Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

Giải pháp phòng, trị bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm

 

Tình trạng CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm như một căn bệnh đã và đang gây nhiều tác động tiêu cực đối với sự phát triển đất nước. “Thái độ sợ trách nhiệm của một số cán bộ, đảng viên đang là một trở ngại cho công tác của Đảng và Nhà nước, làm cho công việc bị trì trệ, dậm chân tại chỗ, làm cho những nhân tố mới không phát huy được, những khuyết điểm và nhược điểm không được khắc phục kịp thời, và làm cho trình độ, năng lực công tác của cán bộ chậm được nâng cao”. Trước hết, bệnh sợ trách nhiệm làm cho nhiều CBCCVC thụ động trong công việc, đùn đẩy trách nhiệm. Vì vậy, nhiều nhu cầu thiết thực, chính đáng của người dân, doanh nghiệp không được giải quyết kịp thời, dẫn đến sự suy giảm niềm tin đối với bộ máy công quyền. “Người sợ trách nhiệm thường làm việc một cách cầm chừng cho “đủ bổn phận”, cốt sao không phạm phải khuyết điểm gì lớn. Vì luôn luôn lo sợ phải chịu trách nhiệm về những việc sẽ xảy ra, cho nên không muốn cải tiến công tác, không dám mạnh dạn thay đổi những cái không hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ. Vì sợ trách nhiệm mà đi đến bảo thủ”. Đáng lo ngại hơn, bệnh sợ trách nhiệm còn làm cho những khuyết điểm trong thực thi công vụ không được chỉ ra, vì “Người sợ trách nhiệm còn ngại “va chạm” trong quan hệ với các đồng chí trong đơn vị, với cấp trên và cả với cấp dưới. Lấy cớ phải có tác phong “thận trọng, chín chắn”, phải “giữ gìn đoàn kết”, các đồng chí đó không thẳng thắn phê bình những người phạm khuyết điểm, không đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực, những tư tưởng và việc làm trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước”.

Để phòng, trị có hiệu quả những tác hại nghiêm trọng của căn bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm của một bộ phận CBCCVC, cần chú trọng thực hiện một số giải pháp:

Thứ nhất, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật. Bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm có một phần nguyên nhân là do hệ thống pháp luật hiện hành còn những bất cập, chồng chéo, thiếu thống nhất, có thể cùng một vấn đề nhưng có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, dễ sai phạm, nên nhiều CBCCVC né tránh việc thực hiện. Vì vậy, cần quan tâm nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật, đặc biệt là các văn bản dưới luật, khắc phục tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ, đồng bộ, dễ hiểu, dễ triển khai thực hiện, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để CBCCVC tự tin thực thi trách nhiệm công vụ trong chức trách, thẩm quyền của mình.

Thứ hai, quy định rõ trách nhiệm cá nhân, tập thể trong hoạt động công vụ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Hiện nay còn có những cơ quan, đơn vị vì phân công không rõ ràng, quy định không rành mạch về trách nhiệm và quyền hạn của từng người cho nên không thể đánh giá đúng ai làm tốt, ai làm không tốt; khi xảy ra việc làm sai gây tổn hại cho Đảng và Nhà nước thì chỉ có thể kiểm điểm tập thể chung chung, không biết quy trách nhiệm cụ thể về ai”. Do đó, cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương một người có thể làm nhiều việc nhưng công việc nào cũng phải có người phụ trách, quy định và phân biệt rạch ròi trách nhiệm cá nhân và tập thể, tránh trường hợp “tranh công đổ lỗi”, khi thành công thì nhận thành tích cá nhân, khi thất bại, kém hiệu quả lại đổ lỗi cho tập thể. Đặc biệt, cần có những quy định xác định rõ trách nhiệm cá nhân không chỉ khi thực hiện sai quy định pháp luật mà còn cả khi không thực hiện đầy đủ theo thẩm quyền được giao, để công việc bị chậm trễ. Khi trách nhiệm cá nhân trong hoạt động công vụ rõ ràng sẽ hạn chế được tình trạng CBCCVC không dám làm, sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.

