Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biên giới, lãnh thổ

Công tác tuyên truyền về các vấn đề biên giới, lãnh thổ cần tổ chức tốt việc nghiên cứu, học tập, triển khai các nội dung về biên giới quốc gia trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII và các nghị quyết Đại hội Đảng bộ các địa phương, cơ sở. Gắn các nội dung tuyên truyền về biên giới lãnh thổ quốc gia với việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cấp, các ngành, các địa phương. Đồng thời kịp thời phát hiện và ngăn chặn, đấu tranh hiệu quả với các quan điểm, thông tin và hành vi lợi dụng vấn đề biên giới lãnh thổ, dân tộc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân và mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia. Đẩy mạnh hoạt động thông tin, tuyên truyền đối ngoại, tiếp tục quan tâm, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ và tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho các lực lượng làm công tác tuyên truyền, nhất là lực lượng ở cơ sở như già làng, trưởng bàn, trưởng ấp, người có uy tín các các đôn, bản biên giới... - Đồng chí Lê Hải Bình nhấn mạnh. Tại hội nghị, các đại biểu được nghe báo cáo về quan hệ Việt Nam-Campuchia và phương hướng hợp tác trong thời gian tới; công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, kinh nghiệm xử lý các vấn đề phát sinh trong quản lý, bảo vệ biên giới của Bộ đội Biên phòng và một số vấn đề lưu ý đối với lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ biên giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong tình hình hiện nay; những bài học kinh nghiệm và vấn đề cần quan tâm trong triển khai công tác quản lý biên giới trên thực địa tuyến biên giới đất liền Việt Nam-Campuchia thuộc tỉnh Kiên Giang; tình hình biên giới trên đất liền Việt Nam-Campuchia và một số vấn đề cần lưu ý đối với công tác biên giới tại tỉnh Kiên Giang trong tình hình mới... Nhân dịp này, Ban Tổ chức hội nghị tặng 7 phần quà cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng biên phòng có hoàn cảnh khó khăn đang thực hiện vụ trên đảo Phú Quốc (Kiên Giang)./. * Cũng trong chuỗi sự kiện tuyên truyền về công tác biên giới lãnh thổ, chiều 21/11, tại thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang diễn ra khai mạc triển lãm ảnh “Tự hào một dải biên cương” năm 2023 do Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp tỉnh Kiên Giang tổ chức. Đồng chí Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương cùng các đồng chí lãnh đạo cắt băng khai mạc triển lãm ảnh "Tự hào một dải biên cương" năm 2023. Triển lãm trưng bày gần 200 bức ảnh xuất sắc và tiêu biểu nhất của cuộc thi sáng tác ảnh nghệ thuật “Tự hào một dải biên cương”. Triển lãm không chỉ đem đến cho thành phố biển Phú Quốc không khí của núi rừng biên cương, vẻ đẹp của cảnh sắc, văn hóa, đất nước con người vùng biên giới mà còn tôn vinh, khắc họa cuộc sống lao động, rèn luyện chiến đấu của quân và dân ta trong công cuộc bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc và giữ gìn mối quan hệ hữu nghị, hợp tác bình giữa Việt Nam với các quốc gia có chung đường biên giới. Triển lãm ảnh “Tự hào một dải biên cương” là dịp tuyên truyền về công tác phân giới, cắm mốc, quản lý biên giới, nâng cao hiểu biết đối với chủ quyền biên giới lãnh thổ quốc gia, biên cương của Tổ quốc, góp phần quan trọng vào việc tạo đồng thuận, củng cố niềm tin, sự ủng hộ quý báu của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, khẳng định những thành tựu mà Đảng, đất nước đã giành được trong giữ gìn, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển; khơi dậy lòng tự hào về cơ đồ, vị thế đất nước; tôn vinh các lực lượng đang ngày đêm giữ gìn và bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Bình chọn 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2023

 Sáng 5-12 tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức bình chọn 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2023.

Ông Nguyễn Anh Vũ, Tổng biên tập Báo Văn hóa – đơn vị được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức bình chọn, cho biết, Ban tổ chức đã nhận được gần 100 đề cử của 50 đơn vị. Trên cơ sở đó, tổ giúp việc đã họp, bỏ phiếu chọn 30 sự kiện.

Từ kết quả này, Ban tổ chức đã tổng hợp, lựa chọn 15 sự kiện, báo cáo lãnh đạo Bộ để tổ chức bình chọn 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2023 với sự tham gia của đại diện phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương.

15 sự kiện để bình chọn 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2023, gồm:

- Kỷ niệm 80 năm ra đời Đề cương về Văn hóa Việt Nam.

- Lần đầu tiên tổ chức sự kiện “Tuyên dương 78 gương điển hình tiên tiến trong lĩnh vực văn hóa toàn quốc năm 2023” và Hội nghị cán bộ văn hóa toàn quốc.

- Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà (tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng) được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.

- Việt Nam trúng cử Thành viên Ủy ban Di sản Thế giới nhiệm kỳ 2023 - 2027.

- Ấn vàng “Hoàng đế chi bảo” hồi hương.

- Công nghiệp văn hóa có nhiều thành tựu nổi bật: TP Hội An (Quảng Nam) và TP Đà Lạt (Lâm Đồng) được công nhận Thành phố sáng tạo UNESCO.

- Tổ chức Ngày hội văn hóa các dân tộc có số dân dưới 10.000 người lần thứ I tại tỉnh Lai Châu, năm 2023.

- Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 1-7-2023; kèm theo đó là Nghị định 76/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được ban hành ngày 1-11-2023 và có hiệu lực ngày 25-12-2023.

- Thể thao Việt Nam lần đầu tiên dẫn đầu bảng tổng sắp khi thi đấu ở nước ngoài tại Đại hội thể thao lớn khu vực Đông Nam Á - SEA Games 32, tổ chức tại Campuchia tháng 5-2023.

- Đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam tham dự Vòng chung kết FIFA World Cup nữ 2023.

- Bắn súng Việt Nam lần đầu tiên trong lịch sử giành huy chương vàng tại Đại hội Thể thao châu Á - Asian Games.

- Vận động viên Nguyễn Thị Thật vô địch châu Á, giành suất tham dự Olympic Paris 2024.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị trực tuyến toàn quốc về du lịch năm 2023 ngày 15-3 và Hội nghị toàn quốc về phát triển du lịch Việt Nam nhanh, bền vững ngày 15-11. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững.

- Ngày 14-8-2023, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 127/NQ-CP về việc thực hiện áp dụng cấp thị thực điện tử cho công dân tất cả các nước, vùng lãnh thổ và Nghị quyết số 128/NQ-CP nâng thời tạm trú lên 45 ngày đối với 13 nước được đơn phương miễn thị thực.

- Du lịch Việt Nam đạt nhiều giải thưởng của Tổ chức du lịch thế giới năm 2023; trong đó, lần thứ 4 Việt Nam được vinh danh là Điểm đến Di sản hàng đầu thế giới, lần thứ 5 được bình chọn là Điểm đến du lịch hàng đầu châu Á.

Hoạt động bình chọn 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu được tổ chức dưới 2 hình thức: Tổ chức bình chọn trực tiếp ngày 5-12, tại trụ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với sự tham gia của đại diện phóng viên các cơ quan thông tấn báo chí Trung ương và địa phương.

Tổ chức bình chọn trực tuyến tại địa chỉ: http://sukienvhttdl.bvhttdl.gov.vn/; Báo Văn hóa điện tử: www.baovanhoa.vn; Báo Điện tử Tổ quốc: www.toquoc.vn. Thời gian bình chọn trực tuyến, từ 8 giờ 30 phút, ngày 5-12 đến 17 giờ ngày 7-12-2023.

Danh sách 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2023 sẽ được Ban tổ chức công bố sau khi tổng hợp kết quả bình chọn từ hai hình thức trên.

 

Thay đổi tư duy về phương thức báo chí, xuất bản

“Chuyển đổi số là xu thế tất yếu của báo chí hiện đại để phục vụ độc giả tốt nhất, nhanh nhất. Chuyển đổi số không đơn giản là đầu tư thiết bị công nghệ, phần mềm mà phải chính là thay đổi tư duy từ lãnh đạo đến cán bộ, phóng viên, nhân viên; là đổi mới toàn bộ quy trình sản xuất nội dung, quy trình kinh doanh, quy trình vận hành tòa soạn”. Đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam đã nhấn mạnh như vậy trong phát biểu khai mạc Hội thảo khoa học quốc gia “Chuyển đổi số báo chí, xuất bản - Lý luận và thực tiễn”. Hội thảo do Báo Nhân Dân phối hợp với Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Học viện Báo chí và Tuyên truyền và Tỉnh ủy Thái Bình được tổ chức sáng nay (30/11) tại Thái Bình. Chủ trì Hội thảo có các đồng chí: Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; Ngô Đông Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình; PGS.TS. Vũ Trọng Lâm, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; PGS.TS. Phạm Minh Sơn, Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền; TS. Nguyễn Công Dũng, Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam yêu cầu: “Chuyển đổi số phải bảo đảm chất lượng báo chí ngày càng cao, xây dựng đội ngũ độc giả trung thành. Các cơ quan báo chí phải mạnh dạn triển khai hoạt động chuyển đổi số; không ngừng sáng tạo, vừa làm vừa điều chỉnh thay vì chờ đợi; tăng cường công tác đào tạo, đổi mới hình thức đào tạo; xây dựng kho dữ liệu dùng chung, công cụ đo lường, thu thập dữ liệu độc giả... Như vậy, chuyển đổi số mới có thể thành công, đạt hiệu quả Đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam phát biểu khai mạc Hội thảo Phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo, đồng chí Phan Xuân Thủy, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh: Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số báo chí, xuất bản - Lý luận và Thực tiễn” diễn ra trong bối cảnh cả nước đang ở trong năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII. Đại hội đã xác định: “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”. Đây là yêu cầu, nhiệm vụ lớn, có tính chiến lược, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, trong đó báo chí - xuất bản vừa phải là lực lượng tuyên truyền, lan tỏa quyết tâm và tinh thần chuyển đổi số một cách tích cực nhất trong xã hội, vừa phải là hình mẫu thành công nhất về áp dụng, triển khai thực hiện chuyển đổi số. Vì vậy, hội thảo hôm nay càng có ý nghĩa và tính thiết thực đối với việc tiếp tục triển khai có hiệu quả việc chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí, xuất bản ở nước ta trong thời gian tới. Đồng chí Phan Xuân Thủy mong muốn các nhà khoa học, các đại biểu, lãnh đạo các tòa soạn cơ quan báo chí Trung ương và địa phương chia sẻ quá trình chuyển số ở đơn vị mình, đồng thời nhấn mạnh những đề xuất, kiến nghị của các đồng chí lãnh đạo, các nhà khoa học để làm cơ sở tham mưu với Đảng, Nhà nước trong tiếp tục triển khai có hiệu quả chuyển đổi số quốc gia nói chung và chuyển đổi số báo chí, xuất bản nói riêng, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành các kế hoạch, định hướng cụ thể, phù hợp, sát với thực tiễn, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, bất cập, những điểm nghẽn để nền báo chí, xuất bản nước nhà tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Hội thảo đã nhận được 63 bài tham luận có chất lượng của các đồng chí lãnh đạo, các nhà khoa học, chuyên gia từ các cơ quan, ban ngành ở Trung ương và địa phương, các cơ quan báo chí, xuất bản, cơ sở đào tạo báo chí – xuất bản trên cả nước. Nội dung xoay quanh các vấn đề như: Chuyển đổi số báo chí, xuất bản - Lý luận và Thực tiễn; Chuyển đổi số xuất bản trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam; Chuyển đổi số báo chí trên địa bàn tỉnh Thái Bình: Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp; Chuyển đổi số báo chí Hà Nội – Những khó khăn, thách thức và một số giải pháp thực hiện thời gian tới; Chuyển đổi số trong hoạt động báo chí – Ích lợi và thách thức; một số kinh nghiệm về chuyển đổi số và phát triển truyền thông mạng xã hội tại Báo Hà Tĩnh; kết quả bước đầu và những vấn đề đặt ra đối với chuyển đổi số báo chí ở Báo Tuyên Quang;… Báo cáo đề dẫn Hội thảo, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm Giám đốc, Tổng Biên tập NXB. Chính trị quốc gia Sự thật nêu rõ: Thời gian qua các cơ quan báo chí, xuất bản đã có sự thay đổi tư duy, dành thời gian, nguồn lực để chuẩn bị nghiêm túc, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, công nghệ, nguồn nhân lực, chủ động nắm bắt, ứng dụng các công nghệ số vào hoạt động của mình và đã gặt hái nhiều kết quả tích cực. Báo chí trong nước đã và đang từng bước phát triển để phù hợp với xu thế của công nghệ, thông tin và truyền thông đồng thời kết hợp chặt chẽ nhiều loại hình, phương tiện và tăng độ bao phủ cả trong nước và quốc tế, từng bước đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ thông tin, truyền thông trong tình hình mới. Trong lĩnh vực xuất bản, các nhà xuất bản, công ty sách cũng thúc đẩy ứng dụng công nghệ số. Theo đó, đã xây dựng các kênh phát hành trực tuyến theo công nghệ đa nền tảng, đa giao diện; các loại hình sách mới như ebook, audiobook, video book đã xuất hiện ngày một nhiều hơn trên thị trường xuất bản Việt Nam, không chỉ đáp ứng nhu cầu của bạn đọc thông thường mà còn đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng đặc biệt khác. Tuy nhiên, chuyển đổi số báo chí, xuất bản ở Việt Nam hiện nay vẫn đang đối mặt nhiều khó khăn, thách thức. Vẫn còn nhận thức chưa đầy đủ và toàn diện về lợi ích, tầm quan trọng và cách thức chuyển đổi số của đội ngũ lãnh đạo, quản lý cơ báo chí, xuất bản; nguồn lực cho chuyển đổi số vẫn còn yếu; nhiều cơ quan báo chí, xuất bản chưa đủ vững về tài chính để mua sắm trang thiết bị, thuê đội ngũ kỹ thuật viên và đào tạo nhân lực thích ứng, cũng như đảm bảo nguồn lực tài chính để vận hành… PGS.TS. Vũ Trọng Lâm nhận định việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển đổi số báo chí, xuất bản ở Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết; việc các đại biểu phân tích thực trạng chuyển đổi số trong các cơ quan báo chí, xuất bản, cơ quan quản lý báo chí, xuất bản từ Trung ương đến địa phương hiện nay; đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm về chuyển đổi số báo chí, xuất bản trong thời gian qua; làm rõ những vấn đề đặt ra đối với chuyển đổi số báo chí, xuất bản cũng như các cơ hội, thách thức trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước thời gian tới sẽ góp phần đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy chuyển đổi số báo chí, xuất bản toàn diện, bền vững trong thời gian tới. PGS.TS. Vũ Trọng Lâm nhận định việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển đổi số báo chí, xuất bản ở Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết; đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm về chuyển đổi số báo chí, xuất bản trong thời gian qua sẽ góp phần đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy chuyển đổi số báo chí, xuất bản toàn diện, bền vững trong thời gian tới. Phát biểu tham luận tại hội thảo, đồng chí Nguyễn Thanh Lâm – Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông cho rằng: Các cơ quan báo chí cần dự báo được những xu hướng mới trong chuyển đổi số trong báo chí, đặc biệt lưu ý đến hai vấn đề là thể chế pháp lý, bản quyền và việc bảo vệ tài nguyên môi trường số trên không gian mạng. Đồng chí cũng đề xuất các cơ quan báo chí tham khảo, vận dụng để có thể sử dụng một nền tảng số dùng chung, vừa đảm bảo tiết kiệm chi phí, vừa đảm bảo tiến độ chuyển đổi số ở các cơ quan báo chí trung ương và địa phương. PGS.TS. Vũ Trọng Lâm nhận định việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển đổi số báo chí, xuất bản ở Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết; việc các đại biểu phân tích thực trạng chuyển đổi số trong các cơ quan báo chí, xuất bản, cơ quan quản lý báo chí, xuất bản từ Trung ương đến địa phương hiện nay; đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm về chuyển đổi số báo chí, xuất bản trong thời gian qua; làm rõ những vấn đề đặt ra đối với chuyển đổi số báo chí, xuất bản cũng như các cơ hội, thách thức trong bối cảnh mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước thời gian tới sẽ góp phần đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm thúc đẩy chuyển đổi số báo chí, xuất bản toàn diện, bền vững trong thời gian tới. Đồng chí Nguyễn Thanh Lâm – Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông phát biểu tham luận tại Hội thảo Hội thảo đã nghe các tham luận của tổng biên tập báo Hà Tĩnh, tham luận của Ban Tuyên giáo thành ủy Hà Nội, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thái Bình, nghe góp ý của Học viện Báo chí Tuyên truyền… Với nhiều góc tiếp cận chủ đề Hội thảo khác nhau, các ý kiến của các đại biểu, nhà khoa học đã tập trung phân tích, luận giải, làm rõ các nội dung khoa học xoay quanh chủ đề của Hội thảo, làm sáng tỏ thêm những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận của chuyển đổi số báo chí, xuất bản trong tình hình hiện nay; đi sâu phân tích về thành tựu và nguyên nhân về chuyển đổi số báo chí, xuất bản ở Việt Nam hiện nay, cụ thể là các cơ quan báo chí, xuất bản từ Trung ương đến địa phương đã tích cực thay đổi tư duy, chiến lược, ban hành kế hoạch triển khai thực hiện chuyển đổi số của đơn vị mình, chủ động đầu tư cho cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số trong từng khâu, từng lĩnh vực. Bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận, một số ý kiến phát biểu, tham luận tại Hội thảo cũng chỉ ra những thách thức, khó khăn, bất cập trong chuyển đổi số báo chí, xuất bản hiện nay như: Còn một số ít cán bộ làm công tác báo chí, xuất bản chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng và cách thức chuyển đổi số. Nguồn lực cho chuyển đổi số, nhất là nguồn lực tài chính, công nghệ còn nhiều thiếu thốn. Việc đào tạo nhân lực báo chí, xuất bản chuyển đổi số chưa theo kịp đòi hỏi của tình hình hiện nay, chưa xây dựng được đội ngũ phóng viên, biên tập viên, đội ngũ xuất bản có kỹ năng nghiệp vụ hiện đại và khả năng áp dụng công nghệ trên môi trường số, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới… Phát biểu bế mạc Hội thảo, PGS.TS Phạm Minh Sơn, Giám đốc Học viên Báo chí và Tuyên truyền khẳng định: Những ý kiến tham luận, các bài viết của các nhà khoa học sẽ cung cấp những luận cứ khoa học hữu ích, góp phần giải quyết những vấn đề nóng đang đặt ra đối với việc thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí, xuất bản thời gian tới. Nhiều mô hình hay, bài học kinh nghiệm sâu sắc, các đề xuất, giải pháp có giá trị cao đưa ra trong Hội thảo hôm nay sẽ là cơ sở để các cơ quan xây dựng kiến nghị với Đảng và Nhà nước trong thực hiện chiến lược chuyển đổi số quốc gia nói chung và chuyển đổi số báo chí, xuất bản nói riêng./. Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số báo chí, xuất bản - Lý luận và thực tiễn” nhằm tạo ra diễn đàn để các nhà quản lý ngành báo chí, xuất bản; các chuyên gia trong lĩnh vực đào tạo báo chí, lãnh đạo các cơ quan báo chí, lãnh đạo các đơn vị xuất bản cập nhật thêm những nội dung mới trong vấn đề lý luận chung về chuyển đổi số báo chí, xuất bản; phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với báo chí, xuất bản trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực báo chí, xuất bản ở Việt Nam thời gian tới.

Xuyên tạc công tác chỉnh đốn Đảng - điều không thể chấp nhận

Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp Hội nghị lần thứ 5 từ ngày 4 đến ngày 10-5-2022. Ảnh: Nhandan.vn 1. Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Là một công việc bình thường trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vậy mà mỗi khi Đảng ta kỷ luật một số cán bộ cao cấp trong bộ máy Đảng, Nhà nước có vi phạm, trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”, cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”, v.v.. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có khả năng “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch. Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác XD, CĐĐ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngày càng cấp thiết, bởi lẽ, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Điều đó càng đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Do vậy, không thể có chuyện việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta là “giật gấu vá vai” như ai đó đã từng rao giảng. Thực tiễn đã chứng minh, càng làm tốt công tác XD, CĐĐ bao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. 2. Vì sao xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc? Điều này được xác định ngay từ khi Đảng ra đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một tất yếu khách quan, gắn chặt với quá trình phát triển, trưởng thành của sự nghiệp cách mạng; Đảng là một tổ chức sống trong lòng xã hội, một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ chức vụ trong Đảng, Nhà nước luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội cả những cái tốt, tích cực, tiến bộ, cả những cái xấu, tiêu cực và lạc hậu. Trong điều kiện Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì vấn đề xây dựng, chỉnh đốn Đảng càng phải quan tâm nhiều hơn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, nếu không làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì “... một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(1). Do vậy, đối với những cán bộ, đảng viên nắm giữ quyền lực càng phải đề cao ý thức, trách nhiệm trong XD, CĐĐ. Nó không chỉ góp phần làm cho Đảng ta mạnh lên mà còn là nhu cầu tự hoàn thiện, tự làm trong sạch và khẳng định nhân cách của mình. Bởi lẽ, nếu không biết sử dụng đúng quyền lực và đặt nó vào đúng vị trí thì nó sẽ phá hoại ghê gớm, nhất là khi người nắm giữ quyền lực bị tha hóa, biến chất, họ sẽ biến quyền lực của Đảng, của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi, rơi vào chủ nghĩa cá nhân. XD, CĐĐ là vấn đề có tính quy luật trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, đặc biệt là trước những biến cố, bước ngoặt quan trọng của cách mạng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng có mối quan hệ biện chứng, trong đó xây dựng là nền tảng, có tác dụng to lớn để thực hiện chỉnh đốn Đảng. Ai đó cho rằng chỉ cần xây dựng Đảng là đủ mà coi thường chỉnh đốn Đảng là điều phi lý, không thể chấp nhận; bởi chỉnh đốn Đảng là một mặt hết sức quan trọng và là điều kiện không thể thiếu của xây dựng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng gắn bó chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau, xây dựng Đảng ngay trong nội dung chỉnh đốn và chỉnh đốn là thành tố nội tại để xây dựng Đảng tốt hơn. Do vậy, không thể coi trọng, nhấn mạnh mặt này, xem nhẹ, coi thường mặt kia; hai mặt xây dựng và chỉnh đốn có quan hệ chặt chẽ, là vấn đề có tính quy luật của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nguyên tắc của XD, CĐĐ là lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; thực hiện đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách để Đảng không rơi vào độc đoán, chuyên quyền. Đồng thời trong sinh hoạt Đảng, phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tự phê bình và phê bình, bởi đó là thứ vũ khí, là quy luật làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Cùng với đó cần thực hiện tốt kỷ luật nghiêm minh và tự giác, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát để giữ gìn sự đoàn kết và sự trong sạch của Đảng. Sự thật này không thể xuyên tạc, chân lý này không thể bẻ cong. 3. Đảng ta khẳng định phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã được triển khai sâu rộng, thực hiện quyết liệt và đạt những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, càng đi sâu vào quá trình đổi mới, nhiều vấn đề về công tác XD, CĐĐ càng được đặt ra cấp bách cần phải giải quyết, nhất là khi: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”(2). Sự ra đời của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường XD, CĐĐ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta đã bác bỏ mọi cách nhìn lệch lạc, quan điểm sai trái về công tác XD, CĐĐ. Thực tế chứng minh rằng, kết quả thực hiện nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Trung ương 4 khóa XII đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác XD, CĐĐ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về công tác XD, CĐĐ được nâng lên. Qua thực hiện các nghị quyết về XD, CĐĐ đã có nhiều tấm gương điển hình tiên tiến được nhân rộng, lan tỏa trong đời sống xã hội, đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và xã hội, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa chung. Kết quả này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho rằng Đảng ta không thể XD, CĐĐ thành công. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định quyết tâm XD, CĐĐ trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 về đẩy mạnh XD, CĐĐ và hệ thống chính trị, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, “XD, CĐĐ phải gắn với xây dựng hệ thống chính trị, phạm vi thực hiện không chỉ đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên mà còn cả các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức, viên chức, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và thành viên, đoàn viên, hội viên của các tổ chức này”(3). Đây là những nội dung thể hiện sự phát triển và mở rộng của công tác XD, CĐĐ để đáp ứng với điều kiện mới của Đảng ta, là minh chứng bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 1.300 tổ chức đảng và 87.000 đảng viên. Chỉ tính trong năm đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, năm 2021, cả nước đã khởi tố, điều tra 390 vụ án với 1.011 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, trong đó đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, nghiêm trọng, phức tạp “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Như vậy, những ai hiểu biết ở mức bình thường nhất cũng phải thừa nhận rằng, việc xử lý cán bộ nêu trên thể hiện sự nghiêm minh của Đảng, Nhà nước, kiên quyết xử lý đúng người, đúng tội, không có chuyện sử dụng danh nghĩa chống suy thoái để “thanh trừng phe phái” như ai đó đã xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Đây là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất quyết liệt, là “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật vài người để cứu muôn người”. Những thành quả đã đạt được trong công tác XD, CĐĐ thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.

Phai nhạt lý tưởng cách mạng dẫn đến “tự triệt tiêu mình”

Lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay. Ảnh minh họa: tuyengiao.vn Những người đảng viên cộng sản chúng ta rất tự hào được sống, chiến đấu, phấn đấu cho lý tưởng cao cả đó. Tuy nhiên, những năm gần đây, do cả yếu tố khách quan và chủ quan, một bộ phận đảng viên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra. “Ngọn đuốc soi đường” cho những người cộng sản Trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), ông Nguyễn Tiến Hà, 90 tuổi, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò xúc động kể lại: “Thường ngày từ sáng sớm, các đồng chí bị địch dẫn đi hành quyết. Trong giây phút ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, chuẩn bị bước lên máy chém nhưng các chiến sĩ vẫn rất kiên cường, hô to: “Thực dân Pháp đưa chúng tôi ra pháp trường đây. Các đồng chí ở lại mạnh khỏe, chiến đấu bảo vệ quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!”. Lúc đó, trong nhà tù bừng bừng khí thế chiến đấu, hô vang những khẩu hiệu: “Phản đối thực dân Pháp”, “Phản đối án tử hình”... Hẳn ai nghe lời kể của cựu tù chính trị Nguyễn Tiến Hà đều thấy khí phách ngời sáng, kiên trung của hàng vạn chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù của thực dân, đế quốc. Họ sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, chấp nhận cái chết một cách thanh thản vì mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao đẹp của Đảng, của dân tộc. Nói đến lý tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại hy sinh gian khổ, quyết chiến và quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Khi đất nước nằm trong ách nô lệ của thực dân, đế quốc, ai đi theo Đảng, theo cách mạng cũng nhận thấy đó là con đường gian khổ, phải chấp nhận hy sinh, phải quên mình vì đất nước, vì dân tộc. Trong cuộc sống, không ai muốn tước bỏ mạng sống của mình. Chỉ có lý tưởng cách mạng, vì nước, vì dân, người chiến sĩ cộng sản mới chịu mọi cực hình tra tấn của kẻ thù cho đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có lý tưởng chiến đấu cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc mới khiến biết bao chiến sĩ Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng địch với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; chiến sĩ Tô Vĩnh Diện mới lấy thân mình chèn cứu pháo; chiến sĩ Bế Văn Đàn mới lấy thân mình làm giá súng; chiến sĩ Phan Đình Giót mới lấy thân mình lấp lỗ châu mai... và cả hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lặng lẽ làm nhiệm vụ trên những con tàu không số luôn sẵn sàng xả thân trước mọi hiểm nguy giữa trùng khơi biển cả. Giữa cái sống và cái chết trong tích tắc nhưng các anh vẫn không hề nao núng và không bao giờ tính toán đến lợi ích, hưởng thụ cho bản thân. Tất cả cho mục tiêu chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược! Tất cả dâng hiến cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo. Xa rời lý tưởng cách mạng - con đường dẫn tới sự tha hóa, biến chất Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị. Phai nhạt về lý tưởng cách mạng thường diễn ra hai khuynh hướng chủ yếu. Thứ nhất, mơ hồ về nhận thức, lập trường ngả nghiêng, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm chống đối của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, cho rằng đất nước cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Cũng có cán bộ khi đất nước có chiến tranh vẫn được Đảng, Nhà nước lựa chọn ưu tiên đi đào tạo ở nhiều trường trong nước và nước ngoài để phục vụ Tổ quốc, nhân dân sau khi đất nước hòa bình, nhưng khi có học hàm, học vị cao lại đưa ra quan điểm, lập luận xa lạ với quan điểm chính trị cũng như mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ gieo rắc quan điểm cá nhân, tô hồng chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập. Họ hùa theo những phần tử cơ hội, chống đối, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hòng làm cho đất nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, do chủ nghĩa cá nhân chi phối, vì lợi ích vật chất tầm thường mà bất chấp lý tưởng, mục tiêu phấn đấu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tham nhũng, làm thiệt hại tài sản lớn cho đất nước, vi phạm pháp luật, làm ô uế thanh danh người cán bộ, đảng viên của Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 10 năm qua (2012-2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Đáng nói là có hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đã bị kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo Bộ luật Hình sự. Suy cho cùng, số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, xử lý về tội tham nhũng có căn nguyên từ việc họ bị thẩm thấu tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của chủ nghĩa phong kiến, luôn muốn bản thân an nhàn mà lại được đãi ngộ, hưởng thụ cao. Khi có vị trí, có điều kiện quyền lực, bên cạnh bị vật chất, đồng tiền cám dỗ thì họ lu mờ về chính trị, sa ngã vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, từ đó xa rời lợi ích tập thể, lợi ích của nhân dân, của đất nước... Đó là con đường dẫn họ tới xa rời, phai nhạt lý tưởng cách mạng, đồng nghĩa với “tự triệt tiêu mình”. Trọn đời giữ gìn điều thiêng liêng, cao quý nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”. Trong buổi lễ kết nạp Đảng, trước cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đảng viên mới đều dõng dạc tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi được phân công, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân!”. Lời thề đó là thiêng liêng, là danh dự cao nhất, rất cần thiết đối với người đảng viên cộng sản. Để lý tưởng cách mạng luôn là linh hồn sống, là ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên, giải pháp quan trọng hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức về Đảng cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hành động thực tiễn cho đảng viên trẻ, đảng viên mới kết nạp, chủ động đưa họ vào những nơi khó khăn, gian khổ để rèn luyện, thử thách, qua đó xây dựng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực thực tiễn. Chú trọng xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp ủy các cấp là việc làm rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng, nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh đạo tập thể của cấp ủy, phát huy trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Quy chế làm việc của mỗi cấp ủy là cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định, hoạt động của mỗi tổ chức đảng. Trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập thể cấp ủy (thường vụ) và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với các tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội. Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả thành viên trong cấp ủy phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Nếu các cấp ủy đảng luôn siết chặt hoạt động lãnh đạo thông qua quy chế về các lĩnh vực nhạy cảm như kinh tế, tài chính, nhân sự... thì không một cá nhân nào có thể dễ dàng lộng hành, thao túng. Giữ vững nguyên tắc Đảng cũng là một cách góp phần bảo đảm cho cán bộ, đảng viên luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận, mục tiêu, lý tưởng của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; cùng với đó là nghiêm túc thực hiện kỷ luật Đảng, nhất là thực hiện Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đó là con đường làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh từ cơ sở. Đó cũng là con đường cơ bản để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng, gìn giữ phẩm chất đạo đức trong sáng, luôn lấy lý tưởng cách mạng là linh hồn sống, là kim chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên một lòng một dạ trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết giúp họ có cơ hội học tập, công tác tốt, tích cực cống hiến và trưởng thành, xứng danh là người chiến sĩ tiên phong ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.

Tự hào áo dài Việt Nam

 

Những ngày này, từ các cơ quan, công sở, trường học, trên đường phố và cả mạng xã hội đều xuất hiện hình ảnh phụ nữ Việt Nam duyên dáng, thướt tha trong trang phục áo dài. Điều này góp phần tiếp tục tạo hiệu ứng lan tỏa rộng khắp trong cộng đồng về lịch sử, giá trị thẩm mỹ của áo dài Việt Nam; đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm của mọi người trong gìn giữ, phát huy di sản văn hóa trang phục dân tộc.

Trong lễ tiếp nhận hiện vật “Ký ức và di sản” do Bảo tàng Phụ nữ (BTPN) Việt Nam tổ chức tuần qua tại Hà Nội, nhiều người tham dự xúc động trước những câu chuyện gắn với hiện vật của Đại sứ Nguyễn Phương Nga, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức hữu nghị Việt Nam. Kỷ vật mà Đại sứ Nguyễn Phương Nga mang tới tặng bảo tàng là hai bộ áo dài được bà mặc trong Lễ trao quyết định bổ nhiệm Đại sứ, đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc và tại Lễ trình Thư ủy nhiệm của Chủ tịch nước lên Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon năm 2014. Đại sứ Nguyễn Phương Nga chia sẻ: “Hai bộ áo dài trao tặng BTPN Việt Nam đã gắn bó thân thiết với tôi, luôn nhắc nhở tôi rằng, mình thật vinh dự được đại diện cho đất nước Việt Nam, cho phụ nữ Việt Nam mang trên mình bộ trang phục truyền thống của dân tộc. Trong các hoạt động quốc tế, khi mặc áo dài, tôi luôn có cảm giác rất tự hào, vinh dự và tự tin. Khi mặc ai cũng đẹp hơn vì phù hợp với nhiều hình dáng cơ thể và thanh nhã, sang trọng, lịch sự, duyên dáng, mang nét đặc biệt, biểu trưng cho văn hóa truyền thống của Việt Nam. Ngoài ra, tà áo dài nhắc nhở người mặc phải ứng xử cho xứng đáng với giá trị truyền thống và lịch sử hào hùng của đất nước”.

Kỷ niệm 111 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ, năm nay, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (LHPN) đã phát động “Tuần lễ áo dài Việt Nam”, nhằm tiếp tục tạo hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng, khơi dậy trách nhiệm gìn giữ và phát huy di sản văn hóa áo dài. Theo bà Nguyễn Hải Vân, Giám đốc BTPN Việt Nam, tiếp nhận hiện vật “Ký ức và di sản” là một trong những sự kiện nối dài chuỗi hoạt động “Áo dài-Di sản văn hóa Việt Nam”, do Hội LHPN Việt Nam phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) tổ chức từ năm 2020 đến nay, góp phần khẳng định và tôn vinh vị thế, giá trị của áo dài trong đời sống xã hội của người Việt Nam. “Mỗi cá nhân có cảm nhận về vẻ đẹp, về giá trị di sản một cách khác nhau và cách gìn giữ, phát huy những di sản của dân tộc cũng mỗi người mỗi vẻ. Họ dùng tâm huyết và óc sáng tạo của mình để thể hiện qua những nét vẽ cách điệu trong tà áo dài, trân trọng và mặc áo dài với niềm tự hào về bản sắc văn hóa trong những dịp lễ trọng”, bà Nguyễn Hải Vân cho hay.

“Tuần lễ áo dài Việt Nam” đã nhận được sự hưởng ứng, lan tỏa rộng khắp ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. Từ ngày 1-3, cán bộ cơ quan Trung ương Hội LHPN Việt Nam, hội LHPN các tỉnh, thành phố và đông đảo cán bộ, công chức, viên chức nhiều cơ quan đồng loạt mặc áo dài đến công sở, như những vườn hoa nhiều màu sắc trên cả nước. Tại Trường Tiểu học Hoàng Diệu (quận Ba Đình, Hà Nội), các cô giáo trang nhã, thướt tha trong những bộ áo dài, nở những nụ cười rạng rỡ đón học sinh trong ngày đầu đến trường sau thời gian dài nghỉ Tết Nguyên đán Tân Sửu và phòng, chống dịch Covid-19. Theo cô Nguyễn Điệp Anh, Hiệu trưởng nhà trường: Nhiều năm qua, nhà trường luôn khuyến khích các cô giáo mặc áo dài khi đến trường dạy học cũng như trong các hoạt động hội họp nhằm phát huy hình ảnh văn minh, thanh lịch của nữ cán bộ, giáo viên Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là trên mạng xã hội, phong trào mặc áo dài chụp ảnh lưu niệm, tôn vinh tà áo dài truyền thống rất sôi nổi... Các thành viên của trang Facebook “Tự hào áo dài Việt Nam” với gần 12.000 thành viên ở khắp mọi miền Tổ quốc đã đăng tải nhiều ảnh đẹp và quay clip tôn vinh tà áo dài Việt Nam.

Để áo dài trở thành di sản văn hóa của người Việt

Trang phục áo dài lâu nay được coi là biểu tượng trang phục của người Việt Nam, hàm chứa những giá trị lịch sử văn hóa, xã hội và nghệ thuật độc đáo. Trải qua thời gian, trang phục áo dài đã đi vào đời sống của người dân Việt Nam, là nguồn cảm hứng để các văn nghệ sĩ sáng tác nên những tác phẩm hội họa, thi ca, âm nhạc, văn chương, thời trang, đồng thời cũng là thông điệp thể hiện bản sắc văn hóa của người Việt Nam. Áo dài nữ là trang phục tôn vinh vẻ kín đáo, dịu dàng, làm toát lên nét duyên dáng, thanh lịch của người phụ nữ. 

Theo nhà thiết kế Minh Hạnh, nét đặc trưng của áo dài được thể hiện ở tính phổ cập trong đời sống xã hội, trong các tầng lớp nhân dân: Từ nhà giáo, học sinh, sinh viên, nhân viên văn phòng, diễn viên, nghệ sĩ... Áo dài chính là thành quả lao động của các nghệ nhân, những người sáng tạo, thiết kế và làm nên chúng qua nhiều khâu, công đoạn, như: Trồng dâu, nuôi tằm dệt lụa, may đo, thêu vẽ hoa văn trang trí, kết hợp với các ý tượng sáng tác đều phản ánh vẻ đẹp, bộc lộ tâm hồn, tính cách và nhân sinh quan của người Việt. Áo dài Việt Nam không đơn thuần là một loại trang phục dân tộc, nó còn chứa đựng cả một bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa, tính triết lý, quan niệm thẩm mỹ nghệ thuật, ý thức và tinh thần dân tộc của người Việt Nam.

Đến nay, dù Nhà nước chưa ban hành văn bản luật chính thức nào khẳng định áo dài là quốc phục Việt Nam. Tuy nhiên từ lâu, áo dài đã được đa số nhân dân mặc định là “áo dài dân tộc” hay “trang phục truyền thống của người Việt Nam” trong các cuộc thi sắc đẹp quốc tế, đối ngoại; ngay cả với những người Việt xa quê, “thoáng thấy áo dài bay trên đường phố, sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó”... PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia (VHNTQG) Việt Nam (Bộ VHTTDL) cho hay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc bảo vệ, phát huy giá trị trang phục áo dài là công việc vô cùng cần thiết và cấp bách đối với các cơ quan quản lý, đối với cộng đồng và các nghệ nhân.

Đưa áo dài trở thành Di sản văn hóa phi vật thể (DSVHPVT) của nhân loại là điều mong mỏi của rất nhiều người. Theo PSG, TS Bùi Hoài Sơn, trước mắt phải xác định cộng đồng gắn với áo dài là ai, là những người thiết kế áo dài, mặc áo dài, hay may áo dài... tương tự như lập hồ sơ di sản hát xoan của Phú Thọ; lễ hội Gióng đền Sóc (Hà Nội); đờn ca tài tử Nam Bộ... Viện VHNTQG Việt Nam đang hướng theo câu chuyện đấy, xác định cộng đồng sở hữu di sản, có thể lựa chọn một số làng may áo dài ở Hà Nội, Thừa Thiên Huế, hoặc TP Hồ Chí Minh. Theo Viện trưởng Viện VHNTQG Việt Nam, các cơ quan, đơn vị có liên quan đang tích cực chuẩn bị xem xét, công nhận áo dài là DSVHPVT quốc gia, tiến tới đệ trình ghi danh tại danh sách DSVHPVT đại diện của nhân loại theo tiêu chí của UNESCO. Mặt khác, việc nghiên cứu một cách thấu đáo về trang phục áo dài nhằm tìm ra những giải pháp quản lý, bảo vệ phù hợp để đảm bảo sức sống của áo dài theo tinh thần Công ước năm 2003 của UNESCO và Luật Di sản văn hóa của Việt Nam.

 

Đấu tranh các thủ đoạn, âm mưu trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật

Văn học, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng của văn hóa, tác động trực tiếp đến quan điểm, nhận thức, tư tưởng, tình cảm và thẩm mỹ của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Văn học, nghệ thuật cũng là mục tiêu chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, là một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch, phản động cùng những phần tử cơ hội thường xuyên lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta. Nhận diện và đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm trong sáng đời sống tinh thần, tư tưởng cho con người và toàn xã hội. ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Thời gian qua, các kênh truyền thông và các trang mạng xã hội đã được thiết lập để tạo kênh kết nối các lực lượng cực đoan, cơ hội ở trong và ngoài nước để lợi dụng lĩnh vực văn học, nghệ thuật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, đồng thời lập quỹ để cung cấp tài chính, trả nhuận bút cho số văn nghệ sĩ cực đoan. Số văn nghệ sĩ này tiếp tục lợi dụng, núp bóng các tổ chức xã hội dân sự để thành lập các tổ chức đối lập, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Các đối tượng này móc nối với các cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên thông qua các hoạt động tài trợ, biểu diễn, triển lãm, tọa đàm, hội thảo, giao lưu văn hóa, văn học, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu để tuyên truyền ảnh hưởng, lôi kéo lực lượng văn nghệ sĩ có tư tưởng dao động để khuếch trương lực lượng, tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng đa nguyên, đòi tự do sáng tác một cách vô chính phủ Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ người Việt ở hải ngoại trong nhiều năm nay đã sử dụng văn học, nghệ thuật làm công cụ tuyên truyền tư tưởng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới của nhân dân ta. Họ tung ra hàng loạt tác phẩm đủ các thể loại như tùy bút, nhật ký, hồi ký, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ… Mục đích của thế lực thù địch là ngụy tạo sự kiện, chứng cứ, làm sai sự thật nhằm hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, phủ nhận thành quả cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Cùng với đó, các thế thực thù địch, chống phá triệt để lợi dụng các kênh ngoại giao, các tổ chức phi chính phủ để gây áp lực hòng tạo ra không gian hoạt động chống đối trong văn học, nghệ thuật trong nước.,… Ngoài ra, các đối tượng này còn tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, tôn vinh các tác giả, tác phẩm đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Mục đích của hoạt động chống phá trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật là tạo ra “mũi đột phá”, “thọc sâu” vào ý thức hệ của nhân dân, nhằm làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Sự chống phá được tiến hành rất xảo quyệt, tinh vi nên việc nhận diện chúng không dễ dàng vì nó ẩn khuất trong những vỏ bọc “văn học”, “nghệ thuật”, “những sự kiện có thật”, đánh vào thị hiếu của con người. Các thế lực thù địch đã truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ, dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa. Có những tác phẩm văn học đánh giá sai lệch, phiến diện về cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, làm lẫn lộn hoặc cố tình lập lờ về bản chất, tính chính nghĩa của các cuộc kháng chiến; từ đó, gây ra sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Chúng còn đẩy mạnh tuyên truyền sai lệch về quan điểm, đường lối văn học, nghệ thuật của Đảng, rằng: “đường lối văn nghệ của Đảng là cứng nhắc, ép buộc”; cáo buộc các tác phẩm “phải chịu sự kiểm duyệt chặt chẽ của Nhà nước”, hay vu cáo “sự độc đoán về tư tưởng đã bóp chết văn học, nghệ thuật”, ... Hiện nay, có khoảng gần 150 hội, nhóm bất hợp pháp, "trong đó có gần 100 nhóm có khuynh hướng hoạt động đối lập chính trị, có quan điểm cực đoan, quá khích, sai trái, thù địch và trong số đó có người nguyên là cán bộ lãnh đạo, tướng lĩnh, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ đã có những đóng góp, cống hiến cho cách mạng, cho Đảng và đã từng được nhân dân tin tưởng”(1). Thông qua các nhà xuất bản bên ngoài, nhiều đối tượng văn nghệ sĩ, trí thức có quan điểm cực đoan đã sáng tác, in ấn và phát tán các tác phẩm văn học, thơ ca có nội dung sai trái, chống phá tư tưởng trên lĩnh vực văn học nghệ thuật. “Từ năm 1986 đến nay, công an đã phát hiện 272 tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung sai trái, phản động nhằm chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”(2). Hoạt động xuất bản phát tán tài liệu bài viết, bản thảo có nội dung nhạy cảm, trái với quy định và mục tiêu tuyên truyền của nhà nước. Đáng chú ý, chúng tán phát vào trong nước hàng chục nghìn tài liệu có nội dung xấu độc, thù địch và một số tác phẩm văn học, nghệ thuật được xuất bản ở nước ngoài có nội dung sai trái về chính trị, lồng ghép những quan điểm trái chiều, phức tạp để tuyên truyền xuyên tạc, kích động... Các lực lượng phản động, cơ hội chính trị đã móc nối, sử dụng một số cán bộ lão thành, có cả cán bộ đương chức, có tướng lĩnh đã nghỉ hưu, bộ phận trí thức, văn nghệ sĩ có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng chống đối, tán phát trên internet, mạng xã hội bài viết, tư liệu, tài liệu với luận điệu thâm độc, quan điểm sai trái, cổ xúy cho “dân chủ tư sản”, “xã hội dân sự”, “xã hội dân chủ” để tuyên truyền kích động, gia tăng các hoạt động chống phá. Bên cạnh đó, thời gian qua, có không ít văn nghệ sĩ đã tận dụng uy tín cá nhân, tầm ảnh hướng với xã hội để đăng tải trên các trang cá nhân, các blog, tài khoản zalo, trang mạng xã hội facebook để bình luận những vấn đề thời sự, chính trị của đất nước bằng ngôn ngữ của văn chương, nghệ thuật với cái nhìn một chiều, cực đoan. Trên một số tài khoản facebook cá nhân, một số văn nghệ sĩ, trí thức cũng đã đăng tải những trạng thái, những bài thơ, đoạn trích văn xuôi bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân trước một số vụ việc trong nước theo hướng phê phán, reo giắc sự hoài nghi về đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của chính quyền, ngành nhằm tạo cớ để các thế lực thù địch có dịp chống phá Đảng và chế độ ta. Những âm mưu, thủ đoạn chống phá trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật có tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhận dân trong thời gian qua, trong đó có giới trẻ. Có không ít người đã hoang mang, hoài nghi về lịch sử của dân tộc cũng như những thành quả cách mạng của nhân dân. Thậm chí có những người có tâm lý bi quan, chán nản, mất niềm tin vào những giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Đó là một nguy hại rất lớn không thể coi thường, xem nhẹ. Hội thảo khoa học “Xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay” diễn ra ngày 19/12/2019, tại Hà Nội. Hội thảo khoa học “Xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay” diễn ra ngày 19/12/2019, tại Hà Nội. THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT Trong suốt thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm: “Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, chăm lo bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ. Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật”. Khoản 2, Điều 60 của Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 cũng nêu rõ: “Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đó là cơ sở chính trị, pháp lý và định hướng quan trọng để phát triển văn học, nghệ thuật của nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thời gian qua, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc đấu tranh phòng, chống những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Ban Chỉ đạo Đề án 213 đấu tranh trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật đã phối hợp chặt chẽ với Ban tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, các ban ngành, cơ quan phụ trách đấu tranh cấp tỉnh và các địa phương không cấp phép, chấp nhận thành lập các nhóm, hội hoạt động bất hợp pháp, các nhóm hội có biểu hiện sai trái. Đồng thời, vận động cán bộ, đảng viên và người dân không tham gia hội, nhóm, tích cực phát hiện các biểu hiện sai trái của các nhóm đối tượng để đấu tranh chống lại, vạch trần âm mưu và thủ đoạn của thế lực thù địch. Vận động văn nghệ sĩ, trí thức không tham gia các hội nhóm, tổ chức sai trái mà tích cực tìm ra, vô hiệu hóa, kiên quyết không để các đối tượng công khai kế hoạch tuyên truyền thủ đoạn sai trái, thù địch để đấu tranh chống lại các thủ đoạn đó. Các cơ quan đấu tranh đã phát hiện và chủ động phân loại các nhóm đối tượng với tính chất và mức độ sai phạm, thái độ chính trị sai trái thù địch của các nhóm đối tượng để sử dụng các biện pháp đấu tránh phù hợp, có hiệu quả. Với những đối tượng phức tạp, có hành vi cực đoan, quá khích xâm phạm đến an ninh quốc gia, chủ quyền thì bắt và xử lý trước pháp luật; đối tượng vi phạm ở mức nhẹ hơn thì răn đe, kiềm chế hoặc giáo dục, thuyết phục và tác động để đối tượng không tham gia hội, nhóm, từ bỏ các hoạt động và rời khỏi hội, nhóm. Ngoài ra, các cơ quan pháp luật cũng xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện nhiệm vụ này như Hiến pháp năm 2013; Luật Xuất bản; Luật Báo chí; Luật An ninh mạng; Luật Điện ảnh; Luật sở hữu trí tuệ; Nghị định 79/2012/NĐ-CP quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp và người mẫu, lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu và Nghị định số 15/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 79/2012/NĐ-CP ngày 05 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định về biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang, thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu; Nghị định 75/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong hoạt động văn hóa; Nghị định số 113/2013/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động mỹ thuật; Quyết định số 3196/QĐ-BVHTTDL ngày 13/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành kèm theo “Quy tắc ứng xử của người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật”. …. Về cơ bản, các văn bản quy phạm pháp luật hiện có đã xác định tương đối rõ ranh giới cho hoạt động sáng tạo, chỉ ra những hành vi, hoạt động không được phép. Các văn bản quy phạm pháp luật trên cũng đã cơ bản tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật đồng thời có khả năng ngăn chặn, xử lý những quan điểm sai trái, phản động. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, lực lượng lãnh đạo, quản lý trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển lĩnh vực văn học, nghệ thuật nói chung, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trong lĩnh vực này nói riêng. Ở một số hội chuyên ngành văn học, nghệ thuật Trung ương, đội ngũ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu đã cao tuổi, sức khỏe hạn chế; trong khi đó ở một số hội văn học, nghệ thuật địa phương vẫn còn tình trạng bố trí lãnh đạo hội không có chuyên môn, chưa am hiểu sâu về lĩnh vực văn học, nghệ thuật mình phụ trách. Vì những lý do đó, người lãnh đạo chưa phát huy được vai trò tập hợp đội ngũ, hoặc những người làm chuyên môn không phục, thậm chí có nơi không giữ được đoàn kết nội bộ,… Mặt khác, trong một thời gian dài, chúng ta chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của công tác tổ chức, cán bộ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, dẫn đến bố trí sai những cán bộ lãnh đạo, quản lý hoặc hạn chế năng lực, hoặc có tư tưởng phức tạp, khiến cho việc xử lý hậu quả trở nên rất khó khăn. NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM TRƯỚC CỘNG ĐỒNG VÀ XÃ HỘI Để tăng cường công tác đấu tranh ngăn chặn âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở nước ta giai đoạn hiện nay, cần chú trọng đến những giải pháp cơ bản sau: Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đấu tranh ngăn chặn âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, coi đây là một mặt trận trọng yếu trong cuộc chiến đấu tranh chống lại các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Hai là, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với hoạt động văn học, nghệ thuật, nhất là các hội, nhóm hay hoạt động của các nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ bằng những quy định cụ thể; đồng thời có chế tài nghiêm khắc để xử lý những trường hợp vi phạm quy định. Có cơ chế, chính sách phù hợp để huy động những nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ tham gia đấu tranh chống lại các hoạt động lôi kéo, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên các diễn đàn, nhất là trên mạng xã hội. Ba là, phát huy vai trò của các cơ quan truyền thông, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong giám sát, phản biện hoạt động văn học, nghệ thuật. Các cơ quan truyền thông cần phát huy tinh thần trách nhiệm trong việc biểu dương, lan tỏa những hoạt động văn học, nghệ thuật có giá trị tích cực, có tính định hướng theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, đồng thời, lên tiếng phê phán những hoạt động văn học, nghệ thuật phản cảm, đi ngược lại quy định của Đảng, Nhà nước và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Các đoàn thể chính trị - xã hôi và nhân dân phát huy vai trò giám sát, phản biện hoạt động của các nhà văn, nhà thơ, các văn nghệ sĩ; kịp thời đóng góp ý kiến để điều chỉnh những hành vi “lệch chuẩn”. Bốn là, bản thân những người hoạt động trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trước cộng đồng và xã hội; chấp hành nghiêm chỉnh những quy tắc đạo đức nghề nghiệp và quy định về văn hóa ứng xử; nêu cao tinh thần dân tộc, ý thức bảo vệ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, biết tận dụng lợi thế, uy tín của người nổi tiếng để tuyên truyền, quảng bá những giá trị tích cực; lên án, bài xích những biểu hiện sai trái, lệch lạc. Có thể nhận thấy, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật là một nhiệm vụ rất quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay. Để cuộc đấu tranh này thực sự có hiệu quả, ngoài việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật mà đội ngũ văn nghệ sĩ, những người làm công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật cũng cần nâng cao nhận thức, bản lĩnh, trách nhiệm của mình trong việc xây dựng nền văn học, nghệ thuật trong sáng, phù hợp với định hướng của Đảng và thị hiếu lành mạnh của nhân dân, tránh để các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc.

