Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

 

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc. Trong hệ thống tư tưởng của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Tư tưởng của Người về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là “nền gốc” của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.

          Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kiên trì và nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra chế độ xã hội mới, là chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

          Ngay sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng, đưa lên nhiệm vụ hàng đầu. Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thống nhất các đoàn thể nhân dân và các tổ chức Mặt trận dân tộc trong cả nước (Các tổ chức Mặt trận là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam). Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận cả nước được tổ chức trọng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 31/1 đến ngày 4/2/1977, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi cả nước, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, góp phần tích cực vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của dân tộc.

          Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Quan điểm này đã được Đại hội V của Đảng khẳng định: Thành công rực rỡ của Đảng và nhân dân ta đã nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước, triển khai thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là Nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo cuả Đảng. Tăng cường Nhà nước là vấn đề cấp bách để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

          Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, có nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc như: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.

          Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: (1) Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…; (2) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đến Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội một lần nữa khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”. Đại hội IX nhấn mạnh: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đại hội X chỉ rõ, nhiệm vụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội; coi đó là “nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

          Tiếp tục khẳng định quan điểm của các nhiệm kỳ đại hội trước, Đại hội XI chỉ rõ: Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân...”.

          Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay là phải “tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

          Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung một số nội dung, phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”. Khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm” của Nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; sự lãnh đạo của Đảng là ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN

Phòng, chống “diễn biến hòa bình”: Lợi dụng dựng chuyện "trống trường"...

Mấy ngày qua, câu chuyện về khai giảng năm học mới vẫn râm ran quanh bàn trà của các bác hưu trí trong xóm. Ấy là bởi, trước đó, ông Bình khẳng định rằng, năm nay cán bộ huyện về dự lễ khai giảng ở trường tiểu học của xã sẽ không dám đánh trống khai trường. Thế nhưng, chuyện lại không phải vậy!

Ông Dương chậm rãi tỏ bày:

- Đó, ông Bình ạ, tôi đã nói với ông ngay từ đầu rồi. Ông cứ xem, nghe người ta đồn thổi trên mạng xã hội, rồi suy diễn cho rằng lãnh đạo các địa phương sợ "dớp" sẽ không dám đánh trống khai trường. Rồi ông còn bảo, người ta nghĩ ra cả rô-bốt để đánh trống... giải xui. Giờ đã "hai năm rõ mười" rồi nhé. Trong lễ khai giảng, từ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến các địa phương, ngay chủ tịch huyện ta cũng thực hiện nghi thức đánh trống chứ có sợ xui xẻo như ông nói đâu.

Ông Bình cười xuề xòa:

- À, thì tôi cũng nghe trên mạng người ta đồn vậy nên lấy câu chuyện làm quà. Còn nói thật, bản thân tôi lúc ấy cũng nghĩ, làm gì có chuyện đánh trống khai trường mà lại xui xẻo, không ai dám đánh trống, phải không các ông?

- Ông nghĩ thế là đúng đấy ông Bình ạ! Thực ra, những kẻ bất mãn chính trị luôn tìm cách nói xấu lãnh đạo, nói xấu chính quyền. Chúng âm mưu làm giảm lòng tin của người dân vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cán bộ các cấp hòng làm mất niềm tin của nhân dân vào chế độ, hướng tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Việc tung tin đồn nhảm cán bộ "sợ" đánh trống khai giảng chỉ là một trong nhiều thủ đoạn mà những kẻ xấu thực hiện. Ai tin vào những lời nhảm nhí, xì xào với nhau về việc này thì chính là đã vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, vô tình truyền bá mê tín dị đoan đấy.

Ông Huy gật gù:

- Ông Dương nói chí phải, ngay từ đầu, tôi đã thấy ông Bình nói không hợp lý rồi. Tôi cũng có xem trên mạng xã hội, thấy người ta cắt ghép video, đồn thổi rằng "có dớp" đánh trống khai trường nên lãnh đạo năm nay sẽ không đánh trống. Nhưng tôi cứ chờ cho khai giảng diễn ra để thực tế sẽ chứng minh cho ông Bình và những lời đồn trên mạng xã hội là đúng hay sai. Vì thế, lúc đó tôi không tranh luận. Giờ thì đã rõ rồi ông Bình nhé, chiếc trống trường nào có tội gì và các cấp lãnh đạo cũng chẳng bận tâm gì với những thông tin xuyên tạc, nhảm nhí. Từ khi có lễ khai giảng đến nay thì hầu như ở đâu cán bộ chẳng đánh trống khai trường...

Ông Dương đồng tình, tiếp lời:

- Từ việc khai giảng lần này càng thấy, lãnh đạo các cấp vẫn luôn sẵn sàng làm việc cần làm vì nhân dân, vì đất nước chứ không phải vì cá nhân, vì sợ điều này, lo tiếng nọ mà không dám làm; lại càng không tin những luận điệu xuyên tạc, nhảm nhí. Vậy thì cánh già chúng ta phải tuyên truyền những điều tích cực đó và phản bác lại những lời bịa đặt, suy diễn nhằm chống phá đất nước, các ông ạ!

Sợ dòng họ mình "lép vế"

Học xong trung cấp nông nghiệp, Mạnh chỉ có nguyện vọng về làm việc tại quê nhà. Quyết định của chàng trai thật đáng quý, bởi ở miền quê này, các thanh niên trưởng thành đều tìm cách “tung cánh bay xa”, những ngày thường ở quê chỉ toàn người già, trẻ nhỏ.

Lâu nay, việc tìm người làm cán bộ thôn thật khó, nguồn chủ yếu là người đã nghỉ hưu. Vì vậy, việc Mạnh học xong, quyết định trở về quê hương làm ăn khiến nhiều đồng chí cán bộ thôn rất mừng.

Về quê, Mạnh được bầu vào Ban Chấp hành chi đoàn thôn. Khi Bí thư chi đoàn đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản thì Mạnh lại được bầu làm thủ lĩnh chi đoàn. Với kỹ năng “tay trái” học được ở trường, nhất là việc tổ chức các phong trào hoạt động của tuổi trẻ, Mạnh tiến hành củng cố chi đoàn về tổ chức và đẩy mạnh các hoạt động. Chưa đầy 6 tháng, từ trạng thái “ngủ quên”, chi đoàn đã bừng tỉnh với nhiều hoạt động phong phú, bổ ích. Việc chung-việc riêng, hoạt động phong trào và tư duy kinh tế nông nghiệp của Mạnh đều rất nổi. Những ai có góc nhìn tích cực thì đều tin tưởng, ủng hộ, khích lệ Mạnh.

Những tưởng từ “bó đũa” đã chọn được “cột cờ”! Nhưng không, đã mấy lần chi ủy, chi bộ họp về việc kết nạp Mạnh vào Đảng và chọn làm nguồn trưởng thôn (thay thế người đương nhiệm tuổi đã cao), mà chẳng lần nào Mạnh được quá bán, chẳng lần nào thành công. Trong các cuộc họp đó, những ý kiến ủng hộ Mạnh chỉ là số ít, còn những ý kiến ngược lại thì áp đảo với đủ lý do: Rằng, mới chỉ có bề nổi chứ chưa có chiều sâu; rằng, có nhiệt tình nhưng còn thiếu chín chắn; rằng, để làm được trưởng thôn thì cần phải học hỏi, tích lũy nhiều, nhiều nữa...

Điều dễ nhận ra là những ý kiến không ủng hộ Mạnh đều của các đảng viên thuộc một dòng họ lớn trong thôn (chiếm hơn 2/3 đảng số chi bộ). Thực tế những đảng viên của dòng họ này không đồng ý kết nạp Mạnh vào Đảng và chọn làm nguồn trưởng thôn chỉ đơn giản vì cậu Bí thư chi đoàn không có họ với mình. Những đảng viên có họ số đông này đã rỉ tai nhau không ủng hộ Mạnh, thậm chí khi họp dòng họ còn đưa ra bàn: Cố gắng chờ một người của dòng họ đang phiêu bạt làm ăn nơi xa trở về để làm trưởng thôn kiêm bí thư chi bộ. Họ mình to nhất làng thì không thể để người của dòng họ khác làm lãnh đạo, khiến họ mình bị "lép vế" (?).

Tư tưởng ích kỷ tiểu nông và ứng xử không vì tập thể, không khách quan như trên là xa rời văn hóa Đảng, gây mất đoàn kết, là biểu hiện của tính cục bộ. Ở góc độ khác, đó còn là cách nhìn phiến diện, tiêu cực, làm cho những người trẻ mất động lực phấn đấu, gây hậu quả tai hại cho cả tập thể và cá nhân, nhất là ảnh hưởng xấu đến công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, về công tác tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở. Điều hết sức nguy hại nữa là những tư tưởng, hành động tiêu cực nêu trên chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, từ đó thổi phồng, kích động nhằm chống phá Đảng ta, chế độ ta, gây "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Do đó, mỗi đảng viên đều phải nêu cao tính Đảng, thực hiện đúng những nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm nhìn nhận và giải quyết vấn đề thật công tâm, khách quan, vì sự phát triển của tập thể-như thế mới là người văn minh, tiến bộ. Đặc biệt, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, không tham gia những cuộc họp họ tộc can thiệp vào công việc của chi ủy, chi bộ và của chính quyền các cấp mà nội dung trái với cả pháp luật và đạo lý; đồng thời lựa lời khuyên giải, góp ý, thuyết phục những người thân quen bỏ tư tưởng, suy nghĩ tiêu cực, thiển cận, cục bộ.

Đề cao vai trò, tầm quan trọng công tác tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng

Trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, Đảng ta đã dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm tiếp theo tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng. Bốn nguy cơ, trong đó có tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn nhiều diễn biến phức tạp. Đặc biệt, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”. Đây được nhận định là một trong những nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta và tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta trong thời gian tới.

