Thứ Năm, 5 tháng 10, 2023

PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm được Đảng ta xác định trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tế phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho thấy không phải mọi lúc, mọi nơi, sự kết hợp này được bảo đảm. Vì vậy, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện nhằm kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Trong những năm tới trên thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường. Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Thực hiện biện pháp này đòi hỏi người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực sự coi công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quản lý chặt chẽ đảng viên, cán bộ, thường xuyên kiểm tra nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm; thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên.

Đồng thời, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về tổ chức, cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố xét xử tham nhũng, lãng phí. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giải quyết các vấn đề xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước; thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, từng bước củng cố lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện để giải quyết tận gốc tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, xóa đói, giảm nghèo, giảm dần sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền; góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng khả năng hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tăng cường hơn nữa sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với nước ta; tạo tiền đề và điều kiện cơ bản để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin của Nhân dân vào sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước; phát triển và nâng cao vai trò của kinh tế tập thể để kinh tế nhà nước giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình phát triển nền KTTT định hướng XHCN có tác động hai mặt đến việc củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Về tác động tích cực:

Trước hết, phải thường xuyên quán triệt, nhận thức đầy đủ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI); Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 02/4/2022 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 287/QĐ-TTg, ngày 28/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cần thường xuyên giữ vững mối quan hệ chặt chẽ giữa cấp ủy Đảng các địa phương với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân Khu 9, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong nhận định, đánh giá tình hình; đề ra chủ trương, biện pháp đồng bộ, chủ động xử lý đúng đắn, kịp thời tình huống quốc phòng, an ninh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Về kinh tế, phải tạo sự thống nhất cao ở tất cả các cấp, các ngành về vai trò, vị trí tầm quan trọng của vùng và liên kết vùng; đây là tư duy chủ đạo dẫn dắt sự phát triển toàn Vùng và từng địa phương. Trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phải dựa trên sức mạnh tổng hợp, huy động cả hệ thống chính trị và vận động toàn dân tham gia. Tập trung xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, có kiến thức về kinh tế, chính trị, pháp luật và quốc phòng, an ninh; có trình độ tổ chức kỷ luật, nền nếp tác phong chính quy cao. Đồng thời, tăng cường hợp tác quốc tế, nhất là hợp tác toàn diện, sâu rộng với các cơ quan, lực lượng chức năng của nước bạn Campuchia, nhằm tạo điều kiện thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, chú trọng tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nghị quyết của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng về phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Trọng tâm là tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI), Nghị quyết số 13-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) bảo đảm chặt chẽ và đạt hiệu quả thiết thực. Đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, không chỉ thúc đẩy phát triển các địa phương trong vùng mà còn góp phần quan trọng hiện thực hóa mục tiêu liên kết vùng, thúc đẩy các vùng kinh tế trong cả nước phát triển bền vững. Quá trình triển khai Nghị quyết quan trọng này, căn cứ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của các cơ quan Trung ương, các địa phương cần tiếp tục khai thác, phát huy có hiệu quả tiềm năng, lợi thế để phát triển vùng Tây Nam Bộ trong giai đoạn mới; chú trọng xây dựng kế hoạch hành động, gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể của địa phương để đạt được mục tiêu, tạo ra bước chuyển biến mới có tính đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong toàn Vùng.

Thứ ba, KTTT phát triển khơi thông các tiềm lực kinh tế, tác động đến việc tăng cường sức mạnh của lực lượng quân đội và công an cả về vật chất và tinh thần. Về vật chất, kinh tế phát triển, đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và gia đình họ sẽ được cải thiện và nâng cao, là cơ sở để nâng cao năng lực thể chất và trí tuệ mọi mặt của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Về tinh thần, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân, trong đó có gia đình cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang được cải thiện, giúp cán bộ, chiến sĩ yên tâm phục vụ quân đội, công an; đồng thời, tạo cơ hội để họ tập trung vào công tác huấn luyện, rèn luyện, học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, đủ kiến thức và kỹ năng làm chủ các phương tiện, vũ khí, khí tài hiện đại, nâng cao sự sẵn sàng, khả năng chiến đấu và chiến thắng.

 

 


SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG THẾ TRẬN LÒNG DÂN

     Niềm tin của nhân dân với Đảng là cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm tới việc giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân, bởi như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”(1). Để tiếp tục củng cố và nhân lên sức mạnh của niềm tin chính trị của nhân dân, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để mỗi cấp ủy và tổ chức đảng quán triệt và phấn đấu thực hiện.

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử và quyết định sự phát triển của lịch sử. Vận dụng sáng tạo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của nhân dân vào thực tiễn Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của “lòng dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo Người, Đảng xác định chủ trương, mở ra đường lối lãnh đạo cách mạng, nhưng chính nhân dân và chỉ có nhân dân mới là người hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng mà Đảng đề ra. Sẽ không bao giờ có lực lượng cách mạng và phong trào cách mạng, nếu không có nhân dân. Theo Người, một trong những yếu tố quyết định sự thành công của cách mạng là sự đồng sức, đồng lòng của toàn dân, là sự đoàn kết “muôn người như một” dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, theo Người: “Sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc”(1). Người khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”(2).

