Thứ Hai, 30 tháng 1, 2023

Nhận diện những biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay

 

1. Những biểu hiện “theo đuôi quần chúng” của một số cán bộ, đảng viên, cá nhân và nhóm lợi ích. Những người có biểu hiện này thường “chiều theo” ý kiến, nguyện vọng của một nhóm quần chúng nhất định. Họ nhân danh quần chúng nhân dân, “lấy lòng” quần chúng, tìm mọi cách vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho bản thân một cách không lành mạnh, bỏ qua các vấn đề thuộc về nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để mưu cầu lợi ích riêng. Họ thường xem mục tiêu, lý tưởng như là vấn đề “trang sức” cho con đường công danh, tiến thân của bản thân; coi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, đặc biệt là những kẽ hở trong đó như là “điều kiện” để trục lợi. Tuy đây là cấp độ biểu hiện thấp, nhưng nó đã thể hiện sự phai nhạt niềm tin, lý tưởng, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

2. Lợi dụng tình cảm tự phát, nhu cầu trước mắt, lợi ích thường nhật của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng. Trước những vấn đề bức xúc, nhạy cảm của xã hội, của địa phương, đất nước, họ lợi dụng, lấy lòng, hòng làm “thỏa mãn” nhu cầu trước mắt nào đó của một bộ phận dân chúng; kích động người dân phản ứng với dụng ý xấu, động cơ thiếu trong sáng, vì lợi ích riêng của họ; lạm dụng các quyền tự do, dân chủ đưa ra những đòi hỏi, yêu sách phi lý, mị dân, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những người có biểu hiện này thực sự đã suy thoái về chính trị tư tưởng, xa rời dần những nguyên tắc, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; niềm tin đối với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đã suy giảm nghiêm trọng, nhưng họ chưa muốn thay đổi chế độ, bởi lẽ chế độ này “còn có lợi” cho họ để có thể “đục nước béo cò”.

3. Giương cao khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước”, kích động, lôi kéo một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân không vững vàng đi theo, gây rối, chống phá, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước. Những người có biểu hiện này đã thể hiện rõ sự biến chất về chính trị, từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù họ ít bộc lộ tư tưởng, quan điểm một cách trực tiếp, nhưng khẩu hiệu “vì dân”, “yêu nước” luôn được họ thể hiện bằng cách này hay cách khác để lôi kéo, kích động đám đông phục vụ cho ý đồ của họ, tạo cơ sở cho việc tuyên truyền các quan điểm lệch lạc, sai trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

4. Những biểu hiện ở người có quan điểm sai trái, thậm chí thù địch. Họ nhân danh “vì nhân dân”, “bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước”, “vì sự phát triển đất nước và lợi ích quốc gia dân tộc”,… lợi dụng, kích động dân chúng hướng đến những hành động cực đoan chống đối Đảng, chính quyền và chế độ xã hội. Ở những người này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt đến độ thay đổi về chất, đã biến chất về chính trị; ra mặt chống đối cách mạng, chống đối Đảng và Nhà nước không chỉ bằng tư tưởng, quan điểm chính trị sai trái, mà còn bằng cả hành động; họ đã “trở cờ”, nhưng vẫn nhân danh “vì nhân dân”, “vì lợi ích quốc gia dân tộc” và họ thường được sự hỗ trợ, giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần của các thế lực thù địch, phản động.

Những biểu hiện trên chưa phản ánh hết tính chất phức tạp của tình hình, song, đó là những dạng biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa dân túy hiện nay, đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng và Nhà nước. Nó tác động, gây nhiều hệ lụy tiêu cực, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận; dễ lẫn lộn giữa những cán bộ thực sự vì dân, vì nước với những kẻ ngụy trang khéo léo bằng vỏ bọc “vì dân”; dễ dẫn đến dao động về tư tưởng, hoài nghi, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ, ảnh hưởng tiêu cực đến đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Điều đó đặt ra nhiều khó khăn đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, cũng như trong thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Truyền thông chính sách cần cần phát huy sức mạnh của nền tảng số

 

Truyền thông chính sách chuyên nghiệp cần bảo đảm các khâu, các công cụ trong truyền thông được ISO hóa, chuẩn hóa để tạo ra các kết quả có thể lường trước được. Trong bối cảnh Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, truyền thông chính sách trước nhất cần dựa trên nền tảng hệ thống dữ liệu quản lý nhà nước doanh nghiệp và xã hội, cung cấp đầy đủ các yêu cầu về thông tin, bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin như Luật Tiếp cận thông tin đã quy định. Ở khía cạnh này, có thể hướng tới truyền thông chính sách như một công nghệ.

Tuy nhiên, sự hạn chế về công cụ, phương tiện tiếp cận thông tin của người dân (không có máy tính, máy tính không kết nối internet), sự thụ động của người dân trong sử dụng internet, sự thờ ơ của dân chúng đối với các vấn đề của quản lý nhà nước nói chung mà chỉ quan tâm khi động đến quyền lợi trực tiếp của bản thân hay gia đình, vừa là kết quả của truyền thông chính sách, vừa là một rào cản đối với quá trình này. Chính vì vậy, số hóa hoạt động của chính phủ cũng cần sự nâng cao dân trí, cải thiện hạ tầng công nghệ thông tin công cộng và cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến quá trình hành chính nói chung và quá trình chính sách nói riêng là điều kiện khả thi của truyền thông chính sách trong bối cảnh số.

Mặt khác, trong bối cảnh số, hệ thống dữ liệu được tích hợp và phản ứng một cách thông minh trước các nhu cầu của người dùng thì tính cá nhân, cảm xúc của các bên liên quan có thể được “làm mờ” hoặc biến đổi so với thực tế. Điều này tốt cho một công nghệ truyền thông chuyên nghiệp, giúp cung cấp các công cụ để các chủ thể chính sách làm chủ thông tin, tiến trình và được cảnh báo trước về các nguy cơ.

Trong một nền văn hóa phương Đông như Việt Nam, tâm lý ưa chuộng các hình ảnh được hiển thị hóa một cách dễ thấy, dễ chạm vào được (chứ không phải ảo như trên môi trường mạng) hay các hành xử cá nhân của các lãnh đạo, cán bộ, công chức vẫn là một mối quan tâm và tác động đến tâm lý tuân thủ chính sách, tuân thủ pháp luật của người dân. Vì vậy, tiếp tục gần dân, sát dân, tiếp tục phát huy sức mạnh của các công cụ và phương thức truyền thông truyền thống như các cuộc tiếp xúc trực tiếp đến khu dân cư, dùng báo in, treo các băng-rôn, khẩu hiệu nơi công cộng… vẫn là các phương thức quan trọng để truyền thông cho mọi chính sách.

 

 

 


 

Các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước ta hiện nay

 

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   

Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động Nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu.

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước ta hiện nay

 

Khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...  

Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Truyền thông chính sách cần phát huy vai trò của các bên liên quan

 

Để tham gia một cách chủ động vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và phát huy được các ưu điểm, lợi thế của cuộc cách mạng này, một trong những quan điểm chỉ đạo được xác định trong Chiến lược của Bộ Chính trị về xây dựng cơ chế hợp tác giữa Nhà nước và các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong xây dựng và thực thi các chính sách.

Không nên quan niệm và khoanh vùng chức năng này chuyên biệt cho một vài cơ quan (như các sở) hay đơn vị (như văn phòng, hoặc đơn vị làm nhiệm vụ quan hệ công chúng) hay giới truyền thông. Truyền thông chính sách cần được thiết kế, tổ chức bởi những cơ quan chuyên môn như trên, nhưng phải được thực thi bởi mọi bên liên quan của quá trình chính sách, bao gồm cả các bên trực tiếp lẫn những bên quan tâm nói chung. Thậm chí, cần quan niệm rằng đối tượng tác động của một chính sách chính là các nhà truyền thông thiết thực và thuyết phục nhất cho chính sách đó.

Trong bối cảnh các nguy cơ tin giả, tin độc hại, bóp méo, xuyên tạc, có thể hack các trang chủ, trang mạng của các cơ quan công quyền, gây quan ngại trên toàn cầu như hiện nay thì song song với việc cải thiện các hoạt động khác của công tác tư tưởng, truyền thông chính sách cần đi kèm với các biện pháp bảo vệ an ninh mạng là một điều kiện để hạn chế các hệ lụy của chúng và duy trì niềm tin vào các chủ thể chính sách hay vào hệ thống công quyền nói chung.

 

 

Truyền thông chính sách cần kịp thời và cẩn trọng

 

Truyền thông cần được bắt đầu từ khi nhận diện vấn đề chính sách chứ không phải chỉ đến khi chính sách đã được ban hành. Cần phát huy tối đa các báo, tạp chí điện tử để truyền thông điệp chính sách. Đây là các nguồn tin có tính mở, tính cập nhật, khả năng tiếp cận cao. Nhờ đó, các thông điệp dễ được trích dẫn thông tin hơn là các báo in hay các văn bản quản lý nhà nước dạng in. Sự cẩn trọng cần được bảo đảm từ khâu lựa chọn các giải pháp chính sách để các lựa chọn đó không dẫn đến các hệ lụy xã hội, hành chính, kinh tế… về lâu dài; không tạo ra sự ức chế, bức xúc trong các bên liên quan.

Truyền thông chính sách một cách khách quan cũng cần tính tới yếu tố cẩn trọng, nhất là khi đưa tin lên mạng xã hội. Thực tiễn cho thấy, không ít người Việt Nam lên mạng xã hội nhưng không có mục tiêu cụ thể, chỉ để “dạo quanh”, “xem có gì không” hoặc chỉ để “giết thời gian” trong lúc đang chờ đợi việc khác, hoặc thành một thói quen nhưng không có trông đợi cụ thể. Chính vì vậy, khi tiếp nhận thông tin, họ không cố gắng sàng lọc hay nỗ lực kiểm chứng thông tin từ các nguồn khác.

Bên cạnh đó, vốn mạng xã hội được ngầm định là một nguồn thông tin tham khảo và cho phép mang tính cảm tính cá nhân khi bình luận (không như các loại hình truyền thông đại chúng khác) nên nếu các chủ thể truyền thông cung cấp thông tin không chính xác hoặc phiến diện thì sẽ bị đánh đồng với các nguồn tin khác trên mạng xã hội, nơi thật giả lẫn lộn, độ tin cậy không cao.

 

Yêu cầu truyền thông chính sách phải mang tính hai chiều

 

Truyền thông để quá trình chính sách hiệu quả hơn, bao gồm hoạch định được những chính sách tốt hơn, đưa chính sách vào thực tiễn hiệu quả hơn, đánh giá chính sách được khách quan hơn, đóng góp giá trị vào việc xây dựng và thực thi các chính sách tiếp theo để giải quyết các vấn đề mới, kết cục là thỏa mãn tốt hơn nhu cầu xã hội. Tuy nhiên, truyền thông chính sách không chỉ vận động để cộng đồng, xã hội nghe theo, thuận theo ý mình trông đợi, mà đồng thời, cần chủ động tranh biện để thuyết phục là lựa chọn chính sách hay biện pháp chính sách đó là có tính hợp lý, vì mục tiêu lâu dài; mặt khác, cần chủ động lắng nghe các ý kiến chất vấn và bổ sung để kịp thời điều chỉnh chính sách. Hơn thế nữa, phản biện xã hội chính là mức độ nâng cao sự tham gia đề xuất ý kiến của Nhân dân trong hoạch định chính sách.

Chính vì vậy, thiết kế và tổ chức quá trình truyền thông chính sách cần mang tính cầu thị (hướng tới các giá trị tốt đẹp và cải thiện chất lượng chính sách vì phát triển xã hội) với mục tiêu để lắng nghe tốt hơn, đặc biệt là để tiếp nhận và phát huy tốt hơn các ý kiến phản biện xã hội, cởi mở, có tính tranh luận, sẵn sàng đối thoại (nghe và đối thoại, kể cả nghe những ý kiến trái chiều). Do đó, cần tiếp tục thực hiện tốt hơn các hoạt động đối thoại (online và offline), nghiên cứu và dự báo dư luận, tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác thông tin, báo cáo, khảo sát thực tế, tổ chức các sự kiện kinh tế, hành chính và văn hóa – xã hội. Đặc biệt, để thu hút được sự quan tâm, tham gia và niềm tin của cộng đồng, xã hội đối với quá trình chính sách và các chủ thể chính sách, cần quan tâm xử lý nghiêm túc và vi phạm trong công vụ, xử lý nghiêm minh, khách quan các vụ án hành chính, nhất là các vụ án liên quan đến tham nhũng, hối lộ.

 

 

Yêu cầu tính hệ thống trong truyền thông chính sách

 

Truyền thông chính sách không chỉ là truyền thông về bản thân một chính sách, giải pháp chính sách hay một văn bản chính sách cụ thể. Cần truyền thông toàn bộ quá trình quản trị nhà nước – như một khuôn khổ có tính hệ thống, đầy đủ, giúp giải thích các động thái liên quan, bao gồm động thái chính sách. Do đó, cần truyền thông cả về tổ chức, bộ máy, về đội ngũ, về hệ thống quy trình, thủ tục, về các triết lý, tầm nhìn và các giá trị cốt lõi mà nền công vụ theo đuổi. Thiếu hiểu biết một cách đầy đủ và tích cực về những khía cạnh trên, các nỗ lực chính sách vẫn khó có thể có được sự hiểu biết và ủng hộ thỏa đáng. Đặc biệt, ý tưởng và mục tiêu chính sách có thể được chuyển tải trong nhiều văn bản quản lý nhà nước khác nhau, trong đó đặc biệt quan trọng là các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội hoặc các chiến lược ngành. Các chiến lược này sẽ tạo ra các bước ngoặt trong phát triển quốc gia, địa phương hoặc ngành. Chính vì vậy, truyền thông cho một ý tưởng chính sách cần bảo đảm được kết nối hiệu quả với các chiến lược trên.

