẳng định tầm quan trong và ý nghĩa đặc biệt của chuyến thăm hữu nghị này. Một là, lịch sử quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có từ lâu đời, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các thế hệ tiền bối dày công vun đắp. Suốt chiều dài lịch sử hai nước nói chung và 7 thập niên kể từ khi 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao (18/1/1950) nói riêng, trên tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, quan hệ Việt – Trung đã đi qua những thăng trầm, nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính, là lựa chọn đúng đắn và mối quan hệ hữu nghị giữa 2 nước cũng không ngừng được xây đắp. Cụ thể, kể từ năm 2008 khi 2 bên nhất trí thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, đến nay Việt Nam và Trung quốc đã thiết lập khoảng 60 cơ chế giao lưu hợp tác từ Trung ương đến địa phương, phủ sóng gần như tất cả các lĩnh vực. Trong thực tế, Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam; trong khi đó, Việt Nam cũng tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và đối tác lớn thứ 6 của Trung Quốc trên thế giới. Gần nhất, trong cuộc chiến phòng và chống đại dịch Covid-19, Trung Quốc cũng là một trong những nước cung cấp vaccine nhiều nhất, đóng góp hiệu quả cho công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh tại Việt Nam. Còn trong các lĩnh vực khác, Việt Nam và Trung Quốc đã phối hợp chặt chẽ triển khai thực hiện các văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền giữa 2 quốc gia; đồng thời, tăng cường quản lý an ninh, an toàn khu vực biên giới để kiểm soát bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định trên biển phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 và tích cực thúc đẩy các cơ chế đàm phán về các vấn đề trên biển, thực hiện hiệu quả DOC, thúc đẩy tiến trình tham vấn COC… 72 năm qua, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam – Trung Quốc duy trì xu thế ổn định, tích cực và phát triển. Lãnh đạo 2 bên đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng, góp phần đưa quan hệ song phương lên tầm cao mới. Đặc biệt, sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1-2/2021), Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội 2 nước đã có các cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến, đưa ra những định hướng lớn quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có lợi giữa 2 nước. Gần nhất, 2 bên tổ chức thành công Phiên họp lần thứ 14 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc (tháng 7/2022)… Việt Nam luôn coi trọng và củng cố, phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc, nên chuyến đi thăm hữu nghị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần này không phải là “sự thần phục’, càng không phải là Việt Nam “sợ Trung Quốc”, “sợ thiên triều” và cũng không phải là “ẩn trong lời mời của ông Tập Cận Bình có sự hối thúc nào mà ông Trọng không thể trì hoãn được” hay “sau khi quét sạch trong nhà, phải chăng đến lúc Tập Cận Bình muốn quét ngoài ngõ, mà Đảng CSVN được chọn để chiếu cố đầu tiên” như các thế lực thù địch xuyên tac, mà chính là nhằm tạo động lực và làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa 2 Đảng, 2 Nhà nước vốn đã có bề dày lịch sử. Hai là, việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc ngay sau khi kết thúc Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình không chỉ thể hiện sự coi trọng của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đối với vị thế, vai trò quốc tế của Việt Nam và cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mà còn khẳng định mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã vượt lên trên quan hệ song phương theo nghĩa thông thường và có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Thực tế, 5 năm trước, sau khi Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã chọn Việt Nam để thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của mình. Đó cũng chính là sự thể hiện nhất quán truyền thống tăng cường giao lưu cấp cao giữa 2 Đảng, 2 nước sau Đại hội Đảng. Hơn nữa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng thăm hữu nghị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa các năm 1992, 1997, 2001, 2003, 2007; đặc biệt là 3 lần thăm Trung Quốc sau khi đảm nhận cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 10/2011, tháng 4/2015, tháng 1/2017). Vì thế, chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không phải là “vội vã” cũng không phải vì “Việt Nam lép vế, thần phục Trung Quốc”, “đi chầu mẫu quốc” như các luận điệu xuyên tạc, mà nằm trong chương trình, kế hoạch chung giữa 2 Đảng và 2 Nhà nước; là mong muốn quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phát triển lâu dài, ổn định, ngày càng hiệu quả, thực chất theo tinh thần nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao 2 Đảng, 2 nước; đồng thời làm rõ những quan tâm, lập trường đúng đắn, các lợi ích chính đáng của Việt Nam. Với chuyến thăm lần này, Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định sự ủng hộ của Việt Nam đối với vị trí, vai trò là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như những tư tưởng, đường lối phát triển tại Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển; nhất là vị trí hạt nhân lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình được Đảng Cộng sản Trung Quốc xác lập; đồng thời thể hiện mong muốn củng cố, mở rộng và nâng cao hiệu quả quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, tiếp tục làm định hướng cho quan hệ 2 nước trong tương lai, chứ không phải “chỉ mang tính biểu tượng hay còn gì khác” và “chuyến đi lần này của ông Trọng có nhiều điểm bất thường khiến ngoại giới quan tâm” như suy diễn, đơm đặt của các thế lực thù