Thực tế lịch sử chứng minh “lòng dân” là cội nguồn sức mạnh của đất nước nói chung và sức mạnh quốc phòng nói riêng. Đối với mỗi chế độ xã hội, “lòng dân” là khái niệm chỉ trạng thái tinh thần, niềm tin, sự đồng lòng của người dân với chế độ xã hội và giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội. Đây là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến sức mạnh, sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi triều đại, quốc gia, dân tộc. Sức mạnh “lòng dân” chính là sức mạnh của dân tộc. Lòng dân yên ổn thì đất nước vững vàng, phát triển. “Thế trận lòng dân” được hiểu là tinh thần yêu nước, tình đoàn kết gắn bó, khát vọng độc lập tự do, ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất của cả dân tộc được hội tụ, kết tinh, nhân lên tạo thành nền tảng chính trị vững chắc, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, sẵn sàng huy động nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng. “Thế trận lòng dân” là loại hình thế trận đặc biệt, không thể hiện ra bằng hình hài cụ thể như thế trận quân sự, quốc phòng mà được thể hiện bằng sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc theo từng cấp độ khác nhau. “Lòng dân” và “thế trận lòng dân” là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ biện chứng. “Lòng dân” luôn tồn tại khách quan nhưng “lòng dân” có được quy tụ trở thành sức mạnh tổng hợp hay không còn tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan của con người. Điều này đòi hỏi giai cấp nắm quyền lãnh đạo xã hội, trực tiếp là lực lượng chính trị đại diện phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp để định hướng, tập hợp, quy tụ “lòng dân” về một mối. Chỉ có như vậy “lòng dân” mới hội tụ trở thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, dân tộc. Thực chất đó chính là vai trò của lực lượng nắm quyền lãnh đạo xã hội trong việc chuyển hóa “lòng dân” thành “thế trận lòng dân”. Khi được xây dựng vững chắc “thế trận lòng dân” sẽ tác động trở lại làm cho “lòng dân” phát triển hài hòa, đúng định hướng.

Trước tình hình trên, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, một số yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc chậm được củng cố, tăng cường, có mặt còn giảm sút và phát sinh những vấn đề phức tạp mới. Thực hiện giải pháp này đòi hỏi người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực sự coi công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; phải cam kết về sự liêm khiết và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quản lý chặt chẽ đảng viên, cán bộ, thường xuyên kiểm tra nhắc nhở, ngăn ngừa và phát hiện cán bộ, đảng viên vi phạm; thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên. Đồng thời, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách về tổ chức, cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử tham nhũng, lãng phí.

Quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, từng bước củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo điều kiện để giải quyết tận gốc tình trạng nghèo làn, lạc hậu, xóa đói, giảm nghèo, giảm dần sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền; góp phần tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng khả năng hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước, tăng cường hơn nữa sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đối với nước ta; tạo tiền đề và điều kiện cơ bản để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, củng cố lòng tin của nhân dân vào sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Niềm tin chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín của lãnh tụ đảng đó. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp. Vì thế, niềm tin chính trị được hình thành phải trải qua sự thử thách lâu dài, mà những kết quả thực tế trong hoạt động chính trị sẽ là sự bảo đảm cho uy tín chính trị của đảng, để khẳng định rằng niềm tin chính trị của quần chúng nhân dân dành cho đảng có vững chắc hay không.                                                   N.T.T

MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong quá trình dựng nước và giữ nước; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đưa cách mạng Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.  Dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài; đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của công cuộc đổi mới đất nước. Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong giải quyết vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc. Các dân tộc có dân số dù ít hay nhiều, ở trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội quốc phòng, an ninh, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc .

Đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; tập hợp, đoàn kết mọi người vào một mặt trận chung, tăng cường đối thoại xã hội, đảm bảo thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Luôn tôn trọng lẫn nhau về lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán của các dân tộc; dân tộc có trình độ phát triển cao phải có trách nhiệm giúp đỡ dân tộc có trình độ phát triển thấp, vùng kinh tế - xã hội phát triển phải giúp đỡ vùng kinh tế - xã hội chậm phát triển, nhằm đảm bảo các dân tộc có điều kiện phát triển toàn diện, tiến kịp trình độ phát triển chung của cả nước. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ đoàn kết dân tộc; tránh tư tưởng kỳ thị dân tộc, tư tưởng ỷ lại trông chờ vào sự hỗ trợ của Trung ương và tương trợ của dân tộc khác.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc: Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, mọi người Việt Nam nhận thức sâu sắc lời căn dặn trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc gắn triển khai Luật Thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở năm 2022; các cấp ủy đảng và chính quyền phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến, giải quyết khó khăn, vướng mắc và yêu cầu chính đáng của nhân dân; MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng để mọi tầng lớp nhân dân nhận thức rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch lợi dụng những mặt còn hạn chế, yếu kém của các cấp chính quyền và vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác, sự nhạy bén trong nhận diện và tích cực tham gia đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch. Để khắc phục những hạn chế trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thời gian qua, đồng thời tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ hai, Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể phải là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân để nhân dân tin tưởng, chủ động phản ánh, góp ý kiến, tham gia bàn bạc những vấn đề quan trọng của đất nước; chủ động phối hợp với chính quyền giải quyết triệt để những vấn đề xã hội bức xúc, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân trên cơ sở tin nhân dân và tôn trọng nhân dân. Tăng cường vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể để tạo sự đồng thuận, nhất trí cao, ổn định xã hội, phát triển toàn diện và bền vững đất nước.