Xuất phát từ cả những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần chú trọng đến các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và Ban Chỉ đạo 35 các cấp về vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là yếu tố đóng vai trò tiên quyết đến chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên tuyền, làm cho công tác tuyên truyền được tiến hành thường xuyên, liên tục, với nội dung và hình thức phù hợp, với các điều kiện bảo đảm đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cấp ủy đảng các cấp, trực tiếp là Ban Chỉ đạo 35 từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện cần tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những cách thức thiết thực, hiệu quả, sáng tạo, ngày càng đi vào thực chất để tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Hai là, đổi mới nội dung tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với những biến đổi nhanh chóng của tình hình thực tiễn. Xuất phát từ những thay đổi nhanh chóng, khó lường của thực tiễn, nội dung tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay ngoài những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, trọng tâm trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức trong những năm tới; chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch gắn với bảo vệ những quan điểm, chủ trương, chính sách, sự kiện, sự việc cụ thể và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm “lấy xây làm chính”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”. Việc đổi mới, cập nhật nội dung tuyên truyền theo hướng này sẽ làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân, trở thành “kim chỉ nam” định hướng cho hoạt động của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Ba là, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Các hình thức tuyên truyền phải đa dạng, phong phú, gắn với đặc điểm của từng bộ phận quần chúng nhân dân. Ngoài việc tuyên truyền theo những cách thức truyền thống như quán triệt, học tập nghị quyết, viết tin bài trên báo chí, cần đẩy mạnh tuyên truyền trên internet và mạng xã hội. Cách thức tuyên truyền cần có sự đổi mới linh hoạt gắn với nhu cầu, thị hiếu và xu hướng của xã hội. Ngoài ra, cần xây dựng các chiến dịch truyền thông chủ động trong các dịp đất nước có các sự kiện chính trị lớn hay trong những thời điểm khó khăn, nhiều thử thách để các dòng thông tin tích cực trở thành chủ lưu, tránh để các thế lực thù địch có cơ hội chiếm lĩnh trận địa thông tin để tung ra các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật hòng dẫn dắt, hướng lái dư luận theo ý đồ chống phá. Chú trọng tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hiệu quả của các thông tin tuyên truyền.

Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước với các hoạt động tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, trong đó chú trọng đến việc “xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có sơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đẹp đến dư luận xã hội”. Do đó, các cơ quan Nhà nước cần xiết chặt cơ chế quản lý hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông… trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên, cáo cáo viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền”. Giải pháp này giúp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền sẽ truyền tải đúng đường lối, chủ trương của Đảng, tinh thần của Nghị quyết; khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ do yếu kém về năng lực, nghiệp vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm mà tuyên truyền không đúng, xa rời đạo đức nghề nghiệp, sẵn sàng chạy theo tâm lý đám đông mà bỏ qua tính đảng, tính chính trị trong các hoạt động tuyên truyền nên dễ dàng bị các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo, đưa các thông tin tuyên truyền đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng.

Sáu là, tiếp tục đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, xây dựng, phát triển và tăng cường phối hợp các lực lượng trong tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh phát triển của truyền thông hiện đại, để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nhất thiết phải chú trọng đầu tư ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, đẩy mạnh chuyển đổi số để hiện đại hóa các cơ quan, phương tiện truyền thông, tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong toàn xã hội. Ngoài lực lượng cán bộ chuyên trách ở ban tuyên giáo các cấp, cần xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia, lực lượng xung kích để tạo thành mạng lưới tuyên truyền rộng khắp. Bên cạnh đó các cơ quan tuyên truyền cần có sự phối hợp chặt chẽ để kết nối, lan tỏa những nội dung liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng để tạo thành mạng lưới thông tin tuyên truyền tích cực, góp phần “pha loãng”, đẩy lùi các thông tin tiêu cực./.

Tung hỏa mù... "chuyện thâm cung bí sử"

Chiều chủ nhật, tại quán trà đá vỉa hè Thủ đô có 4 người tuổi trung niên xì xào bàn tán:- Mấy hôm nay, facebook của các đối tượng “lề trái” liên tục đăng tin “hot” về một số cán bộ cấp cao phe nhóm, đấu đá nhau để tranh chức quyền các ông ạ!

- Có trang đăng cả những chuyện mà họ gọi là “thâm cung bí sử”, chuyện đời tư của cán bộ cấp cao, chuyện một vài cán bộ làm thế nào để chạy vào quy hoạch Trung ương...

- Thì thi thoảng các trang mạng “lề trái” vẫn đăng tin như vậy, nhưng dịp này nó đăng dày hơn, nhiều chuyện hơn. Dân thường như mình không biết đường nào mà lần, các ông nhỉ?

Ngồi ngay ghế bên cạnh uống trà để chờ đến giờ đón cháu đi học vẽ về, ông Hoàng là cựu chiến binh vô tình nghe được câu chuyện của 4 trung niên. Là người hiểu biết, có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tính tình lại cương trực “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, không được sống thờ ơ, vô trách nhiệm”, nên ông Hoàng quay sang nói với 4 người ngồi bàn bên:

- Tôi vô tình nghe các chú nói chuyện. Biết các chú đang bị những thông tin suy diễn, xuyên tạc, bịa đặt trên một số trang mạng của các đối tượng bất mãn, phản động làm cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nên tôi xin phép được tham gia vài lời. Các chú có biết vì sao mấy hôm nay một số trang mạng "lề trái" lại đăng nhiều thông tin nói xấu lãnh đạo cấp cao không?

Sau khi cả 4 người trung niên đồng loạt trả lời: “Không ạ!”, ông Hoàng cười và nói:

- Các chú có vẻ không chú ý đến các sự kiện, thông tin chính trị chính thức, nhưng lại tò mò, quan tâm những tin tức giật gân, không hề có cơ sở. Sở dĩ mấy ngày nay, các đối tượng bất mãn, phản động tung nhiều tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu một số đồng chí lãnh đạo cấp cao là bởi từ ngày 2-10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiến hành Hội nghị lần thứ 8 để bàn nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có nội dung quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. Chúng tận dụng cơ hội này, cố tình tung tin hỏa mù, nói xấu, hạ thấp uy tín lãnh đạo cấp cao hòng tạo dư luận xấu, chống phá công tác cán bộ của Đảng ta nhằm thực hiện âm mưu nham hiểm, sâu xa là chống phá Đảng, Nhà nước; làm cho nhân dân mất niềm tin vào chế độ và sự lãnh đạo của Đảng. Thực tế, trước các kỳ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội hay những lần lấy phiếu tín nhiệm, khi Trung ương bàn công tác cán bộ thì các phần tử phản động, bất mãn đều tung hỏa mù, xuyên tạc, nói xấu cán bộ cấp cao như vậy. Các chú thấy tôi nói có đúng không?

4 người đàn ông “dạ, vâng”, nhưng một người vẫn hỏi ông Hoàng:

- Vì sao bác lại khẳng định những thông tin “thâm cung bí sử” mà các trang mạng “lề trái” đăng tải là sai sự thật, là suy diễn, xuyên tạc?

Là cử nhân luật, được tín nhiệm bầu làm hội thẩm nhân dân cấp quận và nhiều lần tham gia xét xử tại các phiên tòa nên ông Hoàng đã trả lời hết sức thuyết phục:

- Tôi khẳng định những thông tin nói xấu lãnh đạo cấp cao mà các đối tượng phản động, bất mãn tung ra với chiêu trò “chuyện thâm cung bí sử” để thu hút người đọc là sự suy diễn, xuyên tạc trắng trợn và vu khống, bởi vì không có bất kỳ bằng chứng xác đáng nào để chứng minh đó là sự thật. Bản thân những kẻ tung tin đó cũng không dám chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin chúng đăng tải, như thế thì sao các chú lại tin? Chưa kể, đa số những kẻ tung tin “chuyện thâm cung bí sử” của nước ta lại đang sống ở nước ngoài, làm sao được chứng kiến sự việc trong nước, nhất là chuyện đời tư, chuyện quan hệ, công việc của các đồng chí lãnh đạo, nên chúng chỉ "ăn ốc nói mò". Ngay chúng ta sinh sống và làm việc trong nước, cách trung tâm chính trị của đất nước chỉ vài bước chân mà còn không biết “chuyện thâm cung bí sử” nữa là những đối tượng ở xa đất nước hàng nghìn cây số. Chưa kể, hằng ngày, chúng ta xem thời sự, thấy các đồng chí lãnh đạo cấp cao gặp gỡ, tiếp xúc với nhau thân tình, cởi mở, thể hiện tinh thần đoàn kết, thống nhất rất cao, thế mà chúng tung tin "phe nhóm đấu đá kịch liệt để tranh giành quyền lực, cán bộ này đang tìm cách hạ bệ cán bộ kia để đưa nhau ra khỏi diện quy hoạch, bổ nhiệm"(!)... Chuyện bịa như thế thì các chú thử hỏi có lừa được đứa trẻ thông minh không?

Nghe ông Hoàng phân tích thấu đáo, 4 người đàn ông cứ gật đầu lia lịa, rồi bắt tay ông Hoàng rất chặt thay cho lời cảm ơn ông đã giúp họ tỉnh táo nhận rõ đúng-sai, hiểu rõ những ai đang có âm mưu đen tối hòng chống phá Đảng ta và đất nước.

Một số giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường mạng xã hội

Một số giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường mạng xã hội

Xác định rõ vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trên môi trường mạng xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, Đảng và Nhà nước cũng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm tăng cường năng lực quản trị an ninh mạng, trong đó có các nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25-10-2013 của BCH Trung ương Đảng khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị khoá XII về Chiến lược an ninh mạng quốc gia; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 28-9-2018 của Bộ Chính trị khoá XII về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới… Trong những năm tiếp theo, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường, làm xuất hiện những khó khăn, thách thức mới. Các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng những khó khăn đó để đẩy mạnh quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, để ứng phó, đẩy lùi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng xã hội hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý không gian mạng quốc gia phù hợp với xu thế phát triển, tạo môi trường không gian mạng lành mạnh.

Trong tình hình mới, để quản lý tốt, cần có sự phối, kết hợp đồng bộ, thống nhất và phù hợp của các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước và các bộ, ban, ngành, địa phương về bảo vệ an ninh, an toàn thông tin, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, các cơ quan quản lý cần xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, minh bạch, bảo đảm môi trường mạng xã hội lành mạnh, trong sạch. Cần có các giám sát phù hợp với các công ty đang hoạt động trên môi trường in-tơ-nét, đặc biệt là các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mạng xã hội và truyền thông xã hội; có các điều kiện trong quản lý các hoạt động trên in-tơ-nét đảm bảo chủ quyền, lợi ích và an ninh quốc gia. Bên cạnh đó, cần tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý việc thực hiện các quy định của pháp luật.

Cần có chế tài và biện pháp xử lý nghiêm minh, có tính răn đe để cảnh báo cũng như kịp thời xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Có biện pháp ngăn chặn và đẩy lùi những trang mạng có nội dung xấu độc, chống phá Đảng, Nhà nước, kết hợp với chủ động cung cấp thông tin, tăng cường giải thích, đối thoại, tháo gỡ khó khăn kịp thời những khó khăn, vướng mắc của nhân dân. Khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập, không để hình thành “điểm nóng”, tiêu cực trên mạng xã hội.

Thứ hai, nhìn nhận đúng tính chất hai mặt của mạng xã hội, nhất là mặt tiêu cực để đưa ra giải pháp ngăn chặn có hiệu quả những hành vi lợi dụng mạng xã hội để tác động đến ổn định chính trị; nâng cao nhận thức, trách nhiệm và ý thức cho người sử dụng.

Để phát huy thế mạnh cũng như ngăn ngừa, khắc phục những mặt tiêu cực của mạng xã hội, cần phải nhìn nhận đúng về mạng xã hội ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực, nhận diện và quản lý những tác nhân gây ảnh hưởng để có phương thức ứng xử phù hợp với tinh thần chủ động, tích cực, linh hoạt, an toàn, hiệu quả. Chú trọng tăng cường các biện pháp tuyên truyền nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức, trách nhiệm khi tham gia các nền tảng mạng xã hội cho người dùng. Tiếp tục thực hiện tốt Luật An ninh mạng năm 2018, Quy tắc sử dụng mạng xã hội của người làm báo Việt Nam (của Hội Nhà báo Việt Nam), Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội (theo Quyết định số 874/QĐ-BTTTT, ngày 17-6-2021, của Bộ Thông tin và Truyền thông). Đặc biệt, giáo dục định hướng giá trị để người dân khi sử dụng mạng xã hội, trong đó hết sức quan tâm đến lực lượng thanh, thiếu niên - là lực lượng tích cực nhất trên các mạng xã hội có ý thức cảnh giác, chủ động kiểm chứng thông tin để nhận diện đúng - sai, nâng cao “sức đề kháng” để có thể bảo vệ những giá trị của bản thân, của cộng đồng và dân tộc trước những thông tin không chính xác, dung tục, phản cảm, thông tin có ý đồ xấu.

Kịp thời chấn chỉnh trật tự, kỷ cương, chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Cần xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng mạng xã hội phát tán thông tin sai lệch, có nội dung xấu, độc, sai sự thật về Đảng, Nhà nước và chế độ. Có biện pháp ngăn chặn, triệt phá, vô hiệu hóa các thông tin xấu, độc, sai sự thật trên các nền tảng mạng xã hội.

Thứ ba, sử dụng ưu thế của mạng xã hội trở thành phương tiện, cách thức hữu hiệu đấu tranh, phản bác thông tin sai lệch.

Cần tận dụng, phát huy vai trò tích cực của mạng xã hội để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các cơ quan chức năng cần chủ động cung cấp kịp thời các thông tin chính thống, mang tính định hướng để chủ động “phản bác” thông tin sai lệch, giành ưu thế trong cuộc chiến tranh mạng. Lựa chọn một số luận điểm, có ảnh hưởng tư tưởng lớn, từ đó chủ động đấu tranh với nhiều hình thức phong phú. Sử dụng ngôn từ chuẩn xác, lập luận mạch lạc, khúc chiết.

Phát huy vai trò của các cá nhân và tổ chức, nhất là những người điều hành website, blog, fanpage, các nhân vật nổi tiếng, có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội, có khả năng thu hút người xem, nghe, bình luận, chia sẻ để xây dựng môi trường không gian mạng lành mạnh. Tăng cường và đa dạng hoá các hình thức truyền tải các thông tin tích cực về thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước; những tấm gương người tốt, việc tốt; những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc nhằm lan toả những điều tích cực đến mọi người với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, ngăn chặn, đẩy lùi những tác động tiêu cực trước các quan điểm sai trái, thù địch.

Mở các diễn đàn, hội, nhóm, tạo ra lực lượng bảo vệ đông đảo chiếm ưu thế trên không gian mạng. Xây dựng hình ảnh, video clip về các nội dung tích cực để giành thế chủ động, kịp thời, hiệu quả. Không để chúng lợi dụng mạng xã hội tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tham gia mạng xã hội phải giữ vai trò là lực lượng nòng cốt đăng tải, chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực và xem đây là giải pháp thường xuyên, lâu dài.

Thứ tư, cần chú trọng đầu tư kinh phí cho hoạt động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tăng cường ứng dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật số để phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các thông tin sai sự thật, xấu, độc có ảnh hưởng đến ổn định chính trị, xã hội.

Nâng cao nhận thức đối với hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân, đặc biệt là các lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Có chính sách thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đối với các chuyên gia an ninh mạng, học sinh, sinh viên chuyên ngành an toàn thông tin, an ninh mạng.

Thứ năm, tăng cường, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng.

Tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với các quốc gia, tổ chức trên thế giới về xây dựng chính sách, thể chế quản lý và thúc đẩy ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin và an toàn, an ninh thông tin, phòng, chống chiến tranh thông tin trên không gian mạng. Tranh thủ sự giúp đỡ của các nước và tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới để ngăn chặn, gỡ bỏ các thông tin xấu, độc; thu hút đầu tư, tài trợ quốc tế trong việc xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh. Chú trọng công tác hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin, an ninh mạng. 

Nhận diện một số thủ đoạn, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên môi trường mạng xã hội

Hiện nay, Việt Nam là một trong các quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng mạng xã hội cao trên thế giới và xu hướng đọc tin trên mạng xã hội ngày càng tăng. Đặc biệt, từ khi đại dịch Covid-19 diễn ra, việc sử dụng mạng xã hội đã gia tăng đột biến. Theo thống kê mới nhất của We are social (công ty chuyên phân tích mạng xã hội toàn cầu), đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng in-tơ-nét (chiếm 79,1% tổng dân số). Trong đó, số người dùng mạng xã hội đạt 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số. Thời gian sử dụng in-tơ-nét trung bình hằng ngày (trong độ tuổi 16-64) là 6 giờ 47 phút, trong đó 2 giờ 21 phút là thời gian cho mạng xã hội. Với sự cải tiến không ngừng về giao diện, kết nối, ứng dụng, khả năng tương tác của mạng xã hội, người dùng có thể thuận lợi, dễ dàng tiếp cận thông tin; thể hiện bản thân, giao lưu, gắn kết cộng đồng, chia sẻ tình cảm; khám phá và trải nghiệm cuộc sống… ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Mạng xã hội đã thực sự trở thành “món ăn tinh thần” của mọi người.

Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, mạng xã hội có tác động hai mặt đến đời sống xã hội của con người. Bên cạnh những tiện ích to lớn đem lại cho người dùng, mạng xã hội gây ra không ít những tác động tiêu cực, đặc biệt trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang lợi dụng triệt để mạng xã hội để tiến hành tuyên truyền thông tin xấu, độc nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Để thực hiện âm mưu chống phá trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động thường sử dụng một số thủ đoạn sau:

1. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng triệt để ưu thế nổi trội của các trang mạng xã hội có lượng lớn người sử dụng như Facebook, Zalo, Tiktok, Youtube… biến thành công cụ đắc lực thực hiện âm mưu chống phá. Chúng bám sát rất kỹ vào các biến động tình hình đời sống xã hội Việt Nam. Chúng luôn tìm các sự kiện “nóng” diễn ra trong xã hội được đông đảo quần chúng nhân dân quan tâm; các sơ hở, sai phạm và bức xúc của xã hội để tung ra nhiều bài viết xuyên tạc, bịa đặt, đổi trắng thay đen, suy diễn một cách vô căn cứ. Nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, chủ quyền, đất đai, quốc phòng - an ninh… bị các đối tượng thù địch cắt ghép, pha trộn thông tin thật - giả nhằm làm nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoang mang cho người đọc, kích động gây rối an ninh, trật tự.

2. Tạo lập các tài khoản giả mạo các trang mạng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để đăng tải các thông tin xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội. Nguỵ tạo thông tin, giả danh các trang mạng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng cách cắt ghép hình ảnh của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cán bộ cao cấp gắn với những phát ngôn gây “sốc” để đánh lạc hướng dư luận. Đây đều không phải là trang tin chính thức, có thể gây nhiễu loạn thông tin và ẩn chứa những động cơ đen tối. Người tiếp xúc với các trang mạng này do thiếu kỹ năng nên không biết đây là trang giả mạo, mà nghĩ đây là trang chính thức của tổ chức đảng, cơ quan nhà nước nên các trang đăng tải thông tin này được nhiều người đọc theo dõi, vì thế các thế lực thù địch lợi dụng để gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây bất ổn trong dư luận.

3. Lợi dụng một số vấn đề liên quan đến nhân quyền, dân chủ, tín ngưỡng, tôn giáo, các đối tượng thành lập các tài khoản, fanpage phát tán rộng rãi các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung xấu độc, phản động, từ đó lôi kéo, kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, gây rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn và có các hành vi vi phạm pháp luật. Đặc biệt trong thời gian qua, chúng kích động, “hà hơi tiếp sức” cho những kẻ nhân danh “lòng yêu nước” để biểu tình gây rối trật tự, trị an; “triệt để lợi dụng các vụ án phức tạp, nhạy cảm để kích động, xuyên tạc, quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước yếu kém, đả kích các cơ quan tư pháp, kích động “bất tuân dân sự” trong xã hội”. Chúng lúc ngấm ngầm, lúc công khai ra mặt tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta và đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao trong hệ thống chính trị hòng làm giảm uy tín và niềm tin đối với Đảng, chế độ. Chiêu bài của chúng là tung ra một bài viết có nội dung bảo vệ Đảng hay một cán bộ cấp cao nào đó của Đảng, Nhà nước, rồi để mặc nhiên cho các phần tử phản động, thù địch vào bình luận, chia sẻ những thông tin trái chiều không đúng sự thật.

4. Khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn đăng tại nội dung, thông tin giả mạo, xấu, độc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác. Sự tinh vi của các thế lực thù địch, phản động được thể hiện ở chỗ, chúng trích dẫn cắt xén, thông tin nửa vời những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đan cài bằng những quan điểm giả danh mác-xít, làm cho người đọc mất phương hướng, lẫn lộn, không phân biệt được đúng - sai.

Đối tượng tác động, lôi kéo của hoạt động âm mưu chống phá của các thế lực thù địch thường hướng tới là tầng lớp trí thức; đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên có biểu hiện bất mãn, suy thoái tư tưởng chính trị; văn nghệ sĩ; thanh niên, học sinh, sinh viên, nhất là đội ngũ thanh thiếu niên vì đây là những thế hệ tương lai của đất nước. Lợi dụng bối cảnh đất nước mở cửa, hội nhập quốc tế, các đối tượng thù địch không ngừng rao giảng, đề cao tư tưởng phương Tây, khoác áo “khách quan học thuật”, “văn hóa, văn minh” để quảng bá về cái gọi là “các giá trị phương Tây” nhằm làm phai nhạt lý tưởng cách mạng của thế hệ trẻ.

Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay

Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay là vấn đề có tính tất yếu khách quan. Theo đó, cần nghiên cứu, thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp phát huy có hiệu quả nguồn lực tôn giáo, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thúc đẩy sự phát triển bền vững ở Việt Nam.

Trước hết, việc phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về vị trí, vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển một số quốc gia dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào hoàn cảnh xã hội Việt Nam, nhằm mục tiêu dân tộc độc lập và tôn giáo tự do.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vai trò xã hội và đạo đức của tôn giáo đối với một bộ phận người dân: “Chúa Giêsu dạy: đạo đức là bác ái, Phật Thích ca dạy: đạo đức là từ bi, Khổng tử dạy: đạo đức là nhân nghĩa”, “Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? họ đều muốn mưu phúc lợi cho loài người, mưu hạnh phúc cho xã hội”. Người đã sớm nhận thức rõ vai trò của nguồn nhân lực của tôn giáo chính là khối tín đồ, là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là lực lượng cách mạng cùng với nhân dân cả nước đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà, là lực lượng quần chúng đông đảo đóng góp quan trọng và quá trình xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Để phát huy nguồn nhân lực này Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ cần phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo thì mới đoàn kết được nhân dân. Người nhấn mạnh: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta cũng phải đoàn kết để xây dựng nước nhà: Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ”. Người cố gắng làm cho đồng bào hiểu đức tin tôn giáo và lý tưởng cộng sản không hề mâu thuẫn và chỉ ra âm mưu của kẻ thù nhằm gây ra những mối hiềm nghi giữa dân tộc và tôn giáo. Đoàn kết tôn giáo là nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Hồ Chí Minh.

Đặc biệt, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán khẳng định vai trò của nguồn lực tôn giáo và phát huy nguồn lực tôn giáo. Đại hội IX của Đảng (năm 2001) xác định: “Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, nâng cao đời sống của đồng bào. Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống “tốt đời, đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hoá, đạo đức của tôn giáo”.

Đến Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2011 bổ sung nội dung: “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”.

Thực tế cho thấy, Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự. Tín đồ tôn giáo là “công dân khá đặc biệt”, họ mang trong mình vai trò kép, vai trò thứ nhất là công dân, vai trò thứ hai vừa là tín đồ của một tổ chức tôn giáo. Trong những năm qua nguồn lực tôn giáo tích cực tham gia trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế, từ thiện, nhân đạo... đóng góp không nhỏ cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Theo thống kê của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, năm 2016, các tổ chức tôn giáo đã quyên góp được hơn 3.371,4 tỷ đồng cho các hoạt động từ thiện xã hội. Đặc biệt, trong 2 năm 2020 - 2021, khi đại dịch COVID-19 bùng phát trên toàn cầu và tại Việt Nam, chức sắc, chức việc, đồng bào các tôn giáo ủng hộ hàng chục tỷ đồng cho Quỹ Vắc-xin, hàng trăm tỷ đồng cho Quỹ Phòng, chống dịch.

Qua việc nghiên cứu nguồn lực tôn giáo cả về cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy thành quả đến từ nguồn lực này đã mang lại nhiều giá trị tốt đẹp, nhất là ở các địa phương. Trong đó các hoạt động an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo trong lĩnh vực giáo dục, y tế đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên nhận thức, mục đích, cách thức và nhận diện để phát huy nguồn lực tôn giáo cũng còn hạn chế, bất cập, do đó chưa khơi thông được nguồn lực này trong phát triển bền vững đất nước. Do vậy, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của chủ thể phát huy cần tiếp tục khảo sát, đánh giá một cách toàn diện, có sự tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia đã phát huy tốt nguồn lực tôn giáo. Từ đó có cách nhìn nhận, đánh giá khách quan để nhận thức đúng và tham mưu đề xuất chính sách, pháp luật phù hợp định hướng cho cá nhân, tổ chức tôn giáo thực hiện theo khả năng và quy định, thu hút nguồn lực vào phát triển bền vững đất nước.

Trong giai đoạn hiện nay, để phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững đất nước, cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức của xã hội và cộng đồng các tôn giáo về vấn đề phát huy nguồn lực tôn giáo.

Đối với cộng đồng các tôn giáo: Chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo cần ý thức sâu sắc về vai trò nguồn lực tôn giáo đối với xã hội. Đồng bào các tôn giáo cần nhận thức về vai trò, trách nhiệm của chính mình trong việc phát huy nguồn lực tôn giáo và xem đó là việc của chính mình, trong khi các cộng đồng xã hội ngoài tôn giáo là nhân tố phối hợp, là môi trường xã hội đồng thuận. Theo đó, các tổ chức tôn giáo cần chủ động xây dựng phương hướng giải pháp phát huy nguồn lực, trong đó quan tâm đến nhân tố sở trường, thế mạnh của tôn giáo mình.

Đối với cộng đồng ngoài tôn giáo: Có nhận thức khách quan, tình cảm và thái độ gần gũi, cộng tác với tổ chức và đồng bào tôn giáo. Cộng đồng ngoài tôn giáo cần xem nguồn lực tôn giáo là một bộ phận của nguồn lực xã hội Việt Nam. Từ đó, tự ý thức được vai trò không nhỏ của nguồn lực tôn giáo đối với sự phát triển của đất nước và có trách nhiệm phát huy nó với tính cách là một thành tố không thể thiếu của nguồn lực xã hội Việt Nam.

Hai là, xây dựng, hoàn thiện cơ chế phát huy nguồn lực tôn giáo.

Xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phát huy nguồn lực tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương cần tổ chức cho nhân dân tham gia xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo và công tác tôn giáo liên quan trực tiếp đến việc phát huy nguồn lực tôn giáo. Các chủ thể cần quy định, phân công rõ về trách nhiệm cụ thể trong việc phát huy nguồn lực tôn giáo. Đối với hệ thống chính trị, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc đã có quy định khá rõ ràng, chính vì vậy dành sự quan tâm xây dựng quy định trách nhiệm cho cấp cơ sở. Hệ thống chính trị cơ sở cần tạo điều kiện để các tôn giáo phát huy ngay từ địa bàn cấp mình. Trong tổ chức thực hiện, các tổ chức tôn giáo và hệ thống chính trị cần có sự phối hợp, phân công một cách khoa học, đúng chức năng cũng như có tính lịch sử cụ thể.

Ba là, tiếp tục phát huy vai trò của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong chăm lo, phát triển các tôn giáo.

Vai trò của Đảng: Đảng tiếp tục chăm lo xây dựng đường lối, chủ trương đúng đắn về việc phát huy nguồn lực tôn giáo. Tiếp tục chỉ đạo quá trình thể chế hóa chủ trương, đường lối phát huy nguồn lực tôn giáo phù hợp với mỗi cấp, mỗi địa bàn và mỗi tôn giáo. Nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động các tổ chức và đảng viên cũng như kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước trong phát huy nguồn lực tôn giáo.

Vai trò của Nhà nước: Chính phủ, Quốc hội, các bộ, ngành liên quan đến việc phát huy nguồn lực tôn giáo cần chỉ đạo việc rà soát, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho phát huy nguồn lực tôn giáo.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Mặt trận Tổ quốc cần chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch phát huy nguồn lực tôn giáo với các mục tiêu, nội dung cụ thể. Bên cạnh đó cung cấp thông tin, tài liệu tuyên truyền phát huy nguồn lực tôn giáo cho các tổ chức tôn giáo và các thành viên của Mặt trận Tổ quốc để tạo ra sự thống nhất nhận thức, trách nhiệm và cách làm. Bên cạnh đó cần phát huy phát huy vai trò của người đứng đầu các tổ chức tôn giáo và chức sắc, chức việc, nhà tu hành có tâm huyết, tiêu biểu để họ vận động, thu hút tín đồ và nhân dân tích cực tham gia phát huy nguồn lực tôn giáo. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả việc phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay cần sự quan tâm, vào cuộc của nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, đồng thời phát huy được vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong quá trình này./.