địch. Thông qua chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần này, góp phần tăng cường quan hệ trên các kênh Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc; đồng thời, tạo chuyển biến mới trong hợp tác bình đẳng, cùng có lợi về kinh tế, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác và nâng cao hợp tác quốc phòng, an ninh, tăng cường hợp tác giữa 2 nước tại các diễn đàn quốc tế… góp phần thúc đẩy chính sách của Trung Quốc về quan hệ hữu nghị, hợp tác với Việt Nam; ủng hộ Việt Nam phát triển, có vị thế quốc tế ngày càng cao. Cuối cùng, phải khẳng định rằng: Không thể xuyên tạc hay bẻ cong được lịch sử. Chuyến thăm hữu nghị Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần này là thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là hiện thực hóa đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi trọng quan hệ với Trung Quốc và coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại, chứ không phải là “quan hệ Việt – Trung càng bền chặt thì thì mức độ Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc càng tăng lên” như trang Việt Tân, Quyenduocbiet, Thông luận, Chantroimoimedia.com… lảm nhảm. Cho nên, chuyến thăm hữu nghị lần này không chỉ khẳng định và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, góp phần củng cố và tăng cường sự hợp tác hữu nghị Việt – Trung phù hợp lợi ích căn bản, lâu dài của 2 Đảng, 2 Nhà nước và người dân 2 nước, mà còn có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới, nên đặc biệt được dư luận 2 nước và quốc tế quan tâm./. Việt Tuấn 30A ST
Bộ Tài chính: 'Tăng lương sớm từ 1.1.2023 sẽ khó kiểm soát lạm phát' Bộ trưởng Tài chính vừa có báo cáo gửi Quốc hội giải trình các ý kiến đại biểu Quốc hội khi thảo luận tại tổ về tình hình ngân sách nhà nước 2022, dự kiến kế hoạch 2023. Chưa xác định thời điểm cải cách tiền lương Giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị thực hiện tăng lương từ 1.1.2023 thay vì 1.7.2023, Bộ Tài chính khẳng định cải cách tiền lương là nhiệm vụ chính trị, xã hội quan trọng, cấp thiết, nhất là trong bối cảnh dịch Covid-19 và giá cả xăng dầu, hàng hóa cơ bản... tác động tới nhân dân cả nước, trong đó có độ ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, Bộ Tài chính cũng cho rằng, trước nguy cơ lạm phát cao, việc cải cách chính sách tiền lương cần được thực hiện một cách thận trọng, hài hòa với các mục tiêu điều hành kinh tế - xã hội nói chung. Do đó, Chính phủ tiếp tục tham mưu các cấp thẩm quyền chưa thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27 trong năm 2023. Thay vào đó, Chính phủ đề xuất thực hiện tăng lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức lên mức 1,8 triệu đồng/tháng (khoảng 20,8%) từ 1.7.2023. Theo Bộ Tài chính, mức tăng nói trên "cơ bản bù đắp mức độ trượt giá thời gian qua". Ngoài ra, Bộ Tài chính cho rằng, thời điểm thực hiện từ ngày 1.7.2023 thay vì từ đầu năm là do thời điểm đầu năm gần với tết dương lịch và âm lịch, nhu cầu mua sắm sử dụng hàng hóa dịch vụ của người dân và doanh nghiệp tăng mạnh. "Nếu thực hiện cải cách tiền lương vào thời điểm này sẽ gây thêm sức ép lên điều hành giá cả do tâm lý tăng lương đi kèm với tăng giá, gây khó khăn cho việc kiểm soát lạm phát", báo cáo của Bộ Tài chính nêu. Đối với đề nghị của các đại biểu về xác định thời gian cụ thể thực hiện cải cách tiền lương từ năm 2024 trong nghị quyết của Quốc hội, Bộ Tài chính cho biết tại các báo cáo dự toán ngân sách nhà nước năm 2023 trình Quốc hội, Chính phủ đã báo cáo nhu cầu và nguồn tích lũy để thực hiện cải cách tiền lương theo quy định. Do bối cảnh thế giới, trong nước đang chịu áp lực lạm phát lớn, nên Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội lùi thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết 27 sau năm 2023. Theo Bộ Tài chính, trong trường hợp các áp lực lạm phát giảm, không có biến động lớn về kinh tế - xã hội, Chính phủ sẽ trình các cấp thẩm quyền về lộ trình thực hiện cải cách tiền lương Nghị quyết 27. Các cơ quan thanh tra được tăng lương cơ sở Về ý kiến đề nghị cần lưu ý việc điều chỉnh tăng trợ cấp cho người có công, trợ cấp bảo trợ xã hội cần đảm bảo cao hơn chuẩn nghèo đô thị, Bộ Tài chính nêu quan điểm cho rằng, việc so sánh chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công năm 2023 với chuẩn nghèo giai đoạn 2021 - 2025 là chưa đồng chất và cần được xem xét kỹ. Theo Bộ Tài chính, thì mức trợ cấp người có công dự kiến điều chỉnh tăng 20,8% từ 1.7.2023, cũng là mức tăng khá. Ngoài ra, chuẩn trợ cấp bảo trợ xã hội mới được điều chỉnh năm 2021 theo nghị định số 20 năm 2021 có hiệu lực từ 1.7.2021 đã có mức tăng khá (tăng 33,3% từ mức 270.000 đồng/tháng lên mức 360.000 đồng/tháng). Về ý kiến tăng lương cơ sở cho cán bộ không chuyên trách cấp xã, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định hiện hành, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước nhưng không phải là đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả hỗ trợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế để chi trả hàng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Đối với ý kiến đề nghị làm rõ cơ quan thanh tra có thuộc đối tượng tăng lương cơ sở đợt này hay không, Bộ Tài chính cho hay, theo chủ trương, định hướng tại Nghị quyết 27, thì tiền lương, thu nhập của các cơ quan thanh tra nhà nước sẽ không như một số cơ quan hành chính nhà nước đang được hưởng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù với mức lương, thu nhập gấp 1,8 - 3 lần mức lương ngạch bậc hiện nay. Do đó, các cơ quan thanh tra nhà nước thuộc đối tượng được điều chỉnh lương cơ sở năm 2023 như các đối tượng cán bộ, công chức không được hưởng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù hiện nay.