Thứ ba, phát huy vai trò của nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc: Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Quán triệt, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “... vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân”; “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ” để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ BẠO LOẠN TRONG TÌNH HÌNH MỚI


Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống rất đa dạng, biểu hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; nguồn gốc tạo nên các mối đe dọa này rất phức tạp, có cả yếu tố phát sinh từ nguồn gốc thiên tạo lẫn yếu tố phát sinh từ nguồn gốc nhân tạo; có khả năng phát tán nhanh, phạm vi rộng, ảnh hưởng xuyên quốc gia. Một số mối đe dọa an ninh phi truyền thống có khả năng chuyển hóa thành an ninh truyền thống, nếu khả năng kiểm soát, quản trị kém, thiếu cơ chế phối hợp hành động giữa các quốc gia. Nhận thức rõ mối quan hệ giữa công tác phòng ngừa và xử lý bạo loạn trong tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ phải lấy “chủ động phòng ngừa là chính”. Đây là vấn đề rất quan trọng trong tình hình hiện nay, cần được tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện.

Quan điểm “chủ động phòng ngừa là chính”1 trong công tác quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc của Đảng được kế thừa từ kinh nghiệm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”, giữ “trong ấm, ngoài êm” của cha ông trong lịch sử và thực tiễn quá trình củng cố quốc phòng, an ninh, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ thời gian qua của đất nước. Đây là sự phát triển tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới. Theo đó, nội hàm bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ biên giới quốc gia, ngăn chặn, đánh bại địch tiến công xâm lược từ bên ngoài, mà còn bao hàm cả giữ vững ổn định an ninh, chính trị bên trong đất nước; không chỉ chiến đấu bảo vệ khi có kẻ thù xâm lược, mà phải tổ chức phòng thủ, phòng ngừa từ trước, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

Hiện nay, hòa bình, hợp tác, liên kết cùng phát triển vẫn là xu thế chủ đạo của thời đại, nhưng bản chất mối quan hệ giữa các nước và bên trong mỗi quốc gia cũng chứa đựng không ít mâu thuẫn. Các vấn đề: xung đột sắc tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, ly khai,... vẫn diễn ra phức tạp ở nhiều nơi. Đối với nước ta, bên cạnh những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 35 năm đổi mới, đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều khó khăn; thậm chí còn có nhận thức sai lệch về các yếu tố lịch sử, văn hóa, quyền tự trị,... trong khi đó, năng lực quản lý, điều hành, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh,... của một bộ phận cán bộ cấp cơ sở còn hạn chế. Tình hình an ninh trên một số địa bàn chiến lược: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,... và các thành phố lớn còn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Đặc biệt, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với nhiều thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện và quyết liệt hơn, hòng thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Vì vậy, “chủ động phòng ngừa là chính”, không tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch bên trong cấu kết với lực lượng phản động bên ngoài âm thầm chuẩn bị, xây dựng “nền móng”, tạo cớ tiến hành bạo loạn, nhằm giữ vững ổn định chính trị để phát triển đất nước nhanh, bền vững là vấn đề quan trọng, cấp thiết, cần được quán triệt, triển khai thực hiện bằng những nội dung, giải pháp phù hợp.

Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho nhiệm vụ phòng, chống bạo loạn đúng định hướng, đúng pháp luật, phát huy được sức mạnh tổng hợp và đạt hiệu quả thiết thựcVì vậy, cần tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo của hệ thống tổ chức đảng các cấp; chú trọng nâng cao năng lực ban hành nghị quyết lãnh đạo củng cố quốc phòng, an ninh, phòng, chống bạo loạn phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương; phát huy tính chủ động, sáng tạo của từng tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là cơ quan Quân sự, công an, Biên phòng,… trong tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương ban hành, triển khai thực hiện các chủ trương, giải pháp phòng ngừa bạo loạn. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của cấp ủy về quốc phòng, an ninh, phòng ngừa bạo loạn thành các chương trình, kế hoạch, văn bản pháp luật, trọng tâm là cơ chế quản lý, điều hành trong xây dựng, huy động các nguồn nhân lực, vật lực; cơ chế phối hợp đấu tranh giữa các lực lượng,… trong phòng ngừa bạo loạn, bảo vệ địa phương; trong đó, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này. Ngoài ra, cần phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là lực lượng dân quân tự vệ, an ninh viên,… trong nắm tình hình địa bàn, thực hiện các biện pháp đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa bạo loạn ngay từ cơ sở.

