Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

Vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.

  Trong thế giới ngày nay, chiến tranh, xung đột, trong đó có xung đột dân tộc đang diễn ra hết sức phức tạp. Vì vậy, chung tay giải quyết xung đột đó theo hướng bảo đảm lợi ích chân chính của các dân tộc là nguyện vọng của nhân loại tiến bộ. Nhân kỷ niệm 205 năm ngày sinh và 140 năm ngày mất của C.Mác, bài viết phân tích những luận điểm cơ bản về vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và khẳng định những giá trị của các luận điểm đó đối với cách mạng Việt Nam hiện nay.

Vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và ý nghĩa đối với cách mạng Việt Nam hiện nay

Việt Nam đặt tầm nhìn đến năm 2050 trở thành nước phát triển - Ảnh: thanhnien.vn

1. Những luận điểm cơ bản về vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản

Cho dù thời đại ngày nay đã có nhiều thay đổi hết sức to lớn song những nguyên lý, nguyên tắc, quan điểm cơ bản của hệ thống lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên giá trị. Vấn đề dân tộc - một nội dung quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin là một trong số đó. Chỉ riêng tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã có nhiều luận điểm đặc biệt quan trọng đề cập đến vấn đề dân tộc mà hiện vẫn có ý nghĩa sâu sắc cho giai cấp công nhân, cho chính đảng cộng sản trong quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc.

Vấn đề thứ nhất: Về cơ sở hình thành dân tộc

Với thế giới quan mới - thế giới quan duy vật lịch sử được thể hiện trong các tác phẩm như Gia đình thần thánh, Hệ tư tưởng Đức...và đạt đến độ chín muồi trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, những người sáng lập chủ nghĩa Mác đã xem xét vấn đề dân tộc theo một nguyên tắc mới. Theo đó, mọi hiện tượng lịch sử không còn bị quy giản vào năng lực của cái tinh thần, của thần linh, thượng đế hay ý chí chủ quan của con người mà suy cho cùng do sản xuất vật chất quyết định. C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung”(1). Theo ý nghĩa ấy, chính sự thay đổi của sản xuất vật chất đã làm xuất hiện các hình thức cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc, bộ tộc). Khi giai cấp tư sản ra đời với tư cách đại diện cho một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn so với các phương thức sản xuất trước đó, do yêu cầu của sản xuất, từng bước dân cư được tập trung, các mối quan hệ xã hội vốn tồn tại khá biệt lập trong từng lãnh địa phong kiến dần được mở rộng... Cứ như thế, từng bước, dân tộc tư sản được hình thành.

Về vấn đề này, vào năm 1874, trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước đã được Ph.Ăngghen nghiên cứu tỉ mỉ và có những bổ sung dựa trên các tài liệu của các nhà dân tộc học đương thời. Theo đó, hình thức cộng đồng người đầu tiên xuất hiện là các thị tộc. Cùng với quá trình sản xuất và đời sống, các hình thức cộng đồng người như bộ lạc, bộ tộc và cuối cùng là dân tộc ra đời.

Quan niệm trên đây đã làm sáng tỏ sự thật lịch sử về sự ra đời của các hình thức cộng đồng người. Lịch sử đó không còn có tính chất thần bí như quan niệm của các tôn giáo hay có tính chất tư biện của các nhà triết học duy tâm. Dân tộc là sản phẩm mà suy cho cùng do sự vận động của sản xuất vật chất đưa lại. Vì thế, vấn đề có ý nghĩa đối với hiện tồn được rút ra là, để gia tăng sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ một quốc gia - dân tộc hay giữa các quốc gia - dân tộc với nhau, tất yếu phải gia tăng các mối quan hệ xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống từ kinh tế đến chính trị và các lĩnh vực khác.

Vấn đề thứ hai: Về phương thức hình thành dân tộc

Có thể khẳng định, một trong những phát hiện quan trọng của những người sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về dân tộc là phát hiện ra các phương thức điển hình trong quá trình hình thành dân tộc trên thế giới. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng đề cập đến vấn đề này. Theo đó, ở châu Âu, về cơ bản, dân tộc được hình thành gắn liền với vai trò của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tuyên ngôn cho rằng: “Những địa phương độc lập, liên hệ với nhau hầu như chỉ bởi những quan hệ liên minh và có những lợi ích, luật lệ, chính phủ, thuế quan khác nhau, thì đã được tập hợp lại thành một dân tộc thống nhất, có một chính phủ thống nhất, một luật pháp thống nhất, một lợi ích dân tộc thống nhất mang tính giai cấp và một hàng rào thuế quan thống nhất”(2).

Với các khu vực khác trên thế giới, do những điều kiện lịch sử khác nhau nên các dân tộc ra đời cũng có những đặc thù. Thường thì, ở khu vực châu Á, dân tộc ra đời sớm và gắn liền với vai trò của nhà nước hay ở khu vực Bắc Mỹ, một số quốc gia - dân tộc ra đời do những tác động của quá trình thực dân hóa và hình thành sau các cuộc chiến tranh, xung đột.

Từ quan điểm trên đây, điều có ý nghĩa mà chúng ta có thể rút ra là, các dân tộc ra đời không phải theo một phương thức duy nhất, trái lại, mỗi dân tộc được hình thành theo phương thức nào lại tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử, văn hóa của từng cộng đồng người. Do đó, khi giải quyết vấn đề dân tộc, chính phủ các quốc gia cần đặc biệt quan tâm đến tính đặc thù của mỗi hình thức cộng đồng người để tránh sai lầm chủ quan, áp đặt.

Vấn đề thứ ba: Về quan hệ giữa giai cấp với dân tộc và con đường khắc phục nạn áp bức dân tộc

Kể từ khi giai cấp và sau đó là dân tộc ra đời, giai cấp luôn gắn bó với dân tộc. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản khẳng định sự thật đó. Theo đó, trong mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, có một giai cấp tiên tiến nhất, được dân tộc lựa chọn để đại diện cho dân tộc. Khi giai cấp đó trở nên lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của dân tộc thì dân tộc sẽ lựa chọn một giai cấp khác thay thế.

Lịch sử cho thấy, trong thời kỳ đang lên, giai cấp tư sản đang đóng vai trò là giai cấp cách mạng, chính nó là người đại diện cho dân tộc và dân tộc ấy là dân tộc tư sản. Ngược lại, khi giai cấp này đánh mất vai trò của mình, trở thành lực cản của tiến bộ xã hội, tất yếu dân tộc sẽ nảy sinh nhu cầu lựa chọn một giai cấp khác đại diện cho mình. Trong điều kiện ấy, lợi ích của giai cấp tư sản không còn tương dung với lợi ích của dân tộc. Xét theo ý nghĩa ấy, “giai cấp công nhân không có Tổ quốc” bởi Tổ quốc đó là Tổ quốc của giai cấp tư sản.

Nghiên cứu bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác, Ph.Ăngghen nhận thấy, mặc dù tiến bộ hơn phương thức sản xuất phong kiến, song chế độ tư bản chủ nghĩa không khắc phục được ách áp bức giai cấp cho dù nó được che đậy dưới nhiều hình thức ngày càng tinh vi. Không ai khác, chính giai cấp tư sản là nguyên nhân làm cho phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc, cho dù các học giả tư sản đã cố gắng để biện minh, song rốt cuộc vẫn phải thừa nhận. Đặc biệt, sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản ra phạm vi toàn cầu đã làm xuất hiện một hình thức áp bức mới - áp bức dân tộc kiểu tư bản chủ nghĩa.

Phân tích nguyên nhân của tình trạng áp bức dân tộc trong thời đại tư bản chủ nghĩa, Tuyên ngôn cho thấy, áp bức giai cấp là nguyên nhân dẫn đến áp bức dân tộc. Lý do bởi, để tìm kiếm tư bản, giai cấp tư sản không thể không mở rộng thị trưởng tiêu thụ hàng hóa ra khỏi biên giới quốc gia - dân tộc và việc mở rộng thị trường tư bản chủ nghĩa thường gắn với các cuộc chiến tranh, xâm lược. Theo đó, các hình thức khác nhau của chủ nghĩa thực dân ra đời. Không chỉ các quốc gia tư sản hùng mạnh chèn ép các quốc gia tư sản khác mà còn làm xuất hiện một hình thái áp bức mới - tập thể các quốc gia tư sản thôn tính, nô dịch các dân tộc nhược tiểu.

Thực tế trên đây đã đưa C.Mác, Ph.Ăngghen đi đến một kết luận đặc biệt quan trọng rằng, để thanh toán triệt để nạn áp bức dân tộc cần xóa bỏ triệt để nạn áp bức giai cấp trong từng quốc gia - dân tộc và trên phạm vi toàn thế giới. “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác cũng sẽ bị xóa bỏ”(3).

Tuy nhiên, do vấn đề dân tộc gắn bó chặt chẽ với vấn đề giai cấp bởi cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trên từng địa hạt của từng dân tộc nên cuộc đấu tranh đó đồng thời phải thực hiện cả mục tiêu dân tộc. Về vấn đề này, Tuyên ngôn cho rằng: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là, trước hết giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”(4) và “Khi mà sự đối kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc cũng đồng thời mất theo”(5).

Các quan điểm trên đây là những chỉ dẫn đặc biệt quan trọng cho người cộng sản, nhất là trong bối cảnh mới của thời đại. Chỉ dẫn đó lưu ý rằng, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử toàn thế giới, giai cấp công nhân ở mỗi quốc gia - dân tộc trước hết phải nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc và giải quyết thành công mục tiêu giai cấp và mục tiêu dân tộc, tránh các biểu hiện của chủ nghĩa hư vô dân tộc như V.I.Lênin đã nhiều lần cảnh báo.

Vấn đề thứ tư: Về sự cần thiết phải “trở thành dân tộc” của giai cấp công nhân

Giai cấp và dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ. Dưới tác động của giai cấp và cùng với nó là nhà nước, các dân tộc trên thế giới từng bước ra đời (kể cả ở phương Đông và phương Tây).

Trong mỗi giai đoạn lịch sử, bao giờ cũng có một giai cấp đại diện cho dân tộc. Yêu cầu đặt ra là, giai cấp đó phải đáp ứng được lợi ích không chỉ của giai cấp mình mà còn đáp ứng được lợi ích chân chính của dân tộc. Vì thế, một khi giai cấp cầm quyền trở nên lạc hậu, không đủ sức giải quyết các nhiệm vụ trên thì dân tộc sớm hay muộn, nhanh hay chậm sẽ tự tìm thấy một lực lượng xã hội khác để đại diện cho mình.

Do đó, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử toàn thế giới, giai cấp công nhân ở mỗi nước trước hết “phải tự mình trở thành dân tộc”, trở thành người đại diện xứng đáng cho dân tộc, được dân tộc lựa chọn và ủng hộ. Muốn vậy, các chính đảng cách mạng phải thực hiện thành công chức năng tổ chức giai cấp, đồng thời phải tự hoàn thiện bản thân mình. Cần thực hiện chức năng tổ chức giai cấp bởi nhờ nó, giai cấp công nhân không chỉ duy trì được vai trò tiền phong (cả về phương diện kinh tế - kỹ thuật, cả về phương diện chính trị - xã hội), đủ sức đại diện cho những gì tiến bộ nhất của dân tộc mà còn có khả năng củng cố sức mạnh của bản thân mình với tư cách một giai cấp. Mặt khác, bản thân Đảng cũng phải tự tổ chức mình, tự hoàn thiện mình để xứng đáng là bộ tham mưu của giai cấp, đủ sức lãnh đạo giai cấp và dân tộc nhằm thực hiện các mục tiêu của cách mạng. Do đó, trước hết, giai cấp công nhân phải “giành lấy dân chủ”, “phải tự mình trở thành dân tộc”. Về vấn đề này, Tuyên ngôn khẳng định: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”(6).

Vấn đề thứ năm: Về sự đoàn kết giữa các dân tộc

Lịch sử cho thấy, kể từ khi trở thành giai cấp thống trị, giai cấp tư sản không những không thủ tiêu nạn áp bức giai cấp mà còn củng cố, tăng cường nạn áp bức dân tộc, làm gia tăng xung đột giữa các dân tộc. Thế giới hiện đại ngày nay cũng đang chứng kiến hàng loạt xung đột dân tộc thảm khốc mà người phải chịu trách nhiệm trước hết là giai cấp tư sản.

Ngược lại, giai cấp công nhân và những người cộng sản tuyên bố sẽ thiết lập quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc mà xét đến cùng, để thực hiện mục tiêu đó, phải khắc phục triệt để nạn áp bức giai cấp mà trước hết, giai cấp công nhân “phải tự mình trở thành dân tộc”. Điều này cũng có nghĩa, các dân tộc phải được độc lập, bởi không độc lập và thống nhất trong từng dân tộc thì về phương diện quốc tế, không thể thực hiện được sự đoàn kết giai cấp vô sản và sự hợp tác hòa bình và sự tự giác các dân tộc đó để đạt tới những mục đích chung.

Đã hơn 175 năm kể từ ngày Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được công bố đến nay, nhìn lại toàn cảnh thế giới, chúng ta thấy tư tưởng cơ bản của nó vẫn còn có ý nghĩa thời sự sâu sắc. Hiện thế giới có trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, hệ thống thuộc địa kiểu cũ của CNTB cơ bản bị xóa bỏ, song xung đột giữa các dân tộc vẫn diễn ra, hòa bình, hữu nghị, hợp tác thật sự giữa các dân tộc vẫn là mục tiêu phấn đấu của nhân loại tiến bộ. Nhiều dân tộc, nhất là dân tộc nhỏ yếu dù được độc lập song vẫn bị chèn ép và ngày càng phụ thuộc vào các nước lớn... Nguyên nhân thật sự của thực trạng đó là gì nếu không phải bởi chủ nghĩa đế quốc hiện đang tạm thời chiếm ưu thế, chi phối cục diện thế giới, nhất là sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu. Để thoát khỏi tình trạng trên, không có con đường nào khác ngoài việc khôi phục độc lập, thống nhất thật sự của các dân tộc dưới ngọn cờ của giai cấp công nhân.

2. Giá trị của các luận điểm về vấn đề dân tộc của C.Mác, Ph.Ăngghen đối với cách mạng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Kể từ khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được công bố đến nay, phong trào dân tộc trên thế giới đã trải qua nhiều thăng trầm, song sức sống của Tuyên ngôn và ý nghĩa thời đại của nó vẫn mang tính thời sự. Thế giới chúng ta hiện vẫn tồn tại tình trạng áp bức giai cấp, áp bức dân tộc cho dù hình thức và nội dung đã có nhiều thay đổi. Xu hướng chủ đạo của thời đại vẫn là hòa bình, hợp tác, phát triển song xung đột, chiến tranh vẫn hiện diện. Hơn một năm qua, cuộc xung đột Nga - Ucraina về một khía cạnh nào đó là xung đột giữa Nga với Mỹ và phương Tây xuất phát từ nhiều nguyên nhân rất phức tạp, song trong đó có nguyên nhân phát sinh từ vấn đề dân tộc cũng như cách ứng xử giữa các dân tộc. Cuộc xung đột này cho chúng ta thêm căn cứ để khẳng định giá trị và ý nghĩa thời đại của các quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.

Với Việt Nam, những chỉ dẫn của Tuyên ngôn về vấn đề dân tộc càng có ý nghĩa hơn bởi Việt Nam là quốc gia đa tộc người, đa tôn giáo nên dễ bị các thế lực phản động lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vấn đề củng cố khối đại đoàn kết dân tộc càng khó khăn hơn khi Việt Nam đang trong quá trình phát triển nên chịu nhiều tác động không thuận bởi sự cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, nhất là giữa các nước lớn. Vì thế, giải quyết tốt vấn đề dân tộc trên cả hai tuyến quan hệ, với các quốc gia - dân tộc trên thế giới và trong nội bộ quốc gia - dân tộc là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách được đặt ra hiện nay. Điều đó đòi hỏi cần nghiên cứu và vận dụng sáng tạo quan điểm của C.Mác, Ph.Ăngghen về vấn đề dân tộc trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trong bối cảnh mới. Theo chúng tôi, có thể bao hàm một số định hướng lớn sau đây:

Thứ nhất, tăng cường các liên kết toàn diện trên các lĩnh vực giữa các quốc gia - dân tộc cũng như giữa các tộc người trong nội bộ quốc gia - dân tộc

Cơ sở của định hướng này là ở chỗ, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã cho chúng ta thấy rằng, dưới tác động của sản xuất và đời sống cũng như để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, các hình thức cộng đồng người từ thị tộc cho đến bộ lạc, bộ tộc và dân tộc từng bước ra đời. Theo đó, các mối quan hệ xã hội giữa các thành phần dân cư ngày càng được mở rộng, phát triển và ngược lại chính các mối quan hệ đó lại trở thành cơ sở để duy trì sự tồn tại của các cộng đồng người. Do đó, khi tăng cường các mối quan hệ xã hội sẽ góp phần củng cố khối đoàn kết trong nội bộ từng quốc gia - dân tộc và giữa các quốc gia - dân tộc với nhau.

Mặt khác, thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, mỗi khi có sự gia tăng mối quan hệ giữa các dân tộc, nhân loại lại có thêm diện mạo mới theo hướng phát triển và trường hợp Việt Nam không phải là ngoại lệ. Kể từ ngày đổi mới, theo chủ trương tích cực, chủ động hội nhấp quốc tế, thế và lực của đất nước đã có sự chuyển biến rất tích cực. Ở trong nước, đoàn kết dân tộc được giữ vững, tăng cường, nội lực dân tộc được phát huy... Do đó, tận dụng mọi cơ hội của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trên cơ sở độc lập về đường lối trong bối cảnh mới là phương châm để xây dựng đất nước hùng cường, bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia.

Thứ hai, giải quyết đúng đắn quan hệ giai cấp - dân tộc

Lý luận mácxít về dân tộc nói chung và Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói riêng khẳng định, giữa dân tộc và giai cấp có mối quan hệ rất chặt chẽ. Để giải quyết triệt để tình trạng áp bức dân tộc cần khắc phục triệt để căn nguyên dẫn đến tình trạng đó, đó là nạn áp bức giai cấp. Tuy nhiên, cần lưu ý ý kiến của C.Mác, Ph.Ăngghen, rằng, cuộc đấu tranh giai cấp trước hết diễn ra trên địa hạt dân tộc nên giai cấp công nhân trước hết phải đủ sức đại diện cho dân tộc, phải “tự mình trở thành dân tộc”. Do đó, ngoài mục tiêu giai cấp, nó cần và phải giải quyết mục tiêu dân tộc.

Bài học lịch sử cho thấy, nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân giành lại độc lập cho dân tộc, vững bước tiến lên xây dựng chế độ XHCN. Trong công cuộc đổi mới, việc giải quyết đúng đắn quan hệ giữa giai cấp và dân tộc đã đưa lại những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. “Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đó càng khẳng định rằng, Đảng ta không chỉ đại diện cho giai cấp mà còn là người đại diện chân chính cho dân tộc. Do đó, để tiếp tục đưa đất nước tiến lên cần tiếp tục kiên định mục tiêu giai cấp, đồng thời “Bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”(7) nhằm nâng cao đời sống mọi mặt của người dân, tăng cường nội lực dân tộc, đồng thời giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đẩy nhanh quá trình thực hiện các mục tiêu của CNXH.

Thứ ba, Đảng phải xứng đáng là người đại diện cho lợi ích chân chính của dân tộc

Xứng đáng trở thành người đại diện chân chính cho lợi ích của giai cấp và của dân tộc là mục tiêu, là phương châm hành động của Đảng ta, đồng thời là yêu cầu khách quan nhằm giữ vững và tăng cường vai trò của một chính đảng cộng sản cầm quyền. Để hoàn thành sứ mệnh vẻ vang ấy, nhất thiết Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Muốn vậy, không có sự lựa chọn nào khác, Đảng phải tự chỉnh đốn, tự phát huy nội lực, tự trưởng thành và phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Vấn đề này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập nhiều lần. Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn: để “chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”. Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta cũng khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”(8).

Thứ tư, kiên định nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã thể hiện rõ mục đích cuối cùng của người cộng sản là xóa bỏ mọi hình thức áp bức giữa con người với con người và giữa các dân tộc để con người hoàn thiện chính mình và bộc lộ nhân tính một cách tự do. Tư tưởng rất đúng đắn và hết sức nhân đạo trên đây ngày nay đã được long trọng ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng khác. Bình đẳng dân tộc đã trở thành một quyền dân tộc cơ bản, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thừa nhận. Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù việc bảo đảm các quyền cơ bản của dân tộc đã có những bước tiến dài, song ách áp bức dân tộc vẫn tồn tại, nhiều dân tộc nhỏ yếu vẫn bị các nước lớn chèn ép, do đó cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ nhằm bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản vẫn cần được thúc đẩy.

Với Việt Nam, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng cơ bản của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta nhất quán chủ trương thiết lập quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các dân tộc trên thế giới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”(9).

Trong nội bộ quốc gia - dân tộc, chúng ta nhất quán thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Kiên trì nguyên tắc, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”(10).

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế diễn ra quyết liệt, nhất là giữa các nước lớn, Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Thực tiễn chính trị hiện đại cho thấy, nhiều dân tộc nhỏ yếu bị áp lực trong việc lựa chọn mục tiêu, con đường để phát triển. Nếu thiếu sự độc lập, tự chủ, có thể những nước này sẽ trở thành công cụ của các cường quốc và phải gánh chịu nhiều hệ lụy tiêu cực cho dân tộc mình. Trong bối cảnh đó, thái độ đúng đắn nhất là kiên trì theo đuổi nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp, xung đột trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, các công ước và thỏa thuận quốc tế, đồng thời kiên quyết lên án mọi hành vi sử dụng bạo lực hay đe dọa sử dụng bạo lực trong quan hệ quốc tế, phấn đấu cho một thế giới công bằng, bình đẳng hơn giữa các dân tộc, các quyền dân tộc cơ bản được bảo đảm. Theo đó, Việt Nam “không chọn phe mà chọn công lý, lẽ phải”. Đó là thái độ đúng đắn nhất trong bối cảnh thế giới rất phức tạp hiện nay.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 543 (tháng 5-2023)

Ngày nhận bài: 18-4-2023; Ngày bình duyệt: 08-5-2023; Ngày duyệt đăng: 22-5-2023.

 

(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.14.

(2), (3), (4), (5), (6) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Sđd, tr.603, 624, 611, 624, 623-624.

(7), (8), (9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110, 191, 161, 170.


SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VÀ “LÁ BÀI NHÂN QUYỀN”

     Tiến bộ về khoa học và công nghệ, sẽ xuất hiện nhiều hơn một số xu thế mang tính phổ quát. Bên cạnh những giá trị chung, truyền thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm khác nhau, như xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế lớn trong đổi mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa thông tin; tăng cường nguồn lực tinh hoa cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo, khủng bố, biểu tình, bạo loạn đối với Việt Nam có thể được thực hiện tinh vi hơn.

    Các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt với nhiều phương tiện, cách thức khác nhau hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại số nhằm tận dụng đa dạng các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là các mạng xã hội, xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước. Tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chống phá Việt Nam (như VOA tiếng Việt, RFA, RFI, BBC Việt ngữ, HRW...) để tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, hạ bệ thần tượng, gây nghi kỵ, chia rẽ nội bộ, triệt để khai thác các sự kiện chính trị, những vấn đề nhạy cảm để mở các chiến dịch tuyên truyền chống Việt Nam.

    Đồng thời các hội, nhóm, tổ chức phi chính phủ nước ngoài không có thiện chí với Việt Nam tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo, ra tuyên bố, ban hành một số nghị quyết, báo cáo… vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam; gắn viện trợ nhân đạo với những đòi hỏi về cải thiện dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do báo chí ngôn luận…. Hậu thuẫn tổ chức phi chính phủ thông qua việc triển khai các dự án với những mỹ từ như “thúc đẩy”, “cải thiện nhân quyền”, khích lệ các đối tượng phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài và số đối tượng chống đối trong nước gia tăng hoạt động. Nhiều tổ chức như Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AL), Freedom House (FH)… trong báo cáo hàng năm, một mặt thừa nhận Việt Nam có chuyển biến tích cực nhưng vẫn cố ý đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền Việt Nam.

    Trong thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, danh tiếng và hình ảnh tích cực của một quốc gia ngày càng được coi trọng, thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế bởi hình ảnh quốc gia không chỉ ảnh hưởng đến các mối quan hệ quốc tế mà còn tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như năng lực cạnh tranh của đất nước. Do vậy, việc tạo dựng, quảng bá, nâng cao hình ảnh quốc gia ngày càng được các nước chú trọng như một chiến lược sức mạnh mềm trong môi trường quốc tế nhiều biến đổi.

    Thông qua nền tảng số, bè bạn quốc tế đã biết đến Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, nay trở thành một Việt Nam có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ; quan hệ kinh tế thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ; có vai trò, vị thế ngày càng nổi bật trong khu vực và trên thế giới; là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn quốc tế như ASEAN, ASEM, APEC, WTO..

    Như vậy, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, việc sử dụng các nền tảng công nghệ số để phục vụ tuyên truyền một mặt góp phần thúc đẩy quảng bá về một Việt Nam thân thiện, mến khách, một đất nước được coi là “điểm hẹn của hòa bình”, điểm đến an toàn cho bè bạn quốc tế, mặt khác góp phần phản bác lại các thông tin tuyên truyền sai trái, thù địch đối với Việt Nam cũng như nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam với thế giới.

Đặc thù nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và yêu cầu về cơ chế quản lý phù hợp.

  Trên cơ sở phân tích các đặc thù về công tác nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, bài viết chỉ ra những yêu cầu đặt ra với cơ chế quản lý khoa học lý luận chính trị, đề xuất cơ chế quản lý tài chính phù hợp, góp phần thúc đẩy hoàn thành tốt các nhiệm vụ khoa học của Học viện trong thời gian tới.

1. Đặc thù về công tác nghiên cứu khoa học tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Học viện) là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thường xuyên, toàn diện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; trung tâm quốc gia nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Trải qua hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành, Học viện đi đầu trong nghiên cứu khoa học, lý luận và thực tiễn, góp phần bảo vệ, bổ sung và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, phục vụ việc hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam và các chiến lược, chủ trương, định hướng phát triển đất nước qua các thời kỳ. Là trung tâm quốc gia về nghiên cứu lý luận chính trị, công tác nghiên cứu khoa học của Học viện có nhiều điểm đặc thù so với các trung tâm nghiên cứu khoa học lớn (như: Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) hoặc cơ sở nghiên cứu khoa học khác của cả nước. Điều này được thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:

Một làđặc thù về chức năng, nhiệm vụ của Học viện (theo Quyết định số 145-QĐ/TW ngày 08-8-2018 của Bộ Chính trị)

Về chức năng: Học viện là trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý. Đây là đặc thù mang tính bao trùm, riêng có của Học viện.

Về nhiệm vụ: Nhiệm vụ chủ yếu trong nghiên cứu khoa học của Học viện là: (1) Nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; (2) Tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; (3) Nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử phong trào cách mạng thế giới; (4) Nghiên cứu, xây dựng nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Học viện; (5) Nghiên cứu, đề xuất, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng, Nhà nước trong việc hoạch địch đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng Đảng và Nhà nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị.

Hai làđặc thù xét chọn chủ nhiệm và cơ quan chủ trì thực hiện đề tài, nhiệm vụ khoa học

Hiện nay, việc tuyển chọn chủ nhiệm đề tài, cơ quan chủ trì thực hiện đề tài, nhiệm vụ khoa học được thực hiện thông qua 03 phương thức chủ yếu là: xét tuyển, đấu thầu hoặc giao trực tiếp. Tùy vào quy mô, tính chất, cấp độ của đề tài mà cơ quan quản lý lựa chọn chủ nhiệm và cơ quan chủ trì thực hiện một cách phù hợp, nhằm mục đích đạt kết quả cao nhất trong nghiên cứu. Việc tuyển chọn, xét tuyển, giao trực tiếp cho cá nhân, tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Đối với các nhiệm vụ khoa học cấp quốc gia, việc tuyển chọn, xét tuyển, giao cá nhân, tổ chức thực hiện được thực hiện theo Thông tư số 08/2017/TT-BKHCN ngày 26-6-2017 của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Trong nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, đặc biệt là một số ngành, chuyên ngành đặc thù, là thế mạnh của Học viện, như Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Học viện là nơi tập trung nhiều chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành của cả nước. Do vậy, một số nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đỏi hỏi phải có phương thức xét chọn chủ nhiệm, tổ chức chủ trì thực hiện đặc thù. Để lựa chọn được các tổ chức có đủ năng lực, có uy tín cao thực hiện nhiệm vụ, các cá nhân có trình độ tốt, chuyên môn sâu, nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu làm chủ nhiệm, Học viện ưu tiên thực hiện phương thức giao trực tiếp hoặc chỉ định, hạn chế hình thức đấu thầu. Tuy nhiên, với hình thức giao trực tiếp hay chỉ định cá nhân làm chủ nhiệm, cần đặc biệt lưu ý đến năng lực, kinh nghiệm của cơ quan chủ trì, cá nhân làm chủ nhiệm để phân công đúng người, đúng việc, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của nhiệm vụ khoa học; tránh giao cho các tổ chức, cơ quan và cá nhân không đủ năng lực, kinh nghiệm trong triển khai thực hiện.

Ba là, đặc thù về phương thức quản lý khoa học

Đặc thù về phương thức quản lý khoa học xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học lý luận chính trị của Học viện. Trong đó, có nhiều nội dung nghiên cứu do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp xem xét, quyết định liên quan trực tiếp đến nền tảng tư tưởng của Đảng, bản chất của chế độ chính trị XHCN ở nước ta và tiền đồ, vận mệnh của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, bên cạnh việc lan tỏa kết quả nghiên cứu trong xã hội, đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng trong đời sống, thì một số nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, như: nghiên cứu luận cứ khoa học để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam, nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới, nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật... cần phương thức quản lý đặc biệt để bảo đảm tính mật của nhiều nội dung nghiên cứu.

Bốn là, đặc thù trong chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu

Khác với khoa học, kỹ thuật, công nghệ, việc triển khai chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nói chung, khoa học lý luận chính trị nói riêng luôn có độ trễ về thời gian trong đánh giá tác động của kết quả nghiên cứu đến các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nếu như trong khoa học, kỹ thuật, công nghệ, việc ứng dụng kết quả nghiên cứu có tác động trong thời gian ngắn, thậm chí tác động ngay sau khi ứng dụng. Nhưng đối với kết quả nghiên cứu lý luận chính trị, sự tác động đến đời sống chính trị - xã hội cần một thời gian dài, thậm chí có những luận điểm phải mất 5-10 năm hoặc lâu hơn mới đánh giá được tác động. Do đó, trong quá trình tổ chức đánh giá, nghiệm thu, chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu, cần có một cơ chế đặc thù phù hợp.

Ở một khía cạnh khác, việc công bố các bài báo khoa học quốc tế (được xã hội hóa) của một số ngành khoa học lý luận chính trị, như: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh... gặp rất nhiều khó khăn.

Năm là, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện vừa trực tiếp cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa trực tiếp phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Học viện

Trong thời gian qua, các nghiên cứu khoa học tiêu biểu của Học viện, như: Đề án Nghiên cứu, tổng kết làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về công cuộc đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Chương trình Nghiên cứu các luận cứ khoa học để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam, Đề án Những giải pháp đột phá nhằm thực hiện sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng; Những giải pháp thực hiện sáu nhiệm vụ trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, v.v. đã đóng góp quan trọng vào việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cụ thể là: (i) Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng các Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng và các nghị quyết Trung ương khóa XI, XII, XIII. (ii) Cung cấp các luận cứ khoa học, giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách về xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam; nghiên cứu tổng kết Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020. (iv) Bổ sung, hoàn thiện các chính sách phát triển đất nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, dân tộc, tôn giáo và đối ngoại. (v) Phân tích, đánh giá và lý giải những vấn đề nảy sinh trong quá trình đưa chủ trương, chính sách vào cuộc sống, từ đó đề xuất các kiến nghị về mặt chính sách đối với Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương.

Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện trực tiếp phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học lý luận chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội; đóng góp tích cực vào đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đổi mới công tác tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của Học viện và các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Sáu là, đặc thù trong quản lý tài chính về hoạt động nghiên cứu khoa học

Học viện là cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Do vậy, trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị, Học viện nhận được nhiều nhiệm vụ nghiên cứu khoa học quan trọng do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, như: Chương trình nghiên cứu khoa học quốc gia KX.02/16-20: “Nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin - Cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới”; tuyển chọn, biên dịch, xuất bản một số tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài... hoặc một số nhiệm vụ khoa học đột xuất, đòi hỏi kinh phí phát sinh ngoài dự toán ngân sách nhà nước hằng năm dành cho nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Học viện. Các nhiệm vụ đột xuất này cần triển khai ngay trong thời gian ngắn, song không thể sử dụng kinh phí hằng năm để thuê khoán các chuyên gia, nhà khoa học thực hiện các nội dung cụ thể của nhiệm vụ hoặc tổ chức các hoạt động hội thảo, tọa đàm nhằm thu thập ý kiến chuyên gia, đồng thời cũng không thể chờ đến năm kế tiếp để bổ sung kinh phí. Do vậy, đòi hỏi phải có cơ chế đặc thù trong việc bổ sung kinh phí cho những nhiệm vụ khoa học do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao cho Học viện để triển khai kịp thời, hiệu quả.

2. Những yêu cầu đặt ra đối với cơ chế tài chính phục vụ công tác nghiên cứu khoa học của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Học viện là đơn vị tài chính cấp 1. Các hoạt động quản lý tài chính của Học viện phải tuân theo các quy định pháp luật hiện hành về quản lý tài chính, như: Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Kế toán, kiểm toán và các văn bản quy định khác của các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, do những đặc thù trong nghiên cứu khoa học, Học viện cần một cơ chế đặc thù về tài chính, góp phần thúc đẩy hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Một là, đối với các nhiệm vụ nghiên cứu, làm sáng tỏ những giá trị lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ này, rất nhiều nội dung nghiên cứu không có tư liệu gốc, chủ yếu là tư liệu do Liên Xô dịch và xuất bản trước đây; song điều kiện, hoàn cảnh đã thay đổi khá nhiều so với thời kỳ các nhà kinh điển Mác - Lênin viết các tác phẩm đó. Để nghiên cứu được ý nghĩa, giá trị khoa học của các tác phẩm về chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cơ sở “nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong thời kỳ mới”(1), tất yếu cần có một lực lượng khoa học vừa am hiểu về các lĩnh vực khoa học, vừa có khả năng ngoại ngữ tốt... để góp phần làm rõ những quan điểm, tư tưởng còn nguyên giá trị, những quan điểm, tư tưởng đã bị thực tiễn vượt qua, những quan điểm, tư tưởng trước đây có thể chưa đúng...

Đây là nhiệm vụ lớn, khó khăn, đòi hỏi phải thực hiện trong thời gian dài, lực lượng tham gia phải có năng lực tốt, giàu kinh nghiệm và có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp... Do đó, kinh phí để chi trả, thuê khoán những chuyên gia, nhà khoa học không thể áp dụng như một nhiệm vụ khoa học thông thường mà phải có cơ chế hay quy định đặc thù. Có như vậy, Học viện mới huy động được đông đảo các nhà khoa học uy tín, có năng lực, các chuyên gia hàng đầu tham gia vào những nhiệm vụ trọng tâm của không chỉ của Học viện mà của Đảng, Nhà nước.

Hai là, đối với các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trực tiếp cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, như: Nghiên cứu luận cứ khoa học để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững chế độ chính trị ở Việt Nam; Những giải pháp đột phá nhằm thực hiện hiệu quả 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng; Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật; Những giải pháp thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.... Những nhiệm vụ này yêu cầu rất cao về tính chính trị, tính khoa học của các sản phẩm nghiên cứu. Do đó, trong quá trình thực hiện, cần huy động được đội ngũ chuyên gia đầu ngành, uyên bác trong một số lĩnh vực cụ thể, đồng thời bao quát được một số lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Để huy động được lực lượng chuyên gia này, đòi hỏi phải có mức chi kinh phí (thù lao) tương xứng, không nên áp dụng mức kinh phí thông thường.

Ba là, đối với các nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, như chương trình sưu tầm, nghiên cứu tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối, tiêu biểu. Do nhiều đồng chí lãnh đạo hoạt động bí mật trong thời kỳ đất nước bị thực dân, đế quốc xâm lược, tư liệu lưu trữ rất hiếm. Để hoàn thành các công trình này, các nhà khoa học cần nhiều thời gian, dày công nghiên cứu, kiên trì, tâm huyết với trách nhiệm cao để sưu tầm trong các kho lưu trữ của Đảng và Nhà nước; tư liệu nước ngoài; tư liệu lưu trữ thu được của chính quyền tay sai thực dân, đế quốc... Do đó, phải có nguồn kinh phí để chi trả cho cho các hoạt động này một các tương ứng, phù hợp.

Bốn là, đối với nhiệm vụ nghiên cứu làm sáng tỏ những giá trị lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nhiệm vụ này giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề về giá trị khoa học, giá trị lịch sử và ý nghĩa vô cùng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, cụ thể: khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng và dân tộc; làm rõ nguồn gốc tư tưởng - lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại; làm rõ bản chất và những nội dung căn bản, cốt lõi nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh; làm rõ và khẳng định giá trị và sức sống lâu bền, bất diệt của tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất các giải pháp vận dụng những di sản tư tưởng mà Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc vào thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

Trong thời gian tới, để thực hiện tốt nhiệm vụ này, Học viện cần huy động được đội ngũ đông đảo nhà khoa học, chuyên gia nghiên cứu am hiểu về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này cũng có nghĩa là, cần xây dựng được nguồn kinh phí phù hợp để chi trả tương xứng cho công sức, trí tuệ của các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu tham gia thực hiện nhiệm vụ.

Năm là, đối với nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng các luận cứ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong thời gian qua, Học viện đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao triển khai nhiệm vụ: “Nghiên cứu đề xuất định hướng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và văn học, nghệ thuật” với 10 đề tài nhánh. Bên cạnh đó, sau thành công của Cuộc thi viết chính luận khoa học: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” do Học viện tổ chức, Ban Bí thư quyết định mở rộng quy mô tổ chức cấp toàn quốc và giao Học viện là cơ quan chủ trì, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương là cơ quan chỉ đạo tổ chức cuộc thi. Đây là nhiệm vụ lớn, thường xuyên, liên lục và lâu dài, đòi hỏi phải tập hợp được những nhà khoa học có năng lực, trình độ và kinh nghiệm thực tiễn. Đồng thời, cần có một nguồn kinh phí phù hợp và có cơ chế chi trả cho các hoạt động nghiên cứu một cách phù hợp.

Sáu là, đối với những hoạt động hợp tác nghiên cứu với các đảng cầm quyền, nhất là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong việc hỗ trợ nghiên cứu tiểu sử Cayxỏn Phômvihản; tư tưởng Cayxỏn Phômvihản; biên dịch Hồ Chí Minh toàn tập sang tiếng Lào; nghiên cứu, tuyển chọn, xuất bản tuyển tập Hồ Chí Minh và biên dịch những tác phẩm tiêu biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ tiếng Việt sang một số tiếng nước ngoài (Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Trung Quốc) để giới thiệu ra thế giới... Đây là những nhiệm vụ lớn được thực hiện trong một thời gian dài bởi đội ngũ chuyên gia hàng đầu. Điều này đặt ra yêu cầu cần bố trí, chi trả kinh phí cho các chuyên gia một cách phù hợp, để phát huy được sức mạnh trí tuệ của các nhà khoa học trong các hoạt động nghiên cứu.

Bảy là, giảm tải các thủ tục hành chính trong quản lý, thanh quyết toán tài chính của các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học để phù hợp với đặc thù của các hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện và các quy định pháp luật hiện hành.

Công tác nghiên cứu khoa học của Học viện có nhiều đặc thù so với các trung tâm, cơ sở nghiên cứu khác. Xuất phát từ những đặc thù riêng đó, hoạt động nghiên cứu khoa học của Học viện cần có cơ chế, chính sách riêng trong quản lý, nhất là cơ chế quản lý tài chính, nguồn lực phù hợp, để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 543 (tháng 5-2023)

Ngày nhận bài: 27-4-2023; Ngày bình duyệt: 14-5-2023; Ngày duyệt đăng: 22-5-2023.

 

(1) Ban Bí thư: Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 09-2-2018 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, Hà Nội, 2018, tr.3.


PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

     Kinh tế thị trường là thành quả của văn minh nhân loại, được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng một cách đúng đắn, khách quan, khoa học, sáng tạo, trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh vị trí, vai trò của con người chính là động lực và cũng là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Song, các thế lực thù địch cho rằng, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục; nếu bỏ cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn; kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế của các quốc gia vì giữa chúng có sự mâu thuẫn, đối lập. Nếu ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào râu ông nọ cắm cằm bà kia, ghép nước với lửa, hai củ khoai bỏ trong một rọ... Họ cho rằng, Việt Nam phải chuyển sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tế, các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đây, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Tức là, có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò hướng dẫn, chế định sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác, cụ thể là giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nói cách khác là phát triển kinh tế thị trường để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Bên cạnh tính ưu việt của mô hình này, thì kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những hạn chế cố hữu, đó là: gia tăng tình trạng tham nhũng; bội chi ngân sách; cạnh tranh gay gắt, “cá lớn nuốt cá bé”; mâu thuẫn tổng cung và tổng cầu; gia tăng số lượng doanh nghiệp phá sản; gia tăng tình trạng thất nghiệp, lạm phát; bất bình đẳng, gia tăng khoảng cách giàu nghèo; tài nguyên bị cạn kiệt; môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng… Những hạn chế cố hữu này, bản thân kinh tế thị trường không những không thể tự khắc phục được, mà còn gia tăng theo thời gian. Để khắc phục chúng, không có cách nào khác tốt hơn bằng sự định hướng và can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thông qua đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật và lực lượng vật chất Nhà nước có trong tay để định hướng, điều tiết nền kinh tế. Do vậy, khi thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ khắc phục được những hạn chế cố hữu trên. Đồng thời, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, nhân lên tính nhân văn, nhân đạo, ưu việt, cao cả của chế độ xã hội chủ nghĩa.

    Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch trần bộ mặt phản động của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác./.

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người.

 Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (tháng 6-1993) khẳng định tính phổ quát của nhân quyền, nhưng luôn tôn trọng tính đặc thù về dân tộc, khu vực. Hiện nay, dựa vào những thành tựu hành động trong 30 năm qua, cần phải vượt qua những thách thức để tăng cường hợp tác và tôn trọng, hiểu biết sự khác biệt nhằm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia theo hướng ưu tiên thực thi các điều ước quốc tế và thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia nhằm tiếp tục thúc đẩy, bảo vệ quyền con người.

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người

Việt Nam tôn trọng, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy các định hướng chính của quyền con người - Ảnh: VNP

1. Nội dung, ý nghĩa của Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về quyền con người

Tuyên bố và Chương trình hành động Viên (Vienna Declaration and Programme of Action -VDPA) được thông qua dựa trên sự đồng thuận của đại diện 171 quốc gia tại Hội nghị thế giới lần hai về nhân quyền ngày 25-6 -1993 tại Viên (Áo). Trong Lời mở đầu, Tuyên bố khẳng định: Việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người (hay nhân quyền) là một vấn đề ưu tiên đối với cộng đồng quốc tế; hội nghị này là cơ hội đặc biệt để tiến hành phân tích toàn diện cơ chế và bộ máy quốc tế bảo vệ quyền con người, nhằm nâng cao và thúc đẩy việc tuân thủ đầy đủ hơn các quyền một cách thực sự và tương xứng với tầm quan trọng của chúng. 

Thứ nhất, những nội dung cốt lõi của Tuyên bố

a) Tính phổ quát của nhân quyền, mặc dù phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực: Lời mở đầu nhấn mạnh rằng, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948), cần phải đạt được chuẩn mực chung đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia và là cơ sở để Liên hợp quốc thúc đẩy việc xây dựng các quy chuẩn trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, nhất là trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (năm 1966). Trong khi phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực cũng như bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo, các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, đều phải có nghĩa vụ thúc đẩy, bảo vệ tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người.

b) Nhân quyền không thể chia cắt, phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau: Tuyên bố nhấn mạnh rằng tất cả các quyền con người là bình đẳng về tầm quan trọng và phải theo đuổi mục tiêu chấm dứt sự chia cắt định lượng giữa các quyền dân sự - chính trị và các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa đã được thiết lập trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

c) Đói nghèo và quyền con người: Tuyên bố chỉ rõ mối liên hệ trực tiếp giữa đói nghèo và tôn trọng nhân quyền. Nạn nghèo đói cùng cực và việc bị gạt ra ngoài lề của xã hội cấu thành sự vi phạm nhân phẩm con người. Điều cốt yếu đối với các quốc gia là khuyến khích sự tham gia của những người nghèo nhất vào quá trình hoạch định chính sách ở cộng đồng nơi họ sống và nỗ lực đấu tranh chống nạn nghèo đói cùng cực.

d) Dân chủ, phát triển và nhân quyền: Phần I, Điều 8 Tuyên bố khẳng định dân chủ, sự phát triển và việc tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người phụ thuộc lẫn nhau và bổ sung cho nhau. Dân chủ phải được xây dựng trên nền tảng ý chí được bày tỏ một cách tự do của nhân dân khi lựa chọn hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa cho nước mình, dựa trên sự tham gia đầy đủ của nhân dân vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

đ) Quyền phát triển: Các quốc gia cần hợp tác với nhau trong việc bảo đảm sự phát triển và xóa bỏ những trở ngại cho sự phát triển. Để bảo đảm sự tiến bộ bền vững đòi hỏi phải có những chính sách phát triển có hiệu quả ở cấp độ quốc gia, cũng như những quan hệ kinh tế công bằng và một môi trường kinh tế thuận lợi ở cấp độ quốc tế trong việc thực hiện quyền được phát triển.

e) Thách thức đối với nhân quyền: Đó là việc thải trái phép các chất độc hại, nguy hiểm và rác thải là mối đe dọa nghiêm trọng, tiềm tàng đối với quyền được sống và quyền về sức khỏe của tất cả mọi người; hay một số thành tựu khoa học, nhất là trong y sinh và nhân sinh cũng như trong công nghệ thông tin có thể gây tác động tiêu cực đối với tính chính trực, nhân phẩm, các quyền con người. Các hành động, biện pháp và âm mưu khủng bố dưới mọi hình thức và biểu hiện của nó, cũng như mối liên hệ của nó với hoạt động buôn lậu ma túy ở một số nước là nhằm phá hoại các quyền và tự do cơ bản của con người, đe dọa sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của các quốc gia, làm mất ổn định các chính phủ hợp pháp. Từ đó, Tuyên bố kêu gọi cộng đồng quốc tế cần tiến hành các bước cần thiết để tăng cường sự hợp tác nhằm ngăn chặn và chống các thách thức này.  

Thứ hai, về ý nghĩa của Tuyên bố

Việc thông qua Tuyên bố cho phép làm mới lại cam kết của cộng đồng quốc tế sau Chiến tranh Lạnh để thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người; vạch ra một tầm nhìn mới cho hành động toàn cầu ủng hộ nhân quyền trong thế kỷ tiếp theo. Qua đó, Tuyên bố cung cấp cho cộng đồng quốc tế một khuôn khổ lập kế hoạch, đối thoại và hợp tác mới toàn diện để thúc đẩy, bảo vệ các quyền con người với sự tham gia của các bên liên quan ở tất cả các cấp độ quốc tế, quốc gia và địa phương. Tuyên bố là cơ sở để thành lập Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền theo Nghị quyết 48/121 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (tháng 12-1993).  

2. Ba mươi năm hành động vì quyền con người trên thế giới và ở Việt Nam

Dựa vào Tuyên bố, từ năm 1993 đến nay, Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền đưa ra ý kiến độc lập và có thẩm quyền đối với các vấn đề về quyền con người trên thế giới; sẵn sàng can thiệp trong các tình huống khủng hoảng, hỗ trợ bảo vệ các quyền con người và giúp người dân tiến lại gần hơn với các quyền con người. Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giám sát và đào tạo, Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền phối hợp với các định chế quốc tế, khu vực và các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã góp phần tích cực vào các cải cách luật pháp và chính sách để thúc đẩy nhân quyền.

Các thành tựu cơ bản có thể kể, như: các quyền con người là thiết yếu để duy trì một thế giới hòa bình, an ninh và phát triển; các tiêu chuẩn mới về quyền con người được dựa trên Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (năm 1948) và việc áp dụng phổ quát các công cụ quốc tế về quyền con người đã được cải thiện đáng kể; các hình thức bảo vệ khác được luật quốc tế quy định hiện nay mở rộng ra đối với trẻ em, phụ nữ, nạn nhân bị tra tấn, người khuyết tật và các tổ chức khu vực. Trong trường hợp xảy ra vi phạm, các cá nhân có quyền khiếu nại đến các cơ quan được thành lập theo văn kiện quốc tế về nhân quyền; một khuôn khổ quốc tế được triển khai, như công nhận những khó khăn mà những người di cư và gia đình của họ, cũng như những người dân tại chỗ và dân tộc thiểu số phải đối mặt, đặc biệt là bảo đảm quyền không bị phân biệt đối xử;...

Với chủ trương sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển, Việt Nam đã tăng cường đối thoại, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, trên cơ sở bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết những đặc thù riêng của nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu mà Tuyên bố và Chương trình hành động Viên đề ra, trên cơ sở đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Việc Việt Nam liên tiếp trúng cử Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2001-2003 và Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc các nhiệm kỳ 2014-2016, 2023-2025 với số phiếu cao chính là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với các thành tựu trong công cuộc đổi mới toàn diện nói chung, chính sách, nỗ lực và kết quả tích cực đạt được về nhân quyền, trong đó có việc thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nói riêng.

Phương châm của Việt Nam trong 30 năm thực hiện Tuyên bố cũng như các điều ước quốc tế về nhân quyền là: “Tôn trọng và hiểu biết. Đối thoại và hợp tác. Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”(1).

Với những đóng góp vào Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về nhân quyền, nên mới đây, khi chúc mừng Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam đã cho đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam thể hiện những nỗ lực cụ thể trong việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và chính trị phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người(2). Thông qua việc thực hiện Tuyên bố này và các điều ước quốc tế khác về nhân quyền, Việt Nam đã đúc kết một số kinh nghiệm về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người: 

Thứ nhất, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện, thúc đẩy các định hướng chính của quyền con người. Đó là mối quan hệ đúng đắn giữa dân chủ, phát triển và nhân quyền, xóa đói giảm nghèo bền vững, phát triển bao trùm để không bỏ lại ai ở phía sau, theo phương châm: Tôn trọng và hiểu biết, đối thoại và hợp tác nhằm bảo đảm tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người.

Thứ hai, đa dạng hóa các cơ chế để bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền con người, nhất là quyền của các nhóm yếu thế, gồm: (a) Cơ chế mang tính nhà nước: nghị viện, hội đồng địa phương, các cơ quan hành pháp và tư pháp; (b) Cơ chế  mang tính xã hội: Các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp,... (c) Cơ chế thông qua gia đình và các thiết chế tự quản (hương ước, luật tục,...) để bảo đảm nhân quyền trong đời sống hằng ngày;...

Thứ ba, đề cao chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và tôn trọng, hiểu biết những đặc thù riêng của nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Trong quá trình đó, cần tăng cường thực hiện phương thức trong đối thoại có đấu tranh để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, nhân quyền; và ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi nước thành viên.

3. Tăng cường hợp tác và tôn trọng khác biệt để thúc đẩy quyền con người

Hiện nay, những thành tựu của cộng đồng quốc tế và Việt Nam trong việc thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nói riêng và các điều ước quốc tế về nhân quyền nói chung, đang vấp phải những thách thức rất gay gắt như: chiến tranh, xung đột, bạo lực, đói nghèo, bất bình đẳng và thiếu công bằng, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường, các nguy cơ về an ninh lương thực, an ninh nguồn nước hay những hệ quả của đại dịch Covid -19, suy thoái kinh tế toàn cầu,...

Trước những thách thức trên, Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã bày tỏ lo ngại về tình trạng suy giảm của gắn kết và lòng tin xã hội; từ đó ông đề nghị cộng đồng quốc tế quan tâm hơn nữa đến bảo đảm quyền con người trong bối cảnh tác động của các vấn đề toàn cầu như di cư, biến đổi khí hậu, lạm dụng công nghệ, nạn tin giả,... Cao ủy Nhân quyền thì kêu gọi các nước giảm căng thẳng, tăng cường hợp tác đa khu vực và đoàn kết để xử lý những thách thức hiện nay(3).

Để đẩy mạnh thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người khác, Việt Nam đưa ra sáng kiến về việc Kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Nhân quyền và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Viên nhằm khẳng định lại những mục tiêu và giá trị to lớn, bao trùm của các tuyên ngôn và tuyên bố trên và cam kết chung của cộng đồng quốc tế vì toàn thể nhân loại(4). Để thực thi sáng kiến này, Việt Nam đã và đang triển khai một số phương hướng sau:

Một là, tăng cường hợp tác quốc tế và ưu tiên thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người trong hệ thống pháp luật quốc gia

Từ kinh nghiệm của mình, cùng với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm chung về quyền con người, được thể hiện trên hai vấn đề: Tầm quan trọng không gì thay thế của nhân quyền đối với mỗi người, mỗi quốc gia - dân tộc, cộng đồng quốc tế và những giá trị phổ quát của quyền con người. Chính vì thế, phải tăng cường hợp tác trong tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người để có thể kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo của mỗi quốc gia và khu vực. Trong hợp tác quốc tế về quyền con người, xu thế chung là vừa hợp tác, vừa đấu tranh, để gìn giữ quan hệ tương tác thường xuyên và lợi ích đan xen trong một thế giới ngày càng đa dạng; trong đó không một nước nào có quyền áp đặt cách tiếp cận quyền con người theo mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác.

Khi tham gia thực hiện Tuyên bố và Chương trình hành động Viên cũng như các điều ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam chủ động thực hiện những nghĩa vụ của một quốc gia thành viên của điều ước, kể cả cơ chế giám sát do điều ước quy định. Việt Nam hiện đã tham gia 08 công ước và 02 nghị định thư về quyền con người; đã và đang nội luật hóa nội dung của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập vào quá trình xây dựng, thực thi các văn bản pháp luật trong nước.

Để nội luật hóa, một mặt, phải tuân thủ, tôn trọng các nguyên tắc, chuẩn mực, thực hiện các cam kết quốc tế; mặt khác, cần xây dựng các quy phạm pháp luật bảo đảm quyền con người phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể của đất nước. Luật Điều ước quốc tế năm 2016, Khoản 1, Điều 6 quy định: Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp(5). Qua đó cho thấy, Việt Nam luôn tôn trọng và dành vị trí ưu tiên của các điều ước quốc tế về quyền con người mà mình đã ký kết trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Hai là, tôn trọng, hiểu biết sự khác biệt của nhau và chia sẻ trong hợp tác vì quyền con người trên thế giới

Do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa, dẫn đến cách tiếp cận về quyền con người ở mỗi quốc gia, khu vực có sự khác nhau, vì vậy, cần có sự tôn trọng, hiểu biết và chia sẻ trong hợp tác vì quyền con người trên thế giới. Chẳng hạn:

Các nước phương Tây, chủ yếu là nhóm G7 và các nước thuộc khu vực Tây Âu, Bắc Mỹ, đều thừa nhận tất cả các nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền các nhóm xã hội (quyền tập thể), nhưng họ thường theo đuổi việc chia cắt các quyền dân sự, chính trị với các nhóm quyền khác. Đối với Việt Nam và các nước đang phát triển khác, quan điểm nhất quán là tiếp cận một cách toàn diện, bình đẳng tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tập thể trong một tổng thể hài hòa không xem nhẹ hay đề cao bất cứ quyền nào, đúng như sự nhấn mạnh của Tuyên bố và Chương trình hành động Viên về tính bình đẳng, không thể chia cắt, phụ thuộc, liên hệ lẫn nhau của tất cả các quyền con người.

Đối với quyền dân tộc tự quyết, các nước đều thừa nhận nội dung đã quy định trong Điều 1 của hai Công ước về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966. Việt Nam chủ trương bảo vệ quyền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị thống nhất với bảo đảm quyền của tất cả người dân và của các nhóm (cộng đồng) xã hội; trong đó có các cộng đồng dân tộc thiểu số và tôn giáo. Do đó, không thể tách rời việc bảo đảm quyền của người dân và của các cộng đồng xã hội với quyền dân tộc tự quyết, hay ngược lại.

Về quan hệ giữa tự do cá nhân với việc bảo vệ cộng đồng, các nước phương Tây cho rằng, trong vấn đề quyền con người thì chủ quyền quốc gia là một chủ quyền hạn chế; thậm chí có quan điểm tuyệt đối hóa quyền tự do cá nhân đến mức cao hơn hoặc đối lập với quyền của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Về vấn đề này, Việt Nam chủ trương, quyền gắn liền với nghĩa vụ; quyền và nghĩa vụ cá nhân phải gắn liền và nằm trong quyền, nghĩa vụ của cộng đồng, của quốc gia, dân tộc. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa quyền cá nhân với quyền của cộng đồng, quốc gia - dân tộc thì quyền của cộng đồng, quốc gia - dân tộc được đề cao hơn.

Về tôn trọng, chia sẻ hiểu biết và cả bảo vệ quyền, nghĩa vụ của các chủ thể ký kết các Điều ước quốc tế về quyền con người: Chẳng hạn đối với Việt Nam, trong nhiều năm qua, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, các thế lực cực đoan trong chính giới ở một số nước ở phương Tây, các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài... thông qua việc ra bản báo cáo phúc trình hằng năm về nhân quyền, thường xuyên vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam. Trong trường hợp có sự phản biện, phê phán như vậy, cơ quan giám sát của các điều ước quốc tế cần có sự tôn trọng, chia sẻ hiểu biết và cả bảo vệ một cách khách quan quyền, nghĩa vụ của các quốc gia thành viên với tư cách là chủ thể ký kết các điều ước này. 

Ba là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy, bảo vệ quyền con người

Thực hiện có hiệu quả các chương trình, chính sách quốc gia liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các quyền như: quyền thoát nghèo; quyền về sinh kế, việc làm, thu nhập; quyền sở hữu; quyền được chăm sóc y tế, sức khỏe; quyền được học tập, giáo dục; quyền được tham gia vào đời sống văn hóa, trước hết là của các nhóm yếu thế trong xã hội.

Khuyến khích đa dạng hóa nội dung, hình thức và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quyền con người cho mọi đối tượng trong xã hội, đặc biệt là cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về những thành tựu trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trên các diễn đàn quốc tế.

Chủ động hợp tác quốc tế nhằm thực hiện các chính sách, pháp luật về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người. Tăng cường đối thoại, trao đổi, hợp tác để nâng cao sự hiểu biết, đồng thuận, từng bước thu hẹp bất đồng và sự khác biệt giữa Việt Nam với các đối tác trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ quan điểm, lập trường, pháp luật, lợi ích quốc gia - dân tộc về quyền con người của Việt Nam.

Phối hợp với các nước thành viên, tiếp tục thực hiện hiệu quả việc lồng ghép giới trong chiến lược về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050, phù hợp với mục tiêu cam kết của Thủ tướng Chính phủ tại COP26 về đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, trong khuôn khổ “Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu” theo Quyết định số 888/2022/QĐ-TTg, ngày 25-7-2022 của Thủ tướng Chính phủ. Các phương hướng cụ thể gồm:

(1) Vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế về quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu được thể chế trong Hiến pháp năm 2013 là tối thượng; trong văn bản pháp luật nếu chưa có quy định hoặc quy định chưa phù hợp với pháp luật quốc tế thì ưu tiên bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với pháp luật quốc tế.

(2) Xác định nội dung vận dụng cơ sở pháp lý quốc tế và thực hiện hợp tác với các nước thành viên Hội đồng Nhân quyền về quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu, gồm: (a) Tăng cường nhận thức của các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ; (b) Xây dựng, thực hiện thể chế trên cơ sở cách tiếp cận giới; (c) Bảo đảm nguồn lực thích đáng; (d) Bảo đảm môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa có tính đổi mới và cầu thị.

(3) Thực hiện việc thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua: (a) Đẩy mạnh chuyển đổi các chuẩn mực văn hóa - xã hội truyền thống sang hướng bình đẳng giới và bao trùm, chẳng hạn tuyên truyền  và thực hiện lồng ghép bình đẳng giới vào các khóa đào tạo, tập huấn cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Trung ương và địa phương. (b) Quyền tham chính bình đẳng của nữ giới cần được đưa vào tất cả các lĩnh vực, giai đoạn của chính sách cùng với việc xúc tiến xây dựng đạo luật thúc đẩy biện pháp đối phó với biến đổi khí hậu phù hợp với yêu cầu về giới và sức khỏe. (c) Xây dựng, thực hiện cơ chế giải trình để bảo đảm thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu tại các cơ quan, tổ chức trong việc thúc đẩy thực hiện đại diện của phụ nữ trong công tác lãnh đạo và quản lý; có giải pháp đột phá khi hoạt động của cơ chế này chưa hiệu quả. (d) Cần xem xét một cách nghiêm túc các chính sách, biện pháp thực hiện trên thực tế đối với Luật Bình đẳng giới, đặc biệt là về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng lý luận chính trị, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ nữ.

(4) Tăng cường chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam với các đối tác quốc tế và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trước hết là các nước thành viên thuộc Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, về nỗ lực của Việt Nam trong quá trình thúc đẩy, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ khi ứng phó với biến đổi khí hậu.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 544 (tháng 6-2023)

Ngày nhận bài: 13-3-2023; Ngày bình duyệt: 20-6-2023; Ngày duyệt đăng: 26-6-2023.

 

(1) Tố Uyên - Văn Tuấn: Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang phát biểu tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, https://www.vietnamplus.vn/, ngày 27-2-2023.

(2) PV: Khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Việt Nam, https://www.xaydungdang.org.vn/, ngày 13-12-2022.

(3), (4) Hải Minh: Phương châm tham gia Hội đồng Nhân quyền của Việt Nam, https://baochinhphu.vn/,

ngày 27-2-2023.

(5) Xem: Luật Điều ước quốc tế năm 2016, https://thuvienphapluat.vn/