Thứ ba, phát huy dân chủ trong thực thi công vụ. Tình trạng cấp trên bao biện, không chú ý lắng nghe ý kiến và trao quyền cho cấp dưới đã và đang xảy ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, tạo ra một đội ngũ CBCCVC thụ động, không dám làm, không dám quyết định và né tránh trách nhiệm. Tổng Bí thư đã chỉ rõ: “Có những cán bộ cấp trên không tôn trọng chức trách, quyền hạn của cấp dưới, đã không chú ý đề cao, phát huy tính chủ động sáng tạo của cán bộ cấp dưới, rồi tự cho mình là đi sâu đi sát, là có tác phong cụ thể. Cách làm việc như vậy thường khiến cho những cán bộ vốn ỷ lại, thụ động dễ dàng lẩn tránh trách nhiệm. Cũng có trường hợp người lãnh đạo ở cấp trên không khách quan lắng nghe ý kiến của cán bộ cấp dưới, chỉ muốn nghe những lời khen và đồng tình với mình, không thích những cán bộ có ý kiến trái với mình, cho nên không cổ vũ, khuyến khích cán bộ cấp dưới độc lập suy nghĩ, chủ động sáng tạo trong công việc và thẳng thắn phát biểu, đề đạt ý kiến. Thái độ đó của cấp trên thực tế là ủng hộ những cán bộ sợ trách nhiệm, những người “chỉ làm những việc mà người ta bảo làm””. Do đó, phải đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, trao quyền nhiều hơn cho cơ quan cấp dưới, cán bộ cấp dưới để họ có quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đồng thời, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có phong cách lãnh đạo và làm việc dân chủ, luôn lắng nghe, tôn trọng ý kiến của cấp dưới, khuyến khích cấp dưới phát biểu, đối thoại, đề ra sáng kiến, kể cả trái với quan điểm của mình, từ đó sẽ tạo ra một đội ngũ CBCCVC dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ làm rõ nguyên nhân khách quan, bên ngoài của căn bệnh CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm như thể chế, pháp luật…, mà còn nêu ra nguyên nhân chủ quan, bên trong. “Nguồn gốc chủ yếu của bệnh sợ trách nhiệm là chủ nghĩa cá nhân. Chính vì luôn luôn tính toán cho lợi ích cá nhân, bo bo “bảo vệ” lấy cái cá nhân của mình mà mất cả dũng khí đấu tranh,… không dám đương đầu trước khó khăn, không dám nghĩ, không dám làm, chỉ tránh khó ngại phiền”. Do đó, để trị tận gốc căn bệnh này, phải đổi mới toàn diện công tác cán bộ, trước hết là phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị, phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Khi đã một lòng, một dạ vì đất nước, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, lý tưởng phấn đấu thì họ sẽ không ngại đương đầu với khó khăn, thử thách, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân để thực hiện mục tiêu, lý tưởng mà mình đã lựa chọn. Từ đó, bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm sẽ khó có đất để tồn tại.

Cùng với công tác đào tạo, bồi dưỡng, cần chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đánh giá CBCCVC theo hướng bổ sung tiêu chí cụ thể đối với những CBCCVC dám nghĩ, dám làm, có nhiều đổi mới, sáng kiến được tập thể, lãnh đạo cơ quan, đơn vị công nhận, đánh giá tốt, là tấm gương để những cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm thay đổi thái độ, tinh thần trách nhiệm trong công việc. Gắn việc đánh giá với công tác khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, thay thế, điều động, luân chuyển CBCCVC. Những cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao trong thực thi công vụ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có tinh thần đổi mới, sáng tạo cần được đánh giá khách quan, khen thưởng kịp thời, được đề bạt, bổ nhiệm lên vị trí cao hơn. Ngược lại, những cán bộ làm việc cầm chừng, cố tình đùn đẩy, né tránh trách nhiệm cần có hình thức xử lý thích hợp, thậm chí điều chuyển hoặc truy cứu trách nhiệm chính trị, pháp lý, kỷ luật, thay thế kịp thời. Nâng cao chất lượng của công tác cán bộ ở tất cả các khâu, các quy trình là giải pháp vừa cấp bách trước mắt, vừa căn cơ lâu dài để phòng, trị căn bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm.

Để khắc phục tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, cần vừa đấu tranh với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng hạn chế này để chống phá Đảng và Nhà nước ta, vừa phải quyết liệt đấu tranh với chính những tiêu cực, hạn chế từ trong nội bộ đội ngũ CBCCVC của Đảng và hệ thống chính trị. Ngăn chặn, hạn chế tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là yêu cầu cấp thiết để thực hiện thành công chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ “7 dám” (dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách nhiệm; dám đổi mới sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách; dám hành động vì lợi ích chung), mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.

 

ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TRONG CƯƠNG LĨNH ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG

 

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”. Chủ nghĩa xã hội, chế độ mà Đảng Cộng sản Việt Nam đang cùng với nhân dân hướng tới là một chế độ vô cùng tốt đẹp với các đặc trưng cơ bản sau:

Về văn hóa - tư tưởng: Chế độ xã hội chủ nghĩa có nền văn hóa phát triển cao, kế thừa và phát huy những giá trị của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Các chế độ dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân sẽ dẫn đến tình trạng tha hóa con người, tha hóa của người lao động. Phát triển văn hóa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo chuyên mon kỹ thuật cho người lao động trở thành một nhiệm vụ cấp bách và có ý nghĩa đột phá để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Về chính trị - xã hội: Xã hội chủ nghĩa là một xã hội dân chủ, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa mang bản chất của giai cấp công nhân vừa mang tính nhân dân rộng rãi. Xã hội chủ nghĩa là một chế độ dân chủ, quyền lực cao nhất thuộc về nhân dân. Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước thể hiện trước hết nó là một công cụ để bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân. Vì lợi ích của giai cấp công nhân về cơ bản là thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động. Do đó, Nhà nước xã hội chủ nghĩa còn mang tính nhân dân rộng rãi.

