Thứ Tư, 3 tháng 1, 2024

Phát triển kinh tế số ở Việt Nam

 Xu hướng phát triển kinh tế số đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Những năm gần đây, các hoạt động kinh tế số đã có sự tăng trưởng nhanh chóng và được Chính phủ quan tâm, ưu tiên phát triển. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị, về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đề ra mục tiêu đến năm 2025, kinh tế số chiếm tỷ lệ 20% GDP. Quyết định số 505/QĐ-TTg, ngày 22-4-2022, của Thủ tướng Chính phủ, lấy ngày 10-10 hằng năm là Ngày Chuyển đổi số quốc gia. Theo đó, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, mở rộng.

Thanh niên bán hàng trực tuyến các sản phẩm OCOP tại Diễn đàn Chuyển đổi số trong truyền thông quảng bá sản phẩm OCOP của thanh niên với nội dung "Khai thác tiềm năng kinh tế số trong xúc tiến quảng bá sản phẩm OCOP"_Ảnh: TTXVN

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu, với một số chỉ số cơ bản cụ thể, như: Chuyển đổi Số Quốc gia (NCSI – National Digitalization Score): Đây là một chỉ số kết hợp bao gồm: Đo lường mức độ phát triển của chuyển đổi số ở một quốc gia dựa trên các chỉ số con, như: hạ tầng kỹ thuật, môi trường kinh doanh và sự tham gia của người dân. Chuyển đổi Kỹ thuật số (DCI – Digital Readiness Index): Đánh giá khả năng của một quốc gia thích nghi với cuộc cách mạng số hóa. Nó tập trung vào yếu tố hạ tầng kỹ thuật số, sự thúc đẩy và môi trường kinh doanh. Phát triển Kỹ thuật số Thế giới (GDI – Global Digital Development Index): Chỉ số này đo lường mức độ phát triển kỹ thuật số ở các quốc gia dựa trên các yếu tố kỹ thuật số, kinh tế số và xã hội số. Kết nối toàn cầu (GCI – Global Connectivity Index): Chỉ số này tập trung vào mức độ kết nối mạng và hạ tầng kỹ thuật số của các quốc gia. Đổi mới kỹ thuật số (DMI – Digital Maturity Index): Đánh giá mức độ phát triển kỹ thuật số dựa trên khả năng vận dụng và thích nghi với các công nghệ số hóa trong nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội. Các chỉ số này giúp cung cấp cho cơ quan nhà nước và Chính phủ cái nhìn tổng quan về tình hình chuyển đổi số ở quốc gia và thúc đẩy sự cải thiện trong các lĩnh vực liên quan đến cuộc cách mạng số hóa.

Từ việc phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia châu Âu (Đức, Estonia), châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia) về phát triển kinh tế số (chiến lược, chính sách) trên đây, một số hàm ý chính sách có thể áp dụng cho Việt Nam trong giai đoạn 2023 - 2030 nhằm phát triển kinh tế số.

Thứ nhấthoàn thiện thể chế, chính sách về phát triển kinh tế số

Việt Nam cần chú trọng trước hết đến việc xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm tạo khuôn khổ cho phát triển kinh tế số trên địa bàn tỉnh, thành. Việc hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số giúp các địa phương nâng cao năng lực thu hút đầu tư công nghệ số trong các lĩnh vực đầu tư mạo hiểm theo hướng tạo thuận lợi tối đa cho các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp công nghệ số. Điều này bao gồm cả các chính sách tác động thuận lợi tới môi trường kinh tế kỹ thuật số, cũng như các chính sách thúc đẩy tiếp cận kết cấu hạ tầng và dịch vụ kỹ thuật số với chi phí hợp lý. Cải cách chính sách thuế và quy định sẽ giúp thu hút đầu tư vào nền kinh tế kỹ thuật số, hỗ trợ quá trình chuyển đổi ngành do kết quả của các mô hình kinh doanh mới.

Song song với hoàn thiện thể chế, chính sách phát triển kinh tế số, Việt Nam cần xây dựng các kế hoạch, hướng dẫn rất cụ thể về chuyển đổi số cho các doanh nghiệp; các kế hoạch này cần gắn liền với các nguồn tài chính, kinh phí hằng năm để nhằm tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận với kinh tế số.

Thứ haixác định rõ ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số

Việt Nam cần căn cứ vào thế mạnh và đặc điểm của từng địa phương để xác định rõ những ngành, lĩnh vực đột phá để phát triển kinh tế số. Trước mắt, các tỉnh, thành phố nên tập trung phát triển các lĩnh vực kinh tế số giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy tiêu dùng vì những lĩnh vực này giúp các địa phương tận dụng được những cơ hội của hội nhập quốc tế, đặc biệt là những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết (CPTPP, EVFTA, EVIPA) nhưng cũng không đòi hỏi trình độ công nghệ cao. Đồng thời, các tỉnh, thành phố nên phát triển những lĩnh vực nền tảng của kinh tế số, như hạ tầng số, tài nguyên số, dịch vụ số, thị trường số và có kế hoạch, chiến lược bài bản để tiếp cận, làm chủ những công nghệ quan trọng, cốt lõi của kinh tế số thông qua các chính sách hỗ trợ và trong hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài.

Thứ batuyên truyền nâng cao nhận thức toàn xã hội về nền kinh tế số

Việt Nam cần chú trọng hoạt động tuyên truyền nhằm tăng cường nhận thức của người dân và doanh nghiệp về kinh tế số, các lợi ích và thách thức đi kèm, với các nội dung cụ thể theo từng ngành, lĩnh vực, đặc biệt thông qua các cơ quan, doanh nghiệp và trường học. Đồng thời, các cơ quan báo chí, truyền thông cần định hướng dư luận, giúp cho các doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội có nhận thức đúng về nền kinh tế số, qua đó có sự chuẩn bị tốt nhất cho thích ứng xu hướng phát triển trên. Biện pháp này cũng đồng thời giúp tăng cường trách nhiệm của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân trong xây dựng kinh tế số.

Thứ tưchú trọng phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số

Vấn đề này đã được các quốc gia phát triển chú trọng từ lâu, nhưng đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Do đó, Việt Nam cần dành nhiều nguồn lực hơn cho phát triển nguồn nhân lực cho kinh tế số. Trong đó, nên tập trung phát triển, thu hút các chuyên gia về công nghệ số, các doanh nhân số thông qua các chính sách phù hợp. Đồng thời, cần định hướng phát triển giáo dục - đào tạo ở địa phương gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, sản xuất thông minh của nền kinh tế tri thức; đổi mới, hiện đại hóa chương trình đào tạo đại học, đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh, thành phố, chuyển mạnh từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu xã hội.

Thứ nămtập trung đầu tư cơ sở vật chất trong quá trình phát triển kinh tế số

Cơ sở vật chất là nền tảng của quá trình phát triển kinh tế số. Do đó, Việt Nam cần quan tâm hơn nữa đến việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật theo hướng làm chủ công nghệ lõi. Trung ương cần phối hợp với tỉnh, thành phố nhằm phát triển hạ tầng số quốc gia đồng bộ, rộng khắp bảo đảm đáp ứng yêu cầu kết nối, lưu trữ, xử lý dữ liệu, thông tin và các chức năng về giám sát, bảo đảm an ninh, an toàn mạng. Trong đó, cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xây dựng, phát triển hạ tầng băng thông rộng chất lượng cao. Nâng cấp mạng di động 4G, phát triển mạng di động 5G để có thể theo kịp xu hướng thế giới. Bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân dễ dàng tiếp cận với internet tốc độ cao. Chiến lược cung cấp kết nối phải bao trùm nhất có thể, phổ cập internet cáp quang băng thông rộng tốc độ cao tới mỗi hộ gia đình, phổ cập dịch vụ điện toán đám mây tới mỗi cơ quan, doanh nghiệp, phổ cập công nghệ 4G, 5G tới mỗi người dân. Để có đủ nguồn lực cho phát triển kết cấu hạ tầng số, cần khuyến khích mọi thành phần kinh tế có đủ năng lực tham gia đầu tư nhưng có cân nhắc với các phạm vi nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia(5).

Cần nhanh chóng nâng cấp và hoàn thiện nền tảng số phục vụ việc đơn giản hoá thủ tục hành chính. Người dân, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ số để làm các thủ tục trực tuyến một cách thuận tiện, nhanh chóng, không cần sự hiện diện nếu pháp luật không yêu cầu. Xây dựng chính quyền điện tử sẽ giúp tăng hiệu quả dịch vụ công, đồng thời mở rộng thị trường cho sự phát triển của ngành dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông. Ngoài ra, cần chú trọng vấn đề bảo đảm an ninh mạng và hoạt động mạng bằng cách gia tăng số lượng máy chủ an toàn và phát triển khả năng bảo mật không gian mạng để giám sát các mối đe dọa trực tuyến. Các địa phương cần tăng cường hợp tác quốc tế về các luồng dữ liệu, bảo mật, giảm các rào cản đối với thương mại trực tuyến trong và ngoài nước cũng như các quyền và sự đòi hỏi của công dân liên quan đến quyền riêng tư và lưu trữ dữ liệu./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét