Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

GIÁNG SINH NƠI XỨ NGƯỜI CỦA ANH BẠCH HỒNG QUYỀN

 

Cuộc sống tỵ nạn ở nơi xứ người của anh Bạch Hồng Quyền tiếp tục được cộng đồng mạng chia sẻ những ngày gần đây khi anh đăng tải những trạng thái trên facebook cá nhân của mình. Thật buồn hơn khi là những người Công giáo xa quê hương như anh khi nhìn thấy không khí của Giáng sinh, Noel 2023 và đón năm mới 2024 đang đến gần, đặc biệt là tại các nhà thờ lớn như Nhà thờ lớn Hà Nội.

Những ngày này, Nhà thờ Lớn Hà Nội đã trang hoàng lung linh để chào đón Giáng sinh. Tại đây có cây thông Noel ‘khổng lồ’ và tiểu cảnh hang đá ngày chúa Giê-su ra đời trước cửa nhà thờ. Vào buổi tối các nhà thờ đều lung linh trong ánh đèn vàng ấm áp báo hiệu một mùa Giáng sinh đã về. Và việc anh Bạch Hồng Quyền mong muốn được nghe tiếng chuông nhà thờ, mong muốn được đón Giáng sinh, Noel ở quê hương là điều mà có thể thấy rõ sau những dòng trạng thái của anh.

Từ khi bỏ trốn ra nước ngoài và sống lưu vong ở nơi xứ người, anh Bạch Hồng Quyền đã không ít lần chia sẻ về cuộc sống không như “màu hồng” khi phải làm đủ nghề để kiếm sống qua ngày. Và cũng không ít lần vào những dịp lễ, Tết thì anh Bạch Hồng Quyền lại tâm trạng nhớ về quê hương hơn sau những tháng ngày tha phương ở nơi xứ Người. Ông cha ta vẫn thường có câu “Đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”, anh Bạch Hồng Quyền nên quay trở về để hưởng sự khoan hồng của pháp luật và có cơ hội để làm lại cuộc đời, được về với quê hương, nguồn cội của mình.

Ý NGHĨA CHUYẾN THĂM VIỆT NAM CỦA TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TẬP CẬN BÌNH

 

Chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là chuyến thăm thứ 3 của ông khi đến Việt Nam, cũng là để đáp lại chuyến thăm Trung Quốc năm ngoái của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; là chuyến thăm lẫn nhau lần thứ 3 của lãnh đạo cấp cao hai Đảng kể từ năm 2015.

Chuyến công du không phải là dài nhưng cũng đủ để cho hai bên và cộng đồng quốc tế thấy rằng, Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, đều là nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, chế độ chính trị tương đồng, lý tưởng niềm tin tương thông, con đường phát triển gần gũi, cùng chung chí hướng,

Đặc biệt, chuyến thăm Việt Nam của người đứng đầu Trung Quốc còn khẳng định nỗ lực của hai bên trong xây dựng Nhà nước vì nhân dân hạnh phúc và đất nước giàu mạnh, nỗ lực vì sự nghiệp cao cả hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Thế mới thấy, nằm cạnh "ông bạn vừa cao to, vừa lực lưỡng" mà vẫn để ông bạn phải tôn trọng mình, đó mới là cái tài của Đảng, Nhà nước ta.

NGUYỄN MINH PHÚC - “ĐI ĐÊM LẮM CÓ NGÀY GẶP MA”

 

Không chỉ có những hành vi lợi dụng lòng tin vào tôn giáo để làm điều trái đời, ngược đạo gây ảnh hưởng xấu đến uy tín trong tôn giáo và vi phạm pháp luật mà Nguyễn Minh Phúc (tự xưng Thích Tâm Phúc) vừa bị Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố bị can và bắt tạm giam về tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" (sử dụng giấy tờ quyền sử dụng đất giả để đi lừa đảo) vào ngày 06/12/2023. Đây là thông tin đang nhận được sự quan tâm và chia sẻ của cộng đồng mạng và có lẽ đây là cái giá mà Nguyễn Minh Phúc phải nhận sau hàng loạt những sai phạm trong thời gian qua.

Nguyễn Minh Phúc (sinh năm 1983, ngụ tại nhà số 174/13A ấp Láng Cát, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi), tự xưng là “Đại đức Thích Tâm Phúc”, "trụ trì chùa Hoằng Pháp Trung ương"... Các giấy tờ như chứng điệp thọ giới, giấy chứng nhận Tăng Ni, quyết định bổ nhiệm trụ trì “chùa Hoằng Pháp Trung ương”… mang tên “Đại đức Thích Tâm Phúc” (Nguyễn Minh Phúc) được ghép, sao chụp ảnh chữ ký của lãnh đạo và khuôn dấu của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN... Các huân chương, huy chương, bằng khen của lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ hay các loại giấy tờ chứng minh là tu sĩ, các quyết định bổ nhiệm với chữ ký của Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Hòa thượng Trưởng ban Tăng sự Trung ương, khuôn dấu của Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN cấp cho Nguyễn Minh Phúc đều do y tự làm, giả mạo.

Nguyễn Minh Phúc thường quay video với nội dung ăn thịt chó, bún đậu, vịt quay, hột vịt lộn... và có những phát ngôn gây sốc, phản cảm làm điều trái đời, ngược đạo gây ảnh hưởng xấu đến uy tín trong tôn giáo và vi phạm pháp luật. Sư giả Nguyễn Minh Phúc cũng là người đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác".

“Đi đêm lắm có ngày gặp ma”, vị sư giả “Thích Đủ Thứ” Nguyễn Minh Phúc cũng đã phải sa lưới khi sử dụng giấy tờ quyền sử dụng đất giả để đi lừa đảo và bị bắt về các tội danh “lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" và đối diện với những hình thức xử lý nghiêm minh của pháp luật.

Liên qua đến việc ban hành quyết định phê duyệt sách giáo khoa các môn học, hoạt động giáo dục lớp 5 và sách giáo khoa tiếng Trung Quốc lớp 3, lớp 4 sử dụng trong cơ sở giáo dục phổ thông, trên mạng xã hội xuất hiện các thông tin xuyên tạc, bình luận tiêu cực, lệch lạc về nội dung quyết định.

Cụ thể, nhiều tài khoản Facebook đăng tải quyết định và cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo bỏ môn tiếng Anh ra khỏi kỳ thi tốt nghiệp THPT để chuẩn bị chương trình hội nhập tiếng Trung Quốc cho học sinh từ lớp 3, lớp 4. Thậm chí, một số tài khoản còn cho rằng đây là quyết định n.gu x.uẩn trong lịch sử giáo dục Việt Nam.

Theo tôi được biết thì, quyết định phê duyệt danh mục sách giáo khoa là hoạt động bình thường, theo đúng kế hoạch thẩm định, phê duyệt danh mục sách giáo khoa các môn ngoại ngữ trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trước đây thì Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt sách giáo khoa tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Pháp lớp 3 để sử dụng trong các cơ sở giáo dục phổ thông, còn nay là tiếng Trung thì có gì phải bàn cãi?

Hơn nữa, đâu phải cứ ban hành sách giáo khoa thì tất cả đều phải học mà do các trường lựa chọn cho phù hợp. Giờ là thời đại hội nhập rồi, càng biết nhiều thứ tiếng thì càng tốt chứ có sao mà cứ phải trầm trồ nhỉ?


Hành động đẹp của Đại úy Nguyễn Công Linh


Mới đây, trên đường đi công tác qua đường Trịnh Văn Bô (quận Nam Từ Liêm, TP Hà

Nội), Đại úy Nguyễn Công Linh, Chính trị viên phó Tiểu đoàn Thiết giáp 47 (Bộ tư lệnh

Thủ đô Hà Nội) phát hiện một chiếc điện thoại Iphone của ai đó bị rơi ở ven đường.

Đứng chờ một lúc không thấy ai đến tìm, anh mang chiếc điện thoại về báo cáo chỉ huy

đơn vị. Sau khi kiểm tra chiếc điện thoại còn nguyên vẹn, hoạt động bình thường, chỉ huy

Tiểu đoàn 47 lập biên bản sự việc, đồng thời triển khai cho đồng chí Linh chủ động tìm

cách liên lạc với người mất tài sản để trả lại. Chia sẻ với chúng tôi, Đại úy Nguyễn Công

Linh cho biết: “Cuối giờ trưa hôm đó, tôi nhận được cuộc gọi đến chiếc điện thoại nhặt

được. Người ở đầu dây là ông Nguyễn Bá Dũng, sinh năm 1961, ở xã Ba Vì, huyện Ba

Vì, TP Hà Nội. Ông Dũng cho biết đã đánh rơi chiếc điện thoại này, muốn xin lại. Sau

khi xác minh sự việc, tôi đã báo cáo chỉ huy đơn vị và hẹn người đánh rơi đến nhận lại tài

sản tại Tiểu đoàn”. Nhận lại chiếc điện thoại, ông Nguyễn Bá Dũng rất cảm kích và bày

tỏ lời cảm ơn tới cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Thiết giáp 47, nhất là đồng chí Nguyễn Công

Linh. Ông Dũng cho biết mình là lao động tự do, vừa mua chiếc điện thoại để phục vụ

công việc, thế nhưng do sơ suất đã làm rơi lúc nào không hay. “Khi biết làm rơi điện

thoại, tôi nghĩ chắc sẽ khó tìm lại được, nhưng may mắn, tôi đã gặp được người tốt như

đồng chí Linh”, ông Dũng bộc bạch. Thiếu tá Đinh Văn Công, Tiểu đoàn trưởng Tiểu

đoàn Thiết giáp 47 cho biết: “Đồng chí Nguyễn Công Linh là cán bộ trẻ, rất trách nhiệm

trong công việc, luôn có tinh thần đoàn kết, hòa đồng, giúp đỡ đồng đội và có nhiều thành

tích. Năm 2020, đồng chí Linh được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và được

thủ trưởng Bộ Quốc phòng tặng bằng khen”. Hành động nhặt được của rơi trả người đánh

mất của Đại úy Nguyễn Công Linh đã để lại tình cảm, ấn tượng tốt đẹp trong lòng người

dân, góp phần lan tỏa phẩm chất tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, nét đẹp văn hóa “Người chiến sĩ

Thủ đô” thời kỳ mới.

Vạch trần luận điệu xuyên tạc sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia


Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động gia tăng nhiều hoạt động tuyên truyền

chống phá Đảng và Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực, trong đó có nội dung xuyên tạc hoạt

động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia (BGQG). Âm mưu

tinh vi, thủ đoạn thâm độc Chủ quyền lãnh thổ, BGQG trong tâm thức mỗi người dân là

thiêng liêng, bất khả xâm phạm, liên quan đến hòa bình, an ninh và phát triển của đất

nước, quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng nên việc xuyên tạc chống phá dễ

gây ra tâm lý bất bình, dễ kích động trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhẹ dạ, cả

tin. Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn

rất tinh vi, giảo hoạt, tung ra những thông tin và tư liệu lịch sử, kỹ thuật không có tính

pháp lý để đánh lừa dư luận. Trước hết, chúng xuyên tạc kết quả phân giới cắm mốc giữa

Việt Nam với các nước có chung đường biên giới, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với

các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện

mưu đồ chính trị của mình. Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam tham gia giải quyết

vấn đề biên giới với các nước cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc kết quả đạt

được giữa các bên, đặc biệt đối với những vấn đề về biên giới chưa được giải quyết dứt

điểm, chúng thường tập trung tuyên truyền theo hai hướng, đó là xuyên tạc Việt Nam nhu

nhược nên nhượng đất cho nước láng giềng nhằm kích động tâm lý bất bình trong nhân

dân; bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại tiến trình phân

giới cắm mốc của nước ta với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia. Cùng với những

luận điệu xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG trên đất liền,

các thế lực thù địch, phản động còn rêu rao rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội

nhân dân Việt Nam nhu nhược, hèn yếu nên không có những động thái kiên quyết để bảo

vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia; thậm chí chúng còn trắng trợn bịa đặt rằng lãnh đạo

Đảng, Nhà nước im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài thao túng chủ quyền biển, đảo

của nước ta (!). Tinh vi hơn, núp dưới chiêu bài “hiến kế, góp ý”, chúng đã đưa ra luận

điệu cho rằng: Do sức mạnh của Hải quân nhân dân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc

hậu”... nên “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ

được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc” (!). Từ đó, chúng đòi

hỏi Việt Nam cần từ bỏ chính sách “4 không” và liên minh quân sự với các nước lớn có

tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh thì mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo

quốc gia (!). Trên khu vực biên giới, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc

chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử tộc người, quan hệ

tộc người, bôi nhọ chủ trương phát triển kinh tế-xã hội. Chúng cho rằng việc phát triển

các dự án kinh tế là nguyên nhân “đẩy” đồng bào các dân tộc lâm vào tình cảnh khốn

khó, mất nguồn sinh kế, vì thế, đời sống bà con luôn thiếu thốn, khó khăn. Chúng còn

kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây

khó khăn cho đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội, qua đó nhằm phá hoại


khối đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc. Để tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc, chúng tận dụng tối đa

các phương tiện truyền thông xã hội, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn

nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát

những quan điểm sai trái, phản động về chủ quyền lãnh thổ, BGQG; lợi dụng các hoạt

động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo

những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở biên giới,

vùng sâu, vùng xa. Kiên trì, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới

quốc gia Trước tình hình chống phá đó, việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về

quản lý bảo vệ BGQG hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài đối với toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là nhiệm vụ quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, lý

luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh có hiệu quả với các luận

điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt

một số nội dung cơ bản sau. Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn

quân về tầm quan trọng của việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về bảo vệ

BGQG hiện nay. Tập trung tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

nhận thức rõ việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện

nay là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

và cả hệ thống chính trị. Trong đó, tăng cường giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng

viên và nhân dân những quy định pháp lý về BGQG, chủ quyền biển, đảo của Việt Nam;

về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ

chủ quyền, an ninh BGQG. Tích cực tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân,

nhất là thế hệ trẻ nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu sai trái, thù địch

mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng,

chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ BGQG hiện nay, nhằm nâng cao sức đề

kháng của các tầng lớp nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc về quản lý,

bảo vệ BGQG. Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng

lớp nhân dân trong chủ động đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc về quản lý

bảo vệ BGQG. Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó cần phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là

trung tâm, là chủ thể trong sự nghiệp bảo vệ BGQG. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả

hệ thống chính trị và nhân dân trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá

của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, khu vực

biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo; ngăn chặn kịp thời hoạt động lợi dụng vấn

đề tôn giáo, dân tộc để chống phá, lôi kéo di dân tự do; tích cực đấu tranh ngăn chặn kịp

thời âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương,

chia rẽ đồng bào các dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân. Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên

truyền, hướng dẫn đồng bào khu vực biên giới thực hiện nếp sống văn minh gắn với giữ

gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Thực hiện hiệu quả các dự án bảo tồn và phát triển bền vững

một số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; đẩy lùi, xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu,


mê tín dị đoan. Quan tâm, chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo, bảo đảm cuộc

sống, lao động sản xuất ổn định cho đồng bào các dân tộc trên khu vực biên giới, hải đảo.

Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý,

bảo vệ BGQG; kiên quyết xử lý các đối tượng có hành vi sai trái, xuyên tạc về BGQG và

quản lý, bảo vệ BGQG. Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tích cực đăng tải các bài viết

trên những phương tiện thông tin đại chúng, trên hệ thống internet thể hiện rõ lập trường,

quan điểm của Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến chủ quyền, an ninh BGQG

trên bộ và trên biển. Tổ chức đưa phóng viên, nhà báo, đại diện các tầng lớp nhân dân

trong nước và kiều bào tham quan thực địa biên giới, biển, đảo để tuyên truyền chủ

trương, đường lối, chính sách về BGQG đến người dân trong nước và người Việt Nam ở

ngoài nước. Kịp thời cập nhật thông tin, đưa tin chính xác và cụ thể về những diễn biến

phức tạp trên biên giới, trên Biển Đông để định hướng dư luận, không để những thông tin

thật-giả lẫn lộn, mập mờ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính

sách của Đảng về quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG. Áp dụng các giải pháp kỹ

thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình Biển

Đông nói chung và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng. Tăng cường xử lý các

đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên

tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề chủ quyền biển, đảo.

Thiết lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân

dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch

trên internet và mạng xã hội để tạo thành thế trận liên hoàn, rộng khắp. Bốn là, thường

xuyên tiến hành công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về

quản lý, bảo vệ BGQG. Quan tâm tổng kết thực tiễn sự nghiệp quản lý, bảo vệ BGQG để

tiếp tục làm rõ nhận thức, quan niệm về quản lý, bảo vệ BGQG ở nước ta, tập trung vào

các vấn đề: Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ, giải pháp về quản

lý, bảo vệ BGQG... Đây là những vấn đề lớn, đòi hỏi công sức, trí tuệ, tâm huyết của toàn

Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trước hết là của đội ngũ cán bộ chuyên làm công tác tư

tưởng, lý luận và lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG. Tích cực khai thác tiềm

năng sáng tạo trong nghiên cứu lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG để phục vụ sự nghiệp

bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung và quản lý, bảo vệ BGQG nói

riêng. Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn

dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; là vấn đề hết sức thiêng liêng,

nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp. Các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ

BGQG thực chất là những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch,

phản động nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới từng bước làm thay đổi chế

độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên

quyết đấu tranh làm thất bại mọi luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về quản lý, bảo vệ

BGQG, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam

trong tình hình hiện nay. Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN THÁI SINH, Bí thư Đảng ủy,

Chính ủy Học viện Biên phòng Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha


Lo, BĐBP tỉnh Quảng Bình thực hiện nghi thức chào cột mốc chủ quyền trong quá trình

tuần tra, bảo vệ biên giới. 

QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG, BỘ QUỐC PHÒNG GẶP MẶT ĐẠI BIỂU CÁN BỘ CẤP CAO QUÂN ĐỘI NGHỈ HƯU, NGHỈ CÔNG TÁC KHU VỰC PHÍA BẮC!

     Sáng 4-1, Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng (BQP) tổ chức gặp mặt đại biểu cán bộ cao cấp Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác năm 2023 khu vực phía Bắc. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư QUTƯ, Bộ trưởng BQP chủ trì buổi gặp mặt. Cùng dự buổi gặp mặt có Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ QUTƯ, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Tham dự buổi gặp mặt có các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Bộ trưởng BQP; Đại tướng Ngô Xuân Lịch, nguyên Bộ trưởng BQP; Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Cùng dự buổi gặp mặt có các đồng chí Ủy viên Thường vụ QUTƯ: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng BQP; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Cùng dự buổi gặp mặt có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo QUTƯ, BQP, thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam; lãnh đạo Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và hơn 700 đồng chí là tướng lĩnh, cán bộ cao cấp Quân đội đã nghỉ hưu, nghỉ công tác khu vực phía Bắc; đại biểu thủ trưởng các cơ quan BQP, đại biểu Hội Cựu chiến binh Việt Nam...


Yêu nước ST.

LUẬN ĐIỆU “QUÂN ĐỘI XA DÂN, HẠI DÂN” CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG

           

        Lợi dụng một số quân nhân vi phạm kỷ luật của Quân đội, pháp luật của Nhà nước, có liên quan đến tham nhũng, tiêu cực; vi phạm chuẩn mực đạo đức trong quan hệ cán - binh, quan hệ quân - dân, chấp hành mệnh lệnh không nghiêm, có sai sót trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật, pháp luật để giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị và một số người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, thiếu thiện chí với Quân đội, đã viết bài, dàn dựng các video clip, các bài phỏng vấn rồi tung tin xấu, độc lên mạng xã hội, phản ánh sai sự thật, cốt để nói xấu cán bộ, chiến sĩ quân đội, bôi đen hình ảnh, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, xuyên tạc lịch sử truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

          Một số người đã nhân danh “công lý”, “lẽ phải”, “tiếng nói công dân”, “đại diện các gia đình quân nhân” kêu gọi thanh niên và các bậc cha mẹ “tẩy chay”, phản đối công tác tuyển quân, “không cho con em nhập ngũ”, “không thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự” vì theo họ “cho con em nhập ngũ sẽ biến thành người xấu”, “thời bình không có chiến tranh” “không cần tuyển nhiều quân”, “gây lãnh phí công sức, tiền của do dân nộp thuế”, v.v.. Một số phần tử quá khích đã tuyên truyền sai trái rằng, “cơ chế kinh tế thị trường đã làm thoái hóa, biến chất người quân nhân cách mạng”, “cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã xa dân”, “không còn là Quân đội của nhân dân”, “Quân đội đang hại nhân dân, hại nước”… Những luận điệu sai trái này sặc mùi vu không, cáo buộc, thực chất đây là những chiêu trò xấu xa, sự biến thái của âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, được che đậy dưới vỏ bọc “dân túy”, “mỵ dân”, “lấy dân để chống quân đội”…, nhằm chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân; Quân đội với Đảng, Nhà nước. Qua đó, xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta. Sự nham hiểm và “phi nhân tính” của luận điểm “quân đội xa dân”, “quân đội hại dân” được tán phát vào trước thời điểm toàn quân đang đẩy mạnh thi đua lập thành tích cao nhất để chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944- 22/12/2023) và 35 năm Ngày Hội quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2023).

          Những quan điểm sai trái nêu trên cần phải vạch trần bản chất phản động của nó; đồng thời, phải làm tốt hơn nữa công tác giáo dục, tuyên tuyền, làm cho mọi công dân hiểu rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn nữa lịch sử tuyền thống, bản chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”, “Bộ đội của Nhân dân”, suốt đời “tận trung với nước, với Đảng, trọn hiếu với Nhân dân”, “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”.


LỢI DỤNG CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI ĐẨY MẠNH TUYÊN TRUYỀN, KÍCH ĐỘNG TƯ TƯỞNG “LY KHAI, TỰ TRỊ” TRONG VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

 

          Những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống mạng Internet đã mang lại nhiều tiện ích cho người dân trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) nhờ có mạng xã hội đã được tiếp cận nhiều thông tin, kiến thức mới, áp dụng khoa học kỹ thuật, được giao lưu, học hỏi phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội… Tuy nhiên, đây cũng là điều kiện cho các tổ chức FULRO lưu vong lợi dụng tuyên truyền, kích động tư tưởng “ly khai tự trị” hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước.

          Lợi dụng các tiện ích của mạng xã hội Facebook, Fanpage Facebook, kênh YouTube đăng tải các video, bài viết về hoạt động của người DTTS ở Mỹ, Canada, Phần Lan, Thái Lan để bên trong tin tưởng “Tin lành Đêga” vẫn đang hoạt động, được quốc tế ủng hộ, giúp đỡ, bảo vệ, chờ đợi “Nhà nước Đêga” thành công. Chúng gia tăng hoạt động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, quyền tự do của con người để tác động, can thiệp công việc nội bộ Việt Nam, gây sức ép đòi thả tự do cho số vi phạm pháp luật đang bị ta áp dụng đối sách, giam giữ, xét xử. Chúng móc nối, lôi kéo số chống đối trong nước tham tổ chức, hoạt động đồng thời hướng dẫn thu thập thông tin trái chiều về tình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam cung cấp ra bên ngoài nhằm vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp tự do dân tộc, tôn giáo. Tăng cường tung tin, dựng chuyện, phản ánh sai sự thật về tình hình dân tộc, tôn giáo tại Việt Nam nói chung và người đồng bào DTTS tại Tây Nguyên nói riêng; đăng ảnh cuộc sống nghèo khó, ảnh chết do tai nạn lao động, bệnh tật của người DTTS để xuyên tạc, vu cáo chính quyền phân biệt đối xử, cướp đất đai, hạn chế, ngăn cản việc duy trì và phát triển văn hóa truyền thống của các DTTS Tây Nguyên.

          Phương thức, thủ đoạn tập trung một số mặt như lợi dụng các vấn đề về nguồn gốc lịch sử dân tộc, đất đai, những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, việc giải quyết các vụ việc khiếu kiện, mâu thuẫn, xung đột trong vùng đồng bào DTTS... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tìm cách kích động tư tưởng ly khai, dân tộc hẹp hòi, tạo tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc và cho rằng, chỉ có thành lập “nhà nước mới, quốc gia mới riêng thì mới giàu có, văn minh, phát triển” để lôi kéo kích động đồng bào DTTS biểu tình, bạo loạn, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Sử dụng các “danh xưng tôn giáo” khác nhau để lôi kéo, tác động số người DTTS tham gia nhằm thành lập ra một “tôn giáo riêng” cho người DTTS từ đó tách khỏi sự quản lý của các cấp, chính quyền địa phương. Kích động chống đối thông qua các hội, nhóm đồng thời triệt để sử dụng phát triển công nghệ lập những tài khoản mạo danh các đồng chí lãnh đạo, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng… để cắt ghép tạo các đoạn Video, hình ảnh bóp méo sự thật gây chia rẽ giữa chính quyền và người dân.

          Như vây, âm mưu, phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, FULRO lợi dụng không gian mạng tuyên truyền kích động tư tưởng “ly khai, tự trị”, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc là hết sức tinh vi, nguy hiểm cần cộng đồng mạng chung tay đấu tranh, vạch trần./.

Phát triển kinh tế số ở Việt Nam

 Xu hướng phát triển kinh tế số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Những năm gần đây, các hoạt động kinh tế số đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và được Chính phủ quan tâm, ưu tiên phát triển. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đề ra mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm tỷ lệ 20% GDP. Quyết định số 505/QĐ-TTg, ngày 22-4-2022, của Thủ tướng Chính phủ, lấy ngày 10-10 hằng năm là Ngày Chuyển đổi số quốc gia. Theo đó, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, mở rộng.

Thanh niên bán hàng trực tuyến các sản phẩm OCOP tại Diễn đàn Chuyển đổi số trong truyền thông quảng bá sản phẩm OCOP của thanh niên với nội dung "Khai thác tiềm năng kinh tế số trong xúc tiến quảng bá sản phẩm OCOP"_Ảnh: TTXVN

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu, với một số chỉ số cơ bản cụ thể, như: Chuyển đổi Số Quốc gia (NCSI – National Digitalization Score): Đây là một chỉ số kết hợp bao gồm: Đo lường mức độ phát triển của chuyển đổi số ở một quốc gia dựa trên các chỉ số con, như: hạ tầng kỹ thuật, môi trường kinh doanh và sự tham gia của người dân. Chuyển đổi Kỹ thuật số (DCI – Digital Readiness Index): Đánh giá khả năng của một quốc gia thích nghi với cuộc cách mạng số hóa. Nó tập trung vào yếu tố hạ tầng kỹ thuật số, sự thúc đẩy và môi trường kinh doanh. Phát triển Kỹ thuật số Thế giới (GDI – Global Digital Development Index): Chỉ số này đo lường mức độ phát triển kỹ thuật số ở các quốc gia dựa trên các yếu tố kỹ thuật số, kinh tế số và xã hội số. Kết nối toàn cầu (GCI – Global Connectivity Index): Chỉ số này tập trung vào mức độ kết nối mạng và hạ tầng kỹ thuật số của các quốc gia. Đổi mới kỹ thuật số (DMI – Digital Maturity Index): Đánh giá mức độ phát triển kỹ thuật số dựa trên khả năng vận dụng và thích nghi với các công nghệ số hóa trong nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội. Các chỉ số này giúp cung cấp cho cơ quan nhà nước và Chính phủ cái nhìn tổng quan về tình hình chuyển đổi số ở quốc gia và thúc đẩy sự cải thiện trong các lĩnh vực liên quan đến cuộc cách mạng số hóa.

Từ việc phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia châu Âu (Đức, Estonia), châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia) về phát triển kinh tế số (chiến lược, chính sách) trên đây, một số hàm ý chính sách có thể áp dụng cho Việt Nam trong giai đoạn 2023 - 2030 nhằm phát triển kinh tế số.

Thứ nhấthoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển kinh tế số

Việt Nam cần chú trọng trước hết đến việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm tạo khuôn khổ cho phát triển kinh tế số trên địa bàn tỉnh, thành. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số giúp các địa phương nâng cao năng lực thu hút đầu tư công nghệ số trong các lĩnh vực đầu tư mạo hiểm theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp công nghệ số. Điều này bao gồm cả các chính sách tác động thuận lợi tới môi trường kinh tế kỹ thuật số, cũng như các chính sách thúc đẩy tiếp cận kết cấu hạ tầng và dịch vụ kỹ thuật số với chi phí hợp lý. Cải cách chính sách thuế và quy định sẽ giúp thu hút đầu tư vào nền kinh tế kỹ thuật số, hỗ trợ quá trình chuyển đổi ngành do kết quả của các mô hình kinh doanh mới.

Song song với hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số, Việt Nam cần xây dựng các kế hoạch, hướng dẫn rất cụ thể về chuyển đổi số cho các doanh nghiệp; các kế hoạch này cần gắn liền với các nguồn tài chính, kinh phí hằng năm để nhằm tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với kinh tế số.

Thứ haixác định rõ ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số

Việt Nam cần căn cứ vào thế mạnh và đặc điểm của từng địa phương để xác định rõ những ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số. Trước mắt, các tỉnh, thành phố nên tập trung phát triển các lĩnh vực kinh tế số giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy tiêu dùng vì những lĩnh vực này giúp các địa phương tận dụng được những cơ hội của hội nhập quốc tế, đặc biệt là những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết (CPTPP, EVFTA, EVIPA) nhưng cũng không đòi hỏi trình độ công nghệ cao. Đồng thời, các tỉnh, thành phố nên phát triển những lĩnh vực nền tảng của kinh tế số, như hạ tầng số, tài nguyên số, dịch vụ số, thị trường số và có kế hoạch, chiến lược bài bản để tiếp cận, làm chủ những công nghệ quan trọng, cốt lõi của kinh tế số thông qua các chính sách hỗ trợ và trong hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài.

Thứ batuyên truyền nâng cao nhận thức toàn xã hội về nền kinh tế số

Việt Nam cần chú trọng hoạt động tuyên truyền nhằm tăng cường nhận thức của người dân và doanh nghiệp về kinh tế số, các lợi ích và thách thức đi kèm, với các nội dung cụ thể theo từng ngành, lĩnh vực, đặc biệt thông qua các cơ quan, doanh nghiệp và trường học. Đồng thời, các cơ quan báo chí, truyền thông cần định hướng dư luận, giúp cho các doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội có nhận thức đúng về nền kinh tế số, qua đó có sự chuẩn bị tốt nhất cho thích ứng xu hướng phát triển trên. Biện pháp này cũng đồng thời giúp tăng cường trách nhiệm của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân trong xây dựng kinh tế số.

Thứ tưchú trọng phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số

Vấn đề này đã được các quốc gia phát triển chú trọng từ lâu, nhưng đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Do đó, Việt Nam cần dành nhiều nguồn lực hơn cho phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số. Trong đó, nên tập trung phát triển, thu hút các chuyên gia về công nghệ số, các doanh nhân số thông qua các chính sách phù hợp. Đồng thời, cần định hướng phát triển giáo dục - đào tạo ở địa phương gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, sản xuất thông minh của nền kinh tế tri thức; đổi mới, hiện đại hóa chương trình đào tạo đại học, đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, thành phố, chuyển mạnh từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu xã hội.

Thứ nămtập trung đầu tư cơ sở vật chất trong quá trình phát triển kinh tế số

Cơ sở vật chất là nền tảng của quá trình phát triển kinh tế số. Do đó, Việt Nam cần quan tâm hơn nữa đến việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng làm chủ công nghệ lõi. Trung ương cần phối hợp với tỉnh, thành phố nhằm phát triển hạ tầng số quốc gia đồng bộ, rộng khắp bảo đảm đáp ứng yêu cầu kết nối, lưu trữ, xử lý dữ liệu, thông tin và các chức năng về giám sát, bảo đảm an ninh, an toàn mạng. Trong đó, cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xây dựng, phát triển hạ tầng băng thông rộng chất lượng cao. Nâng cấp mạng di động 4G, phát triển mạng di động 5G để có thể theo kịp xu hướng thế giới. Bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân dễ dàng tiếp cận với internet tốc độ cao. Chiến lược cung cấp kết nối phải bao trùm nhất có thể, phổ cập internet cáp quang băng thông rộng tốc độ cao tới mỗi hộ gia đình, phổ cập dịch vụ điện toán đám mây tới mỗi cơ quan, doanh nghiệp, phổ cập công nghệ 4G, 5G tới mỗi người dân. Để có đủ nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng số, cần khuyến khích mọi thành phần kinh tế có đủ năng lực tham gia đầu tư nhưng có cân nhắc với các phạm vi nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia(5).

Cần nhanh chóng nâng cấp và hoàn thiện nền tảng số phục vụ việc đơn giản hoá thủ tục hành chính. Người dân, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ số để làm các thủ tục trực tuyến một cách thuận tiện, nhanh chóng, không cần sự hiện diện nếu pháp luật không yêu cầu. Xây dựng chính quyền điện tử sẽ giúp tăng hiệu quả dịch vụ công, đồng thời mở rộng thị trường cho sự phát triển của ngành dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông. Ngoài ra, cần chú trọng vấn đề bảo đảm an ninh mạng và hoạt động mạng bằng cách gia tăng số lượng máy chủ an toàn và phát triển khả năng bảo mật không gian mạng để giám sát các mối đe dọa trực tuyến. Các địa phương cần tăng cường hợp tác quốc tế về các luồng dữ liệu, bảo mật, giảm các rào cản đối với thương mại trực tuyến trong và ngoài nước cũng như các quyền và sự đòi hỏi của công dân liên quan đến quyền riêng tư và lưu trữ dữ liệu./.

Kinh nghiệm phát triển kinh tế số của Malaysia

 Malaysia là quốc gia đầu tiên của Đông Nam Á ban hành và thông qua Luật Bảo vệ dữ liệu (Data Protection Act). Chính phủ Malaysia cũng đề ra một số kế hoạch và dự án nhằm nâng cao hạ tầng kinh tế số của quốc gia này, như: dự án High Speed Broadband (HSBB) giai đoạn 2020 - 2025; Sub - Urban Broadband (SUBB) giai đoạn 2015 - 2020; Rural Broadband (RBB) năm 2020. Theo đó, Dự án HSBB 1 đã cung cấp hơn 1 triệu cổng kết nối với tốc độ 10Mb/s; dự án HSBB 2 cung cấp 390.000 cổng mới cho các thủ phủ của tiểu bang, thị trấn và các khu vực tăng trưởng cao sử dụng FTTH, ETTH và VDSL lên đến 100Mbps; dự án RBB mở rộng dịch vụ băng thông rộng tại nông thôn; dự án SUBB cung cấp 420.000 cổng mới từ 421 sàn giao dịch và nâng cấp các đường dây đồng hiện có cung cấp băng thông rộng ở các vùng ngoại ô và nông thôn bên ngoài khu vực HSBB và HSBB2 với tốc độ 20Mbps.

Chương trình: “MSC Malaysia” (MSC) với mục tiêu hỗ trợ công ty công nghệ địa phương phát triển, thu hút vốn trong và ngoài nước đã mang lại thành quả rõ rệt. Chương trình “Doanh nhân công nghệ Malaysia” (MTEP - Malaysia Tech Entrepreneur Programme) là chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài khá rõ nét của Malaysia. Điều đặc biệt của chương trình này là hỗ trợ các thành viên, các doanh nghiệp tham gia được hưởng những ưu đãi về thuế, cụ thể: 70%- 100% số thuế thu nhập của doanh nghiệp sẽ được cắt giảm trong vòng 5 - 10 năm nếu tuân thủ đầy đủ những điều kiện mà chương trình đưa ra. Ngoài ra, MSC còn thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế số thông qua những tiện ích nhằm hội tụ không chỉ các doanh nghiệp mà cả những sinh viên, học viên và các chuyên gia trong lĩnh vực thành những khối gắn với mục tiêu khuyến khích sự chia sẻ nguồn lực, hợp tác và tiếp cận các phương pháp hiệu quả.

Bên cạnh đó, Malaysia xây dựng “Chương trình Doanh nhân Công nghệ Malaysia” (MTEP - Malaysia Tech Entrepreneur Programme) nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. MTEP có thể trao cơ hội cho những doanh nhân mong muốn xây dựng các dự án kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ bằng cách cấp thị thực 1 năm đối với người chưa có kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp và 5 năm cho những người đã có kinh nghiệm. Trong kế hoạch tổng thể về kinh tế số, Malaysia nhấn mạnh vào phát triển thương mại điện tử bởi vì Malaysia xác định đó là hướng phát triển phù hợp trong bối cảnh các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP) đi vào thực hiện. Cùng với phát triển thương mại điện tử, Malaysia cũng thúc đẩy mạnh việc chuyển đổi số trong lĩnh vực dịch vụ công. Quốc gia này thành lập Bộ phận quản lý và hiện đại hóa hành chính Malaysia (MAMPU) trực thuộc Văn phòng Thủ tướng để chuyển đổi hoạt động cung cấp dịch vụ công thông qua đẩy nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Mục tiêu chính của MAMPU là phát triển dữ liệu số, đám mây và an ninh mạng trong việc cung cấp các dịch vụ công.

Malaysia có các chương trình bồi dưỡng nguồn nhân lực kỹ thuật số, như eUshawan với số lượng người tham gia trong các năm 2020, 2021 và 2022 lần lượt là 3.108; 51.203 và 102.269 người. Đây là chương trình đào tạo với mục đích truyền tải những giá trị, kiến thức về kinh doanh kỹ thuật số đến những người kinh doanh trẻ ở khu vực nông thôn, giúp họ ứng dụng kỹ năng về truyền thông, quảng cáo để tăng doanh số bán hàng và cải thiện thu nhập. Đồng thời, với nền tảng “eRezeki”, Chính phủ Malaysia cũng tạo nhiều cơ hội việc làm cho người dân Malaysia, từ những người thợ sửa ống nước đến những người phụ nữ nội trợ. Thông qua đây, họ có thể đăng ký để trở thành những công nhân kỹ thuật số, làm những nhiệm vụ dựa trên các kỹ năng kỹ thuật số đơn giản và kiếm thêm thu nhập mà không phải ra khỏi nhà.

Kinh nghiệm phát triển kinh tế số của Estonia

 Một biện pháp quan trọng mà Estonia áp dụng thành công trong phát triển kinh tế số là “Hạ tầng băng thông rộng của Estonia - Dự án Network” (EstWin), do Bộ Kinh tế Estonia khởi động vào năm 2009 với mục đích cung cấp 6.600km cáp quang ở các vùng nông thôn và các khu có ít hơn 10.000 dân. Đến năm 2020, 98% số hộ gia đình, doanh nghiệp và tổ chức không được cách Estwin quá 1,5km và tất cả các nút mạng hiện có đều được kết nối với hệ thống mạng lõi. 85% số chi phí của Estwin được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khu vực châu Âu (ERDF), trong khi phần còn lại 15% số chi phí xây dựng mạng được đồng tài trợ bởi các nhà khai thác mạng hỗ trợ. Cùng với đó, Estonia còn có những chương trình, như Chương trình Nghị sự kỹ thuật số 2020 cho Estonia (Digital Agenda 2020 for Estonia), Chiến lược học tập suốt đời của Estonia năm 2020 (Estonian Lifelong Learning Strategy 2020) đã tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế số và chuyển đổi số của Estonia. Chính phủ Estonia đã thực hiện chương trình sử dụng thẻ điện tử nhằm hỗ trợ cho người dân, tạo kết cấu hạ tầng thông tin kỹ thuật số X-road, từ đó người dân có thể truy cập bằng E-ID của họ. Hằng năm, các dữ liệu dân cư được cho phép thêm vào bởi các thiết lập mở. Hệ thống thông tin được cung cấp đầy đủ, như bảo hiểm, đăng ký xe, căn cước..., cho phép người dân sử dụng các dịch vụ, như: bỏ phiếu điện tử, thuế trực tuyến, y tế trực tuyến..., giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc thay vì đăng ký và kê khai các dịch vụ trên giấy. Ngoài ra, Estonia luôn chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Năm 1995, ý tưởng “Bước nhảy của hổ” đã mang lại sự phát triển về giáo dục cho Estonia. Năm 2018, nhân lực của Estonia đứng thứ 10, hoạt động tốt hơn mức trung bình của EU. Các chương trình “The Digital Agenda 2020 for Estonia”, “Estonian Lifelong Learning Strategy 2020” của Estonia đã mang lại hiệu quả rất lớn trong việc phổ cập kỹ năng số cho người dân với chiến lược học tập suốt đời là: “Tập trung kỹ thuật số vào học tập suốt đời” là ưu tiên hàng đầu vì chúng là tiền đề của thị trường lao động toàn diện, cải thiện năng suất, tăng trưởng kinh tế bền vững.

Kinh nghiệm của Nhật Bản

Nhật Bản đã áp dụng thành công chiến lược đầu tư nhằm tăng năng suất của nền kinh tế Nhật Bản trong bối cảnh phát triển kinh tế số. Chiến lược này tập trung vào các nội dung: Tái cơ cấu các ngành kinh tế và việc làm để thích ứng với kinh tế số, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; bảo đảm hạ tầng an ninh thông tin để tăng cường an ninh mạng; thúc đẩy việc sử dụng công nghệ thông tin trong các ngành, lĩnh vực kinh tế. Để xây dựng, thực hiện mục tiêu trở thành quốc gia công nghệ thông tin tiên tiến nhất thế giới, Nhật Bản xác định công nghệ thông tin là trụ cột của chiến lược tăng trưởng, là giải pháp giúp vượt qua tình trạng trì trệ và thúc đẩy phục hồi kinh tế. Tiếp đến là chiến lược về an ninh mạng, trong đó, tập trung vào ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực để tăng cường khả năng phát hiện, chống lại các cuộc tấn công mạng. Chiến lược này nhằm tăng cường việc bảo đảm an ninh mạng, an ninh thông tin cho nền kinh tế Nhật Bản thông qua việc phát triển các hệ thống IoT an toàn, tạo ra một xã hội an toàn cho người dân.

Kinh nghiệm phát triển kinh tế số của Cộng hòa Liên bang Đức

 Đức là quốc gia triển khai phát triển nền kinh tế số bằng chiến lược tổng thể, bài bản ở cả cấp độ quốc gia, ngành và doanh nghiệp. Đức đã thành lập Phòng Công nghiệp 4.0 ở Bộ Kinh tế và Năng lượng, chịu trách nhiệm tham mưu và tổ chức triển khai chuyển đổi số, phát triển kinh tế số trong toàn quốc; thiết lập các tổ công tác đặc trách, như: tổ về xây dựng tiêu chuẩn, tổ về đào tạo - việc làm, tổ về an ninh mạng, tổ về xây dựng mô hình... để quản lý, điều hành từng lĩnh vực cụ thể. Chính phủ Đức cũng đề ra chiến lược phát triển kinh tế số tập trung vào một số lĩnh vực: 1- Ứng dụng kỹ thuật số trong các ngành công nghiệp mới, như: robot thế hệ mới, phương tiện thông minh (xe tự lái, tàu điện tự lái, tàu ngầm tự lái, máy bay tự lái...), vật liệu thông minh, năng lượng thông minh. 2- Chuyển đổi mô hình đào tạo nhân lực theo hướng đề cao tính linh hoạt, tính mở, tính tự chủ của các cơ sở đào tạo dựa trên đối thoại giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm thích ứng với sự thay đổi của cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế số và tập trung đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật các kỹ năng số cho người lao động thông qua nhiều hình thức khác nhau. 3- Phát triển hệ thống sản xuất thông minh, nhà máy thông minh bằng cách sử dụng IoT và công nghệ sản xuất tự động. Trong hệ thống sản xuất thông minh của Đức, các nhà máy thông minh, các hàng hóa, dịch vụ bên trong, bên ngoài nhà máy, các khâu của quá trình sản xuất như các chuỗi giá trị sản phẩm, thiết kế cơ sở sản xuất, sản xuất, bảo trì… được tiêu chuẩn hóa và liên kết với nhau. Với sự liên kết này, cả khu vực sản xuất của Đức sẽ hoạt động như một nhà máy thông minh lớn.

Chính phủ Đức đề ra chiến lược phát triển kinh tế số tập trung vào một số lĩnh vực như phát triển hệ thống sản xuất thông minh bằng cách sử dụng IoT và công nghệ sản xuất tự động.

Kinh nghiệm phát triển kinh tế số của Trung Quốc

 Trong định hướng chính sách phát triển kinh tế số, Trung Quốc thực hiện việc bảo hộ thị trường công nghệ số trong nước để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước phát triển, khẳng định vị thế độc quyền. Các doanh nghiệp trong nước được hỗ trợ để chiếm lĩnh thị trường công nghệ số trong nước trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Trung Quốc có chính sách hỗ trợ, đầu tư phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực, ngành công nghệ số. Hiện nay, Trung Quốc nằm trong top ba thế giới về đầu tư vốn mạo hiểm vào các loại công nghệ kỹ thuật số quan trọng, bao gồm thực tế ảo, xe tự hành, in 3-D, robot, máy bay không người lái và trí tuệ nhân tạo (AI)... Về chính sách quy hoạch, định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ số, trước hết, Trung Quốc tập trung vào những lĩnh vực công nghệ số đòi hỏi công nghệ vừa phải, như thương mại điện tử, sau đó mới tiến tới phát triển những lĩnh vực công nghệ số khó hơn, như trí tuệ nhân tạo, robot,...

Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc cũng tạo điều kiện và không gian để các doanh nghiệp số thử nghiệm, đồng thời vừa là nhà đầu tư, vừa là người tiêu dùng các công nghệ số khi chú trọng việc phát triển, chuyển đổi các phương thức, giao dịch trong nền kinh tế sang sử dụng công nghệ số, tập trung vào việc phát triển chính phủ điện tử, ngân hàng điện tử, giao dịch điển tử và thương mại điện tử. Ngay từ năm 2010, Trung Quốc đã chủ trương thành lập chính phủ điện tử bằng việc phát triển chữ ký điện tử, yêu cầu các cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương phải thiết lập trang web riêng, cung cấp nhiều dịch vụ trực tuyến tạo thuận lợi cho công việc và đời sống của người dân. Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt đang dần được thay thế bằng các phương thức thanh toán điện tử hiện đại như quét mã QR, thanh toán bằng ví điện tử. Đến nay, hai ứng dụng thanh toán điện tử phổ biến nhất hằng ngày tại Trung Quốc là WeChat Pay (Tenpay) của Tencent và Alipay của Alibaba thông qua điện thoại di động và đòi hỏi người dùng phải đăng ký bằng tên thật, kết nối với tài khoản ngân hàng.

Cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Nhật Bản

 1. Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị Nhật Bản

Hệ thống chính trị Nhật Bản hiện tại được định hình từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là giai đoạn toàn bộ tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Nhật Bản được cơ cấu, sắp xếp lại, chuyển đổi từ mô hình nhà nước quân phiệt sang mô hình chính quyền dân chủ.

Mô hình thể chế chính trị Nhật Bản hiện tại dựa trên chế độ lưỡng viện đa đảng. Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp độc lập với nhau. Theo Hiến pháp năm 1947, cơ chế tam quyền phân lập được thiết lập, không có quyền lực nào không bị kiểm soát và giám sát. Tam quyền phân lập được coi là nguyên tắc căn bản trong tổ chức bộ máy quyền lực ở Nhật Bản.

Cơ quan lập pháp là Quốc hội, gồm Hạ viện và Thượng viện, trong đó Hạ viện đại diện cho ý kiến và nguyện vọng của nhân dân; Thượng viện giám sát quyền lực và sự phán quyết của Hạ viện. Hạ viện có 465 nghị sỹ, nhiệm kỳ bốn năm. Trong số 465 ghế của Hạ viện, có 289 nghị sỹ được bầu từ các khu vực bầu cử nhỏ và 176 người khác được bầu đại diện theo tỷ lệ. Các ứng cử viên để bầu vào Hạ viện phải từ 25 tuổi trở lên. Thượng viện có 248 nghị sỹ, nhiệm kỳ sáu năm. Để duy trì tính liên tục của Thượng viện, cứ 3 năm bầu lại một nửa số thành viên. Trong số 248 thành viên, có 148 người được bầu theo phương thức bỏ phiếu bầu trực tiếp; 100 người được bầu từ danh sách của các đảng chính trị theo tỷ lệ đại diện. Các ứng cử viên để bầu vào Thượng viện phải từ 30 tuổi trở lên. Thượng viện không bị giải thể như Hạ viện.

Quốc hội Nhật Bản có quyền bổ nhiệm Thủ tướng, thông thường là đại biểu của chính đảng hoặc liên minh chính đảng thắng cử. Thủ tướng có quyền giải tán và bầu lại Hạ viện. Mặt khác, Hạ viện có quyền giải tán Nội các bằng một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm hoặc từ chối bỏ phiếu tín nhiệm Nội các. Nếu Hạ viện thông qua nghị quyết không tín nhiệm hoặc từ chối bỏ phiếu tín nhiệm Nội các thì toàn bộ Nội các, bao gồm cả Thủ tướng phải từ chức. Nội các vẫn phải điều hành công việc cho đến khi có một Thủ tướng mới được bổ nhiệm. Trong quan hệ giữa hai viện của Quốc hội Nhật Bản, Hạ viện có ưu thế hơn Thượng viện. Trong trường hợp các quyết định được đưa ra Quốc hội mà không đạt được sự thống nhất ý kiến giữa hai viện thì quyền quyết định cuối cùng thuộc về Hạ viện. Theo quy định, mỗi công dân Nhật Bản chỉ được làm nghị sỹ của một trong hai viện.

Biểu tượng của Nội các và Thủ tướng Nhật Bản (Ảnh: Wikipedia).

Trong Nội các, đứng đầu là Thủ tướng; giúp việc cho Thủ tướng là các bộ trưởng. Theo Hiến pháp Nhật Bản, Thủ tướng do Quốc hội bổ nhiệm, các bộ trưởng được Thủ tướng lựa chọn và bổ nhiệm. Phần lớn thành viên của Nội các, bao gồm cả Thủ tướng phải là đại biểu của một trong hai viện Quốc hội. Theo Luật Nội các năm 2001, số lượng bộ trưởng không được quá 14 người, tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt có thể lên đến 17 người. Thủ tướng Nhật Bản thường tại vị trong thời gian ngắn (trung bình mỗi Thủ tướng chỉ tại vị được 2,5 năm). Chánh án Tòa án Tối cao được Thiên hoàng bổ nhiệm theo lựa chọn của Nội các. Mười bốn thẩm phán khác được Nội các lựa chọn và bổ nhiệm. Cứ sau 10 năm, nhiệm kỳ của một thẩm phán phải được xác nhận bằng trưng cầu dân ý. Trong thực tế, các thẩm phán hầu như luôn được chọn lại và được phép phục vụ cho đến 70 tuổi.

Hệ thống chính trị Nhật Bản là hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng. Có rất nhiều đảng phái ở Nhật Bản nhưng chỉ có 5 chính đảng lớn thực sự có ảnh hưởng lớn, đó là Đảng Dân chủ Tự do (LDP), Đảng Dân chủ, Đảng Công Minh, Đảng Cộng sản Nhật Bản và Đảng Xã hội Dân chủ. Tất cả các chính đảng đều là chính đảng hợp pháp, có sự ghi nhận của pháp luật. Các đảng đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Nhật Bản, hình thức hoạt động công khai, trong đó đấu tranh nghị trường là phương thức cạnh tranh quyền lực cơ bản nhất. Các chính đảng giữ vai trò vừa là người thực thi chính sách (nếu là đảng hoặc liên minh cầm quyền), vừa là người giám sát quyền lực (nếu là đảng đối lập). Các chính đảng cũng là nơi tập hợp, phân tích các ý kiến phản hồi từ nhân dân.

Mặc dù là chế độ đa nguyên, đa đảng nhưng trên thực tế đó là sự thống trị của một đảng - Đảng Dân chủ Tự do (LDP). Kể từ khi thành lập vào năm 1955, LDP gần như liên tục nắm quyền lãnh đạo hệ thống chính trị Nhật Bản, ngoại trừ một chính phủ liên minh tồn tại trong một thời gian ngắn gần 11 tháng vào năm 1993 và trong giai đoạn 3 năm, từ tháng 8-2009 đến tháng 12-2012. Trong cuộc bầu cử tháng 12-2012, LDP đã trở lại nắm quyền điều hành đất nước. Một đảng quan trọng khác là Đảng Công Minh - theo truyền thống là đồng minh với Đảng Dân chủ Tự do. Chính vì đặc điểm này, hệ thống chính trị Nhật Bản thực chất được xem là hệ thống một đảng chiếm ưu thế. Sự thống trị lâu dài của LDP trong hệ thống chính trị của Nhật Bản đã định hình sâu sắc bản chất chính trị ở Nhật Bản. Một hệ thống phe phái rất phức tạp hình thành trong nội bộ LDP, các cuộc xung đột, thường rất gay gắt đã xảy ra chủ yếu trong LDP hơn là giữa các đảng chính trị khác. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động của cả Quốc hội Nhật Bản, nhưng thường thể hiện ở Hạ viện nhiều hơn Thượng viện. Các phe phái trong LDP dựa trên các cá nhân có thế lực, thường là thành viên kỳ cựu của LDP, nhiều người trong số họ là cựu Thủ tướng hoặc là người có khả năng trở thành Thủ tướng trong tương lai. Số lượng và quy mô của các phe phái liên tục thay đổi. Các chuyên gia Nhật Bản cho rằng phe phái đang trở thành một hình thức kiểm soát quyền lực của đảng cầm quyền, xuất hiện từ ngay trong nội bộ đảng.

Một đặc điểm đáng chú ý của chính trị Nhật Bản là mang đậm tính chất gia trưởng Đông Á. Điều này thể hiện khá rõ ở sự tham gia khá hạn chế của phụ nữ vào hoạt động chính trị hay sự ảnh hưởng của tính kết nối gia đình “cha truyền, con nối”, nhiều thành viên của Quốc hội và Chính phủ là con, cháu của cựu thành viên Quốc hội, Chính phủ, thành viên LDP trước đây.

Ở Nhật Bản, các tổ chức hiệp hội, nghiệp đoàn rất phát triển. Gần như mọi loại hình hoạt động, mọi tầng lớp xã hội đều có tổ chức riêng của mình nhằm liên kết các hội viên, tổ chức các hoạt động tương trợ, giúp đỡ nhau và đấu tranh chống lại những chính sách động đến quyền lợi của họ. Đây là hình thức giám sát quyền lực hữu hiệu và có hiệu quả vì nó có thể tác động đến những chính sách, những quyết định rất cụ thể của Chính phủ.

Với các thiết chế giám sát quyền lực như vậy, mọi sự trì trệ, suy thoái hoặc tiêu cực của các cơ quan nhà nước cũng như các quan chức rất khó được bỏ qua mà thường được khai thác triệt để. Điều này buộc các cơ quan và các cá nhân có quyền lực phải rất thận trọng trước mỗi quyết định và phải điều chỉnh những quyết định nếu gặp phải sự phản ứng quyết liệt.

2. Một số kết quả nổi bật cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Nhật Bản

Bước sang thế kỷ XXI, các điều kiện xã hội đã thay đổi đáng kể. Các cấu trúc và hệ thống của Chính phủ Nhật Bản đã trở nên không phù hợp với những thay đổi này và tỏ ra hoạt động kém hiệu quả. Chính vì vậy, sự cần thiết thay đổi và cải cách mạnh mẽ để bộ máy chính quyền hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhất. Tháng 4-1999, Nội các Obuchi Keizo đã đệ trình lên Quốc hội Nhật Bản 17 dự luật về tái cấu trúc và hợp lý hóa các bộ và cơ quan Chính phủ Trung ương cũng như tăng cường các chức năng của Nội các và vai trò điều hành của Thủ tướng. Theo dự luật, cơ cấu chính quyền Trung ương lúc đó bao gồm Văn phòng Thủ tướng Chính phủ và 22 tổ chức cấp bộ trong Nội các sẽ được đổi thành Văn phòng Nội các và 12 tổ chức cấp bộ. Quốc hội đã thông qua các đề xuất của Nội các. Cấu trúc Chính phủ mới được lên kế hoạch bắt đầu vào ngày 1-1-2001. Đây là một sự tái cấu trúc chính quyền Trung ương mạnh mẽ chưa từng xảy ra ở Nhật Bản và đã mang lại những kết quả quan trọng, cụ thể sau:

Thứ nhất, tái cơ cấu các bộ nhằm phá vỡ ngăn cách và tinh gọn bộ máy.

Theo luật được thông qua, 23 tổ chức cấp bộ được cơ cấu lại thành một văn phòng (Văn phòng Nội các) và 12 tổ chức cấp bộ. Tổng số công chức quốc gia tính tại thời điểm tháng 1-2020 là 586.000 người, trong đó công chức phổ thông là 288.000 người (49,1%), công chức đặc biệt (công chức thuộc Lực lượng tự vệ, Chính phủ, Quốc hội...) là 298.000 người (50,9%).

Mục tiêu cơ bản của việc sắp xếp lại này là nhằm phá vỡ các bức tường ngăn cách giữa các bộ và cơ quan hiện có; hợp nhất các chức năng tương tự để các chức năng liên quan này có thể được phối hợp nhanh nhất trong một bộ có thẩm quyền rộng hơn. Bộ Y tế và Phúc lợi và Bộ Lao động được sáp nhập làm một. Cơ quan Khoa học và Công nghệ và Bộ Giáo dục với nhiều trường đại học quốc gia và các viện nghiên cứu trực thuộc sẽ được sáp nhập làm một. Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, Cơ quan Đất đai quốc gia và Cơ quan Phát triển Hokkaido được sáp nhập. Tổ chức Bảo vệ môi trường được nâng từ cơ quan lên bộ.

Thứ hai, củng cố chức năng Nội các, vai trò điều hành của Thủ tướng và tăng cường sự lãnh đạo chính trị trong mọi tổ chức cấp bộ.

Ngoại trừ Thủ tướng, số lượng bộ trưởng sẽ giảm từ tối đa 20 xuống còn từ 14 đến 17. Nội các được vận hành linh hoạt hơn, các bộ trưởng có trách nhiệm đặc biệt sẽ được quyết định cụ thể theo nhu cầu thực tiễn từng thời kỳ.

Để bảo đảm sự điều hành mạnh mẽ hơn của Thủ tướng và Nội các, Ban Thư ký Nội các sẽ được trao quyền không chỉ phối hợp mà còn hoạch định chính sách cơ bản. Văn phòng Nội các với hàng trăm nhân viên trong trụ sở chính sẽ được thành lập để hỗ trợ Thủ tướng và Nội các. Hội đồng tư vấn về các chính sách kinh tế và tài khóa, về các chính sách khoa học và công nghệ... được thành lập. Thủ tướng được quyền bổ nhiệm các nhân viên hỗ trợ của mình một cách tự do hơn theo sáng kiến của chính mình không chỉ từ bên trong Chính phủ mà còn từ bên ngoài Chính phủ.

Một, hai hoặc ba thứ trưởng chính trị sẽ được bổ nhiệm vào Văn phòng Nội các và mỗi bộ. Họ phải được định vị giữa bộ trưởng và thứ trưởng hành chính. Mỗi thứ trưởng sẽ hoạt động cho bộ trưởng và chịu trách nhiệm đáng kể trong bộ. Ngoài ra, hệ thống trợ lý chính trị cho Bộ trưởng cũng sẽ được giới thiệu. Các trợ lý chính trị sẽ được chỉ định trong mọi tổ chức cấp bộ để tham gia hoạch định và hoạch định chính sách cụ thể, cũng để giải quyết các vấn đề chính trị. Theo các hệ thống này, sự lãnh đạo chính trị trong mỗi bộ sẽ được tăng cường.

Thứ ba, tinh giản, hợp lý hóa các tổ chức và hoạt động của Chính phủ.

Các tổ chức bên trong các tổ chức cấp bộ sẽ được tinh giản để hợp lý hóa các tổ chức cũng như bảo đảm sự phối hợp chính sách rộng hơn. Để khắc phục xu hướng phình to bộ máy, Chính phủ Nhật Bản quy định nếu một bộ muốn thành lập thêm một cục, vụ mới thì phải giảm một cục, vụ khác. Với chính sách này, tổ chức bộ máy của các bộ đã giảm xuống. Các đơn vị cấp cục giảm từ 128 xuống 96. Các đơn vị cấp phòng, ban bị cắt giảm từ 1.200 xuống 1.000.

Đồng thời, Chính phủ lập kế hoạch giảm ít nhất 10% nhân viên toàn thời gian của các bộ và cơ quan trong thời gian 10 năm, bắt đầu từ tháng 1-2001. Chính phủ giảm nhân sự bằng cách tạo ra các pháp nhân hành chính độc lập và những cách khác, sao cho số lượng nhân viên giảm 25% trong 10 năm. Chính phủ về cơ bản sẽ xem xét các chức năng và chương trình hiện tại của mình để thực hiện việc giảm nhân viên với quy mô lớn như vậy.

Việc tuyển dụng công chức quốc gia thực hiện thông qua thi tuyển. Việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ được thực hiện chặt chẽ. Thông thường, công chức được bổ nhiệm vào chức vụ nhóm trưởng (chức năng lãnh đạo thấp nhất) khi đạt độ tuổi từ 30 trở lên. Người được bổ nhiệm lãnh đạo cấp vụ phải có ít nhất 15 năm công tác; bổ nhiệm thứ trưởng (công chức) phải có từ 30 năm công tác trở lên. Bộ trưởng bổ nhiệm vụ trưởng, cục trưởng, thứ trưởng (công chức) sau khi được sự đồng ý của Chánh Văn phòng Nội các và Thủ tướng. Thứ trưởng chính trị (nghị sỹ) do Thủ tướng trực tiếp bổ nhiệm. Việc bãi bỏ, cải cách quy định và cải cách quản lý công trình công cộng bao cấp được đẩy mạnh để hợp lý hóa các hoạt động của chính quyền Trung ương, xây dựng một thị trường tự do và minh bạch hơn, để thúc đẩy phân cấp và bảo đảm ra quyết định hiệu quả, minh bạch hơn. Từ năm 2015, Chính phủ tách biệt các chức năng hoạch định chính sách và chức năng thực thi chính sách thông qua việc thành lập các “pháp nhân hành chính độc lập” có tư cách pháp lý độc lập bên ngoài bộ hoặc các cục. Chính phủ sẽ chuyển giao thực thi chính sách và các chức năng khác của các bộ và cơ quan cho tổ chức loại hình pháp nhân mới này. Pháp nhân hành chính độc lập bảo đảm việc quản lý linh hoạt hơn. Giám đốc điều hành hoặc nhân viên quản lý có thể được tuyển dụng từ bên ngoài Chính phủ và việc quản lý hoạt động hằng ngày được giao cho chính các pháp nhân. Mục đích chính của hệ thống này là tách biệt các chức năng hoạch định chính sách và chức năng thực thi chính sách; nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ cho người dân bằng cách trao thêm quyền tự chủ và trách nhiệm cho một pháp nhân và cũng để bảo đảm tính minh bạch của mọi hoạt động.

Thứ tư, giao quyền tự chủ cho các địa phương.

Về chính quyền địa phương, hiện nay Nhật Bản tồn tại hệ thống hai cấp, cấp tỉnh và cấp hạt (hay còn gọi là đơn vị hành chính địa phương cấp cơ sở). Cấp tỉnh hiện nay có 47 đơn vị (giữ ổn định từ năm 1888 đến nay), trong đó Tokyo được gọi là đô (Tokyo-to), Hokkaido được gọi là đạo (Hokkai-do), Kyoto và Osaka được gọi là phủ (Kyoto-fu, Osaka-fu) và 43 đơn vị cấp tỉnh (ken). Tuy nhiên, giữa các đô, đạo, phủ và tỉnh này không có phân biệt gì về mặt quyền hạn hành chính. Các đơn vị hành chính cấp hạt gồm ba loại: Thành phố (shi), thị trấn (cho, machi) và làng (mura, son). Số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh được giữ ổn định, trong khi đó cấp hạt có xu hướng thu gọn dần đầu mối qua các đợt hợp nhất, sáp nhập (tháng 4-1999, Nhật Bản có 3.232 hạt, tháng 4-2006 có 1.820 hạt, tháng 4-2008 có 1.788 hạt, tháng 1-2022 có 1.718 hạt). Với nỗ lực của việc cải cách hành chính, trong hai thập kỷ qua, số lượng công chức địa phương giảm liên tục trong 21 năm qua, từ sau mức cao nhất là 3.280.000 người vào năm 1994 xuống 2.800.000 người tại thời điểm 1-4-2021 (giảm 15%). Trong tổng số công chức địa phương là 2.800.000 người, cấp tỉnh có 1.430.000 người và cấp cơ sở có 1.370.000 người.

Một trong những kinh nghiệm nổi bật của Nhật Bản là giao quyền tự trị cho các địa phương. Quyền tự chủ địa phương của Nhật Bản được bảo đảm bởi Hiến pháp. Chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương có tư cách pháp lý khác nhau. Hệ thống tự trị địa phương và mối quan hệ giữa chính quyền Trung ương và địa phương được quy định trong Luật Tự trị địa phương. Luật Tự trị địa phương quy định đại cương về các vấn đề liên quan đến phân loại chính quyền địa phương, tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương và thiết lập mối quan hệ cơ bản giữa Trung ương và chính quyền địa phương dựa trên các mục đính thực sự của chính quyền địa phương. Mục đích của việc này là để bảo đảm dân chủ, hiệu quả và sự phát triển đúng đắn của chính quyền địa phương.

Chính quyền địa phương có một hội đồng địa phương gồm các nghị sỹ được bầu (người dân bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 4 năm, số lượng các nghị sỹ được quyết định dựa trên điều lệ của từng địa phương). Hội đồng địa phương có quyền lập pháp trong phạm vi luật pháp. Hành pháp do người đứng đầu được bầu thực hiện (thống đốc và thị trưởng thành phố, huyện, thị xã). Bộ máy giúp việc hội đồng địa phương bao gồm các ủy ban (số lượng cụ thể do từng địa phương quyết định), tương đương với số lượng cơ quan giúp việc người đứng đầu chính quyền. Người đứng đầu các ủy ban do thống đốc, thị trưởng giới thiệu, hội đồng địa phương phê chuẩn, bổ nhiệm và đánh giá kết quả hằng năm.

Cơ cấu tổ chức của các cơ quan tham mưu, giúp việc người đứng đầu chính quyền cấp tỉnh và cấp hạt được thiết kế gần giống nhau như các cơ quan tham mưu, giúp việc bộ trưởng ở Trung ương: Dưới cục là các vụ; dưới vụ là các phòng và dưới phòng là các nhóm công tác. Số lượng tổ chức bộ máy và biên chế công chức, nhân sự ở địa phương do địa phương tự quyết định theo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, không bị phụ thuộc vào Trung ương. Thông thường, việc tuyển dụng công chức thực hiện thông qua thi tuyển do Ủy ban Nhân sự tiến hành.

Quan hệ giữa Trung ương và chính quyền địa phương là mối quan hệ đối đẳng, hợp tác, không phải là mối quan hệ trên dưới. Tương tự, chính quyền cấp tỉnh và cấp hạt là những thực thể độc lập và không có mối quan hệ thứ bậc trong hệ thống hành chính. Cấp hạt độc lập với cấp tỉnh và cấp tỉnh độc lập với cấp Trung ương trong thực hiện các nhiệm vụ đã được pháp luật quy định. Chức năng của chính quyền mỗi cấp có sự khác biệt. Trong khi chính quyền cấp tỉnh là chính quyền địa phương khu vực rộng, chứa đựng cả các hạt, thì chính quyền cấp hạt là chính quyền địa phương cơ sở liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của nhân dân. Chính quyền cấp tỉnh là cấp trung gian duy nhất giữa chính quyền Trung ương và chính quyền cơ sở cấp hạt, chịu trách nhiệm chuyển tải các chính sách của Trung ương về địa phương, thực hiện trách nhiệm chi đối với các kế hoạch phát triển toàn vùng và cung ứng các hàng hoá công cộng quan trọng mà quy mô tác động của chúng vượt ra khỏi phạm vi một hạt như an ninh trật tự, cảnh sát, giao thông, bảo vệ môi trường, các dự án hạ tầng và phát triển kinh tế, xã hội có quy mô toàn tỉnh hoặc liên quan đến nhiều đơn vị hành chính cấp hạt (cơ sở)…, cũng như thực hiện một số chức năng cấp phép nhất định. Cấp hạt tập trung vào các nhiệm vụ như phòng cháy, chữa cháy, cấp thoát nước, xử lý rác thải, giáo dục mầm non, tiểu học, thực hiện phúc lợi xã hội, các dự án hạ tầng và nhiệm vụ kinh tế, xã hội trong phạm vi của địa phương.