 

Yêu cầu khách quan, khoa học trong truyền thông chính sách

 


Thông tin về chính sách cần được cung cấp, trao đổi dựa trên nhiều nguồn đáng tin cậy, cần chính xác về vấn đề chính sách, rõ căn cứ của các lựa chọn chính sách, thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể chính sách, nguồn lực chính sách và các quan điểm, trông đợi của đối tượng chính sách cũng như cộng đồng; cần tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải; cần chính xác cả về nguồn viện dẫn, các luận cứ, luận chứng.

Bên cạnh đó, phản ứng chính sách luôn tạo ra sự ưu đãi đối với một nhóm xã hội nhất định nhằm một mục tiêu xã hội nhất định5. Chính vì vậy, các phản ứng chính sách (nhất là các dự án đầu tư công) thường không mang đến lợi ích đồng đều, như nhau đối với mọi thành viên trong xã hội. Nói cách khác, có thể dẫn tới sự bất bình đẳng tương đối hay thiệt thòi (được tính toán) nhất định đối với nhóm xã hội khác. Đây là nguyên lý tất yếu để quá trình chính sách đạt được mục tiêu phát triển tổng thể và lâu dài. Tuy nhiên, nếu nhìn phiến diện, vấn đề này có thể bị xuyên tạc. Chính vì vậy, thông qua các kênh như báo chí, mạng xã hội…, vấn đề này cần được chuẩn bị tinh thần từ trước cho cộng đồng.

Mục tiêu của truyền thông chính sách

 


Một là, phát huy quyền, vai trò và trí tuệ của xã hội trong nhận diện các vấn đề chính sách và cân nhắc các giải pháp chính sách…

Lắng nghe ý kiến là một nhiệm vụ bắt buộc trong xây dựng chính sách, pháp luật2. Thu thập thông tin từ đối tượng chính sách để các chủ thể chính sách hiểu biết tốt hơn các nhu cầu, nguyện vọng, các xu hướng phản ứng của đối tượng chính sách, nhất là trường hợp có quyền lợi vật chất bị ảnh hưởng. Đây cũng là phương thức có tính hệ thống để bảo đảm quyền của công dân, tiếp tục phát huy dân chủ, cung cấp cơ hội cho quyền biết, quyền bàn và quyền giám sát của Nhân dân, các nhóm cộng đồng xã hội trong điều hành quốc gia, địa phương3, hướng tới thay đổi thái độ, hành vi của công dân, cộng đồng, xã hội trong tuân thủ và xây dựng pháp luật, đóng góp vào bảo vệ chủ quyền và phát triển quốc gia, địa phương.

Hai là, định hướng dư luận.

Một chủ trương, chính sách chỉ hiệu quả khi nó được xã hội chấp thuận và khả thi trên thực tiễn để tạo ra các kết quả như trông đợi. Theo cách truyền thống, chính sách được khởi xướng từ các cơ quan công quyền. Với truyền thông chính sách tốt, ngay từ khâu nhận diện vấn đề chính sách, đề xuất chính sách đều có thể bắt đầu từ cộng đồng. Nói cách khác, truyền thông chính sách cung cấp cơ hội để chuyển quá trình chính sách từ độc quyền sang thành một quá trình Nhà nước đồng hành cùng xã hội (đồng thiết kế chính sách). Trong bối cảnh của mạng xã hội, sự lên tiếng đồng tình, ủng hộ hay phản đối một cân nhắc hay quyết định chính sách nào đó tuy không phải là ý kiến quyết định nhưng cần được cân nhắc và thậm chí giải trình (ví dụ thông qua các hình thức truyền thông chính thức) để hạn chế sự lan rộng và leo thang của chống đối hay bất mãn xã hội.

Ba là, tự rà soát và đổi mới

Cung cấp thông tin để các chủ thể chính sách rà soát các phương pháp, công cụ, cách tiếp cận và cách hành xử của mình đối với các vấn đề xã hội; nhờ đó, hỗ trợ quá trình cải cách thủ tục hành chính, đổi mới bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ. Đặc biệt, để giám sát thực hiện, phát hiện vấn đề, bất cập, lợi dụng thẩm quyền…

Bốn là, đưa Nhà nước, Chính phủ hay chính quyền nói chung đến gần công chúng hơn, tạo dựng và duy trì sự tin cậy của xã hội đối với Nhà nước nói chung hay các chủ thể chính sách nói riêng.


 

SUY DIỄN VÀ NGỤY BIỆN – SỰ TY TIỆN CẦN PHẢI ĐẤU TRANH

 Sau một số phiên họp bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quốc hội nước ta để giải quyết một số công việc cấp bách liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ quốc kế, dân sinh và công tác xây dựng Đảng, Nhà nước, nhất là công tác nhân sự nhằm giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tiếp tục phát triển đất nước, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đây là yêu cầu khách quan của đời sống thực tiễn, phản ánh tính biện chứng của công cuộc đổi mới, kết quả của nhận thức và hoạt động xây dựng Đảng và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân về “những việc cần làm ngay”, phù hợp với ý Đảng – lòng Dân và quy luật xây dựng Đảng Cộng sản và chế độ XHCN.

Tuy nhiên, do trình độ nhận thức và sự hiểu biết khác nhau, một bộ số cán bộ, đảng viên và người dân còn băn khoăn, lo lắng về tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Trong đó, có ý kiến xuất phát từ sự thiếu thông tin hoặc nhận thức chưa đầy đủ các khía cạnh khác nhau của từng vấn đề về chính trị – xã hội, đã vội cho rằng “đất nước có biểu hiện mất ổn định chính trị”, “cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã gây ra không khí ngột ngạt, bất an trong xã hội” vì “nhiều cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước vi phạm pháp luật, phải xử lý lỷ luật”, “phải từ chức”, thậm chí “phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Cũng có ý kiến băn khoăn vì sao đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhiều năm rồi mà vẫn chưa xong; vai trò, trách nhiệm của nhân dân và các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Công đoàn, hàng trăm tờ báo, tạp chí ở đâu mà chỉ thấy Bộ Công an, Ủy Ban kiểm tra Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vào cuộc… Từ đó, có người đã suy diễn rằng, “công tác nhân sự của Đảng từ Đại hội XII đến nay có nhiều vấn đề cần xem lại, nhất là khâu tuyển chọn cán bộ”.
Sự hoài nghi, bi quan đã nhen nhóm và “rì rầm bàn tán” ở một số ít cán bộ, đảng viên và người dân. Phần đông cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thể hiện trạng thái vui mừng, phấn khởi vì Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “đã nói được, làm được”, “đã kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nên đã bắt được nhiều sâu mọt hại nước, hại dân”, “đã chặt các cành sâu mọt để cứu cây”, “kỷ luật vài người để cứu muôn người” và thừa nhận cuộc chiến đấu trong thời bình, chống “giặc nội xâm” đã diễn ra đúng định hướng chính trị; thường xuyên, liên tục, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; “các đơn thuốc đã phát huy tốt tác dụng, cơ thể Đảng khỏe mạnh dần lên”; đất nước bước vào Xuân Quý Mão với nhiều tín hiệu vui.
Thế nhưng, đó đây vẫn còn không ít người dân băn khoăn, lo ngại vì không ít cán bộ diện Trung ương quản lý đã vướng vào lao lý, tham nhũng, tiêu cực; đã có hàng chục cán bộ bị bắt vì dính líu vào Vụ án Việt Á và Chuyến bay giải cứu… Có ý kiến nghi ngại rằng trong đội ngũ cán bộ từ Trung ương đến địa phương liệu có còn ai “bị phát hiện và bị truy tố, bị thi hành kỷ luật nữa không”, “có bao nhiêu vụ án sẽ xử lý trong thời gian tới”, “nếu tiếp tục kỷ luật nhiều cán bộ thì sẽ mất ổn định chính trị”, “cán bộ các cấp sẽ không dám làm việc vì sợ khuyết điểm”, vân vân và vân vân.
MỌI SỰ SAI TRÁI ĐỀU PHẢI TRẢ GIÁ ĐẮT
Sự sai trái nêu trên là “mảnh đất mầu mỡ để cỏ dại mọc”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tình hình này tăng cường xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Chúng tiếp tục “mượn gió bẻ măng”, “té nước theo mưa”, đẩy mạnh “sản xuất”, “chế biến tin giả”, sử dụng mạng xã hội để tán phát thông tin xấu, độc nhằm châm chích, kích động, xúi giục những phần tử bất mãn có thái độ, hành vi “phản ứng”, chống lại Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Thậm chí có phần tử cơ hội tỏ rõ quan điểm, thái độ, hành vi sai trái, phủ nhận chế độ XHCN ở nước ta; tung ra các chiêu trò đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “tự do, dân chủ, nhân quyền”; xuyên tạc thành quả đổi mới, bôi nhọ danh dự, uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ.
Do cách nhìn siêu hình, không ít người dân “nghe đài địch”, đã học đòi, bắt chước, theo đuôi kẻ xấu, hùa theo các trào lưu “phi chính trị”, “phi đảng phái”, kích hoạt các hoạt động đòi xây dựng “xã hội dân sự”, kích thích sự phát triển của chủ nghĩa dân tuý, chủ nghĩa bảo hộ ở phương Tây… với mưu đồ tìm “giải pháp thay đổi chế độ đảng độc quyền, toàn trị của tập đoàn Hà Nội”.
Những suy nghĩ lệch lạc, sai trái về các sự kiện chính trị – xã hội đã xảy ra có thể là vô tình hay hữu ý nhưng chung quy là do thiếu tầm nhìn biện chứng, sự hiểu biết và mức độ nhận thức có hạn dẫn đến hành động vi phạm quy định phát ngôn. Hiện thực này đã “nối giáo cho giặc”, bị những kẻ xấu lợi dụng sai trái ấy để thêu dệt, phao tin, đồn thổi và khuếch đại các hạn chế, khuyết điểm trong phòng, chống tham nhũng của ta để từ “chuyện bé xé ra to”, gây tâm lý bất an cho xã hội.
Hành vi “đổ thêm dầu vào lửa”, “chọc gậy bánh xe” của chúng đã gây ra sự nhiễu loạn thông tin, tạo ra các dư luận xã hội thiếu lành mạnh, dẫn đến việc quy chụp, quy kết, vu khống, buộc tội Đảng, Nhà nước ta “thiếu năng lực lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc đổi mới”; làm cho một bộ phận người dân và số ít cán bộ, đảng viên hiểu sai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đã tỏ ra bức xúc, thiếu sự đồng thuận với Đảng, Nhà nước về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến đấu trong thời bình, chống “giặc nội xâm”; đặc biệt là phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý vụ án, kỷ luật cán bộ sai phạm, cũng như việc tổ chức một số phiên họp bất thường, v.v..
Việc suy diễn, ngụy biện rồi quy kết, phát ngôn thiếu ý thức xây dựng về tình hình chính trị – xã hội, nhất là những vấn đề có liên quan đến địa phương và Trung ương. Chính sai lầm ấy đã “châm ngòi nổ”, kích động một số phần tử bất mãn ra mặt đòi Đảng, Nhà nước ta “phải thay đổi tình trạng hiện tồn”, tìm cách sống mới, xây dựng chế độ xã hội mới mà theo chúng là tốt hơn, dù chưa hiểu bản chất của nó là gì, “mô tê” ra sao; mù quáng tin theo CNTB.
Ai cũng biết rằng, bất cứ sự sai trái nào về đạo lý và pháp lý cũng không thể chấp nhận, đặc biệt là sự sai trái, lệnh lạc về quan điểm chính trị, vi phạm nguyên tắc sinh hoạt Đảng, tự biến mình thành kẻ “theo đuôi” bọn xấu, đồng lõa với bọn cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Những người này đang “đội lốt cán bộ, đảng viên”, về thực chất, đã thoái hóa, biến chất, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm Quy định về những điều đảng viên không được làm.
Vì vậy, trong bối cảnh hiện thời, phải hết sức đề cao cảnh giác; thận trọng lời nói, phát ngôn. Những cán bộ, đảng viên nào “nhỡ lời”, đã phát ngôn sai trái, thiếu thận trọng, chưa có ý thức về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tuyên truyền sai chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trước hết phải nghiêm túc “tự soi tự sửa”, rút kinh nghiệm để “tự chỉnh đốn lại mình”.
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp phải thực hiện nghiêm nguyên tắc sinh hoạt đảng “tự phê bình và phê bình”; phải nhận diện rõ sự thật và có biện pháp giúp đỡ cán bộ, đảng viên thuộc đối tượng có biểu hiện “hai mặt” trong lối sống, sinh hoạt Đảng. Đó là trong tổ chức thì công khai phát ngôn là tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Đảng; nói và làm theo nghị quyết của Đảng, “sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Trong hội nghị thì cái gì cũng đồng ý, nhất trí cao với nghị quyết, tán thành kết luận của cấp ủy, nhưng ra khỏi hội nghị lại nói theo cách khác, phát ngôn thiếu chuẩn mực, để “lộ thông tin mật”, thậm chí quá đà, đã “phao tin” sai tinh thần nghị quyết của Đảng, bàn đủ chuyện từ Trung ương đến địa phương, từ đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ đến đồng chí bí thư chi bộ; dùng các kiểu ngôn từ để nói xấu, hạ thấp uy tín của Đảng, của đồng chí, đồng đội vì “chạm đến lợi ích của mình”. Những cán bộ, đảng viên thuộc diện này trên thực tế chỉ lấy nghị quyết làm “bình phong”, ngụy trang, che đậy “điều xấu sa bên trong bản thân”; bề ngoài thì tỏ vẻ trung thành, kiên định, “làm gương” tuân thủ pháp luật nhưng trên thực tế thì làm ngược lại.
Họ đã hiện nguyên hình là kẻ cơ hội chính trị nên thường “ba phải”, dùng nghị quyết, đường lối làm “đồ trang sức”; có vụ việc biết nhưng không nói, không đấu tranh chống quan điểm sai trái, chống “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, ngại và sợ liên lụy đến bản thân và gia đình, “ngậm miệng ăn tiền”.
Họ đã vi phạm nhiều điểm trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII của Đảng đã chỉ ra. Hệ lụy do họ gây ra từ việc “bơm tin sai trái”, “cổ súy” cho một số người dân, tạo nên sự bức xúc, bất bình với các hiện tượng tiêu cực xã hội ở địa phương, làng xã, khu phố. Họ không đủ bản lĩnh để nhẫn nhịn nên “có cơ hội” là “bùng phát” phản ứng tiêu cực, chống lại Đảng, Nhà nước theo dạng “nói bừa”, “nói lấy được” mặc dù không nắm chắc bản chất vụ việc, các vấn đề diễn ra ở Hà Nội, ở Trung ương và địa phương. Chiêu trò “rỉ tai nhau”, tán phát thông tin sai trái qua “nghe lỏm từ sự phao tin đòn thổi của kẻ xấu”, từ “quán nước vỉa hè” đến nghe và tin theo “đài, báo địch”, dẫn đến phát ngôn bừa bãi, nói xấu chế độ từ sự suy diễn, ngụy biện thật đáng trách, cần xử lý nghiêm theo pháp luật.
Lợi dụng sự sai trái này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không chỉ “moi tin” mà còn chế biến các tin tức sai trái ấy “chế tạo” thành các bài viết, video giả mạo để tung lên mạng xã hội, kích động người dân chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, làm rối loạn môi trường chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực tế này đang diễn ra, ít nhiều gây khó khăn đối với việc quy tụ, tập hợp, khơi dậy và phát huy các nhân tố con người trong xây dựng “thế trận lòng dân”, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, nhất là ở các nơi có “điểm nóng”, địa bàn phức tạp.
SỰ CHIA SẺ VÀ ĐỀ CAO TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Sự băn khoăn, lo lắng cho vận mệnh của quốc gia – dân tộc, sự sống còn của chế độ, vai trò lãnh đạo của Đảngở một bộ phận người dân cũng là dễ hiểu. Chúng ta chia sẻ và có trách nhiệm giảm bớt sự băn khoăn, lo lắng của người dân bằng việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Coi đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân với sự quyết tâm và nỗ lực cao nhất để “quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, làm lành mạnh xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Điều đó chỉ có thể khẳng định bằng việc làm, thể hiện ở kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2023 và các năm tiếp theo. Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên của của Đảng, nhất là những người đứng đầu phải mẫu mực nêu gương sáng về đức tính hy sinh, một lòng “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, suốt đời vì nước vì dân; thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII của Đảng và Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 về những điều đảng viên không được làm.
Ra sức phát huy vai trò của nhân dân, của các tổ chức chính trị – xã hội, của báo chí cách mạng trong phòng, chống “giặc nội xâm”; có cơ chế, thể chế, chính sách phù hợp để không ai cần tham nhũng, không dám tham nhũng, không muốn tham nhũng. Đồng thời, có biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội, không để xảy ra các vụ án tham nhũng, tiêu cực, các “điểm nóng”; không phải tổ chức các hội nghị bất thường.. . Lúc này cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, đạo đức và pháp luật gắn chặt với việc tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là phương cách tốt nhất để khắc phục tình trạng suy diễn, ngụy biện và sự băn khoăn không đáng có ở một bộ phận người dân về sự phát triển của đất nước. Con đường đi đúng đã khẳng định. Với khí thế mới của Xuân Quý Mão, nhất định Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng sẽ thành công tốt đẹp./.
ST