Cùng với đó, tiếp tục đổi mới, nâng cao quy trình, phương pháp quản lý, điều hành của chính quyền các cấp từ khâu lập kế hoạch, định hướng hoạt động, tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới và kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các khâu, các bước của quá trình xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh, phòng ngừa bạo loạn. Theo đó, cần đi sâu bồi dưỡng cho lãnh đạo, chính quyền địa phương nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá, gây bạo loạn của các thế lực thù địch; đặc điểm an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự,… địa bàn; mục tiêu, yêu cầu, biện pháp quản lý an ninh chính trị, ngăn ngừa gây rối, bạo loạn; nguyên tắc sử dụng lực lượng vũ trang trong các tình huống, làm cơ sở vận dụng vào thực tiễn địa phương. Nâng cao năng lực quản lý, điều hành phòng, chống bạo loạn theo pháp luật của cấp ủy, chính quyền các cấp, trọng tâm là năng lực điều hành các lực lượng trong phối hợp nắm, nhận định, đánh giá tình hình; thống nhất biện pháp giải quyết; xác định lực lượng chủ trì, phối hợp theo cơ chế, v.v. Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp, pháp luật Nhà nước và các nghị định của Chính phủ về quốc phòng, an ninh, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh. Tăng cường các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi bên trong có thể gây đột biến; kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị phản động, đối lập, giải quyết triệt để, tận gốc các mâu thuẫn xã hội, biểu tình, gây rối, mưu đồ chính trị. Gắn trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu các địa phương, chỉ huy các lực lượng vũ trang với kết quả quản lý, phòng ngừa bạo loạn, bảo đảm an ninh, an toàn địa bàn. Tập trung xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc làm nền tảng phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong phòng, chống bạo loạn. Đây là giải pháp có tính nền tảng; là vấn đề căn cơ, gốc rễ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng, chống bạo loạn ngay trong thời bình. Vì thế, các cấp, ngành, địa phương phải tiếp tục đổi mới, nâng cao tính thiết thực, hiệu quả của công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dư­­­ỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành trong hệ thống chính trị, các chức sắc, chức việc tôn giáo và học sinh, sinh viên; phân biệt rõ đối tượng, đối tác, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá, gây bạo loạn của các thế lực thù địch, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao giữa dân với Đảng và chính quyền, từ đó nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Chủ động, tích cực phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống 

Thứ nhất, chủ động và tích cực đầu tư phát triển bền vững, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chăm lo bảo vệ môi trường sinh thái. Nhiều mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ tình trạng phản phát triển hay phát triển thiếu bền vững. Ở đây, các giải pháp phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phải được tích hợp vào từng chiến lược, chương trình, kế hoạch và dự án phát triển. Sâu xa vẫn là bảo đảm gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; kiểm soát phân tầng xã hội; tích cực xóa đói, giảm nghèo, chăm lo cho con người thông qua hệ thống an sinh xã hội đa tầng, linh hoạt hỗ trợ lẫn nhau để bảo đảm cho con người luôn được có môi trường và điều kiện phát triển lành mạnh. 

Thứ hai, phân loại từng lĩnh vực an ninh phi truyền thống với đặc điểm khác nhau để xác định những cơ chế, phương thức quản trị an ninh phi truyền thống phù hợp. Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ rủi ro của thị trường (như an ninh tài chính), việc chủ động và tích cực ứng phó phải bắt đầu bằng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cấu trúc lại chức năng của Nhà nước, nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của thị trường khi rơi vào khủng hoảng. Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ mặt trái của toàn cầu hóa, tính chủ động, tích cực thể hiện ở thúc đẩy hợp tác quốc tế để phòng ngừa và ứng phó ngay từ chính quốc gia có thể phát sinh và lan truyền các mối đe dọa an ninh phi truyền thống (như an ninh mạng, di cư xuyên biên giới, khủng bố, buôn bán ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em). Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ mặt trái sử dụng thành tựu khoa học công nghệ (như an ninh mạng, một số dịch bệnh), tính chủ động và tích cực thể hiện ở xây dựng đội ngũ chuyên gia tinh nhuệ, có trình độ công nghệ cao, đủ năng lực phòng ngừa và ứng phó hiệu quả. Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống phát sinh từ tranh chấp tài nguyên, năng lượng, nguồn nước,... tính chủ động và tính cực thể hiện ở định hình một chiến lược năng lượng thay thế, hạn chế tối đa khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đàm phán với các đối tác trong chia sẻ khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên. Đối với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống do tai biến môi trường, biến đổi khí hậu,... do tính thất thường của nó, tính chủ động và tích cực thể hiện ở xây dựng hệ thống cảnh báo, dự báo, phòng ngừa và bố trí cả lực lượng tại chỗ và lực lượng chuyên nghiệp để đủ sức ứng phó, cứu hộ, cứu nạn, xử lý các khủng hoảng môi trường, các thảm họa tự nhiên. 

