Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỐI TÁC - ĐỐI TƯỢNG VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NƯỚC TA!
NHẬN THỨC TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ, CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC!
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII
Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu, được xây
đắp từ truyền thống yêu nước của dân tộc ta, từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng
ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân và từ những
cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Giá trị ấy được lưu giữ, kế
thừa và phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vừa là yêu
cầu khách quan, vừa là tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội.
Trong gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt
của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ,
hiệu quả của các ban, ngành ở Trung ương và các địa phương, sự yêu thương, đùm
bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất
cách mạng, không ngừng lớn mạnh, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành và chiến thắng
vẻ vang. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian
khổ, hy sinh, phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của
kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành, tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng
cách mạng, có kỷ luật nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm,
quyết chiến, quyết thắng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Các thế hệ cán bộ,
chiến sĩ đã lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử dựng nước
và giữ nước của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời
khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân,
sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng”; xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân khen tặng,
xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến
đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, là lực lượng nòng cốt cùng
toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ
nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội
luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi
âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Thực hiện sáng tạo,
hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế
- quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Tích cực tham
gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn
mới, xây dựng địa bàn an toàn, xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa
ở cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số và biên giới, hải đảo. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp
củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường “thế trận lòng
dân”, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân. Quân đội luôn là lực lượng nòng
cốt, xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ,
cứu nạn, giải quyết hậu quả chiến tranh và thực hiện tốt chính sách hậu phương
quân đội; đồng thời, thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc
phòng, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần
nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến
động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát
triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế
giới đa cực, đa trung tâm hình thành rõ nét hơn, cạnh tranh chiến lược giữa các
nước lớn ngày càng quyết liệt, thậm chí dẫn đến đối đầu nhau. Các nước lớn tăng
cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa
hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước
khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước
vừa và nhỏ. Các điểm “nóng” về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan
rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian
chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như
bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an
ninh phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi
trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ
quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều
nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không.
Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh
những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất
hiện những vấn đề phức tạp mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có
mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Trên Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một
số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn các nhân tố gây mất ổn định;
tranh chấp chủ quyền biển, đảo, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng gia
tăng; xử lý quan hệ quốc tế, nhất là với các nước lớn đứng trước nhiều khó
khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong
nước và nước ngoài câu kết với nhau tăng cường chống phá công khai và trực
diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ xây dựng Quân
đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự bổ sung, phát triển và ngày càng
khó khăn, phức tạp hơn; tỷ lệ cán bộ được rèn luyện qua chiến đấu ngày càng
giảm.
Trong bối cảnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân ta có sự phát triển và đặt ra những yêu cầu mới rất cao,
có sự đan xen giữa thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn. Quân đội luôn
nhận thức sâu sắc vai trò nòng cốt của mình trong thực hiện nhiệm vụ quốc
phòng, an ninh và coi đó là nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”; đồng thời, ý
thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao
phó. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII
về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, để hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân cần nỗ lực phấn
đấu, tiếp tục phát huy hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung thực hiện
tốt một số nội dung cơ bản sau:
Một là, tiếp tục thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu với Đảng,
Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.
Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Quân đội, xuất phát và dựa chắc
trên quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”,
“giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong thời
gian tới, Quân đội cần chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình thế giới, khu
vực và trong nước, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương,
đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ, không để
mâu thuẫn, tranh chấp phát triển thành xung đột vũ trang, chiến tranh. Chú
trọng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải
pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột
“từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; nhất quán thực hiện chủ
trương: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống
nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt
Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
trong quan hệ quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh
chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc
tế.
Cùng với đó, Quân đội cần tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, phương
án tác chiến, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, “bảo vệ vững chắc
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà
nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân
tộc”. Nâng cao năng lực tác chiến chiến tranh không gian mạng, chiến tranh
thông tin; phối hợp triển khai giải pháp tổng thể bảo đảm an ninh, an toàn
thông tin. Đặc biệt, chú trọng bổ sung, kiện toàn các cơ chế, quy định, nhất là
về sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an, các ban, ngành, đoàn
thể ở Trung ương và các địa phương trong xử lý các tình huống bảo vệ Tổ quốc.
Sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền
thống; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và làm tốt công tác
cứu hộ, cứu nạn. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình
quan trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị,
văn hóa, đối ngoại của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực
tiễn, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận về quốc phòng, nghệ thuật chiến
tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn
dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân,
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần
xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trên địa bàn cả nước. Đó là nền quốc
phòng với tiềm lực, sức mạnh tổng hợp, được cấu thành trên cơ sở nguồn lực quốc
gia và trong nhân dân, từ nhân dân, mang bản chất hòa bình và tự vệ, không nhằm
đe dọa bất cứ quốc gia nào. Đồng thời, là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện,
độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, do toàn dân tiến hành
xây dựng, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý
tập trung, thống nhất của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.
Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, Quân đội tiếp
tục phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương
triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh
của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Tây Bắc,
Tây Nam Bộ và vùng biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Trong đó, trọng tâm là xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân,
đặc biệt là gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở. Chú
trọng xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ
liên hoàn, vững chắc trên từng địa bàn và phạm vi cả nước, bảo đảm cho các địa
phương xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời
chiến. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang
bị quốc phòng, công trình phòng thủ, công trình chiến đấu, hệ thống phòng thủ
dân sự đồng bộ, thống nhất; trong đó, ưu tiên các tuyến biên giới, biển, đảo,
các địa bàn chiến lược, trọng điểm...
Tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi
dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, bảo đảm phù hợp với từng đối tượng, nhằm
tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhân
dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Chú
trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về đối tác và đối tượng; nắm
vững đường lối, quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới. Tiếp tục phát huy vai trò, tính hiệu quả của các đơn vị kinh tế - quốc
phòng và doanh nghiệp quân đội để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội, đối ngoại với củng cố, tăng cường quốc phòng, nhất là ở những địa
bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu kinh tế trọng
điểm.
Ba là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất
lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân.
Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao
chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Tiếp tục triển khai thực
hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới.
Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, bản chất cách mạng, truyền thống, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; đối
tác, đối tượng; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Kịp thời khắc phục
những nhận thức, tư tưởng lệch lạc, chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng cho cán
bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành
với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao,
sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài
năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt
cuộc vận động đó với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc
bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Qua đó, làm sâu sắc
thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn
sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội,
nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng. Triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân
đội; đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, bảo đảm sát chủ trương, đường lối
của Đảng, thực tiễn hoạt động của bộ đội và yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc
phòng. Chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, công đoàn và hội đồng
quân nhân vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ
quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Bốn là, đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng
cốt cho toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức
mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc
phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc
quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây
dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng
tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân
đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được kết quả quan trọng, bảo đảm sự cân
đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị,
giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.
Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ
huy các cấp cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện
quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ
Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương,
“Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp
theo”. Tổ chức, biên chế toàn quân phải phù hợp với đường lối quốc phòng toàn
dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững
và phát huy truyền thống của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ
thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh,
gọn, mạnh”, có cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần lực lượng;
giảm đầu mối trung gian và đơn vị bảo đảm, phục vụ; tiếp tục tổ chức một số đơn
vị dự bị chiến lược theo quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;
xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững
mạnh, rộng khắp, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân
hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Lấy xây dựng
Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức
mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực
hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động
sản xuất”, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Quá trình điều chỉnh tổ chức, hiện đại hóa Quân đội phải đặt
dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập
trung, thống nhất của Nhà nước; biện pháp thực hiện phải toàn diện, đồng bộ,
phù hợp với thực tế; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và
công tác chính sách.
Năm là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực,
tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội.
Toàn quân tập trung quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các
quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã xác định trong Nghị quyết số
08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, của Bộ Chính trị, về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp
quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở tiềm lực, điều kiện
kinh tế của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện
thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng đã xác định theo lộ trình
đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, đối với những lĩnh vực công
nghiệp quốc phòng có thế mạnh, đã làm chủ về công nghệ, cần tập trung ưu tiên
nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ
thuật hiện đại, trọng tâm là vũ khí chiến lược, có sức răn đe, tăng cường khả
năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tác chiến không gian mạng.
Sáu là, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh công tác đối
ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt,
hiệu quả”, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nâng cao uy tín, vị thế của
Quân đội và đất nước trên trường quốc tế.
Theo đó, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm cao nhất lợi ích
quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp
quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kịp thời phát hiện,
ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ
xa”. Tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng,
bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy đa dạng hóa đối tác hợp tác về kỹ thuật quân sự và
thương mại quân sự. Tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình
của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, khắc
phục hậu quả chiến tranh. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách
thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.
Bảy là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân
đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, lãnh đạo toàn quân hoàn thành
tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
Quán triệt quan điểm chỉ đạo “xây dựng Đảng là then chốt”, Nghị quyết
Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI chỉ rõ: Nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu,
tiêu biểu. Thời gian tới, toàn quân tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị
quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần
thứ XI. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với
thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục
thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày
8-7-2016, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân”.
Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối
với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững
mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo
đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu
của cấp ủy, tổ chức đảng. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ,
đảng viên và tạo được sự lan tỏa trong toàn quân, toàn xã hội; xây dựng đội ngũ
cán bộ, đảng viên có đức, có tài, có uy tín cao, gương mẫu, “dám nghĩ, dám nói,
dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó
khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.
BT
PHONG TRÀO “BA ĐẢM ĐANG”
Năm 1965, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước, đế quốc Mỹ mở
rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, ở miền nam chúng tăng hàng vạn lính Mỹ
và vũ khí, mở rộng chiến tranh ra miền bắc.
Với khẩu hiệu “Tất cả vì miền nam ruột thịt”, toàn miền bắc đã dấy lên
một phong trào tình nguyện vào miền nam chống Mỹ, cứu nước; đồng thời vừa tích
cực lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ.
Khắp nơi, thanh niên nô nức lên đường tòng quân, xung phong đi chiến
đấu. Phụ nữ các địa phương đã hăng hái làm đơn tình nguyện gửi Ủy ban nhân dân,
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam... xin được làm thêm những công việc của nam giới
để sẵn sàng thay thế anh em đi chiến đấu.
Đứng trước khí thế cách mạng đó, ngày 18/3/1965, Trung ương Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào phụ nữ Ba đảm nhiệm với 3 nội dung
chính:
1. Đảm nhiệm sản xuất thay chồng con đi chiến đấu
2. Đảm nhiệm gia đình để chồng con yên tâm công tác
3. Đảm nhiệm sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết
Ngày 22/3/1965, Ban Thường vụ Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
ra Chỉ thị số 03/CT về mở cuộc vận động phong trào “Ba đảm nhiệm” trong phụ nữ
tăng cường đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Nội dung gồm 3 phần:
1. Tình hình nhiệm vụ mới, tăng cường đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến
đấu. Cụ thể là: Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước: Đế quốc Mỹ mở
rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, ở miền nam chúng tăng hàng vạn lính Mỹ
và vũ khí, mở rộng chiến tranh ra miền bắc. Vì vậy, nhiệm vụ cấp thiết của Hội
Liên hiệp phụ nữ lúc này là:
“Giáo dục, động viên toàn thể phụ nữ nhận rõ tình hình nhiệm vụ mới đó,
thấy rõ trách nhiệm để có một sự chuyển biến mới về tư tưởng, tình cảm cũng như
trong hành động, phát huy truyền thống và lực lượng cách mạng tiềm năng của
phong trào phụ nữ nước ta, trong đó quan trọng nhất là chị em phụ nữ nông dân
ra sức nỗ lực nâng cao sản xuất, tích cực phục vụ chiến đấu và tham gia chiến
đấu”.
2. Mục đích, nội dung phong trào “ba đảm nhiệm”: Giáo dục, động viên mọi
người phụ nữ nhận rõ tình hình mới, nhận rõ trách nhiệm để quyết tâm đẩy mạnh
sản xuất và chiến đấu. Có 3 nội dung chính:
- Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu.
- Đảm nhiệm gia đình, khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu.
- Đảm nhiệm chiến đấu khi cần thiết.
3. Kế hoạch chỉ đạo:
- Trước hết cần tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong phụ nữ và nhân dân
về mục đích, ý nghĩa, nội dung của cuộc vận động “3 đảm nhiệm”;
- Phát động phong trào chủ yếu là ở cấp cơ sở, tránh làm rầm rộ và tập
trung đông;
- Việc chỉ đạo thường xuyên của cấp Hội tỉnh phải nắm chắc trọng điểm và
phát hiện, sử dụng điển hình.
Cũng trong tháng 3/1965, sau Chỉ thị 03 của Ban Thường trực Trung ương
Hội Liên hiệp phụ nữ về vận động phong trào “Ba đảm nhiệm”, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã chỉ thị cho Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam nên sửa tên phong trào “Ba
đảm nhiệm” thành phong trào “Ba đảm đang”.
Nội dung của phong trào “Ba đảm đang”:
1. Đảm đang sản xuất và công tác thay thế nam giới đi chiến đấu.
2. Đảm đang gia đình, động viên chồng con, anh em đi chiến đấu.
3. Đảm đang phục vụ chiến đấu và chiến đấu.
Đến tháng 5/1965 (sau hơn 2 tháng kể từ khi phát động), toàn miền bắc đã
có 1 triệu 70 vạn phụ nữ đăng ký “Ba đảm đang” lập thành tích xuất sắc.
Ngày 3/12/1965, Thành hội phụ nữ Hà Nội mở Đại hội “Ba đảm đang”. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại Đại hội. Người đã biểu dương truyền
thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam: Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng,
thanh niên Việt Nam là thanh niên anh hùng, phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng.
Hai nghìn năm trước đây ta đã có các nữ anh hùng: Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Trong
cách mạng giải phóng dân tộc, trong kháng chiến chống Pháp trước kia và trong
kháng chiến chống Mỹ ngày nay, ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ. Trên thế
giới chưa có nơi nào phụ nữ làm Phó Tổng tư lệnh như ở miền nam nước ta. Thi
đua với phụ nữ miền nam là đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, không sợ
gian khổ, không sợ hy sinh. Khó khăn đến mấy ta cũng vượt qua được và nhất định
chúng ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.
Sau một năm phát động phong trào “Ba đảm đang”, khí thế cách mạng của
quần chúng phụ nữ trong các ngành, khắp các địa phương diễn ra sôi nổi và rộng
khắp. Để tổng kết và tiếp tục phát động phong trào, ngày 19/2/1966, Ban Chấp
hành Trung ương Hội ra Chỉ thị trong đó có nội dung thống nhất nội dung “năm
tốt” trong phong trào “Ba đảm đang”, đẩy mạnh cuộc vận động “Ba đảm đang” thành
phong trào quần chúng lớn mạnh duy nhất của quần chúng phụ nữ và đẩy mạnh phong
trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền bắc học tập và thi đua với miền nam trong sự
nghiệp chống Mỹ cứu nước.
* Nguồn tư liệu: Biên niên Lịch sử Hội phụ nữ Việt Nam, tập 1
(1930-1976); Bài viết "Phong trào phụ nữ “ba đảm đang” - một mốc son trong
lịch sử phụ nữ Việt Nam", Hà Thị Khiết, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Nam
BT
QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN!
TD10-CẢNH GIÁC VỚI UY TÍN GIẢ - TẤM BÌNH PHONG “CHUI SÂU, LEO CAO”
Uy tín là tiền đề và điều kiện bảo đảm chắc chắn cho sự thành công trong
hoạt động thực tiễn của các tập thể, cá nhân nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý nói riêng. Tuy nhiên, thực tế đã và đang xuất hiện loại uy tín giả
rất nguy hại, nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết nội bộ, che đậy bản chất và là
bình phong để những kẻ cơ hội “chui sâu, leo cao”. Nhận diện những biểu hiện,
thủ đoạn và có giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, đấu tranh với loại uy tín giả
là điều cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong xây dựng đội ngũ
cán bộ của nhiệm kỳ mới hiện nay.
Quyền uy và “dân chủ giả hiệu”
Trong công tác lãnh đạo, quản lý, uy tín có vai trò rất lớn đối với hoạt
động thực tiễn của người lãnh đạo. Người lãnh đạo có uy tín càng cao thì ảnh
hưởng của người đó với tổ chức càng lớn, tính chất ám thị và thuyết phục đối
với những người dưới quyền càng tăng lên. Nếu người lãnh đạo không có uy tín
thì mọi lời nói và mệnh lệnh sẽ không được cấp dưới thực hiện một cách có hiệu
quả. Lúc sinh thời, lãnh tụ Lênin cho rằng: Điều quyết định thành công trong
việc lãnh đạo quần chúng không phải bởi sức mạnh của quyền hành mà là sức mạnh
của uy tín, sức mạnh của nghị lực, của sự hiểu biết phong phú, của tài năng
xuất sắc...
Nói một cách khái quát thì uy tín được hình thành từ 3 yếu tố chính:
Phẩm chất, năng lực và phong cách của người lãnh đạo. Nó được thể hiện và đo
lường ở “lòng dân”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Người lãnh đạo
chỉ có uy tín khi được dân tin, dân phục, dân yêu.
Trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành hiện
nay cho thấy, bên cạnh những cán bộ có uy tín đích thực còn có cán bộ cố tình
tạo ra cho mình loại uy tín giả danh (giả hiệu). Loại uy tín này được xây dựng
không dựa trên những phẩm chất, năng lực và giá trị xã hội đích thực của người
lãnh đạo, quản lý mà được chủ thể tạo nên bằng nhiều thủ đoạn. Theo Đại tá, PGS
TS Đỗ Duy Môn, nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý học Quân sự, Học viện Chính trị thì
uy tín giả biểu hiện rất phong phú với nhiều dạng khác nhau. Đó là:
Loại uy tín do hạ thấp yêu cầu hay là “mị dân”, “dân chủ giả hiệu”. Họ
giả vờ tỏ ra quan tâm, gần gũi quần chúng, hạ thấp yêu cầu với cấp dưới để lôi
kéo tình cảm, sự ủng hộ của cấp dưới theo mình.
Loại uy tín được tạo ra bởi “trấn áp” bằng quyền lực, độc đoán, gia
trưởng, tạo khoảng cách đối với cấp dưới. Người lãnh đạo tìm cách phô trương
sức mạnh quyền lực, đe dọa cấp dưới; tạo quyền uy, khoảng cách, che đậy bản
chất thật.
Loại uy tín do phóng đại thành tích của mình, thổi phồng khuyết điểm
người khác. Họ lẩn tránh khuyết điểm của bản thân, nhưng lại khoét sâu hoặc
xuyên tạc khuyết điểm người khác; phóng đại thành tích để thông báo, tự ca ngợi
mình; luôn đề cao cá nhân, coi mình là nhất...
Uy tín giả tìm mọi cách che mắt tập thể, che mắt cấp trên. Nhất là mỗi
khi có sự kiện như: Chuẩn bị đại hội Đảng, làm quy trình nhân sự hay thay đổi
đội ngũ cán bộ chủ chốt... Thời điểm này, những kẻ cơ hội tìm mọi cách ban phát
những quyền lợi vật chất nhỏ bé, "thiết kế" các cuộc gặp gỡ
"chén chú chén anh", cười cợt lừa phỉnh người nhẹ dạ để lôi kéo phe
cánh, quần chúng, dùng phiếu bầu để hạ uy tín người khác; họ có thể thu mình,
tránh va chạm, nịnh trên, vuốt ve dưới...
Uy tín giả và cuộc đấu tranh chống “địch bên trong”
Có thể thấy, uy tín giả rất nguy hại, nó tác động và làm suy yếu tổ
chức, tập thể, làm méo mó động cơ phấn đấu của cá nhân. Nó ngấm ngầm phá vỡ mối
đoàn kết trong tập thể; tạo ra môi trường, tâm lý không lành mạnh với sự ghen
ghét, độ kỵ, nghi ngờ trong các thành viên và làm suy giảm hiệu quả công việc
của tập thể. Đặc biệt, nếu tổ chức, tập thể không tỉnh táo, dũng cảm để nhận
diện và đấu tranh thì uy tín giả sẽ trở thành bình phong để những kẻ cơ hội
tiến thân, lọt qua các quy trình để “chui sâu, leo cao” vào các vị trí lãnh
đạo, quản lý cao hơn.
Uy tín giả gây tác hại khôn lường, nhưng nhận diện không hề đơn giản vì
nó được che đậy tinh vi bằng nhiều thủ đoạn, nó nằm sâu trong động cơ, lợi ích
cá nhân của một bộ phận cán bộ lãnh đạo. Phát hiện ra nó phải nhìn nhận từ phẩm
chất, năng lực thật sự, đặc biệt là phong cách, phương pháp, tác phong công tác
của cán bộ đó. Xem đạo đức, trình độ có tương xứng với cương vị, chức trách
không, có độc đoán, gia trưởng hay mị dân, dân chủ giả hiệu không, có thổi
phồng thành tích của mình không?...
PGS, TS Đỗ Duy Môn cho rằng, nguyên nhân tạo nên uy tín giả có cả khách
quan và chủ quan. Đó là do công tác giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ chưa chặt
chẽ, tinh thần dân chủ, tính đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể
không cao hoặc bị vô hiệu hóa. Bản thân một số cán bộ không có phẩm chất, năng
lực đáp ứng chức trách nhiệm vụ được giao, không có nhận thức đúng về uy tín,
động cơ sai trái, nhằm mục đích cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện... Lúc
sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo
vun vén cho lợi ích riêng, đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình mình lên trên
lợi ích chung của giai cấp, của dân tộc, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”,
nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tha
hóa Ðảng. Người cũng khẳng định: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc
hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để
trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với
Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách
mạng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì
nó phá từ trong phá ra”, “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải
đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.
Phải tinh tường, đừng “thấy đỏ tưởng là chín”
Đấu tranh chống lại các biểu hiện và thủ đoạn để tạo uy tín giả cũng là
cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi
phải có dũng khí, có phương pháp và kiên trì. Nó gắn liền với việc xây dựng tổ
chức, xây dựng con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, gắn với việc tu dưỡng,
rèn luyện đội ngũ... Trong xây dựng uy tín thật, đấu tranh với uy tín giả trong
đội ngũ cán bộ hiện nay, cần quan tâm và thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều
giải pháp.
Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có ý thức và quyết tâm
tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, năng lực, hoàn thiện về nhân cách, xứng đáng
với chức trách nhiệm vụ được giao. Muốn có uy tín, mỗi người phải tự học tập,
tu dưỡng, tích lũy tri thức, kinh nghiệm, vốn sống, nâng cao năng lực mọi mặt
để được đồng nghiệp, quần chúng thừa nhận, tin theo. Đồng thời và quan trọng
hơn là đội ngũ cán bộ phải thường xuyên rèn luyện về đạo đức, lối sống cũng như
sinh hoạt. Những vi phạm về đạo đức, lối sống bao giờ cũng là nguyên nhân
chính, rất nhạy cảm làm giảm sút và mất uy tín của người cán bộ. Cùng với đó,
quá trình gây dựng và nâng cao uy tín của người cán bộ cần tạo dựng cho mình
một phong cách lãnh đạo, quản lý thích hợp, một phương pháp, tác phong công tác
hiệu quả. Một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc, quy định, mặt khác phải linh
hoạt, thích ứng, không rập khuôn, máy móc, với động cơ thật sự trong sáng vì
tập thể, vì cái chung. Cần chống lại mọi biểu hiện như độc đoán, gia trưởng hay
mị dân, bệnh công thần, háo danh...
Mặt khác, cần xác lập tốt các mối quan hệ và giao tiếp trong tập thể để
hình thành lòng tin, sự tín nhiệm của cấp dưới với người lãnh đạo, quản lý. Nó
đòi hỏi người cán bộ phải thật tâm, thật tình, thật tin tưởng khi quan hệ với
dưới, được biểu hiện bằng sự quan tâm, chăm lo, ứng xử đúng mực với dưới. Là sự
giản dị, khiêm nhường, không định kiến...
Một giải pháp rất căn cơ để xây dựng uy tín đích thực trong tập thể là
phải tạo được bầu không khí dân chủ, đoàn kết, tinh thần phê bình và tự phê
bình tích cực trong tập thể. Muốn có được điều đó cần quan tâm xây dựng tổ
chức, tập thể vững mạnh; cán bộ chủ chốt phải gương mẫu, trách nhiệm; các thành
viên đoàn kết, gắn bó.
Cùng với đó, phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, các
thủ đoạn để tạo dựng uy tín giả. Nó đòi hỏi tổ chức, tập thể phải tinh tường và
có dũng khí trong vạch trần các cá nhân có động cơ và việc làm sai trái. Các cá
nhân này thường rất tinh vi để che đậy bản chất, đánh lừa tổ chức, tập thể vì
mục đích vụ lợi, cá nhân. Trong chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng các cấp tiến tới
Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã cảnh
báo: Đừng “nhìn gà hóa cuốc”, “thấy đỏ tưởng là chín", đừng chỉ thấy
"cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong"...
Uy tín giả làm xói mòn niềm tin của cấp dưới với cấp trên, nói rộng ra
là của quần chúng với Đảng. Vì thế đấu tranh chống uy tín giả cũng chính là xây
dựng niềm tin, “lòng dân” ở các tổ chức, tập thể, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp
ứng yêu cầu của tình hình mới hiện nay./.
BẢO VỆ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VINH QUANG CỦA DÂN TỘC LÀ BÀI HỌC VÀ TRÁCH NHIỆM THIÊNG LIÊNG TRONG HUYẾT QUẢN CỦA CHÚNG TA!
Năm 1987, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô khởi xướng một trào lưu tư
tưởng mang tên “suy ngẫm lại lịch sử” cách đó với tinh thần công kích Stalin,
phủ nhận thắng lợi của chiến tranh Vệ quốc...
Tháng 3-1988, báo Nước Nga Xô-Viết đăng bức thư của Nina Andreyeva, nữ
giảng viên ở Học viện Khoa học kỹ thuật Leningrad lên án trào lưu suy ngẫm lại
lịch sử, chỉ rõ nó thực chất là dòng nước ngược, bôi đen Liên Xô xã hội chủ
nghĩa (XHCN).
Thế nhưng, thay vì ủng hộ ý kiến tâm huyết này, Bộ Chính trị Đảng Cộng
sản Liên Xô triệu tập hội nghị khẩn cấp để đánh trả “thế lực chống đối cải tổ”.
Ngày 5-4-1988, Báo Sự Thật đăng bài phản kích Nina Andreyeva. Sau đó, các cơ
quan báo chí đồng loạt phản kích. Toàn bộ lịch sử Liên Xô bị miêu tả như một mớ
đen ngòm. Sang năm 1989, trào lưu chuyển sang phê phán, phủ định Cách mạng
Tháng Mười, Chủ nghĩa Lênin và chính Lênin, bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Mác-Lênin
trong trường học. Cơn lốc xét lại lịch sử ngày càng mạnh mẽ, lôi cuốn toàn bộ
xã hội.
Một số tờ báo và tạp chí cấp tiến, như: Họa báo, Tia lửa và Tin tức
Moscow công khai phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ
định CNXH.
Sau này, năm 1994, nhà văn Boldarev đã nhìn lại: “Trong 6 năm, báo chí
đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng
không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm
40. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ. Đó là hàng
triệu ấn phẩm mang vi trùng”. Những cuộc hội thảo rầm rộ nhằm xem xét lại vai
trò của V.I.Lênin và Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc, xuyên tạc, bóp méo
lịch sử, bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng. Khi hình tượng V.I.Lênin bị đánh
sụp thì Đảng cũng tự đào hố chôn mình và đó cũng là lúc Gorbachev tuyên bố
giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô
viết. Một sự kiện sau này được Tổng thống Nga Vladimir Putin thừa nhận đó là
cơn địa chấn khủng khiếp, là thảm họa của thế kỷ 20. Đau xót trước sự công phá
khủng khiếp của trào lưu xét lại lịch sử, năm 1991 nhà thơ Tố Hữu đã viết bài
thơ có đoạn:
“… Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử/ Cào chiến công, xé cả xác anh
hùng/ Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung/ Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát? Lũ
phản bội, điên cuồng, hèn nhát/ Và cả bay quân cướp nước, giết người/ Chớ vội
cười! Chân lý vẫn xanh tươi …”.
Ngẫm lại trào lưu xét lại lịch sử ở Liên Xô trước đây để thấy, ở Việt
Nam chúng ta một số kẻ mang danh là nhà khoa học, người có uy tín lên mạng công
khai phủ nhận thành quả của cuộc Cách mạng tháng 8, hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ. Càng đau xót hơn, một bộ phận giới trẻ hiện nay nhìn nhận lại
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của chúng ta là cuộc chiến "nồi da nấu
thịt", gọi chiến thắng 30/4 là "tháng tư đen"; phủ nhận sự hi
sinh của hàng triệu anh hùng liệt sỹ và đồng bào cả nước nhằm giành quyền tự do
cho dân tộc...
Thế mới thấy hậu quả tai hại của một thế hệ trẻ ghét lịch sử, yêu văn
hóa lai căng lớn như thế nào!
Buồn ở chỗ, cuộc chiến đó mới chỉ kết thúc gần 50 năm, vết tích của cuộc
chiến vẫn còn đọng lại trên đôi mắt, cánh tay của hàng vạn thương binh trên
khắp mọi miền tổ quốc này...
Thử đặt câu hỏi, khi những cựu chiến binh vào sinh ra tử chống Mỹ cứu
nước cho non sông vẹn toàn, độc lập, thanh bình và hạnh phúc hôm nay sẽ ra đi
theo quy luật sinh tử... thì liệu còn ai đứng ra bảo vệ lịch sử, chống lại đám
xét lại đang hoành hành ngày càng lớn trên báo chí hiện nay?
Nhìn sang đất nước xa xôi nào đó, chúng ta sẽ thấy, bảo vệ giá trị lịch
sử vinh quang của dân tộc là bài học lớn, trách nhiệm thiêng liêng trong huyết
quản của mỗi chúng ta. Đó là giá trị xương máu cha ông ta đã đổ xuống cho đất
nước "đơm chồi nảy lộc" 4 mùa như hôm nay!
BT