Toàn văn bài phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tại hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam lần thứ nhất

 

Sáng 5-12, tại thủ đô Vientiane, Lào, đã diễn ra Lễ khai mạc trọng thể và Phiên toàn thể đầu tiên của Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV) lần thứ nhất.

Hội nghị có sự tham dự của hơn 350 đại biểu là đại biểu Quốc hội, đại diện các bộ, ngành và địa phương của ba nước, đại diện của Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), các Cơ quan hợp tác quốc tế của Nhật Bản (JICA) và Hàn Quốc (KOICA).

Tại Phiên toàn thể thứ nhất, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã có bài phát biểu quan trọng với chủ đề: “Tăng cường vai trò của nghị viện trong việc thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa Campuchia, Lào và Việt Nam”. Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu:

“Kính thưa Ngài Saysomphone Phomvihane, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào,

Kính thưa Samdech Khuon Sudary, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia,

Thưa các vị khách quý,

Thưa toàn thể hội nghị,

1. Hôm nay, tại thủ đô Vientiane - thành phố “Vạn tượng” tươi đẹp, thanh bình và mến khách, tôi rất vui mừng tham dự Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước Campuchia-Lào-Việt Nam (CLV) lần thứ nhất. Tôi và Đoàn Quốc hội Việt Nam xin chân thành cảm ơn Chủ tịch Saysomphone Phomvihane và Quốc hội Lào đã dành cho chúng tôi sự đón tiếp trọng thị, nồng ấm và đã chuẩn bị rất chu đáo, kỹ lưỡng cho Hội nghị có ý nghĩa quan trọng đặc biệt này. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 48 Quốc khánh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Đoàn Đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam, tôi xin gửi đến Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào anh em những tình cảm nồng ấm và lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Tôi xin chúc mừng Campuchia đã tổ chức thành công cuộc bầu cử Quốc hội khóa VII, chúc mừng Samdech Khuon Sudary đã được tín nhiệm cao bầu giữ chức vụ Quốc hội và là nữ Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của Vương quốc Campuchia.

Thưa các quý vị,

 2. Mối quan hệ đoàn kết hữu nghị, gắn bó và tin cậy chính trị giữa ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam là di sản vô giá đối với cả ba dân tộc, có ý nghĩa chiến lược lâu dài trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển của ba nước. Việt Nam luôn coi trọng và dành ưu tiên cao độ, coi đây là nhiệm vụ chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việc thành lập cơ chế Hội nghị cấp cao ba nước CLV là mốc son quan trọng trong lịch sử hợp tác giữa ba Quốc hội, đánh dấu sự nâng tầm hợp tác giữa ba cơ quan lập pháp lên cấp cao nhất, là bước hiện thực hóa kết quả đạt được tại cuộc gặp cấp cao của người đứng đầu ba Đảng CLV tháng 9-2021.

Quốc hội Việt Nam đánh giá cao và hoàn toàn nhất trí với chủ đề Hội nghị “Tăng cường vai trò của nghị viện trong việc thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa Campuchia, Lào và Việt Nam” và ba chủ đề thảo luận trong các lĩnh vực Đối ngoại, Kinh tế - Văn hóa - Xã hội, Quốc phòng và An ninh.

Thưa toàn thể Hội nghị,

 3. Chúng ta bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ 21 với vô vàn biến cố khó lường. Lần đầu tiên, cả thế giới trải qua đại dịch Covid-19 với quy mô chưa từng có, tổn thất vượt xa mọi dự báo. Tác động dai dẳng, phức tạp của đại dịch, cộng hưởng với những căng thẳng, xung đột chính trị, cạnh tranh, phân tách chiến lược giữa các nước lớn, những chao đảo, bất ổn của thị trường lương thực, năng lượng, tài chính - tiền tệ, sự suy giảm đầu tư, đứt gẫy các chuỗi cung ứng... đã xóa đi nhiều thành quả giảm nghèo và phát triển của nhiều thập kỷ qua và đang gây ra nhiều hệ lụy, khó khăn to lớn, đa chiều, cả trước mắt và lâu dài đối với nhiều nước trên thế giới trong đó có ba nước chúng ta. Đồng thời các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, đang trực tiếp ảnh hưởng đến sinh kế, đời sống của người dân, an ninh và phát triển của mọi quốc gia.

Tuy vậy, chúng ta vẫn lạc quan và hi vọng về tương lai. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là khát vọng cháy bỏng, vẫn là dòng chảy và xu thế lớn của thời đại. Thế giới đã vượt qua đại dịch Covid-19. Đại dịch đã không làm chúng ta sụp đổ mà còn khiến loài người đoàn kết và trở lên mạnh mẽ hơn. Các xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo đang ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ và lan tỏa sâu rộng, tạo cơ hội hiếm có cho những nước đi sau như Việt Nam, Campuchia và Lào có thể bắt kịp, tiến cùng các nước và có thể vượt lên trên một số lĩnh vực nếu biết tận dụng thời cơ.

Với thông điệp Hòa bình, Hữu nghị, Đoàn kết và Hợp tác vì Thịnh vượng và Phát triển bền vững và để thực hiện hiệu quả Kết luận Cuộc gặp cấp cao giữa Người đứng đầu ba Đảng, Thỏa thuận giữa ba Thủ tướng về khu vực Tam giác phát triển CLV và Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước CLV lần thứ nhất, tôi có 5 đề xuất như sau:

Thứ nhất, về chính trị - đối ngoại: Quốc hội ba nước đã, đang và sẽ tiếp tục cùng nhau gìn giữ, vun đắp, gia tăng giá trị chiến lược của tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt Campuchia-Lào-Việt Nam. Đây là tài sản vô giá của ba dân tộc, là nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quan trọng hàng đầu đối với an ninh và phát triển của mỗi nước. Đây là yếu tố “bất biến” để ứng phó với “vạn biến” của tình hình bất trắc, khó lường hiện nay trên thế giới.

Quốc hội ba nước, hơn bao giờ hết cần chung tay, góp sức, góp phần củng cố nền tảng tin cậy chính trị, tình hữu nghị truyền thống và đoàn kết đặc biệt Campuchia-Lào-Việt Nam. Chúng ta cùng phát huy trí tuệ tập thể, tăng cường chia sẻ thông tin, tham vấn giữa các cơ quan chuyên môn của ba Quốc hội trong hoàn thiện thể chế, ban hành chính sách pháp luật hỗ trợ các Chính phủ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng. Quốc hội ba nước tăng cường phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là tại Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU), Diễn đàn Nghị viện châu Á - Thái Bình Dương (APPF), Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA). Hợp tác quốc hội CLV góp phần xây dựng Cộng đồng ASEAN, tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực và thúc đẩy hợp tác Tiểu vùng Mekong.

Thứ hai, về kinh tế, thương mại, đầu tư: Quốc hội ba nước tiếp tục giám sát việc triển khai hiệu quả các Hiệp định, Thỏa thuận hợp tác đã ký, đàm phán để ký một số văn kiện mới tạo hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ, thuận lợi trong hợp tác giữa song phương cũng như giữa ba nước CLV nhằm tạo đột phá trong hợp tác về kinh tế, tăng cường bổ trợ, kết nối giữa ba nền kinh tế CLV cả về quy hoạch, thể chế, cơ sở hạ tầng và kinh tế số. Ba cơ quan lập pháp nghiên cứu tiếp tục thông qua các cơ chế, chính sách đặc thù cho khu vực Tam giác phát triển CLV để khuyến khích thương mại - đầu tư, trong đó chú trọng thương mại biên giới và phát triển kinh tế cửa khẩu trên đất liền giữa ba nước, xây dựng hạ tầng cơ sở, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của người dân tại khu vực Tam giác phát triển nói riêng và ba nước nói chung.

Thứ ba, về văn hóa - xã hội: Quốc hội ba nước phối hợp, giám sát việc triển khai Kế hoạch phát triển du lịch khu vực Tam giác phát triển CLV giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2030, tạo điều kiện thuận lợi đi lại qua biên giới cho du khách, liên kết phát triển hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật để khu vực ngã ba biên giới thực sự trở thành điểm du lịch chung ba nước, xúc tiến mô hình du lịch “3 quốc gia - 1 điểm đến”.

Các Quốc hội tăng cường giám sát, thúc đẩy hợp tác y tế, giáo dục - đào tạo, giao lưu văn hóa giữa nhân dân dọc các tỉnh biên giới nói riêng và ba nước nói chung, góp phần tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ ba nước về quan hệ hữu nghị Campuchia-Lào-Việt Nam. Đặc biệt, các Quốc hội chú trọng đề nghị các Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người gốc Việt, Campuchia, Lào sinh sống, học tập, làm việc tại mỗi nước phù hợp với luật pháp sở tại và các quy định dựa trên nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, góp phần vào sự phát triển của mỗi nước.

Thứ tư, về môi trường và biến đổi khí hậu: Ba Quốc hội tăng cường phối hợp, trao đổi về thông qua các luật liên quan đến môi trường, tài nguyên nước, cũng như tăng cường hợp tác với các nước, các đối tác và tổ chức quốc tế có liên quan trong những lĩnh vực này. Chú trọng vấn đề quản lý và sử dụng bền vững, hiệu quả nguồn nước sông Mekong vì lợi ích chung và mỗi quốc gia ven sông, hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Ủy hội sông Mekong quốc tế và các cơ chế hợp tác Mekong, do an ninh nguồn nước tác động đến an ninh lương thực, an ninh năng lượng và sinh kế của hàng triệu người dân. Quốc hội ba nước khuyến khích các Chính phủ và các bên liên quan thúc đẩy thực hiện các mục tiêu, cam kết phát triển bền vững toàn cầu, chống biến đổi khí hậu.

Thứ năm, về quốc phòng, an ninh: Quốc hội ba nước tiếp tục củng cố trụ cột về hợp tác quốc phòng, an ninh, ủng hộ lẫn nhau để bảo đảm giữ vững ổn định, trật tự, an ninh ở mỗi nước, thống nhất không để cho bất kỳ lực lượng nào sử dụng lãnh thổ nước này chống nước kia. Cơ quan lập pháp ba nước tạo điều kiện thúc đẩy, giải quyết các vấn đề tồn đọng để sớm hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên đất liền giữa Việt Nam - Campuchia và giữa Campuchia - Lào để xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, vì lợi ích chung của nhân dân ba nước.

Thưa các quý vị,

 4. Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước CLV lần thứ nhất là dấu mốc quan trọng, mở ra trang mới trong hợp tác giữa ba cơ quan lập pháp, hoàn thiện “ba đỉnh tam giác” của cơ chế hợp tác CLV: Người đứng đầu ba Đảng, Thủ tướng ba nước và giờ là Chủ tịch ba Quốc hội. Trong cuộc gặp với ba Chủ tịch Quốc hội sáng nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào gọi đây là “thế kiềng ba chân”, góp phần làm sâu sắc quan hệ hữu nghị đoàn kết giữa ba nước.

Năm 2024, ba nước sẽ kỷ niệm 25 năm thành lập khu vực Tam giác phát triển CLV. Những kết quả của Hội nghị chúng ta hôm nay sẽ góp phần xây dựng tầm nhìn mới cho hợp tác CLV nói chung và Khu vực Tam giác phát triển CLV trong 25 năm tiếp theo.

Tôi tin tưởng rằng, dưới sự chủ trì của ba Chủ tịch Quốc hội, tinh thần hữu nghị và đoàn kết, sự hợp tác chặt chẽ của các vị đại biểu và sự chuẩn bị chu đáo của Quốc hội nước chủ nhà Lào, Hội nghị cấp cao Quốc hội ba nước CLV lần thứ nhất sẽ thành công tốt đẹp.

Chúc các vị đại biểu có nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên trọng trách cao cả của mình.