Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỐI TÁC - ĐỐI TƯỢNG VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NƯỚC TA!

     Xác định đúng “đối tác, đối tượng” là vấn đề quan trọng, căn cứ chủ yếu để đề ra chính sách đối nội, đối ngoại cùng với kế sách xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới hiện nay. Tuy nhiên, nếu không hiểu đầy đủ hoặc phiến diện về “đối tác, đối tượng” chúng ta rất dễ có cách nhìn lệch lạc, thậm chí bị các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Qua hơn 35 năm đổi mới đất nước, việc nhận diện “đối tác, đối tượng”, xử lý mối quan hệ giữa “đối tác, đối tượng” luôn được Đảng ta quan tâm, chú trọng. Đây chính là cơ sở để Việt Nam hoạch định đường lối đối ngoại, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia!

Ở Việt Nam trước đây, nhất là trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, quan điểm của Đảng ta về “đối tác, đối tượng” của cách mạng Việt Nam chỉ rõ ai là bạn, ai là thù. Tuy nhiên hiện nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, quan hệ quốc tế có những phát triển mới, cho nên quan điểm về “đối tác, đối tượng” đòi hỏi tư duy mới, biện chứng linh hoạt nhằm phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. 

Quan điểm của Đảng về “đối tác” và “đối tượng” trong chính sách đối ngoại gắn liền với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986). Qua các kỳ đại hội Đảng, quan điểm về “đối tác” và “đối tượng” được Đảng ta bổ sung và phát triển phù hợp với thực tiễn đặt ra. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 24-11-2023, “Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Nghị quyết số 44-NQ/TW đưa ra quan điểm về “đối tác”, “đối tượng”, theo đó những ai tôn trọng độc lợi ích quốc gia – dân tộc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi, cùng phát triển với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu, hành động chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng.

Trong tình hình thế giới, khu vực, hội nhập quốc tế hiện nay, việc xác định “đối tác”, “đối tượng” là tương đối nhạy cảm, đòi hỏi chúng ta phải hết sức tỉnh táo. Tuy nhiên, không phải vì thế mà chúng ta né tránh, để rồi rơi vào trạng thái mơ hồ, mất cảnh giác, mất tính chiến đấu và khó có thể vạch ra chủ trương, sách lược, chiến lược đúng đắn trong bảo vệ Tổ quốc. Việc xác định có hay không có đối tác và đối tượng vĩnh viễn là vấn đề hết sức nhạy cảm, cần nghiên cứu, cân nhắc thấu đáo. Ngay trong những đối tác cũng có cấp độ quan hệ khác nhau, như: đối tác, đối tác toàn diện, đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện. Và đối tượng cũng vậy, có đối tượng trong thời điểm nhất định, có đối tượng cơ bản lâu dài. Thực tế đã cho thấy, trong quan hệ quốc tế, với một quốc gia cụ thể, ở thời điểm, giai đoạn này là đối tượng, nhưng vào thời điểm, giai đoạn khác lại có thể trở thành đối tác. Ngược lại, không ít quốc gia, tuy có cùng ý thức hệ hoặc trước đây là đồng minh nhưng ở vào thời điểm cụ thể, lĩnh vực nhất định vẫn có thể là đối tượng. Tính chất đan xen, sự chuyển hóa giữa “đối tác”, “đối tượng”, trong đối tác có đối tượng và trong đối tượng có đối tác phức tạp, đặc biệt trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng. Do đó, nhận thức và xử lý quan hệ về “đối tác”, “đối tượng” phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo quan điểm của Đảng vào thực tiễn, vừa trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc, vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể, tránh áp dụng một cách máy móc, cứng nhắc làm tổn hại tới quan hệ với các nước, qua đó, tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Như vậy, “đối tác”, “đối tượng” luôn tồn tại trong một thể thống nhất. Có đối tác bản thân đã, đang là đối tượng, buộc chúng ta phải vừa hợp tác vừa phải đấu tranh. Bên cạnh đó, trong các loại “đối tượng” sẽ có những “đối tượng” mâu thuẫn, khác biệt ở mức độ nhất định, trong khoảng thời gian nhất định với chúng ta về ý thức hệ hoặc về lợi ích chủ quyền, lãnh thổ hoặc về lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội... Tuy nhiên, xét trong tổng thể thì vẫn còn có mặt có thể hợp tác được, mà không phải là đối tượng hoàn toàn hay đối tượng vĩnh viễn.

Hiện nay, nước ta đã thiết lập mối quan hệ với hơn 190 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, điều này khẳng định quan điểm được nêu tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII: “Đẩy mạnh đối ngoại song phương và nâng tầm đối ngoại đa phương... Coi trọng phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, truyền thống với các nước láng giềng... Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác... Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”.

Việc xác định “đối tác, đối tượng” trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay có vai trò rất quan trọng trong chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đồng thời nhận thức đúng mối quan hệ đối tác, đối tượng là định hướng rất quan trọng để chúng ta xử lý các vấn đề, các tình huống trong quan hệ hợp tác quốc tế một cách đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo. Qua đó, tăng mặt đồng thuận, giảm thiểu bất đồng trong quan hệ quốc tế nhằm mục tiêu vì lợi ích quốc gia, dân tộc, đưa nước ta không ngừng phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới./.


Yêu nước ST.

NHẬN THỨC TÍNH ĐÚNG ĐẮN CỦA NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ, CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC!

     Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản!

Là đảng cách mạng, ngay từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới do V.I.Lênin đề ra. Nguyên tắc tập trung dân chủ được đặt lên hàng đầu và đã sáng tỏ trong nhận thức trên những vấn đề căn bản. Đảng thống nhất nhận thức lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm học thuyết lý luận, khoa học và là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”. Cùng với tuân theo học thuyết lý luận, mọi tổ chức đảng và đảng viên phải theo lý tưởng cách mạng, ra sức đấu tranh theo Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng, mục tiêu cách mạng Đảng đã đề ra, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của Đảng và đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên. Phải thực hiện nghiêm chỉnh kỷ luật và các quy định của Điều lệ Đảng và đảng viên phải sinh hoạt trong một tổ chức đảng là chi bộ.

Từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng và yêu cầu xây dựng Đảng, Đại hội III của Đảng (tháng 9-1960) đã xác định: “Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng. Nội dung của nó là tập trung trên cơ sở dân chủ và dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung. Mục đích của nó một mặt là phát huy và nâng cao tính tích cực cách mạng, tính sáng tạo của đông đảo đảng viên và các tổ chức của Đảng, mặt khác là bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động và gìn giữ kỷ luật của Đảng. Đảng phải luôn luôn nắm vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng thời kết hợp với phân công phụ trách. Đảng chống mọi hiện tượng phân tán, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tự do vô kỷ luật cũng như chống mọi hiện tượng tập trung quan liêu, sự vụ, gia trưởng, độc đoán, coi thường tập thể, coi thường cấp dưới”. Đó là bản chất cách mạng, khoa học và tính đúng đắn của nguyên tắc tập trung dân chủ và được thực hiện nhất quán trong quá trình lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, các đảng cộng sản cầm quyền ở nhiều nước xã hội chủ nghĩa trong đó có Việt Nam và chủ nghĩa xã hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội đã bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm chậm được sửa chữa. Điều đó dẫn tới khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô (1989-1991). Nguyên nhân khách quan là chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Nguyên nhân chủ quan là các đảng cộng sản cầm quyền đã rời bỏ nền tảng tư tưởng, lý luận và Chủ nghĩa Mác-Lênin, đã hạ vũ khí trên mặt trận tư tưởng trước sự tiến công hiểm độc của kẻ thù. Các đảng cộng sản đã không kiên định và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, để cho những quan điểm sai trái về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, công khai hóa, dân chủ hóa lộng hành dẫn tới sự rối loạn trong Đảng và xã hội, Đảng không kiểm soát được tình hình và mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền.

Ở Việt Nam, lợi dụng tình hình xấu đi của các nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch ở trong nước và lưu vong ra sức phá hoại hòng đưa đất nước rời bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, ngay từ năm 1989, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu, đúng đắn mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn; Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa... Về nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng nhấn mạnh: “Mở rộng dân chủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa, không phải dân chủ tư sản. Dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật, pháp luật, với ý thức trách nhiệm công dân. Dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo để phát huy dân chủ đúng hướng; mặt khác lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ trên cơ sở phát huy dân chủ. Dân chủ với nhân dân nhưng phải nghiêm trị những kẻ phá hoại thành quả cách mạng, an ninh trật tự và an toàn xã hội”.

Trung thành, vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) trong tổng kết công tác xây dựng Đảng đã nêu rõ kinh nghiệm hàng đầu là: “Nâng cao bản lĩnh chính trị; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng; kịp thời tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để đổi mới sáng tạo, chống bảo thủ, trì trệ, đấu tranh kiên quyết với những biểu hiện cơ hội chính trị”.
Thực hiện nghiêm các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng và Nhà nước đã xử lý thành công các nội dung cơ bản:

Một là, thực hiện tốt mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung của Đảng, Nhà nước với thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội. Sự lãnh đạo tập trung trước hết phải thống nhất về nền tảng tư tưởng, học thuyết lý luận là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Lãnh đạo bằng đường lối đổi mới, cương lĩnh, chính sách, pháp luật không ngừng được bổ sung, phát triển, bảo đảm tính đúng đắn, hiện thực và hiệu quả. Phát huy dân chủ trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội dựa trên nâng cao trình độ trí tuệ và nâng cao dân trí. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kiên quyết chống tập trung quan liêu, lộng quyền, lạm quyền, tha hóa quyền lực, phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Khắc phục biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan và lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, xã hội.

Hai là, xử lý tốt mối quan hệ giữa mở rộng dân chủ với tăng cường, siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ thực chất là mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đề cao trách nhiệm, trí tuệ, quyền hạn, góp phần xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật và tự giác thực hiện. Kỷ luật, kỷ cương của Đảng đòi hỏi cá nhân phục tùng tập thể, tổ chức, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Phải giữ nghiêm kỷ luật từ trên xuống dưới. Lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng đã xử lý đúng đắn những mối quan hệ lớn. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung “mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”.

Ba là, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn luôn được thực hiện trong mối quan hệ thống nhất, đồng bộ với các nguyên tắc khác về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Đó là các nguyên tắc tự phê bình và phê bình; đoàn kết thống nhất trong Đảng; gắn bó mật thiết với nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân; thực hiện chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Sự thống nhất của các nguyên tắc đó bảo đảm không ngừng nâng cao bản chất cách mạng và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội XIII của Đảng nêu rõ một số hạn chế trong việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng “Nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện chưa nghiêm, thậm chí có nơi còn vi phạm nghiêm trọng. Nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện hiệu quả thấp, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi”. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách cần được quy định cụ thể, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm nêu gương.

Các thế lực thù địch đang ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ với luận điệu ở Việt Nam chỉ có một đảng lãnh đạo, không có dân chủ và Đảng độc đoán, chuyên quyền. Đó là sự xuyên tạc, nhắm mắt trước sự thật, nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, Đảng phải không ngừng hoàn thiện và thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục xử lý đúng đắn quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm nguyên tắc đó không chỉ cần thiết của Đảng cầm quyền mà còn trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại.

Thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng là những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Trong công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ từ một nước nghèo kém phát triển trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Chính trị ổn định. Văn hóa, xã hội phát triển. Đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, từ 58% hộ nghèo năm 1993, nay còn dưới 3%. Quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc. Đối ngoại và hội nhập quốc tế không ngừng mở rộng. Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ngày càng sáng tỏ. Trong phòng, chống đại dịch Covid-19, Việt Nam là một điểm sáng trên thế giới. Cả hệ thống chính trị và toàn dân tập trung hành động vừa phát triển kinh tế, vừa kiểm soát dịch bệnh. Lực lượng các ngành y tế, quân đội, công an thật sự là “lá chắn thép” bảo vệ nhân dân. Điều đó tỏ rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bản chất của Đảng Cộng sản, của chủ nghĩa xã hội là hòa bình, hữu nghị, hợp tác bình đẳng. Hiện nay, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam có quan hệ tốt với hơn 200 đảng cầm quyền, đảng chính trị trên thế giới, trong đó có những đảng cầm quyền ở các nước tư bản hàng đầu. Nhà nước Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 187 nước trong 193 nước thành viên Liên hợp quốc, quan hệ kinh tế, thương mại với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu gần như tuyệt đối 192/193. Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) nhận được hơn 500 điện, thư chúc mừng của các đảng, các tổ chức, các nhà hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội trên thế giới. Việt Nam đang từng bước sánh vai với các cường quốc trên thế giới như ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn của chân lý. Tập trung dân chủ là nguyên tắc mang tính khoa học và hiện thực trong xây dựng Đảng và có vai trò rất quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, bảo đảm phát huy dân chủ thực chất và giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Nguyên tắc đó vì thế có giá trị bền vững trong lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST!

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM PHÁT HUY PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XIII

 

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu, được xây đắp từ truyền thống yêu nước của dân tộc ta, từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân và từ những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Giá trị ấy được lưu giữ, kế thừa và phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII vừa là yêu cầu khách quan, vừa là tình cảm, trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Trong gần 80 năm qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các ban, ngành ở Trung ương và các địa phương, sự yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững bản chất cách mạng, không ngừng lớn mạnh, vừa chiến đấu, vừa trưởng thành và chiến thắng vẻ vang. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao độ truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có kỷ luật nghiêm minh, luôn chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân khen tặng, xứng đáng là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Quân đội tiếp tục thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Quân đội luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Thực hiện sáng tạo, hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Tích cực tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng địa bàn an toàn, xây dựng hệ thống chính trị và đời sống văn hóa ở cơ sở, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và biên giới, hải đảo. Qua đó, góp phần quan trọng vào sự nghiệp củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường “thế trận lòng dân”, tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân. Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, giải quyết hậu quả chiến tranh và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; đồng thời, thực hiện tốt công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành rõ nét hơn, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt, thậm chí dẫn đến đối đầu nhau. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước khác, tạo thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước vừa và nhỏ. Các điểm “nóng” về an ninh có chiều hướng gia tăng, nguy cơ lan rộng; xuất hiện các hình thái chiến tranh, loại hình tác chiến, không gian chiến lược, phương thức tiến hành chiến tranh mới. Những vấn đề toàn cầu, như bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, đặc biệt là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn, tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột, tác động đến an ninh, an toàn hàng hải, hàng không.

Ở trong nước, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, xuất hiện những vấn đề phức tạp mới. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Trên Biển Đông, vùng biển Tây Nam và một số vùng chiến lược, địa bàn trọng điểm còn tiềm ẩn các nhân tố gây mất ổn định; tranh chấp chủ quyền biển, đảo, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng gia tăng; xử lý quan hệ quốc tế, nhất là với các nước lớn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong nước và nước ngoài câu kết với nhau tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc có sự bổ sung, phát triển và ngày càng khó khăn, phức tạp hơn; tỷ lệ cán bộ được rèn luyện qua chiến đấu ngày càng giảm.

Trong bối cảnh đó, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta có sự phát triển và đặt ra những yêu cầu mới rất cao, có sự đan xen giữa thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn. Quân đội luôn nhận thức sâu sắc vai trò nòng cốt của mình trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và coi đó là nhiệm vụ “trọng yếu và thường xuyên”; đồng thời, ý thức rõ trách nhiệm chính trị, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trên cơ sở quán triệt, nắm vững Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân cần nỗ lực phấn đấu, tiếp tục phát huy hơn nữa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau:

Một là, tiếp tục thực hiện tốt chức năng nghiên cứu, tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Quân đội, xuất phát và dựa chắc trên quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trong thời gian tới, Quân đội cần chủ động đánh giá, dự báo đúng tình hình thế giới, khu vực và trong nước, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ, không để mâu thuẫn, tranh chấp phát triển thành xung đột vũ trang, chiến tranh. Chú trọng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp tổng thể, cơ bản, lâu dài nhằm ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột “từ sớm, từ xa”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”; nhất quán thực hiện chủ trương: Không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế.

Cùng với đó, Quân đội cần tích cực, chủ động xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”. Nâng cao năng lực tác chiến chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin; phối hợp triển khai giải pháp tổng thể bảo đảm an ninh, an toàn thông tin. Đặc biệt, chú trọng bổ sung, kiện toàn các cơ chế, quy định, nhất là về sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Công an, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương trong xử lý các tình huống bảo vệ Tổ quốc. Sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và làm tốt công tác cứu hộ, cứu nạn. Bảo vệ tuyệt đối an ninh, an toàn các mục tiêu, công trình quan trọng, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, văn hóa, đối ngoại của đất nước. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận về quốc phòng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó Quân đội nhân dân, Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trên địa bàn cả nước. Đó là nền quốc phòng với tiềm lực, sức mạnh tổng hợp, được cấu thành trên cơ sở nguồn lực quốc gia và trong nhân dân, từ nhân dân, mang bản chất hòa bình và tự vệ, không nhằm đe dọa bất cứ quốc gia nào. Đồng thời, là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ngày càng hiện đại, do toàn dân tiến hành xây dựng, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ sở.

Để xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, Quân đội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương và địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh của từng địa bàn, khu vực, nhất là các địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ và vùng biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Trong đó, trọng tâm là xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở. Chú trọng xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn, vững chắc trên từng địa bàn và phạm vi cả nước, bảo đảm cho các địa phương xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời chiến. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị quốc phòng, công trình phòng thủ, công trình chiến đấu, hệ thống phòng thủ dân sự đồng bộ, thống nhất; trong đó, ưu tiên các tuyến biên giới, biển, đảo, các địa bàn chiến lược, trọng điểm...

Tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, bảo đảm phù hợp với từng đối tượng, nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng giáo dục, thống nhất, nâng cao nhận thức về đối tác và đối tượng; nắm vững đường lối, quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục phát huy vai trò, tính hiệu quả của các đơn vị kinh tế - quốc phòng và doanh nghiệp quân đội để kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với củng cố, tăng cường quốc phòng, nhất là ở những địa bàn chiến lược, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, khu kinh tế trọng điểm.

Ba là, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân.

Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới. Coi trọng nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bản chất cách mạng, truyền thống, nhiệm vụ của Quân đội và đơn vị; đối tác, đối tượng; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Kịp thời khắc phục những nhận thức, tư tưởng lệch lạc, chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có ý chí, quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động đó với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Qua đó, làm sâu sắc thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân đội; đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ, bảo đảm sát chủ trương, đường lối của Đảng, thực tiễn hoạt động của bộ đội và yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, công đoàn và hội đồng quân nhân vững mạnh, góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng như yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, bước đầu đạt được kết quả quan trọng, bảo đảm sự cân đối, tương đối đồng bộ giữa các quân chủng, binh chủng, giữa cơ quan và đơn vị, giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên.

Trong thời gian tới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17-1-2022, của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2-4-2022, của Quân ủy Trung ương, “Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”. Tổ chức, biên chế toàn quân phải phù hợp với đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, khả năng bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật, giữ vững và phát huy truyền thống của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Xây dựng, điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, có cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần lực lượng; giảm đầu mối trung gian và đơn vị bảo đảm, phục vụ; tiếp tục tổ chức một số đơn vị dự bị chiến lược theo quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, bảo đảm Quân đội có đủ khả năng làm nòng cốt cùng toàn dân hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quá trình điều chỉnh tổ chức, hiện đại hóa Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước; biện pháp thực hiện phải toàn diện, đồng bộ, phù hợp với thực tế; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách.

Năm là, xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội.

Toàn quân tập trung quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã xác định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 26-1-2022, của Bộ Chính trị, về “Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở tiềm lực, điều kiện kinh tế của đất nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp quốc phòng đã xác định theo lộ trình đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, đối với những lĩnh vực công nghiệp quốc phòng có thế mạnh, đã làm chủ về công nghệ, cần tập trung ưu tiên nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, trọng tâm là vũ khí chiến lược, có sức răn đe, tăng cường khả năng phòng thủ, bảo vệ đất nước và tác chiến không gian mạng.

Sáu là, tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nâng cao uy tín, vị thế của Quân đội và đất nước trên trường quốc tế.

Theo đó, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kịp thời phát hiện, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thúc đẩy đa dạng hóa đối tác hợp tác về kỹ thuật quân sự và thương mại quân sự. Tích cực tham gia hiệu quả các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả chiến tranh. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Bảy là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, lãnh đạo toàn quân hoàn thành tốt các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Quán triệt quan điểm chỉ đạo “xây dựng Đảng là then chốt”, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI chỉ rõ: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu. Thời gian tới, toàn quân tiếp tục quán triệt, nắm vững các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”” và Chỉ thị số 87-CT/QUTW, ngày 8-7-2016, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân”. Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu, ngày càng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên và tạo được sự lan tỏa trong toàn quân, toàn xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, có uy tín cao, gương mẫu, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.

                                                                                                BT

PHONG TRÀO “BA ĐẢM ĐANG”

 


Năm 1965, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, ở miền nam chúng tăng hàng vạn lính Mỹ và vũ khí, mở rộng chiến tranh ra miền bắc.

Với khẩu hiệu “Tất cả vì miền nam ruột thịt”, toàn miền bắc đã dấy lên một phong trào tình nguyện vào miền nam chống Mỹ, cứu nước; đồng thời vừa tích cực lao động sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.

Khắp nơi, thanh niên nô nức lên đường tòng quân, xung phong đi chiến đấu. Phụ nữ các địa phương đã hăng hái làm đơn tình nguyện gửi Ủy ban nhân dân, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam... xin được làm thêm những công việc của nam giới để sẵn sàng thay thế anh em đi chiến đấu.

Đứng trước khí thế cách mạng đó, ngày 18/3/1965, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động phong trào phụ nữ Ba đảm nhiệm với 3 nội dung chính:

1. Đảm nhiệm sản xuất thay chồng con đi chiến đấu

2. Đảm nhiệm gia đình để chồng con yên tâm công tác

3. Đảm nhiệm sẵn sàng chiến đấu khi cần thiết

Ngày 22/3/1965, Ban Thường vụ Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ra Chỉ thị số 03/CT về mở cuộc vận động phong trào “Ba đảm nhiệm” trong phụ nữ tăng cường đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Nội dung gồm 3 phần:

1. Tình hình nhiệm vụ mới, tăng cường đẩy mạnh sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Cụ thể là: Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước: Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, ở miền nam chúng tăng hàng vạn lính Mỹ và vũ khí, mở rộng chiến tranh ra miền bắc. Vì vậy, nhiệm vụ cấp thiết của Hội Liên hiệp phụ nữ lúc này là:

“Giáo dục, động viên toàn thể phụ nữ nhận rõ tình hình nhiệm vụ mới đó, thấy rõ trách nhiệm để có một sự chuyển biến mới về tư tưởng, tình cảm cũng như trong hành động, phát huy truyền thống và lực lượng cách mạng tiềm năng của phong trào phụ nữ nước ta, trong đó quan trọng nhất là chị em phụ nữ nông dân ra sức nỗ lực nâng cao sản xuất, tích cực phục vụ chiến đấu và tham gia chiến đấu”.

2. Mục đích, nội dung phong trào “ba đảm nhiệm”: Giáo dục, động viên mọi người phụ nữ nhận rõ tình hình mới, nhận rõ trách nhiệm để quyết tâm đẩy mạnh sản xuất và chiến đấu. Có 3 nội dung chính:

- Đảm nhiệm sản xuất và công tác thay thế cho nam giới đi chiến đấu.

- Đảm nhiệm gia đình, khuyến khích chồng con yên tâm chiến đấu.

- Đảm nhiệm chiến đấu khi cần thiết.

3. Kế hoạch chỉ đạo:

- Trước hết cần tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong phụ nữ và nhân dân về mục đích, ý nghĩa, nội dung của cuộc vận động “3 đảm nhiệm”;

- Phát động phong trào chủ yếu là ở cấp cơ sở, tránh làm rầm rộ và tập trung đông;

- Việc chỉ đạo thường xuyên của cấp Hội tỉnh phải nắm chắc trọng điểm và phát hiện, sử dụng điển hình.

Cũng trong tháng 3/1965, sau Chỉ thị 03 của Ban Thường trực Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ về vận động phong trào “Ba đảm nhiệm”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam nên sửa tên phong trào “Ba đảm nhiệm” thành phong trào “Ba đảm đang”.

Nội dung của phong trào “Ba đảm đang”:

1. Đảm đang sản xuất và công tác thay thế nam giới đi chiến đấu.

2. Đảm đang gia đình, động viên chồng con, anh em đi chiến đấu.

3. Đảm đang phục vụ chiến đấu và chiến đấu.

Đến tháng 5/1965 (sau hơn 2 tháng kể từ khi phát động), toàn miền bắc đã có 1 triệu 70 vạn phụ nữ đăng ký “Ba đảm đang” lập thành tích xuất sắc.

Ngày 3/12/1965, Thành hội phụ nữ Hà Nội mở Đại hội “Ba đảm đang”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và phát biểu tại Đại hội. Người đã biểu dương truyền thống anh hùng của phụ nữ Việt Nam: Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng, thanh niên Việt Nam là thanh niên anh hùng, phụ nữ Việt Nam là phụ nữ anh hùng. Hai nghìn năm trước đây ta đã có các nữ anh hùng: Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong kháng chiến chống Pháp trước kia và trong kháng chiến chống Mỹ ngày nay, ta cũng có nhiều anh hùng là phụ nữ. Trên thế giới chưa có nơi nào phụ nữ làm Phó Tổng tư lệnh như ở miền nam nước ta. Thi đua với phụ nữ miền nam là đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh. Khó khăn đến mấy ta cũng vượt qua được và nhất định chúng ta đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược.

Sau một năm phát động phong trào “Ba đảm đang”, khí thế cách mạng của quần chúng phụ nữ trong các ngành, khắp các địa phương diễn ra sôi nổi và rộng khắp. Để tổng kết và tiếp tục phát động phong trào, ngày 19/2/1966, Ban Chấp hành Trung ương Hội ra Chỉ thị trong đó có nội dung thống nhất nội dung “năm tốt” trong phong trào “Ba đảm đang”, đẩy mạnh cuộc vận động “Ba đảm đang” thành phong trào quần chúng lớn mạnh duy nhất của quần chúng phụ nữ và đẩy mạnh phong trào “Ba đảm đang” của phụ nữ miền bắc học tập và thi đua với miền nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

* Nguồn tư liệu: Biên niên Lịch sử Hội phụ nữ Việt Nam, tập 1 (1930-1976); Bài viết "Phong trào phụ nữ “ba đảm đang” - một mốc son trong lịch sử phụ nữ Việt Nam", Hà Thị Khiết, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

                                                                                                BT

QUÂN ĐỘI LÀ MÔI TRƯỜNG ĐỂ RÈN LUYỆN THANH NIÊN!

         Hàng năm, vào đầu xuân mới hàng vạn thanh niên trên mọi miền của tổ quốc nô nức lên đường nhập ngũ. Đây vừa là nghĩa vụ, là vinh dự cũng là trách nhiệm của thanh niên Việt Nam!

Được học tập, rèn luyện trong môi trường quân đội là điều kiện tốt để thanh niên tôi luyện những phẩm chất, nhân cách cần thiết đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. 

Có thể nói, môi trường quân đội với kỷ luật nghiêm minh nhưng sẽ giúp cho thanh niên hình thành và phát triển những phẩm chất mà môi trường khác khó có thể mang lại. Khi mới nhập ngũ, thanh niên phải tuân thủ nghiêm khắc với những quy định, điều lệnh, điều lệ quân đội, phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy.

Thực tế, thanh niên bước vào quân đội với nhiều đặc điểm tâm lý khác nhau, hội tụ từ nhiều vùng miền khác nhau, những thói quen cũ như sự tùy tiện, buông lỏng, tự do vô kỷ luật thì nay vào quân đội họ phải chuyển hóa một cách nhanh chóng theo yêu cầu quân đội. Đó cũng chính là sự thay đổi từ nhận thức, thói quen, ngôn ngữ, cử chỉ, tác phong… đạt ở mức độ chuẩn hóa và thống nhất trong một tập thể quân sự. Môi trường quân đội cũng giúp cho thanh niên chuyển biến nhanh chóng về mặt nhận thức, đó chính là sự vững vàng về phẩm chất chính trị, về lập trường quan điểm…, từ đó hình thành nên sự đề kháng tốt giúp cho thanh niên luôn có ý thức được nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Trong môi trường quân đội, thanh niên cũng được hình thành lối sống mới như quan hệ đồng chí, đồng đội, ý thức tập thể, quan hệ quân - dân, giải quyết các vấn đề lợi ích phù hợp theo chuẩn mực xã hội. Bên cạnh đó, khi thanh niên vào quân đội cũng được hình thành những phẩm chất chuyên môn nghề nghiệp theo các lĩnh vực cụ thể, điều đó sẽ làm cơ sở để mỗi quân nhân có thể vận dụng kiến thức vào cuộc sống sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự của mình. 

Trong môi trường quân đội, với đội ngũ cán bộ các cấp, họ vừa là người chỉ huy, vừa là nhà giáo dục có thể giúp quân nhân hình thành những tính cách tốt đẹp như sự trung thực, thẳng thắn, tính kiên cường…, điều này cũng giúp ích cho thanh niên có thể vững bước trong cuộc sống sau này. 

Có thể nói, được học tập, rèn luyện ở môi trường quân đội là điều kiện tốt cho thanh niên phát huy trên nhiều lĩnh vực./.

Yêu nước ST.

TD10-CẢNH GIÁC VỚI UY TÍN GIẢ - TẤM BÌNH PHONG “CHUI SÂU, LEO CAO”

 


Uy tín là tiền đề và điều kiện bảo đảm chắc chắn cho sự thành công trong hoạt động thực tiễn của các tập thể, cá nhân nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Tuy nhiên, thực tế đã và đang xuất hiện loại uy tín giả rất nguy hại, nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết nội bộ, che đậy bản chất và là bình phong để những kẻ cơ hội “chui sâu, leo cao”. Nhận diện những biểu hiện, thủ đoạn và có giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, đấu tranh với loại uy tín giả là điều cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ của nhiệm kỳ mới hiện nay.

Quyền uy và “dân chủ giả hiệu”

Trong công tác lãnh đạo, quản lý, uy tín có vai trò rất lớn đối với hoạt động thực tiễn của người lãnh đạo. Người lãnh đạo có uy tín càng cao thì ảnh hưởng của người đó với tổ chức càng lớn, tính chất ám thị và thuyết phục đối với những người dưới quyền càng tăng lên. Nếu người lãnh đạo không có uy tín thì mọi lời nói và mệnh lệnh sẽ không được cấp dưới thực hiện một cách có hiệu quả. Lúc sinh thời, lãnh tụ Lênin cho rằng: Điều quyết định thành công trong việc lãnh đạo quần chúng không phải bởi sức mạnh của quyền hành mà là sức mạnh của uy tín, sức mạnh của nghị lực, của sự hiểu biết phong phú, của tài năng xuất sắc...

Nói một cách khái quát thì uy tín được hình thành từ 3 yếu tố chính: Phẩm chất, năng lực và phong cách của người lãnh đạo. Nó được thể hiện và đo lường ở “lòng dân”. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: Người lãnh đạo chỉ có uy tín khi được dân tin, dân phục, dân yêu.

Trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành hiện nay cho thấy, bên cạnh những cán bộ có uy tín đích thực còn có cán bộ cố tình tạo ra cho mình loại uy tín giả danh (giả hiệu). Loại uy tín này được xây dựng không dựa trên những phẩm chất, năng lực và giá trị xã hội đích thực của người lãnh đạo, quản lý mà được chủ thể tạo nên bằng nhiều thủ đoạn. Theo Đại tá, PGS TS Đỗ Duy Môn, nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý học Quân sự, Học viện Chính trị thì uy tín giả biểu hiện rất phong phú với nhiều dạng khác nhau. Đó là:

Loại uy tín do hạ thấp yêu cầu hay là “mị dân”, “dân chủ giả hiệu”. Họ giả vờ tỏ ra quan tâm, gần gũi quần chúng, hạ thấp yêu cầu với cấp dưới để lôi kéo tình cảm, sự ủng hộ của cấp dưới theo mình.

Loại uy tín được tạo ra bởi “trấn áp” bằng quyền lực, độc đoán, gia trưởng, tạo khoảng cách đối với cấp dưới. Người lãnh đạo tìm cách phô trương sức mạnh quyền lực, đe dọa cấp dưới; tạo quyền uy, khoảng cách, che đậy bản chất thật.

Loại uy tín do phóng đại thành tích của mình, thổi phồng khuyết điểm người khác. Họ lẩn tránh khuyết điểm của bản thân, nhưng lại khoét sâu hoặc xuyên tạc khuyết điểm người khác; phóng đại thành tích để thông báo, tự ca ngợi mình; luôn đề cao cá nhân, coi mình là nhất...

Uy tín giả tìm mọi cách che mắt tập thể, che mắt cấp trên. Nhất là mỗi khi có sự kiện như: Chuẩn bị đại hội Đảng, làm quy trình nhân sự hay thay đổi đội ngũ cán bộ chủ chốt... Thời điểm này, những kẻ cơ hội tìm mọi cách ban phát những quyền lợi vật chất nhỏ bé, "thiết kế" các cuộc gặp gỡ "chén chú chén anh", cười cợt lừa phỉnh người nhẹ dạ để lôi kéo phe cánh, quần chúng, dùng phiếu bầu để hạ uy tín người khác; họ có thể thu mình, tránh va chạm, nịnh trên, vuốt ve dưới...

Uy tín giả và cuộc đấu tranh chống “địch bên trong”

Có thể thấy, uy tín giả rất nguy hại, nó tác động và làm suy yếu tổ chức, tập thể, làm méo mó động cơ phấn đấu của cá nhân. Nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết trong tập thể; tạo ra môi trường, tâm lý không lành mạnh với sự ghen ghét, độ kỵ, nghi ngờ trong các thành viên và làm suy giảm hiệu quả công việc của tập thể. Đặc biệt, nếu tổ chức, tập thể không tỉnh táo, dũng cảm để nhận diện và đấu tranh thì uy tín giả sẽ trở thành bình phong để những kẻ cơ hội tiến thân, lọt qua các quy trình để “chui sâu, leo cao” vào các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn.

Uy tín giả gây tác hại khôn lường, nhưng nhận diện không hề đơn giản vì nó được che đậy tinh vi bằng nhiều thủ đoạn, nó nằm sâu trong động cơ, lợi ích cá nhân của một bộ phận cán bộ lãnh đạo. Phát hiện ra nó phải nhìn nhận từ phẩm chất, năng lực thật sự, đặc biệt là phong cách, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ đó. Xem đạo đức, trình độ có tương xứng với cương vị, chức trách không, có độc đoán, gia trưởng hay mị dân, dân chủ giả hiệu không, có thổi phồng thành tích của mình không?...

PGS, TS Đỗ Duy Môn cho rằng, nguyên nhân tạo nên uy tín giả có cả khách quan và chủ quan. Đó là do công tác giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ chưa chặt chẽ, tinh thần dân chủ, tính đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể không cao hoặc bị vô hiệu hóa. Bản thân một số cán bộ không có phẩm chất, năng lực đáp ứng chức trách nhiệm vụ được giao, không có nhận thức đúng về uy tín, động cơ sai trái, nhằm mục đích cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện... Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén cho lợi ích riêng, đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của giai cấp, của dân tộc, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tha hóa Ðảng. Người cũng khẳng định: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

Phải tinh tường, đừng “thấy đỏ tưởng là chín”

Đấu tranh chống lại các biểu hiện và thủ đoạn để tạo uy tín giả cũng là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải có dũng khí, có phương pháp và kiên trì. Nó gắn liền với việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, gắn với việc tu dưỡng, rèn luyện đội ngũ... Trong xây dựng uy tín thật, đấu tranh với uy tín giả trong đội ngũ cán bộ hiện nay, cần quan tâm và thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có ý thức và quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, năng lực, hoàn thiện về nhân cách, xứng đáng với chức trách nhiệm vụ được giao. Muốn có uy tín, mỗi người phải tự học tập, tu dưỡng, tích lũy tri thức, kinh nghiệm, vốn sống, nâng cao năng lực mọi mặt để được đồng nghiệp, quần chúng thừa nhận, tin theo. Đồng thời và quan trọng hơn là đội ngũ cán bộ phải thường xuyên rèn luyện về đạo đức, lối sống cũng như sinh hoạt. Những vi phạm về đạo đức, lối sống bao giờ cũng là nguyên nhân chính, rất nhạy cảm làm giảm sút và mất uy tín của người cán bộ. Cùng với đó, quá trình gây dựng và nâng cao uy tín của người cán bộ cần tạo dựng cho mình một phong cách lãnh đạo, quản lý thích hợp, một phương pháp, tác phong công tác hiệu quả. Một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc, quy định, mặt khác phải linh hoạt, thích ứng, không rập khuôn, máy móc, với động cơ thật sự trong sáng vì tập thể, vì cái chung. Cần chống lại mọi biểu hiện như độc đoán, gia trưởng hay mị dân, bệnh công thần, háo danh...

Mặt khác, cần xác lập tốt các mối quan hệ và giao tiếp trong tập thể để hình thành lòng tin, sự tín nhiệm của cấp dưới với người lãnh đạo, quản lý. Nó đòi hỏi người cán bộ phải thật tâm, thật tình, thật tin tưởng khi quan hệ với dưới, được biểu hiện bằng sự quan tâm, chăm lo, ứng xử đúng mực với dưới. Là sự giản dị, khiêm nhường, không định kiến...

Một giải pháp rất căn cơ để xây dựng uy tín đích thực trong tập thể là phải tạo được bầu không khí dân chủ, đoàn kết, tinh thần phê bình và tự phê bình tích cực trong tập thể. Muốn có được điều đó cần quan tâm xây dựng tổ chức, tập thể vững mạnh; cán bộ chủ chốt phải gương mẫu, trách nhiệm; các thành viên đoàn kết, gắn bó.

Cùng với đó, phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, các thủ đoạn để tạo dựng uy tín giả. Nó đòi hỏi tổ chức, tập thể phải tinh tường và có dũng khí trong vạch trần các cá nhân có động cơ và việc làm sai trái. Các cá nhân này thường rất tinh vi để che đậy bản chất, đánh lừa tổ chức, tập thể vì mục đích vụ lợi, cá nhân. Trong chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã cảnh báo: Đừng “nhìn gà hóa cuốc”, “thấy đỏ tưởng là chín", đừng chỉ thấy "cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong"...

Uy tín giả làm xói mòn niềm tin của cấp dưới với cấp trên, nói rộng ra là của quần chúng với Đảng. Vì thế đấu tranh chống uy tín giả cũng chính là xây dựng niềm tin, “lòng dân” ở các tổ chức, tập thể, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới hiện nay./.

BẢO VỆ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VINH QUANG CỦA DÂN TỘC LÀ BÀI HỌC VÀ TRÁCH NHIỆM THIÊNG LIÊNG TRONG HUYẾT QUẢN CỦA CHÚNG TA!

 


Năm 1987, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên xô khởi xướng một trào lưu tư tưởng mang tên “suy ngẫm lại lịch sử” cách đó với tinh thần công kích Stalin, phủ nhận thắng lợi của chiến tranh Vệ quốc...

Tháng 3-1988, báo Nước Nga Xô-Viết đăng bức thư của Nina Andreyeva, nữ giảng viên ở Học viện Khoa học kỹ thuật Leningrad lên án trào lưu suy ngẫm lại lịch sử, chỉ rõ nó thực chất là dòng nước ngược, bôi đen Liên Xô xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Thế nhưng, thay vì ủng hộ ý kiến tâm huyết này, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập hội nghị khẩn cấp để đánh trả “thế lực chống đối cải tổ”. Ngày 5-4-1988, Báo Sự Thật đăng bài phản kích Nina Andreyeva. Sau đó, các cơ quan báo chí đồng loạt phản kích. Toàn bộ lịch sử Liên Xô bị miêu tả như một mớ đen ngòm. Sang năm 1989, trào lưu chuyển sang phê phán, phủ định Cách mạng Tháng Mười, Chủ nghĩa Lênin và chính Lênin, bãi bỏ môn học Chủ nghĩa Mác-Lênin trong trường học. Cơn lốc xét lại lịch sử ngày càng mạnh mẽ, lôi cuốn toàn bộ xã hội.

Một số tờ báo và tạp chí cấp tiến, như: Họa báo, Tia lửa và Tin tức Moscow công khai phủ định quá khứ, phủ định lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phủ định CNXH.

Sau này, năm 1994, nhà văn Boldarev đã nhìn lại: “Trong 6 năm, báo chí đã thực hiện được mục tiêu mà quân đội châu Âu có trang bị tinh nhuệ nhất cũng không thể thực hiện được khi xâm lược nước ta bằng lửa và kiếm vào những năm 40. Quân đội đó có thiết bị kỹ thuật hàng đầu nhưng thiếu một thứ. Đó là hàng triệu ấn phẩm mang vi trùng”. Những cuộc hội thảo rầm rộ nhằm xem xét lại vai trò của V.I.Lênin và Hồng quân trong chiến tranh vệ quốc, xuyên tạc, bóp méo lịch sử, bôi nhọ các gương anh hùng cách mạng. Khi hình tượng V.I.Lênin bị đánh sụp thì Đảng cũng tự đào hố chôn mình và đó cũng là lúc Gorbachev tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đến sự tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô viết. Một sự kiện sau này được Tổng thống Nga Vladimir Putin thừa nhận đó là cơn địa chấn khủng khiếp, là thảm họa của thế kỷ 20. Đau xót trước sự công phá khủng khiếp của trào lưu xét lại lịch sử, năm 1991 nhà thơ Tố Hữu đã viết bài thơ có đoạn:

“… Cả đàn sói chồm lên, cắn vào lịch sử/ Cào chiến công, xé cả xác anh hùng/ Ôi! Nỗi đau này là nỗi đau chung/ Lương tâm hỡi, lẽ nào ta tự sát? Lũ phản bội, điên cuồng, hèn nhát/ Và cả bay quân cướp nước, giết người/ Chớ vội cười! Chân lý vẫn xanh tươi …”.

Ngẫm lại trào lưu xét lại lịch sử ở Liên Xô trước đây để thấy, ở Việt Nam chúng ta một số kẻ mang danh là nhà khoa học, người có uy tín lên mạng công khai phủ nhận thành quả của cuộc Cách mạng tháng 8, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Càng đau xót hơn, một bộ phận giới trẻ hiện nay nhìn nhận lại cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của chúng ta là cuộc chiến "nồi da nấu thịt", gọi chiến thắng 30/4 là "tháng tư đen"; phủ nhận sự hi sinh của hàng triệu anh hùng liệt sỹ và đồng bào cả nước nhằm giành quyền tự do cho dân tộc...

Thế mới thấy hậu quả tai hại của một thế hệ trẻ ghét lịch sử, yêu văn hóa lai căng lớn như thế nào!

Buồn ở chỗ, cuộc chiến đó mới chỉ kết thúc gần 50 năm, vết tích của cuộc chiến vẫn còn đọng lại trên đôi mắt, cánh tay của hàng vạn thương binh trên khắp mọi miền tổ quốc này...

Thử đặt câu hỏi, khi những cựu chiến binh vào sinh ra tử chống Mỹ cứu nước cho non sông vẹn toàn, độc lập, thanh bình và hạnh phúc hôm nay sẽ ra đi theo quy luật sinh tử... thì liệu còn ai đứng ra bảo vệ lịch sử, chống lại đám xét lại đang hoành hành ngày càng lớn trên báo chí hiện nay?

Nhìn sang đất nước xa xôi nào đó, chúng ta sẽ thấy, bảo vệ giá trị lịch sử vinh quang của dân tộc là bài học lớn, trách nhiệm thiêng liêng trong huyết quản của mỗi chúng ta. Đó là giá trị xương máu cha ông ta đã đổ xuống cho đất nước "đơm chồi nảy lộc" 4 mùa như hôm nay!

                                                                                     BT