SẮT SON NIỀM TIN VỚI ĐẢNG

     Xuân Quý Mão 2023, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục sắt son niềm tin vào Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

    Trong khi đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn sử dụng chiêu trò kích động, phá hoại hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia cắt mối quan hệ giữa Đảng với dân, dân với Đảng. Chúng còn trắng trợn kêu gọi, kích động người dân “đứng lên tìm con đường mới”, vì cho rằng con đường cách mạng của Đảng đề ra đã “sai lầm”, “không còn phù hợp với dân tộc và nguyện vọng của nhân dân”…
    Nhưng sự thật 93 năm qua, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam trưởng thành, phát triển là sự thật đanh thép đập tan sự chống phá của các thế lực xấu.
    Ngày 3 – 2 – 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đến ngày 18 – 12 – 1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi, trong đó nêu rõ: “Hỡi công nhân, nông dân, binh sĩ, thanh niên, học sinh! Anh chị em bị áp bức, bóc lột!
    Đảng Cộng sản ở Đông Dương đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta. Từ nay, anh chị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng…”.
    Từ lời kêu gọi ấy, Đảng đã cùng cả dân tộc vững bước đi lên thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra.
    Đảng đã cùng toàn dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, đập tan chế độ thực dân phong kiến, đã đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào, giành và giữ vững độc lập, tự do của đất nước. Đảng đã cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đem lại cơm no, áo ấm, hạnh phúc cho nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã xứng đáng như lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh, là thống nhất độc lập, là hòa bình ấm no…”.
    Tư tưởng, lời dạy quý báu của Hồ Chủ tịch với tinh thần trọn đời vì nhân dân, tất cả vì nhân dân phục vụ được Đảng Cộng sản Việt Nam duy trì, thực hiện xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Trong kháng chiến, trong hòa bình, nhân dân đoàn kết thống nhất, một lòng một dạ tin theo Đảng, đi theo Đảng, Đảng vững vàng lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong mọi công việc, Đảng đã thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, ngày 5 – 1 – 1960: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong lòng của mỗi đồng bào ta”.
    Trong tình hình thực tiễn hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang tăng cường đoàn kết thống nhất, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trong đó có nội dung: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”… thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.
    Với một Đảng luôn đặt mục tiêu cao nhất là vì đất nước, vì nhân dân, tất cả vì nhân dân phụng sự thì thật dễ hiểu khi nhân dân một lòng một dạ, đoàn kết thống nhất, tự nguyện, tự giác, kiên quyết, kiên trì, tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, đi theo Đảng. Trước lúc đi xa, Hồ Chủ tịch đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Bản di chúc lịch sử, trong đó Người khẳng định và căn dặn: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.
    Có thực tế hết sức tốt đẹp, rất trân trọng, tự hào là càng trong gian nan, thử thách, dẫu khó khăn trở ngại, cho dù các thế lực thù địch chống phá, chia rẽ thì mối quan hệ Đảng với dân, dân với Đảng vẫn thủy chung vẹn toàn, vẫn keo sơn gắn bó tạo ra sức mạnh của ý Đảng, lòng dân để cách mạng Việt Nam vẫn vững vàng tiến bước đi lên. Hiện nay, Đảng ta đang kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiêu cực, lãng phí với những kết quả thiết thực, qua đó củng cố và tăng cường niềm tin yêu của nhân dân với Đảng, để Đảng vững vàng hơn, đất nước giàu mạnh hơn, nhân dân hạnh phúc hơn. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam chính là: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.
    Thành công của Đảng và của đất nước 93 năm qua là cơ sở quan trọng, là nguồn động lực to lớn để dân thêm tin Đảng, Đảng thêm tin dân, vững bước đi lên trên con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn: con đường chủ nghĩa xã hội với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
ST





NHỚ ĐÊM MỪNG CHIẾN THẮNG

     Đó là một đêm tuyệt vời, Hà Nội rền vang tiếng pháo, bầu trời đêm rực sáng. Hòa cùng tiếng pháo nổ vang trời là tiếng cười, tiếng hò reo tưởng như không dứt và cả những giọt nước mắt hân hoan.

    Còn nhớ, sau đêm 29-12-1972, cuộc tập kích chiến lược bằng B-52 của không quân Mỹ vào Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương miền Bắc kết thúc với thất bại thuộc về phía Mỹ. Kể từ sau đêm đó, Hà Nội trở lại không khí yên bình, trời đêm không còn dậy lên chuỗi âm thanh chết chóc của bom B-52 rải thảm.
    Hồi đó, người dân Hà Nội được thông tin, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, các bên dự đàm phán ký chính thức ngày 27-1-1973, tức ngày 24 tháng Chạp năm Nhâm Tý.
    Hồi hộp xen lẫn lo âu. Khấp khởi chờ đợi chen với khắc khoải. Người Hà Nội nói riêng và người dân miền Bắc nói chung từ gần một tháng trước âm thầm chuẩn bị cho việc đón chào chiến thắng. Từ đầu giờ chiều, phố phường Hà Nội chợt như chùng xuống. Đường phố như vắng hẳn đi, người xe cũng ít ra phố. Sau này, tôi mới được biết, sở dĩ có sự vắng vẻ khác thường ấy bởi đó là khoảng thời gian nhà nhà, người người nín thở hướng về Paris, hướng về chính nghĩa sẽ thắng phi nghĩa mà yên lặng ở trong nhà chờ đợi. Lặng thầm kìm nén để sẵn sàng cho sự ào lên vui sướng.
    Tôi còn nhớ, trong khoảng thời gian chờ đợi ấy, những ai chưa trở về nhà thì mau chóng thu xếp công việc để về nhà. Những ai đang ở xa Thủ đô thì lòng hướng về Hà Nội.
    Tôi đứng trước cửa nhà, ngóng mắt nhìn đường phố. Còn ở trong nhà, bố tôi rút lên tầng 2. Ông trùm chăn, phủ phục trên giường, kiểu như một người bị ốm đang phải xông vậy. Chả là, bố tôi được phân phối chiếc đài bán dẫn của Trung Quốc. Bấy giờ, ông ôm chiếc đài để nghe tin về kết quả ký kết Hiệp định Paris. Cứ thế suốt mấy giờ liền, ông không dám rời khỏi giường, tức là không dám rời chiếc đài bán dẫn, vì chỉ sợ lúc vừa rời nó thì có tin đến lại không nghe được. Ai cũng muốn là người đầu tiên, là người sớm nhất được reo lên và được báo tin chiến thắng cho mọi người.
    Tôi đứng trước cửa nhà, chẳng dám đi đâu. Mắt nhìn ra đường phố nhưng tai tôi hướng lên tầng 2. Tôi chờ đợi giọng nói của bố vọng xuống.
    Mẹ tôi, rồi chị tôi mấy lần gọi, mấy lần ra cửa nhắc tôi vào ăn cơm. Hồi đó, tôi mới 15 tuổi, cái tuổi chưa đói đã đòi ăn, vậy mà bữa ấy tôi không thấy đói. Tôi vẫn đứng trước cửa nhìn đường phố và tai hóng lên tầng 2.
    Đâu như khoảng 8 giờ tối thì phải. Ban đầu còn lẹt đẹt, sau đó mấy tràng pháo nổ ran. Hàng xóm nhà tôi chắc rất tự tin vào kết quả đàm phán nên đốt trước mấy bánh pháo để lấy không khí.
    Rồi cả thành phố rền vang tiếng pháo. Tôi chẳng đợi tiếng reo vang của bố nữa. Tôi với tay vào sau cánh cửa. Chỗ ấy tôi đã treo sẵn bánh pháo Bình Đà mà sau rất nhiều lần xin mẹ một, hai hào mới đủ tiền mua được. Định bụng để dành đến Tết mới đốt nhưng hôm ấy, với tin mừng ký kết Hiệp định Paris, tôi cùng với người dân thành phố đốt pháo để chào mừng!
    Hòa cùng tiếng pháo nối nhau nổ vang quanh khu nhà tôi, dường như cả Hà Nội cùng reo: “Chiến thắng rồi!”, “Hiệp định Paris được ký kết rồi!”.
    Người Hà Nội 50 năm trước đã có một đêm không ngủ như thế. Họ cùng thức với chiến thắng, cùng reo hò với chiến thắng và hân hoan trong tiếng pháo reo vang ngỡ không hề dứt.
ST

 

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc - Thực trạng và giải pháp

(LLCT) - Vùng Tây Bắc gồm 12 tỉnh(1) có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc, là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh. Với tiềm năng về nông, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu, Tây Bắc có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế.


Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, vùng Tây Bắc đã có sự phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các tỉnh vùng Tây Bắc cũng gặp phải không ít những khó khăn, thách thức, đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vùng dân tộc và miền núi Tây Bắc còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện. Do đó, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững vùng Tây Bắc.

1. Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS ở cơ sở của khu vực Tây Bắc hiện nay

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước”(2), các Tỉnh ủy khu vực Tây Bắc đã tập trung lãnh đạo xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động, xác định rõ tiến độ, lộ trình thực hiện. Nhiều đề án đã được xây dựng như: Đề án Đào tạo 100 cán bộ trẻ sau đại học giai đoạn 2012-2015, định hướng đến 2020 của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Yên Bái; Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Yên Bái về ban hành chính sách thu hút, đào tạo cán bộ khoa học, cán bộ quản lý, hỗ trợ đào tạo cán bộ, học sinh, sinh viên người DTTS tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2014-2016; đề án Mô hình chi bộ cụm bản gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng bản, cụm bản phát triển toàn diện; tổ chức điều động, luân chuyển cán bộ trưởng, phó phòng các sở, ngành tỉnh và huyện tăng cường cán bộ cho cấp xã của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Sơn La; Đề án về Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên giai đoạn 2011-2015 của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lai Châu; Đề án Quy hoạch đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ chuyên môn và kỹ thuật tỉnh Lào Cai giai đoạn 2011-2015; Quyết định 718/QĐ-TTg ngày 15-5-2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Đề án củng cố, tăng cường đội ngũ cán bộ dân tộc Mông trong hệ thống chính trị cơ sở các xã địa bàn trọng yếu vùng Tây Bắc giai đoạn 2014 - 2018… 

Nhờ đó, trong những năm gần đây, đội ngũ cán bộ DTTS vùng Tây Bắc đã thực sự được tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng, đảm bảo sự lãnh đạo, điều hành quản lý, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội. Theo số liệu báo cáo của Ban chỉ đạo Tây Bắc, hiện nay, toàn khu vực có hơn 50% số cán bộ xã, 77% số công chức xã đạt chuẩn về trình độ theo quy định và 44% số cán bộ không chuyên trách (Phó các đoàn thể, Bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản...) được đào tạo, bồi dưỡng. Ngoài ra, các tỉnh cũng xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo hướng căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh cho đội ngũ cán bộ các xã; xây dựng chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công tác theo vị trí việc làm đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã và thôn, bản; đề ra giải pháp bố trí, sắp xếp cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt, bảo đảm tỷ lệ cán bộ cấp xã là người dân tộc thiểu số. Đây được coi là cơ sở để các tỉnh thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2015-2020.

Công tác phát triển đảng, nhất là ở những địa bàn xung yếu, vùng sâu, vùng xa được các tỉnh Tây Bắc đặc biệt coi trọng. Năm 2009, toàn khu vực có 3.500 thôn, bản chưa có chi bộ và 268 thôn, bản chưa có đảng viên, đến nay, chỉ còn 1.848 thôn, bản chưa có chi bộ và 86 thôn, bản chưa có đảng viên. Năm 2013, các tỉnh kết nạp được 21.514 đảng viên mới, nâng tổng số đảng viên của toàn khu vực lên 660.826 đảng viên. Ðó là kết quả của hàng loạt biện pháp củng cố chi bộ vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn. Theo lộ trình, đến năm 2018, các tỉnh của khu vực Tây Bắc phấn đấu 100% số thôn, bản có đảng viên; 90% số thôn, bản có chi bộ; 85% số cán bộ chuyên trách cấp xã được đào tạo chuẩn.

Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của địa phương, củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh”(3), các tỉnh mở nhiều lớp đại học, cao đẳng, trung cấp tại địa bàn, tạo điều kiện cho cán bộ vừa học, vừa làm. Việc phát triển đa dạng các loại hình đào tạo như chính quy, tại chức và thực hiện cải cách hành chính đã giúp cho đội ngũ cán bộ DTTS ở cơ sở được nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu cơ bản trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đây được xem là bước đột phá trong việc chuẩn hóa trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở của các tỉnh khu vực Tây Bắc.

Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại chỗ, các tỉnh đã triển khai các chính sách ưu đãi để thu hút sinh viên chính quy tốt nghiệp loại khá, giỏi các trường đại học về công tác tại các xã, phường. Điển hình như Ủy ban nhân dân thành phố Yên Bái đã ký hợp đồng với 26 sinh viên đã tốt nghiệp đại học là con em đồng bào DTTS về công tác tại các xã, phường. Thành phố sử dụng nguồn tăng thu để chi trả lương và đóng bảo hiểm xã hội cho những cán bộ này; hỗ trợ 30% mức lương hiện hưởng đối với cán bộ các phòng, ban ở thành phố được điều động làm cán bộ ở phường, 40% đối với cán bộ điều động đi xã; cán bộ phường được điều động sang làm cán bộ xã được hỗ trợ 30%...(4).

Hiện nay, số lượng cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số đảm đương các chức vụ từ cấp huyện trở lên chiếm tỷ lệ 6,94%; 167 cán bộ người DTTS được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (chiếm 12,13%); 251 cán bộ người DTTS được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; 78 người là đại biểu Quốc hội khóa XIII (chiếm 15,6%) và 280 đại biểu Hội đồng nhân dân tại 25 tỉnh, thành phố có đông đồng bào DTTS sinh sống. Tỷ lệ cán bộ người DTTS được bầu vào cấp ủy, chính quyền, Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã ngày càng được nâng lên theo từng năm. Đây là kết quả tích cực của công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ người DTTS.

Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ của Nhà nước đã thực sự tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS yên tâm công tác, tập trung trí lực, phát huy tâm huyết để hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Tuy nhiên, so với yêu cầu, lực lượng cán bộ người DTTS hiện nay còn nhiều bất cập. Về “công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đúng mức”(5). Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng trong các tỉnh Tây Bắc thấp hơn nhiều so với các tỉnh khác trong cả nước. Đội ngũ cán bộ xã có trình độ học vấn tốt nghiệp bậc tiểu học và trung học cơ sở trung bình là 79,2%, cán bộ chưa qua đào tạo chiếm 61,9%. Ở các xã đặc biệt khó khăn, trình độ cán bộ xã là người DTTS rất thấp, nhiều nơi cán bộ chủ chốt xã chưa học xong chương trình phổ thông cơ sở. Năng lực điều hành, quản lý của lãnh đạo chính quyền cơ sở ở một số nơi còn yếu, chậm đổi mới phương thức lãnh đạo, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Cán bộ người DTTS trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chiếm tỷ lệ thấp so với tỷ lệ đồng bào DTTS ở địa phương. Một số địa phương có tỷ lệ thành viên Uỷ ban nhân dân cấp xã là người DTTS chiếm tỷ lệ hơn 50%, đó là các tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Lào Cai.

 Hầu hết các tỉnh miền núi hiện nay chưa thể tự cân đối được lực lượng cán bộ tại chỗ, phải nhờ vào sự điều động, tăng cường từ Trung ương và các địa phương khác đến. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các huyện vùng cao, vùng xa vẫn chủ yếu do các cán bộ tăng cường đảm nhiệm. Đến thời điểm này, số cán bộ là người DTTS tại các địa phương có đông đồng bào DTTS sinh sống mới đạt gần 40% trong tổng số cán bộ, công chức, viên chức của địa phương. Số cán bộ DTTS nắm giữ các chức vụ chủ chốt ít. Tỷ lệ cán bộ DTTS trong cấp ủy, chính quyền còn thấp. Thực tế này đã tác động đến hoạt động lãnh đạo của hệ thống chính trị ở cơ sở, nhất là trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đặc biệt khó khăn.

Công tác cử tuyển đi học đối với cán bộ DTTS còn nhiều bất cập. Chỉ tiêu cử tuyển được Trung ương phân bổ từ nhiều trường đại học với các chuyên ngành khác nhau, trong đó có cả những ngành mà địa phương không có nhu cầu tuyển dụng. Khi tiến hành xét tuyển, nhiều nơi, chính quyền làm theo kiểu “lấp đầy chỗ trống”. Do vậy, có những ngành địa phương chưa cần đến nhưng vẫn cử tuyển dẫn đến tình trạng sinh viên người DTTS tốt nghiệp chưa được bố trí công việc phù hợp...

2. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS vùng Tây Bắc

 Một là, tập trung phát triển giáo dục, đào tạo, xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao nhận thức của người dân về công tác đào tạo cán bộ người DTTS

Một trong những rào cản lớn hiện nay trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS ở Tây Bắc là trình độ dân trí thấp, đặc biệt là đối với người nghèo. Mặc dù trong những năm qua, các tỉnh Tây Bắc đã cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận giáo dục cho người nghèo nhưng chất lượng chưa cao, tình trạng bỏ học còn nhiều do gánh nặng chi phí. Giáo dục, đào tạo giúp cho người nghèo có thể tiếp nhận đầy đủ thông tin mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị xã hội nhằm giảm thiểu những hậu quả do đói nghèo, do thiếu tri thức. Để phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí cho người DTTS các tỉnh Tây Bắc cần:

- Tích cực thực hiện chính sách giáo dục, đào tạo cho thế hệ trẻ. Bắt đầu từ việc triển khai các dự án đầu tư trường, lớp học, nhà bán trú cho học sinh và giáo viên, có chính sách đặc biệt khuyến khích giáo viên lên giảng dạy ở vùng nghèo miền núi; tuyên truyền các chủ trương, chính sách giáo dục, đào tạo để các hộ nghèo, đặc biệt là các hộ nghèo DTTS hiểu được tầm quan trọng của giáo dục, đào tạo đối với con em họ và tầm quan trọng của giáo dục đào tạo với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS.

- Tập trung xây dựng trường, lớp học bảo đảm đủ trường, đủ lớp cho người học, tích cực, chủ động kêu gọi và thu hút nguồn vốn tài trợ để nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị dạy và học. Tăng cường đầu tư cho hệ thống giáo dục cơ sở, đồng thời xây dựng thêm các trường dân tộc nội trú, bán trú nhằm đáp ứng đủ nguồn cán bộ tại chỗ. Đầu tư xây dựng các trường đào tạo như nghề may mặc, cơ khí, sửa chữa máy móc, thiết bị dân dụng,...

Hai là, xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, cán bộ khoa học - kỹ thuật, và đội ngũ trí thức là người DTTS

Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những hạt nhân nòng cốt của Đảng, chính quyền và các đoàn thể từ xã, phường, thị trấn đến các bản, làng. Họ là những người trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở cơ sở, trực tiếp sống và làm việc với nhân dân. Do đó, họ phải có trình độ văn hóa và nghiệp vụ chuyên môn nhất định, hiểu biết pháp luật và các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín với nhân dân,... Chính vì vậy, đào tạo đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, cán bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng đội ngũ trí thức các dân tộc ít người là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng của các tỉnh Tây Bắc nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, từng bước khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa vùng đồng bào tộc người thiểu số phát triển hòa nhịp với sự phát triển chung, thực hiện thành công chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS. Để làm được điều đó, cần:

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.

Trên cơ sở thống kê và rà soát lại đội ngũ cán bộ chủ chốt ở các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, đánh giá số lượng, chất lượng theo yêu cầu của địa phương và theo tiêu chuẩn đề ra, các tỉnh cần có kế hoạch thay thế, bổ sung và tăng cường từ cấp huyện cho những cơ sở yếu kém. Tiến hành xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức cần thiết cho đội ngũ này, trong đó quan tâm đến các cán bộ là người DTTS. Cần tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ DTTS trong hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu số, nhất là đối với các dân tộc có tỷ lệ cán bộ và mặt bằng dân trí thấp như: Mông, Dao, Khơ Mú, Si La... “Đối với xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) có tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số tham gia vào các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp xã tối thiểu là 10% đến 50% trên tổng biên chế được giao, tùy thuộc vào tỷ lệ người dân tộc thiểu số trên tổng dân số của xã...”(6).

Tăng cường bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở về các quan điểm, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội Tây Bắc trong những năm sắp tới; các kiến thức về quản lý kinh tế, về pháp luật, các chính sách dân tộc, tôn giáo, đối ngoại của Đảng và Chính phủ, các chính sách về dân số, về môi trường sinh thái, chủ quyền, an ninh quốc phòng... Tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, bằng hình thức vừa làm vừa học và kết hợp với giáo viên tại chỗ ở các cấp học trên địa bàn.

Ngoài ra, các tỉnh trong vùng cần lập kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận dự nguồn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở. Đội ngũ kế cận phải được đào tạo để đảm bảo trình độ học vấn ít nhất tốt nghiệp phổ thông cơ sở và được đào tạo lý luận ở các trường chính trị - hành chính, hoặc các trường trung cấp hoặc dạy nghề theo chương trình sơ hoặc trung cấp. Các ban, ngành của huyện, tỉnh phải trực tiếp kiểm tra, hướng dẫn, giúp đỡ đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở thông qua việc làm thực tế của họ tại địa phương.

- Từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt cán bộ là người DTTS.

Ở Tây Bắc hiện nay, phần lớn cán bộ này là người Kinh, tập trung tại các thành phố hoặc thị xã ở Tây Bắc. Do vậy, Đảng bộ và chính quyền các tỉnh Tây Bắc cần có các chủ trương, chính sách hợp lý, phù hợp với điều kiện của từng địa phương để đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật là người dân tộc ít người. Theo đó, cần có những chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với cán bộ khoa học - kỹ thuật là người dân tộc ít người, như chính sách nhà ở và đất đai để họ kết hợp làm kinh tế hộ gia đình; chính sách cho con em của họ tại các trường nội trú và chế độ cử tuyển thích hợp.

Ba là, gắn việc đào tạo, bồi dưỡng với việc sử dụng cán bộ, công chức, viên chức người DTTS

Đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với tuyển dụng, sử dụng cán bộ người DTTS; phải xuất phát từ quy hoạch tổng thể, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Các địa phương cần cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng về những chuyên ngành mà địa phương cần tuyển dụng. Các cơ sở đào tạo, trường dân tộc nội trú cần bảo đảm cân đối trong đào tạo, cả về số lượng và cơ cấu ngành nghề. Các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ người DTTS. Cán bộ người DTTS có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợp quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý các cấp. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội, cơ cấu vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế, điều kiện, yêu cầu cụ thể của địa phương để tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ người DTTS làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị bảo đảm tỷ lệ hợp lý, tương ứng với tỷ lệ người DTTS tại địa phương.  

Đào tạo, bồi dưỡng gắn với sử dụng cán bộ người DTTS phải được quán triệt trong việc thực hiện chính sách cử tuyển cán bộ người DTTS. Để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực người DTTS được đào tạo theo chế độ cử tuyển, cần thực hiện chỉ cử tuyển những ngành địa phương thiếu cán bộ. Sau khi cán bộ người DTTS được đào tạo, cần bố trí công việc sao cho sát với tình hình thực tế. Chính quyền các địa phương có người đi học cử tuyển nên cử người hướng dẫn, giúp đỡ và sắp xếp cho các đối tượng này làm quen với công việc trong một thời gian nhất định, sau đó mới tiến hành thi tuyển công chức.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 12-2016

(1) Tây Bắc gồm 12 tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang và 21 huyện phía tây của hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.252.

(3) ĐCSVN:Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.34.

(4) Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2003, tr.80.

(5) Lê Thanh Bình, Phạm Thị Kim Cương:Bài tham luận Hội thảo: “Một số vấn đề về công tác cán bộ DTTS vùng Tây Bắc”.

(6) Quyết định số 402/QĐ-TTg ngày 14-3-2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới.

 

 

Nguồn : ThS Nguyễn Thị Tố Uyên

Viện Nhà nước và Pháp luật,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh