Thứ Hai, 2 tháng 10, 2023

MỤC TIÊU CỤ THỂ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Bo v vng chc độc lp, ch quyn, thng nht toàn vn lãnh th ca T quc, bao gm: bo v vùng đất, vùng tri, vùng bin, hi đảo và thm lc địa; bo v mc tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, nhân dân ta đã la chn; kiên quyết đấu tranh làm tht bi mi âm mưu và hành động chng phá cách mng nước ta ca các thế lc phn động trong nước và ở nước ngoài.

Bo v Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bo v ch nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng H Chí Minh, Cương lĩnh, đường li ca Đảng, Hiến pháp, pháp lut, chính sách ca Nhà nước, bo v tính mng, tài sn, quyn làm ch ca nhân dân...

Bo v s nghip đổi mi, s nghip công nghip hóa, hin đại hóa đất nước; bo v nhng thành qu ca công cuc đổi mi mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã giành được.

Bo v li ích quc gia, dân tc; bo v v thế, uy tín, quyn bình đẳng ca nước ta trên trường quc tế; đấu tranh không khoan nhượng vi tt c các lc lượng và nhng hành động làm tn hi đến li ích quc gia dân tc.

Bo v an ninh chính tr, trt t an toàn xã hi và nn văn hóa tiên tiến, đậm đà bn sc dân tc; đẩy lùi các ti phm và t nn xã hi, gi gìn k cương, k lut; bo tn, phát huy các di sn văn hóa, các giá tr văn hc, ngh thut, thun phong m tc, đồng thi làm phong phú thêm truyn thng, bn sc văn hóa tt đẹp ca dân tc ta.

Đấu tranh gi vng hoà bình, n định chính tr và an ninh quc gia, to môi trường hòa bình để phát trin đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐẨY MẠNH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA

 

Các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta. Đối với Việt Nam, chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch có những thay đổi quan trọng, đã chuyển sang kết hợp “diễn biến hòa bình” tác động về tư tưởng, lý luận với tiến công về chính trị - công kích trực tiếp vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; thể chế chính trị; xuyên tạc sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, phủ nhận thành tựu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy hy sinh gian khổ của cả dân tộc. Không dừng lại ở các hoạt động tư tưởng, chính trị, “bất bạo động”, các phần tử thù địch người Việt được sự trợ giúp của các thế lực phản động ở nước ngoài ra sức kích động tâm lý dân tộc hẹp hòi, tư tưởng cực đoan trong tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và tập hợp lực lượng chống đối, gây bạo loạn lật đổ, đồng thời chuẩn bị cho các hoạt động rộng lớn hơn nhằm lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Một trong những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là tìm cách xuyên tạc, lợi dụng sơ hở ngay các chủ trương, quyết sách của Đảng, những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng đảng và chính quyền Nhà nước, những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực... để kích động, chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa trong nội bộ ta”. Trong những vụ việc vi phạm pháp luật được đưa ra xét xử tại tòa án trên lĩnh vực an ninh quốc gia thời gian qua có nhiều vụ vi phạm hình sự. Trong đó có các tội lợi dụng dân chủ nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo, nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… Một số kẻ lợi dụng chủ trương mở rộng dân chủ, cải cách hành chính, tự do tư tưởng, tự do báo chí, ngang nhiên đòi hủy bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 1992, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thực hiện “ngay” nguyên tắc tam quyền phân lập; có kẻ viết bài tung lên mạng, hoặc tiếp cận các đài báo phương Tây, trả lời phỏng vấn, phát tán quan điểm cá nhân thông qua Internet xuyên tạc, vu cáo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; có kẻ kết nối các phần tử chống đối mưu toan thành lập các tổ chức đảng chính trị phản động…

TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Những thành tựu, kinh nghiệm đổi mới đã tạo ra thế và lực mới: kinh tế có bước phát triển, tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường; toàn dân tiếp tục giữ vững và phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết trong điều kiện lịch sử mới; sức mạnh tổng hợp và vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới vẫn tồn tại; những biểu hiện chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn xuất hiện trên tất cả các lĩnh vực; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn ra nghiêm trọng.

Trên hướng biển Đông, tình hình tranh chấp chủ quyền biển đảo diễn biến phức tạp, trước mắt ít có khả năng xảy ra chiến tranh, xung đột vũ trang nhưng có thể có các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta vẫn sẽ tiếp tục diễn ra. Trên hướng Tây Nam cũng có những biểu hiện mới, tiềm ẩn nguy cơ phức tạp khó lường, các thế lực bên ngoài can thiệp ngày càng sâu hơn vào nội bộ các nước, đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” đe dọa an ninh khu vực, xúi dục, hỗ trợ các lực lượng phản động lưu vong tăng cường hoạt động chống phá Việt Nam.

TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC TÁC ĐỘNG ĐẾN NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 


Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, có nhiều thuận lợi và thách thức đan xen, tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của quân đội ta. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gây gắt, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên và lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi.

Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế ngày càng phát triển nhưng các nước lớn vẫn chi phối quan hệ quốc tế. Hợp tác, thỏa hiệp, đấu tranh tồn tại đan xen trong quan hệ giữa các nước lớn, tuy chưa đối đầu căng thẳng nhưng cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt hơn, nhất là ở các khu vực địa chiến lược. Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn diễn ra gây gắt. Xu hướng chạy đua vũ trang, đe dọa dùng vũ lực và các biện pháp răn đe khác có chiều hướng gia tăng. Các tập đoàn sản xuất vũ khí cạnh tranh với nhau quyết liệt và thu lợi nhuận lớn từ các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, chạy đua vũ trang.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Đông Nam Á phát triển năng động nhưng tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới lãnh thổ diễn ra với tính chất phức tạp, không loại trừ khả năng xảy ra đột biến. Cộng đồng ASEAN tiếp tục được củng cố nhưng sự gắn kết nội bộ khối chưa thật vững chắc. Can thiệp, cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước lớn tại khu vực ngày càng gia tăng, tạo ra cơ hội và thách thức mới.

NHÌN TỔNG THỂ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TỔ QUỐC

 


Nhìn tổng thể, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, phức tạp nhưng chúng ta đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Toàn quân đã quán triệt và nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quân sự - quốc phòng, cùng cả nước xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được củng cố, tăng cường; đối ngoại quốc phòng tiếp tục phát triển; chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội được nâng lên. Tuy nhiên, việc thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải tiếp tục quán triệt sâu sắc tình hình nhiệm vụ, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức, các lực lượng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong quân đội. Quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Gắn xây dựng tổ chức đảng các cấp trong sạch vững mạnh với xây dựng đơn vị, quân đội vững mạnh toàn diện, xây dựng cấp ủy gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng đội ngũ đảng viên gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ các cấp trong quân đội thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có năng lực lãnh đạo, chỉ huy, quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thực sự là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng đơn vị.

Thực hiện đúng quan điểm, nguyên tắc của Đảng về công tác cán bộ. Quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20 tháng 7 năm 2005 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức, tư tưởng và hành động của mọi cán bộ, đảng viên trong quân đội.

CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG ĐƯỢC TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ

 


Công tác đối ngoại quốc phòng được triển khai đúng đường lối đối ngoại của Đảng, pháp luật của Nhà nước và luật pháp quốc tế. Hoạt động đối ngoại quốc phòng ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, có hiệu quả thiết thực, góp phần tăng cường hiểu biết, hợp tác, tin cậy lẫn nhau, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, nâng cao vị thế của quân đội và đất nước. Quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, các nước lớn có bước phát triển trên nhiều lĩnh vực. Chủ động triển khai và tổ chức chặt chẽ, tham gia có chất lượng các hội nghị quốc phòng ASEAN.

CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG VIỆT NAM ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC MỘT SỐ KẾT QUẢ QUAN TRỌNG

 


Công nghiệp quốc phòng đã đạt được một số kết quả quan trọng; trình độ công nghệ, năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm được nâng lên. Đầu tư cho công nghiệp quốc phòng được chú trọng, đúng hướng, sử dụng ngân sách có hiệu quả. Khả năng sản xuất vũ khí, trang bị được nâng cao. Đã sản xuất được một số sản phẩm mới, có sản phẩm đạt trình độ tiên tiến, nhất là ngành đóng tàu quân sự, sản xuất thuốc phóng, thuốc nổ, khí tài phòng hóa, thông tin liên lạc… đáp ứng một phần nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang, tiết kiệm ngân sách nhà nước.

QUÂN ĐỘI ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


Sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại có chuyển biến quan trọng, chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Các cấp đã thực sự coi trọng lấy xây dựng quân đội về chính trị làm cơ sở. Đổi mới nâng cao chất lượng công tác tư tưởng. Tập trung giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng chiến đấu, giữ vững, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và truyền thống tốt đẹp của quân đội. Nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội được nâng cao, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Đẩy mạnh thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đi vào chiều sâu, thành sinh hoạt thường xuyên, tự giác của các tổ chức và từng cá nhân; tích cực, chủ động đấu tranh có hiệu quả chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, tự chuyển hóa. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở có chuyển biến tiến bộ, nội bộ đoàn kết thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn mới.

Đã chấn chỉnh một bước tương đối hợp lý về cơ cấu tổ chức, biên chế. Trang bị vũ khí của quân đội được đầu tư đúng mức, có bước phát triển quan trọng, kết hợp chặt chẽ giữa cải tiến vũ khí trang bị hiện có với đầu tư mua sắm mới, ưu tiên hiện đại hóa Hải quân, Phòng không – Không quân, Thông tin liên lạc, Tác chiến điện tử và Trinh sát kỹ thuật bước đầu có kết quả.

Công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu có chuyển biến tích cực, dần đi vào nền nếp, bám sát yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Công tác chỉ đạo, điều hành, nội dung và tổ chức phương pháp huấn luyện thường xuyên được đổi mới theo sát tình hình, nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn tác chiến của từng lực lượng; coi trọng bồi dưỡng cán bộ, tăng cường diễn tập, tổ chức tốt các hội thi, hội thao. Nhờ đó, chất lượng huấn luyện không ngừng được nâng lên.

Thực hiện xây dựng đơn vị vững mạnh theo Chỉ thị 917/CT-BQP đi vào chiều sâu, tương đối đồng đều. Toàn quân đã có bước tiến bộ cơ bản về xây dựng chính quy, rèn luyện lỷ luật.

Công tác khoa học - công nghệ và môi trường được coi trọng và triển khai tích cực, nhiều công trình khoa học được nghiên cứu và hoàn thành có chất lượng tốt, nhất là nghiên cứu phát triển lý luận nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Công tác bảo đảm hậu cần được quan tâm chỉ đạo, tổ chức chặt chẽ, đời sống của bộ đội được cải thiện rõ rệt, thế trận hậu cần từng bước được bổ sung, hoàn chỉnh theo phương án, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc. Công tác kỹ thuật được triển khai toàn diện, duy trì bảo đảm tốt vũ khí trang bị hiện có, từng bước khắc phục tình trạng thiếu đồng bộ, hư hỏng, xuống cấp vũ khí trang bị, tập trung bảo đảm tốt cho các đơn vị đủ quân, đơn vị sẵn sàng chiến đấu.

Lực lượng dự bị động viên được chú trọng xây dựng bảo đảm số lượng, công tác quản lý, huấn luyện có chuyển biến, chất lượng được nâng lên. Dân quân, tự vệ được xây dựng rộng khắp ở các ngành, các địa phương, có số lượng, quy mô, biên chế cơ bản phù hợp điều kiện thực tế, chất lượng bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ.

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG NĂM 2022

 Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XV đã thông qua Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 (Luật số 06/2022/QH15). Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 gồm 08 chương, 96 điều; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2024. Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp - Cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp PBGDPL Bộ Công an trân trọng giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 (chi tiết tại tệp đính kèm).

Thứ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Tỏ tuyên dương, trao thưởng cho 20 gương mặt “Đoàn viên Công đoàn Công an nhân dân tiêu biểu”.

 

Theo đó, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 đã thể chế các quan điểm, định hướng đổi mới công tác thi đua, khen thưởng của Đảng vào 04 phương án chính sách xây dựng dự án Luật đã được Chính phủ thông qua. Trong đó, tập trung sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống danh hiệu thi đua; hoàn thiện hệ thống hình thức khen thưởng; hoàn thiện chế định về thẩm quyền và trách nhiệm quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng; cải cách thủ tục hành chính trong thi đua, khen thưởng. Cụ thể: Kế thừa đầy đủ những ưu điểm của Luật Thi đua, khen thưởng hiện hành; bảo đảm bao quát hết các lĩnh vực đối tượng (khu vực công và khu vực tư); đồng thời, thực hiện phân cấp mạnh về thẩm quyền khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng cho các bộ, ban, ngành, địa phương, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và cấp cơ sở, góp phần giải quyết hạn chế, bất cập trong tổ chức phong trào thi đua, công tác khen thưởng và công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến. 

Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác thi đua, khen thưởng. Bổ sung nguyên tắc khen thưởng “thành tích đến đâu, khen thưởng đến đó”, hoàn chỉnh các loại hình khen thưởng và hệ thống tiêu chuẩn các hình thức khen thưởng phù hợp; hạn chế tối đa tình trạng “tích lũy thành tích, cộng dồn thành tích trong khen thưởng”; hạn chế trùng lặp, chồng chéo trong khen thưởng; chú trọng khen thưởng tập thể ở cơ sở, khen thưởng công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh; doanh nhân, doanh nghiệp, tri thức, nhà khoa học; quan tâm khen thưởng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo; khắc phục cơ bản những hạn chế, vướng mắc về thẩm quyền, đối tượng, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục khen thưởng. Thực hiện cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác khen thưởng. 

Theo đó, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 có 08 nhóm điểm mới chủ yếu sau đây: 

- Thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh hơn trong công tác thi đua, khen thưởng.

- Thể hiện rõ nguyên tắc thành tích đến đâu, khen đến đó và đề cao tính kịp thời của hình thức khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được để khắc phục tình trạng khen thưởng "tích lũy thành tích, cộng dồn thành tích” trước đây.

- Đưa phong trào thi đua hướng về cơ sở, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị, thiết thực, gắn với lợi ích của người trực tiếp tham gia thi đua, hạn chế tính hình thức trong thi đua, bảo đảm thực hiện đồng bộ ở 4 khâu (phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến).

- Chú trọng khen thưởng tập thể ở cơ sở, công nhân, nông dân người lao động trực tiếp, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ...; quan tâm khen thưởng cơ sở, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.

- Giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong khen thưởng ở khu vực ngoài nhà nước và kinh tế tư nhân.

- Quy định cụ thể khen thưởng đối với người nước ngoài có nhiều đóng góp cho đất nước Việt Nam.

- Bổ sung hình thức khen thưởng kháng chiến “Huy chương Thanh niên xung phong vẻ vang”.

- Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý công tác thi đua, khen thưởng.

Với các chính sách đột phá nêu trên, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 kỳ vọng sẽ tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện phong trào thi đua yêu nước và công tác khen thưởng thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập quốc tế; phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng để công tác thi đua, khen thưởng đi vào thực chất, thực sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng bộ, ban, ngành, địa phương và của đất nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

LHQ-ST

 

Bác Hồ vẫn học ngoại ngữ khi đã ngoài 70 tuổi

 

Nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan kể, ai cũng biết Bác Hồ rất giỏi ngoại giữ và biết 9 thứ tiếng. Vào những năm đầu 1960, và khi đó Bác cũng đã cao tuổi nhưng vẫn chăm chỉ học ngoại ngữ. Ông Vũ Khoan nói cả đời ông chưa thấy ai chăm học ngoại ngữ như Bác.

“Có lần tôi đến dịch cho Bác, trong khi chờ khách đến, tôi thấy Bác mở hộp thuốc lá ra, trong hộp có một mảnh giấy, Bác lẩm nhẩm đọc. Khi ấy tôi không dám hỏi, nhưng nghe thì thấy Bác lẩm nhẩm tiếng Nga. Tôi mới hỏi: ‘Bác vẫn học ạ?’ Bác trả lời vì ít dùng tiếng Nga nên Bác quên mất”, ông Vũ Khoan kể.

Nguyên Phó thủ tướng cho hay, Bác thường để một mảnh giấy trong hộp thuốc, mỗi mảnh giấy ghi 10 từ tiếng Nga. Mỗi lần mở hộp lấy thuốc Bác lại lẩm nhẩm học từ. Mỗi ngày 10 từ, cứ cho là rơi rụng đi thì mỗi ngày Bác cũng học được 5-7 từ.

Theo ông Vũ Khoan, Bác Hồ hiểu tiếng Nga rất sâu, nhưng vẫn ôn luyện hàng ngày dù ít dùng. “Bác học hàng ngày… Bây giờ chúng ta cứ nói học theo gương Bác Hồ, nhưng tôi chưa thấy ai học chăm như Bác”, ông nói.

Cũng theo nguyên Phó thủ tướng, Bác Hồ rất giỏi tiếng Anh. “Mới đầu nghe nói Bác biết tiếng Anh, tôi nghĩ chắc Bác cũng biết chứ không thạo lắm. Nhưng lần lên dịch ở Phủ chủ tịch, có nhiều đoàn nước ngoài đến, quay sang đoàn nào Bác nói tiếng nước đó. Khi nghe Bác nói tiếng Anh, tôi mới thấy Bác nói giỏi quá, hay quá”, ông kể.
Sau đó, đọc lại những lá thư Bác Hồ viết cho Quốc tế cộng sản viết bằng tiếng Anh, ông Vũ Khoan thấy đúng là chữ Bác thật, viết rất chuẩn. Hóa ra tiếng Anh của Bác rất giỏi chứ không như người ta nghĩ Bác chỉ giỏi tiếng Pháp.

Nguyên Phó thủ tướng còn cho biết, Bác Hồ nói tiếng Trung Quốc giọng không hay lắm, nhưng Bác lại rất am hiểu ngôn ngữ này do rất thạo tiếng Nho, tiếng Hán. “Bác nói giọng không hay thôi chứ Cụ hiểu lắm, có cần phiên dịch đâu”, ông Khoan kể.

Theo ông Vũ Khoan, tri thức của Bác rất rộng một phần là nhờ vốn ngoại ngữ. Bác biết nhiều ngoại ngữ, đến nước nào là học ngôn ngữ của nước đó: đến Italia học tiếng Italia, đến Đức học tiếng Đức, đến Anh và Mỹ học tiếng Anh.

Người có thể nói được rất nhiều thứ tiếng chính là nhờ vào sự rèn luyện không ngừng bằng việc tự học với một tinh thần cầu tiến, cộng với sự khắc khổ và phương pháp đúng, Người đã thành công!

 

CÂU CHUYỆN NHỎ VÀ BÀI HỌC LỚN

 

Trong một bài hồi tưởng về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Việt Phương kể lại một câu chuyện sau đây:

Vào một buổi sáng của năm 196… nào đó, Bác Hồ đi từ ngôi nhà sàn của Người sang Phủ Thủ tướng tìm đồng chí Phạm Văn Đồng để trao đổi về một vấn đề quan trọng. Lúc đó, đồng chí Phạm Văn Đồng đang làm việc tại Văn phòng, tuy cũng nằm trong khu Phủ Chủ tịch nhưng cách xa Phủ Thủ tướng tới vài trăm mét. Một đồng chí bảo vệ vội vã đạp xe ra báo với Thủ tướng. Vội quá, Thủ tướng dùng ngay chiếc xe đạp của đồng chí bảo vệ phóng về gặp Bác. Đồng chí bảo vệ không thể để Thủ tướng rời xa mình, mà lại không có thời gian tìm chiếc xe đạp khác, nên anh đành lập tức chạy bộ theo sau Thủ tướng. Bác Hồ đứng sẵn ở sân chờ đồng chí Phạm Văn Đồng. Khi Thủ tướng vừa xuống xe, chưa kịp chào hỏi gì, Bác đã nói ngay:

– Sao chú không đèo chú bảo vệ đằng sau xe để cùng về, lại để chú ấy chạy bộ?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc đó như chợt nhận ra, vội đáp:

– Xin lỗi Bác.

Đáp vậy, nhưng sau đó đồng chí Phạm Văn Đồng đã suy nghĩ rất kỹ về lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà nghiêm khắc của Bác Hồ. Sáng hôm sau, trong lúc làm việc với một số đồng chí cấp dưới, ông kể lại câu chuyện trên cho mọi người cùng nghe, rồi nói:

– Tôi đã nghĩ về lời của Bác. Lòng nhân ái, thương yêu và kính trọng con người, phải chân thực từ trong tâm của ta, rồi tự nhiên bật ra thành thái độ và hành động, chẳng phải suy nghĩ gì, như là từ bản năng.

Câu chuyện trên đây gợi cho chúng ta một số bài học lớn, có ý nghĩa sâu sắc.

Thứ nhất, ngay cả những nhà lãnh đạo cao cấp nhất cũng luôn luôn cần trau dồi đạo đức, bồi bổ nhân cách và rèn luyện phong cách ứng xử sao cho thực sự nhân ái, xứng tầm. Ai cũng biết Thủ tướng Phạm Văn đồng là một trong những nhà lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta. Ông không những được nhân dân ta rất kính trọng, yêu mến mà còn được cộng đồng thế giới thừa nhận như một nhà lãnh đạo thông tuệ, hào hoa, lịch thiệp, giỏi giang bậc nhất. Thế mà, tuy ông đã làm tới chức Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn không ngần ngại nhắc nhở, phê bình để giúp đồng chí Phạm Văn Đồng ứng xử cho đúng, tu tâm, dưỡng tính cho thuần hậu, nhân ái, sao cho trở thành “bản năng” của nhà lãnh đạo.

Ở đây ta thấy nét rất đẹp của Bác Hồ trong vai trò của người Thầy, và Thủ tướng Phạm Văn Đồng với tư cách người học trò. Thầy không ngần ngại chỉnh sửa, chỉ bảo học trò theo một cách vừa nhân hậu, nhẹ nhàng, nhưng cũng đủ nghiêm khắc để trò nhận thức được điều Thầy cần chỉ bảo. Về phía mình, học trò là người thực sự cầu thị, thành thực, nghiêm túc tiếp thu sự chỉ bảo của Thầy, suy ngẫm kỹ càng, không hời hợt qua loa mà ghi tâm, khắc cốt, qua đó mà hoàn thiện nhân cách của mình.

Ngày xửa, ngày xưa, Đức Phật Tổ và Đức Khổng Tử cũng dùng phương pháp này để rèn dạy, trao truyền tâm ấn cho học trò. Ngày nay thiết tưởng vẫn cần, rất cần những sự chỉ dẫn – học hỏi như vậy, nhất là đối với các bậc, các cấp lãnh đạo, nếu như họ không muốn trở thành những người “vác mặt quan cách mạng” – như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cảnh báo.

Thứ hai, là bài học về lòng nhân ái. Bài học này Thủ tướng Phạm Văn Đồng suy ngẫm và rút ra từ câu chuyện nói trên. Theo Thủ tướng thì lòng nhân ái, thương yêu và kính trọng con người không phải là cái gì có thể nguỵ tạo theo kiểu “giả nhân giả nghĩa” để mị dân, mà phải chân thực từ trong tâm của ta, rồi tự nhiên bật ra thành thái độ và hành động, chẳng phải suy nghĩ gì, như là từ bản năng. Đây là một nhận thức rất sâu sắc về đạo đức cách mạng. Lòng nhân ái phải thực sự trở thành cái cốt lõi, thành điểm tựa cho nhân cách của một nhà lãnh đạo chân chính. Chỉ khi đó tình thương yêu và kính trọng con người mới phát từ trong tâm mà ra, hoà quyện vào trong ứng xử hàng ngày của nhà lãnh đạo một cách hết sức tự nhiên, như một bản năng vậy. Như vậy thì lòng nhân ái không thể là cái gì có thể “chế tác”, ngụy tạo một cách giản đơn và chỉ có lòng nhân ái chân thực mới tạo nên uy tín, tạo nên sức thu hút quần chúng và nâng cao tầm của nhà lãnh đạo. Ngược lại, nhà lãnh đạo phải đạt tới tầm nào đó rồi mới hiểu thấu đáo được cội rễ của lòng nhân ái, mới biết yêu thương và kính trọng con người như một bản năng.

Thứ ba, là bài học về mối quan hệ giữa lãnh tụ với nhân dân. Đây chính là điều mà Bác Hồ đã quán triệt cho các học trò của Người ngay từ những ngày đầu của sự nghiệp Dựng Đảng – Cứu Quốc, rằng “công nông là gốc kách mệnh”. Đặc biệt là từ sau khi Đảng ta trở thành một “đảng cầm quyền” thì Người càng đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục cho cán bộ, đảng viên, trí thức ý thức gần dân, thực sự thương yêu và kính trọng nhân dân. Ngay trong tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng Hồ Chí Minh đã nhận thấy cán bộ các cấp phạm vào một loạt các sai phạm như: trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Vì vậy, ngày 17 tháng 10 năm 1945 Người đã viết Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, huyện và làng yêu cầu cán bộ ta khẩn trương, nghiêm túc rút kinh nghiệm, gột rửa những sai phạm nói trên. Hai năm sau, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang trải qua giai đoạn rất khốc liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian biên soạn cuốn sách “Sửa đổi lối làm việc” để nghiêm khắc vạch ra những sai phạm trong đạo đức và phong cách lãnh đạo, làm việc của cán bộ các cấp, đồng thời chỉ ra những phương hướng và biện pháp cụ thể để khắc phục. Người cho rằng đạo đức của một người cán bộ, đảng viên phải gồm đủ cả Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm; rằng “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”, nhưng “tuyệt đối không theo đuôi quần chúng”.

Có thể nói tác phẩm trên đây là những chỉ dẫn sâu sắc và mẫu mực của Hồ Chí Minh về đạo đức và phong cách lãnh đạo, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

Bác Hồ dạy đạo làm tướng

 Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm giáo dục, rèn luyện các vị tướng và coi đó là một nội dung quan trọng để quân đội thực sự là đội quân cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Những mẩu chuyện sau đây là những ví dụ cụ thể...

“Dĩ công vi thượng”

Nhân dịp Hội thảo kỷ niệm lần thứ 115 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (năm 2005), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã kể lại một hồi ức về lời dạy của Bác đối với Đại tướng.

Đó là một buổi tối mùa đông lạnh lẽo, trong hang Pác Bó (Cao Bằng), Bác Hồ giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ tổ chức “Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Hang nhỏ nằm sâu trong khe núi. Trong hang tối, không khí ẩm và lạnh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nhặt những cành củi khô nhóm một ngọn lửa sưởi ấm cho Bác. Khói bốc cay sè, củi nổ tí tách. Nằm bên Bác trên một chiếc giường lát bằng cành cây, đồng chí Võ Nguyên Giáp lắng nghe tiếng Người nói nhỏ nhẹ đều đều, giọng xứ Nghệ ấm áp. Câu chuyện đến quá nửa đêm, bàn về vấn đề chuẩn bị phát động vũ trang khởi nghĩa. Bỗng nhiên Bác dừng lại nói: “Chú Văn ạ, làm cách mạng là phải dĩ công vi thượng”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Bác chỉ nói ngắn bốn chữ như vậy thôi mà tôi nhớ mãi và phấn đấu làm theo lời Bác suốt đời cho đến tận ngày nay. Dĩ công vi thượng là cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích chung lên trên hết, tất cả vì nước vì dân, đặt lợi ích của dân, của nước, của Ðảng lên trên hết, đem lòng chí công vô tư mà đối xử với người, với việc, không mảy may có chút chủ nghĩa cá nhân”.

Sau đó, ngày 28-5-1948, tại lễ thụ phong quân hàm Đại tướng đối với đồng chí Võ Nguyên Giáp-Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ý nghĩa của việc phong quân hàm: “Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao nhiêu hy sinh, chiến đấu của đồng bào, đồng chí”.

Lời nhắn nhủ của Bác trong lễ phong tướng đã đi theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp suốt cuộc đời. Sau này, rất nhiều báo chí nước ngoài tung hô ông là “vị tướng huyền thoại”, “thiên tài quân sự”... nhưng ông đã khiêm nhường trả lời: “Vị tướng tài nhất là Nhân dân Việt Nam”. Trong một cuộc hội thảo, Đại tướng cho rằng, ở Việt Nam, danh hiệu vẻ vang nhất là danh hiệu đảng viên và nhấn mạnh: “Chúng ta nhớ tới biết bao đảng viên ưu tú đã một lòng vì nước vì dân, nêu cao tinh thần gương mẫu trong cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc 10.000 ngày, không quản gian khổ hy sinh, sẵn sàng xả thân để giành chiến thắng. Tại mặt trận, trước tình huống khó khăn, gay go, quyết liệt đã vang lên tiếng thét: “Các đảng viên cộng sản tiến lên!”, “Ai là người theo Ðảng hãy tiến lên!”. Hai tiếng đảng viên thiêng liêng và hành động tiên phong gương mẫu của đảng viên đã có sức mạnh cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt kẻ thù, giành thắng lợi”. Từ đó, Đại tướng cho rằng: “Cán bộ cấp càng cao thì tác dụng gương mẫu càng quan trọng. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Ðảng, Nhà nước, quân đội, các đoàn thể, ở Trung ương và địa phương, thủ trưởng các ban, ngành, các đơn vị sản xuất và chiến đấu hãy nêu cao vai trò gương mẫu về đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Dĩ công vi thượng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”.

“Suốt đời phục vụ nhân dân”

Ngày 31-8-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 36/SL phong quân hàm cấp tướng cho 16 sĩ quan quân đội. Dự lễ phong quân hàm ngày 1-9-1959, Bác Hồ căn dặn: “Dù ở cương vị nào chúng ta cũng đều phải cố gắng để xứng đáng là người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân”. Thay mặt những đồng chí được phong quân hàm cấp tướng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã phát biểu và trân trọng hứa: “Luôn luôn làm đúng lời căn dặn của Bác, giữ vững lập trường trọn đời phục vụ nhân dân”.

Thực hiện lời hứa với Bác, suốt cuộc đời mình, bao giờ Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng giữ vững nguyên tắc lời nói đi đôi với việc làm. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có bài viết “Học tập tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện của Hồ Chủ tịch” đăng trên Báo Quân đội nhân dân số 737 ngày 19-5-1960, trong đó khẳng định: “Cảnh nước mất nhà tan đã thôi thúc Hồ Chủ tịch ra đi làm cách mạng với tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện làm tiêu chuẩn hành động và chiến đấu của mình. Cả cuộc đời của Hồ Chủ tịch gắn liền với đời sống vật chất, tinh thần, năng lực, trí tuệ tình cảm của nhân dân... Người chỉ và chỉ nghĩ đến việc phục vụ nhân dân, sống như nhân dân, nói và viết như nhân dân và vì nhân dân”. Đây là một trong những bài viết quan trọng, như một lời hứa của lực lượng vũ trang đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, cuộc đời “sáng trong như ngọc một con người” của ông chính là minh chứng sống động nhất về thực hiện lời hứa của một vị tướng với Bác Hồ.

“Cần nhiều nhân tướng”

Thượng tướng Đàm Quang Trung kể lại một kỷ niệm sâu sắc về một lần được Bác dặn dò khi ông nhận lệnh lên đường vào miền Nam chiến đấu: “Rồi tôi nhận lệnh vào miền Nam chiến đấu. Trước khi đi, Bác gọi tôi lên gặp để Bác dặn dò. Bác hỏi thăm tình hình gia đình tôi và hỏi chú có gặp khó khăn gì không. Tôi thưa với Bác là tôi đã chuẩn bị sẵn sàng... Trong phòng lúc ấy chỉ có hai Bác cháu. Tự nhiên tôi bỗng cảm thấy bùi ngùi. Ngày mai xa Bác, gần một năm được sống bên Bác, được Bác chăm sóc yêu thương, ân cần dạy dỗ. Thời gian một năm được sống gần Bác, tôi như được qua một trường huấn luyện đặc biệt hiếm có”.

Bác dạy đồng chí Đàm Quang Trung về đạo làm tướng: “Chú lên đường đi chiến trường xa xôi. Bác nói với chú về nhân cách một người làm tướng. Trong tướng có nhiều loại:  Mãnh tướng như Trương Phi, dũng tướng như Quan Vân Trường, hổ tướng như Triệu Tử Long. Các loại tướng như thế đều tốt. Nhưng theo Bác, cuộc chiến đấu của chúng ta cần nhiều nhân tướng, vì đây là cuộc chiến đấu vì con người. Nhân tướng là người tướng hiểu con người, biết quý con người, biết dùng người và được mọi người yêu quý. Chỉ có những vị tướng như thế mới trăm trận trăm thắng được”.

Không nên nóng nảy với cấp dưới

Năm 2007, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản sách “Một số lời dạy và mẩu chuyện về tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Trong đó có chuyện Thượng tướng Phùng Thế Tài được Bác rèn luyện, nhắc nhở sửa chữa tính nóng nảy với cấp dưới. Đồng chí Phùng Thế Tài vốn là chiến sĩ bảo vệ Bác trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, đồng chí Phùng Thế Tài lúc này đã trở thành chỉ huy một đơn vị lớn, nhưng đôi khi, ông hay quát mắng, thậm chí bợp tai cấp dưới (bản tính ông ngay thẳng, tuy đôi lúc nóng nảy nhưng được cán bộ, chiến sĩ dưới quyền yêu quý-TG). Được nghe “dư luận” về Phùng Thế Tài, một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Bác dặn Trạm đón tiếp khu ATK, dù có đến sớm, cũng giữa trưa mới cho ông vào gặp Bác.

Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ giữa trưa, đồng chí Phùng Thế Tài vã cả mồ hôi, người như bốc lửa. Đến nơi, Bác đã chờ sẵn. Trên bàn đã đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi có ý chừng vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh. Sau khi chào hỏi xong, Bác chỉ vào cốc nước nóng nói: “Chú uống đi”. Đồng chí Phùng Thế Tài kêu lên: “Trời nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được”. Bác mỉm cười: “Đấy nhé, nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn”. Hiểu ra lời dạy của Bác, đồng chí Phùng Thế Tài nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa…

“Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”

“Đạo làm tướng” đầy đủ nhất theo tư tưởng Hồ Chí Minh, được Người đưa ra tại Hội nghị Quân sự lần thứ V (tháng 8-1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dạy mỗi tướng lĩnh phải: “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”.

Theo quan điểm của Bác: Làm tướng không phải để hưởng lợi cá nhân, mà phải tuyệt đối trung thành, phụng sự sự nghiệp cách mạng của Đảng, Tổ quốc và nhân dân được tốt hơn. Vinh dự thật to lớn nhưng trách nhiệm hết sức nặng nề. Mỗi sĩ quan cấp tướng phải thực sự tiêu biểu về trí tuệ, bản lĩnh và nhân cách, tuân thủ kỷ luật, Hiến pháp, pháp luật. Người làm tướng phải có tri thức, đạo lý, nhân cách, có dũng khí, sống nhân văn, liêm chính, chí công vô tư, thực sự là chỗ dựa đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Dưới con mắt của nhân dân, người làm tướng cũng phải thực sự là hình mẫu tiêu biểu của sự khiêm nhường, cầu thị, trọng dân, gần dân, vì nhân dân phục vụ, có khả năng dẫn dắt cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

MỘT NHÂN CÁCH LỚN - MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG TRONG VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - một nhà lãnh đạo có tâm, có tầm, luôn toàn tâm, toàn ý hy sinh cống hiến cho lợi ích chung của nước, của dân, của Đảng mà không hề màng quyền lực, bổng lộc, vun vén lợi ích cá nhân. Có thể nói người đứng đầu Đảng ta là điểm hội những tinh hoa của đất nước và con người Việt Nam trong hòa bình, hội nhập. Chỉ những con người như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - một người luôn biết yêu mảnh đất này, Tổ quốc này thì mới biết buồn nỗi buồn của dân, biết lo nỗi lo của dân và luôn đau đáu tìm tòi, sáng tạo, phấn đấu làm sao để giúp nhân dân mình, đất nước mình sớm thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, sánh vai với các cường quốc năm châu. Tình yêu Tổ quốc cao quý, thiêng liêng lắm và chính nó cùng với ý chí, nghị lực được tôi luyện trong những thăng trầm của lịch sử đất nước đã tạo nên nhân cách con người Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Những gì mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước nói và làm đã chiếm trọn niềm tin yêu, kính trọng của nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Sự ngưỡng mộ, lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc đối với đồng chí Tổng Bí thư của người dân Việt Nam trong và ngoài nước được tỏ bày qua nhiều bài viết, lời thơ. Những bài viết, bài thơ ấy không chỉ là thể hiện tấm lòng, tình cảm của cá nhân mình mà họ đã nói hộ tình cảm, tấm lòng của nhân dân Việt Nam dành cho người đứng đầu Đảng ta.

Lịch sử dân tộc Việt Nam thời nào cũng thế, mỗi khi đất nước đứng trước những thử thách lớn lao thì bao giờ cũng xuất hiện những anh hùng hào kiệt. Trong thời bình, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi đất nước ta đứng trước nhiều nguy cơ, khó khăn, thách thức. Nếu như thời chiến tranh cả dân tộc dồn tâm, dốc sức cho một mục tiêu là chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước, giữ gìn và bảo vệ giang sơn, bờ cõi thì nay trong điều kiện hòa bình chúng ta phải làm nhiều nhiệm vụ, thực hiện nhiều mục tiêu, đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức, trong đó nguy hiểm nhất sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đặc biệt là tệ tham nhũng, tiêu cực. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xem tham nhũng, tiêu cực là thứ “giặc nội xâm”. Cuộc đấu tranh phòng, chống loại giặc nguy hiểm này vô cùng khó khăn, phức tạp bởi nó ở ngay trong chính nội bộ ta.

Sau bao năm tưởng chừng như chúng ta bất lực trước sự hoành hành của loại giặc này thì ở vào thời điểm khó khăn, phức tạp nhất đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuất hiện. Những gì mà người đứng đầu Đảng ta đã làm và những kết quả quan trọng đạt được trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã khẳng định tinh thần chiến đấu kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ trong phòng, chống “giặc nội xâm” vì sự trong sạch vững mạnh của Đảng, của hệ thống chính trị, vì sự tồn vong của Đảng, của chế độ xã hội chủ nghĩa và vị thế của dân tộc Việt Nam.

Tinh thần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chính là tinh thần của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam. Từ những việc đã làm và kết quả đã đạt được, nhân dân ta đặt trọn niềm tin tuyệt đối vào người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta - người đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo kiên trì, chắc chắn, kiên quyết và cũng rất nhân văn cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Tinh thần của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chính là kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong điều kiện mới, với đối tượng mới đó là chống “giặc nội xâm”.

Nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước đặt trọn niềm tin yêu ở đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mà cao hơn thế bạn bè quốc tế đặt trọn niềm tin và lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cả dân tộc Việt Nam, đặt trọn niềm tin ở công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang dày công xây dựng. Với những gì mà đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã làm và những thành tựu đã đạt được, bạn bè quốc tế tin tưởng rằng công cuộc đổi mới của nhân dân ta sẽ tiếp tục gặt hái thêm nhiều thành công mới, vị thế, uy tín của Việt Nam sẽ ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

KHI BÁO CHÍ QUAY LƯNG LẠI VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC

 

Nhìn lại, 20/07/2022, vào 68 năm về trước, Hiệp định Genève được kí kết giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Đây là kết quả của biết bao nhiêu nỗ lực, máu xương, mồ hôi, nước mắt… của người dân Việt Nam nói riêng và cả khối Đông Dương nói chung nhằm chấm dứt sự đô hộ của Thực dân Pháp. Cũng vào ngày này năm ấy, hơn 20 quốc gia châu Phi và nhiều quốc gia khác ở Nam Mỹ đã cùng tổ chức “Ngày Việt Nam” nhằm ủng hộ Việt Nam độc lập, tự do và mở ra phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa… Nhưng sự kiện này "lạc trôi" đi đâu mất và im lìm không được mấy quan tâm.

Lướt qua báo chí, chúng ta thấy gì? Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Dân Trí, Người Lao Động… đồng loạt đăng bài ca tụng tưởng nhớ Tô Văn Lai - sáng lập ra Thúy Nga Paris, người tạo ra những Đan Nguyên, Khánh Ly, Nguyễn Ngọc Ngạn… và những chương trình chống phá đất nước cực kỳ dữ dội trước năm 2010. Trong thời gian ở Paris, Tô Văn Lai được cho là có liên kết với Bùi Tín, quyên góp tiền cho Việt Tân, từng ủng hộ rất nhiều các “Chính phủ lâm thời Việt Nam hải ngoại”, đưa tin truyền thông cho bạo loạn FULRO ở Tây Nguyên… Trong khoảng ít năm trở lại đây, Tô Văn Lai lặng im và không tham gia bày tỏ quan điểm chính trị để Thúy Nga Paris ít bị ảnh hưởng và có cơ hội trở lại hoạt động ở quê nhà Việt Nam.

Một người như vậy, được xuất hiện đường hoàng trên trang nhất của những tờ báo lớn nhất Việt Nam. Người ta sử dụng những mỹ từ như “giáo sư Tô Văn Lai và những cống hiến cao đẹp”, “một người thầy của showbiz Việt” (?), “một người nghệ sĩ vì người hâm mộ”... Có cảm tưởng như người ta đang mô tả một vĩ nhân, một người nổi tiếng có ảnh hưởng trọng đại đến dân tộc, một người có công lao vô cùng to lớn đến Tổ Quốc…

Mình nhớ đến những ngày 22/12 năm ngoái, nhạc sĩ hải ngoại Lâm Phương mất và báo chí đồng loạt lên bài ca tụng, chúc mừng, thương tiếc... Và những tin tức về vị nhạc sĩ này còn lên tận trang chủ của nhiều tờ báo, mặc cho ngày 22/12 là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và hôm đó cũng là dịp kỉ niệm 110 năm ngày sinh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Báo chí lại đi tẩy trắng cho những người đã chống đối đất nước quyết liệt? Những người thậm chí còn không đường hoàng nói lời xin lỗi và hòa hợp dân tộc. Báo chí lại đi ca tụng một người vượt biên về ghi những thước phim chống phá đất nước và bị bắt rồi trục xuất khỏi đất nước?

Báo chí phải chăng là đang phản cách mạng?

Hãy nhìn báo chí Trung Quốc, Hàn Quốc nói gì về những con người quay lưng lại Tổ Quốc? Hãy nhìn cách họ đã và đang làm gì để bảo vệ lịch sử dân tộc.

Báo chí phải chăng là đang quay lưng lại với lịch sử? Báo chí phải chăng là là một kẻ thù ở ngay đằng sau?