Thứ ba, chủ động, tích cực hoàn thiện hệ thống thể chế quản trị an ninh phi truyền thống, nâng cao tính tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về phòng ngừa và ứng phó với thách thức an ninh phi truyền thống. Nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật quản trị an ninh phi truyền thống, nhất là trước những vấn đề mới xuất hiện tạo ra khả năng uy hiếp lớn đối với an ninh quốc gia, như an ninh mạng, an ninh tài chính, an ninh nguồn nước, an ninh hàng hải và hàng không, di cư xuyên biên giới và các vấn đề dân tộc và tôn giáo... Đối với các vấn đề an ninh phi truyền thống mà các nước dễ tìm được điểm tương đồng do có lợi ích chung, cần rà soát lại những điểm còn bất tương thích giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế trên từng lĩnh vực để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, đặc biệt là pháp luật điều chỉnh về: hoạt động phòng, chống buôn bán ma túy, buôn bán người, rửa tiền; hoạt động kiểm dịch động/thực vật, ứng phó với dịch bệnh lây lan nhanh; hoạt động uy hiếp an ninh mạng, an ninh hàng hải, an ninh hàng không, an ninh nghề cá, an ninh nguồn nước, chống cướp biển... Đây là cơ sở pháp luật tạo thuận lợi cho các nước cùng phối hợp phòng ngừa và đấu tranh, thực hiện tương trợ tư pháp, khi đối diện với các thách thức an ninh phi truyền thống. Đối với những vấn đề an ninh phi truyền thống nhạy cảm, phức tạp, mỗi nước do quyền lợi của mình thường có cách tiếp cận và diễn giải riêng, khó có thể điều chỉnh pháp luật quốc nội để bảo đảm tính tương thích (như an ninh nguồn nước, an ninh nghề cá, an ninh mạng, chống khủng bố...), cần phát huy tính chủ động trên cả mặt hợp tác và đấu tranh trong cả quan hệ song phương và đa phương trên cơ sở bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc và chia sẻ mối quan tâm chung với các nước khác. 

                                                                                                 N.T.T

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

     Một trong những vấn đề bức xúc trong công tác xây dựng đảng hiện nay là tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và đáng lo ngại nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng trên phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, với tinh thần quyết liệt, kịp thời. Nhận diện những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Đảng như thế nào? Mục tiêu, quan điểm về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ? Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang bộc lộ rất phức tạp, sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng. “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiếp tục diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả trí thức, luật sư, cán bộ lão thành, văn nghệ sĩ, nguyên cán bộ cao cấp, tướng lĩnh lực lượng vũ trang.

Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Biểu hiện củа“tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”trên lĩnh vực này là sự sùng bái, chạy theо văn hóа, lối sống phương Tây; xa rời các giá trị văn hóа, đạо đức truyền thống, đặc biệt là các giá trị văn hóа, đạо đức xã hội chủ nghĩа; có hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóа cách mạng; đề cао chủ nghĩа cá nhân, lối sống thực dụng; thương mại hóа các hоạt động văn hóа, đánh mất bản sắc văn hóа dân tộc... “Tự diễn biến” về văn hóа, xã hội, đạо đức, lối sống thường khởi đầu chо “tự diễn biến” về chính trị tư tưởng.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng; một số đảng viên không chấp hành các quy định của Đảng, tuyên bố công khai từ bỏ Đảng và kích động “từ bỏ Đảng Cộng sản”; tình trạng mâu thuẫn nội bộ, mất đoàn kết đang là những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc phá hoại nội bộ; lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng.

Nguy hiểm hơn, một số cán bộ, đảng viên “tự chuyển hóa”, tự nguyện, sẵn sàng cộng tác, chủ động liên hệ với Cơ quan đặc biệt nước ngoài, phản động lưu vong để hoạt động chống phá; một bộ phận cán bộ có tư tưởng lừng chừng, hai mặt, chờ thời cơ có lợi cho cá nhân. Lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng. Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng. Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng

Trước hết, phải nhận thức đúng mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở đảng và toàn bộ hệ thống chính trị thấy và sửa chữa những khuyết điểm, làm cho tốt hơn, đúng hơn; để mọi người học ưu điểm của nhau, cùng giúp nhau tiến bộ. Thực hiện tự phê bình và phê bình phải gắn với các nội dung liên quan đến tư cách của người đảng viên, gắn với trách nhiệm, quyền hạn của cá nhân, đơn vị, địa phương mình phụ trách; chỉ rõ những vấn đề làm được, chưa làm được, nguyên nhân và phương hướng khắc phục. Kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong Đảng với phê bình của quần chúng là biện pháp khắc phục triệt để những khuyết điểm của tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc phê bình của quần chúng đối với Đảng là cung cấp thông tin quan trọng và cần thiết cho tổ chức đảng nghiên cứu, xem xét, đánh giá hoạt động của mình, đánh giá phẩm chất, năng lực của cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu phải gương mẫu tự phê bình và khuyến khích người khác phê bình mình. Người đứng đầu phải luôn lắng nghe ý kiến góp ý cho mình một cách chân thành, cởi mở và nếu có khuyết điểm thì phải nghiêm túc tiếp thu và sửa chữa. Người đứng đầu phải kiểm điểm nội dung về mối quan hệ với quần chúng, lắng nghe ý kiến góp ý, phê bình của nhân dân.

          Thực hiện tốt các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng

Đảng ta được tổ chức và xây dựng theo những nguyên tắc mang tính khoa học và cách mạng của chính đảng kiểu mới theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong đó có nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong tình hình mới. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Nguyên tắc này được ví như xương sống làm cho Đảng luôn vững mạnh trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; bảo đảm thống nhất ý chí và hành động. Đây là tiêu chí để phân biệt chính đảng cách mạng với các đảng cơ hội khác. Trong nguyên tắc tập trung dân chủ, tập trung và dân chủ thống nhất với nhau, tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ đi đôi với tập trung. Dân chủ là điều kiện, tiền đề của tập trung, đồng thời tập trung là cơ sở bảo đảm cho dân chủ được thực hiện và phát huy. Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định. Nếu thực hành dân chủ tốt, sẽ phát huy được trí tuệ, tiềm năng, khơi dậy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi đảng viên, tổ chức đảng, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng. Bởi vậy, trong tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng, phải thực hiện sự thống nhất chặt chẽ dân chủ với tập trung, không được tuyệt đối hóa hay coi nhẹ mặt nào. Nếu tuyệt đối hóa tập trung sẽ dẫn đến quan liêu, chuyên quyền, độc đoán; ngược lại, tuyệt đối hóa dân chủ thì sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, vô tổ chức, vô kỷ luật.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Một trong những vấn đề bức xúc trong công tác xây dựng đảng hiện nay là tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và đáng lo ngại nhất là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng trên phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, với tinh thần quyết liệt, kịp thời. Nhận diện những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Đảng như thế nào? Mục tiêu, quan điểm về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ? Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang bộc lộ rất phức tạp, sai phạm, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng. “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tiếp tục diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả trí thức, luật sư, cán bộ lão thành, văn nghệ sĩ, nguyên cán bộ cao cấp, tướng lĩnh lực lượng vũ trang.

Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ công khai, nguy hiểm hơn theo xu hướng “ly khai Đảng”, thành lập tổ chức chính trị đối trọng với Đảng, thành phần ngày càng đa dạng, có xu hướng liên kết trong nội bộ với ngoài xã hội, trong nước với ngoài nước. Biểu hiện củа“tự diễn biến”, “tự chuyển hóа”trên lĩnh vực này là sự sùng bái, chạy theо văn hóа, lối sống phương Tây; xa rời các giá trị văn hóа, đạо đức truyền thống, đặc biệt là các giá trị văn hóа, đạо đức xã hội chủ nghĩа; có hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận nền văn hóа cách mạng; đề cао chủ nghĩа cá nhân, lối sống thực dụng; thương mại hóа các hоạt động văn hóа, đánh mất bản sắc văn hóа dân tộc... “Tự diễn biến” về văn hóа, xã hội, đạо đức, lối sống thường khởi đầu chо “tự diễn biến” về chính trị tư tưởng.

Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, vi phạm kỷ luật Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật trong cán bộ, đảng viên gia tăng; một số đảng viên không chấp hành các quy định của Đảng, tuyên bố công khai từ bỏ Đảng và kích động “từ bỏ Đảng Cộng sản”; tình trạng mâu thuẫn nội bộ, mất đoàn kết đang là những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc phá hoại nội bộ; lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng.

Nguy hiểm hơn, một số cán bộ, đảng viên “tự chuyển hóa”, tự nguyện, sẵn sàng cộng tác, chủ động liên hệ với Cơ quan đặc biệt nước ngoài, phản động lưu vong để hoạt động chống phá; một bộ phận cán bộ có tư tưởng lừng chừng, hai mặt, chờ thời cơ có lợi cho cá nhân. Lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra với tính chất, mức độ rất nghiêm trọng. Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng. Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt Đảng

Trước hết, phải nhận thức đúng mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở đảng và toàn bộ hệ thống chính trị thấy và sửa chữa những khuyết điểm, làm cho tốt hơn, đúng hơn; để mọi người học ưu điểm của nhau, cùng giúp nhau tiến bộ. Thực hiện tự phê bình và phê bình phải gắn với các nội dung liên quan đến tư cách của người đảng viên, gắn với trách nhiệm, quyền hạn của cá nhân, đơn vị, địa phương mình phụ trách; chỉ rõ những vấn đề làm được, chưa làm được, nguyên nhân và phương hướng khắc phục. Kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong Đảng với phê bình của quần chúng là biện pháp khắc phục triệt để những khuyết điểm của tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc phê bình của quần chúng đối với Đảng là cung cấp thông tin quan trọng và cần thiết cho tổ chức đảng nghiên cứu, xem xét, đánh giá hoạt động của mình, đánh giá phẩm chất, năng lực của cán bộ, đảng viên. Người đứng đầu phải gương mẫu tự phê bình và khuyến khích người khác phê bình mình. Người đứng đầu phải luôn lắng nghe ý kiến góp ý cho mình một cách chân thành, cởi mở và nếu có khuyết điểm thì phải nghiêm túc tiếp thu và sửa chữa. Người đứng đầu phải kiểm điểm nội dung về mối quan hệ với quần chúng, lắng nghe ý kiến góp ý, phê bình của nhân dân.

          Thực hiện tốt các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng

Đảng ta được tổ chức và xây dựng theo những nguyên tắc mang tính khoa học và cách mạng của chính đảng kiểu mới theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong đó có nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong tình hình mới. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Nguyên tắc này được ví như xương sống làm cho Đảng luôn vững mạnh trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; bảo đảm thống nhất ý chí và hành động. Đây là tiêu chí để phân biệt chính đảng cách mạng với các đảng cơ hội khác. Trong nguyên tắc tập trung dân chủ, tập trung và dân chủ thống nhất với nhau, tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ đi đôi với tập trung. Dân chủ là điều kiện, tiền đề của tập trung, đồng thời tập trung là cơ sở bảo đảm cho dân chủ được thực hiện và phát huy. Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định. Nếu thực hành dân chủ tốt, sẽ phát huy được trí tuệ, tiềm năng, khơi dậy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi đảng viên, tổ chức đảng, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng. Bởi vậy, trong tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng, phải thực hiện sự thống nhất chặt chẽ dân chủ với tập trung, không được tuyệt đối hóa hay coi nhẹ mặt nào. Nếu tuyệt đối hóa tập trung sẽ dẫn đến quan liêu, chuyên quyền, độc đoán; ngược lại, tuyệt đối hóa dân chủ thì sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, vô tổ chức, vô kỷ luật.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

    Là quốc gia biển nên vấn đề an ninh biển có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam, tác động lớn đến phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường hòa bình của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay tình hình tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và các vấn đề an ninh phi truyền thống, như: khủng bố, cướp biển, buôn lậu, tranh chấp ngư trường, khai thác tài nguyên biển gây ô nhiễm môi trường,… diễn biến ngày càng phức tạp, khó dự báo.Trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông hiện nay, Đảng, Nhà nước cần có những giải pháp chiến lược, nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia - dân tộc trên biển, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Thế giới và khu vực đang trải qua một thời kỳ nhiều biến động phức tạp, khó đoán định, nhưng hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, dòng chảy chính và vì lợi ích chung của các nước. Xu thế đa cực, đa trung tâm ngày càng rõ nét, trở thành xu thế chủ đạo, vai trò của các tổ chức khu vực trên các châu lục ngày càng gia tăng, tạo mối quan hệ đan xen vừa tăng cường hợp tác, vừa cạnh tranh chiến lược. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo ở khu vực Biển Đông ngày càng quyết liệt, phức tạp, chưa có dấu hiệu lắng xuống, cùng với sự can dự của một số nước lớn ngoài khu vực đã làm cho vùng biển này có lúc trở thành điểm nóng, khó đoán định.

Tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh thế chiến lược, tranh giành ảnh hưởng, lợi ích của các nước lớn ở Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường không chỉ đe dọa hòa bình, ổn định khu vực, chủ quyền của Việt Nam mà còn đặt ra nhiều thách thức, hệ lụy đối với an ninh quốc gia Việt Nam.

Tại Biển Đông hiện đang tồn tại 02 nhóm mâu thuẫn lớn; mâu thuẫn về tranh chấp chủ quyền đang diễn biến phức tạp và khó giải quyết do liên quan nhiều bên (05 nước, 06 bên) với quan điểm khác biệt cả về chủ quyền, lợi ích và cách thức giải quyết tranh chấp, nhất là khác biệt về quan điểm, chủ trương của Trung Quốc với các bên có tranh chấp còn lại.

Biển Đông không chỉ đơn thuần là tranh chấp chủ quyền mà đan xen với đó là sự cạnh tranh chiến lược, tranh giành ảnh hưởng và lợi ích của hầu hết các nước lớn trên thế giới, đặc biệt là sự tranh giành thế chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Thực tế quan hệ giữa các nước lớn và quan hệ Mỹ - Trung những năm gần đây đã phản ánh rõ, mỗi khi cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung diễn ra gay gắt thì vấn đề Biển Đông cũng diễn biến phức tạp, căng thẳng, hoạt động của Trung Quốc và sự can dự của các nước lớn vào vấn đề Biển Đông đều gia tăng.

Hai nhóm mâu thuẫn trên khiến tình hình Biển Đông còn diễn biến phức tạp, kéo dài, không thể giải quyết trong ngắn hạn và trung hạn, tiếp tục là yếu tố quan trọng chi phối môi trường an ninh trong khu vực, trực tiếp tác động, ảnh hưởng tới lợi ích, ANQG, môi trường đối ngoại của các nước trong khu vực trong đó có Việt Nam. Sự bế tắc trong giải quyết giữa các bên có tranh chấp ở Biển Đông và sự can dự mạnh mẽ của các nước lớn làm phát sinh những nguy cơ về xung đột cục bộ trên biển, xu hướng chạy đua vũ trang trong khu vực. Bệnh cạnh đó, những căng thẳng ở Biển Đông còn kéo theo hàng loạt các hệ lụy khác như tác động, ảnh hưởng, làm chậm đà phát triển kinh tế biển của đất nước, nhất là các hoạt động dầu khí, nghề cá; những đe dọa về an ninh ngay trong nội địa như các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng để xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, tiến hành các hoạt động chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại. Do vậy, thời gian tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp; trong đó, tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:  xây dựng lực lượng bảo vệ chủ quyền, thực thi pháp luật trên biển vững mạnh, chủ động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển từ sớm, từ xa. Tận dụng thời cơ, phát huy, khai thác lợi thế của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, khoa học - công nghệ; phát huy tinh thần yêu nước, đại đoàn kết dân tộc, huy động cao nhất các nguồn lực, sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh, tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh trên biển vững chắc, sẵn sàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa. Để hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng này, cần đẩy mạnh xây dựng lực lượng Cảnh sát biển, Hải quân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, tổ chức tinh, gọn, mạnh, cơ động, linh hoạt, hiệu quả; cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, điều chỉnh, mở rộng, phát triển lực lượng, sẵn sàng đáp ứng mọi nhiệm vụ tác chiến.

cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một làxây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”2. Để kinh tế phát triển tương xứng với tiềm năng của biển, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cần phải tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản và môi trường biển, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt.

Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản chất lượng cao. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng các trung tâm kinh tế ven biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, xuất khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dầu khí, vận tải biển, v.v. Phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo; tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạch định cơ chế chính sách trong phòng, chống thiên tai, thảm họa, bảo vệ môi trường biển.

Hai làxây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt. Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết hiện nay. Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên các vùng biển. Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng lực lượng hoạt động trên biển. Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc.

Ba làkiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Là thành viên của Liên hợp quốc, của UNCLOS cũng như tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòa bình, ổn định khu vực và quốc tế. Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các bên có liên quan. Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của ta trên biển với quyết tâm “Việt Nam quyết không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”; kiên trì tìm kiếm một giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, UNCLOS và 05 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau thực hiện nghiêm chỉnh DOC, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử COC để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tại các vùng biển không phải là tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của UNCLOS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng.

 

Lời Bác dạy: Ngày 01 tháng 10 “Cái gì không có lợi cho địch là có lợi cho ta”.


Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Mười khó khăn của Pháp” bút danh C.B, đăng trên Báo Nhân dân, số 27, ngày 01 tháng 10 năm 1951.

Chiến dịch Biên Giới năm 1950 kết thúc, ta giành thắng lợi lớn, diệt trên 8.000 quân địch thu nhiều vũ khí, trang bị, giải phóng vùng biên giới rộng lớn từ Cao Bằng đến Đình Lập (Lạng Sơn) mở rộng giao lưu quốc tế, làm thay đổi cục diện chiến tranh, giành quyền chủ động chiến lược đẩy mạnh tiến công và phản công. Thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn ở chính quốc và trên chiến trường Đông Dương; nhưng vẫn tập trung tăng quân, thay tướng, xin thêm viện trợ của Mỹ, xây dựng hệ thống cứ điểm vững chắc hòng duy trì sự đô hộ lâu dài trên đất nước ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích, đánh giá đúng tình hình quốc tế, nội tình nước Pháp và cục diện chiến trường Việt Nam một cách khách quan, toàn diện, biện chứng, khoa học và chỉ ra mười khó khăn mà Pháp phải đối diện; từ đó Bác có những chỉ đạo chiến lược xác đáng nhằm giành thế chủ động tiến công liên tục trên chiến trường, quyết đánh đuổi quân xâm lược, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ.

Thực hiện chỉ đạo của Người, quân và dân ta đã đoàn kết, hợp đồng, phát huy thế mạnh của ta, khoét sâu điểm yếu của địch với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của đế quốc, thực dân, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thấu triệt tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong phân tích, đánh giá tình hình địch, ta để lựa chọn hình thức tác chiến phù hợp luôn được cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt nhằm phát huy mọi ưu thế, sức mạnh tổng hợp, tranh thủ thời cơ để quyết chiến, quyết thắng với kẻ thù, hạn chế thấp nhất thương vong cho bộ đội, cùng toàn Đảng, toàn dân giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử, thống nhất đất nước.

Trong giai đoạn hiện nay, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tốt diễn tập với tinh thần thi đua “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, không để Tổ quốc bị động bất ngờ trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc… xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.