Đối với quan hệ dân tộc: Xã hội chủ nghĩa là một xã hội bảo đảm công bằng, bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc. Đối với quan hệ quốc tế: Quan hệ giữa các dân tộc và quốc tế được giải quyết trên cơ sở kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Với những đặc trưng cơ bản như vậy, chế độ xã hội chủ nghĩa là một chế độ vô cùng tươi đẹp. Hướng tới một tương lai tươi đẹp là nhu cầu chính đáng và tự nhiên của mỗi con người. Do vậy đây là lý do cơ bản mà Nhân dân Việt nam luôn tin tưởng, một lòng một dạ đi theo Đảng để đi lên chủ nghĩa xã hội với một niềm tin trọn vẹn và tuyệt đối.

ĐẢNG LUÔN CHIẾM TRỌN NIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

Trải qua hơn 90 năm, từ khi được thành lập đến nay, qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ trọn được niềm tin của Nhân dân. Nói cách khác, dù trong hoàn cảnh nào, mọi người dân Việt đều luôn tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Đây là chính là biểu hiện rõ nét của truyền thống dân tộc Việt Nam về lòng yêu nước nồng nàn và truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây của dân tộc Việt Nam.

Trong mọi thời kỳ lịch sử, khi có giặc ngoại xâm, cả dân tộc Việt Nam luôn đoàn kết một lòng, thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước. Có lẽ chính vì lẽ đó mà nhân dân luôn tôn trọng, tôn thờ và tin theo những bậc tiền nhân, những triều đại đã có công xây dựng đất nước, gìn giữ được đất nước không bị rơi vào tay giặc, hoặc đánh đuổi giặc ngoại xâm ra khỏi bờ cõi, lấy lại độc lập, chủ quyền cho đất nước. Điều này cũng phù hợp với đạo lý về lòng biết ơn, về đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây của mỗi người dân Việt.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân ta giành được vô vàn thắng lợi vẻ vang, kể cả đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập chủ quyền cho đất nước, bảo vệ đất nước khỏi gót giày quân xâm lược, hay kiến thiết, dựng xây đất nước đàng hoàng, to đẹp. Đó là thắng lợi của Cách Mạng Tháng 8 giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi cõi Đông Dương. Đó là chiến thắng 30 tháng tư năm 1975 tống tiễn những tên cố vấn Mỹ cuối cùng và lật đổ chế độ Ngụy quyền Sài Gòn, thống nhất toàn vẹn đất nước Việt Nam, thu giang sơn Việt Nam về liền một dải. Trong thời kỳ đổi mới, trước vô vàn khó khăn thử thách, đến từ sự cấm vận của các nước phương Tây, đến từ các cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới hay đến từ đại dịch Covid-19, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định nhưng rất linh hoạt, nhạy bén, chèo lái con thuyền Việt Nam vượt qua sóng gió, xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp như hiện nay.

Như vậy, xuất phát từ truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, với lòng yêu nước nồng nàn và do chính những công lao to lớn, vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam ở thời đại ngày nay mà nhân dân cả nước luôn gửi trọn niềm tin yêu vào Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng đã lãnh đạo nhân dân giành độc lập, gìn giữ toàn vẹn lãnh thổ đất nước Việt Nam trước rất nhiều kẻ thù hung ác.   


 

Nhận diện, đấu tranh với chiêu trò lợi dụng tình trạng cán bộ, công chức, viên chức sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm để chống phá Đảng và Nhà nước ta

 

Trách nhiệm của CBCCVC là thực hiện đúng, đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó để phục vụ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, của Đảng. Thời gian qua, nhiều địa phương, đơn vị xuất hiện tình trạng một bộ phận CBCCVC không thực hiện hoặc chậm trễ trong việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của mình, làm ảnh hưởng đến lợi ích của người dân, doanh nghiệp, địa phương, đất nước. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã tung ra luận điệu xuyên tạc để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng và Nhà nước ta, vì thế, cần vạch rõ bản chất của âm mưu, thủ đoạn đen tối này để có giải pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả.

Thứ nhất, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, bệnh sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm không phải mới có mà đã tồn tại từ lâu, mang tính bản chất của chế độ ta, từ đó, quy chụp bộ máy nhà nước ta biến chất, cần phải xây dựng một bộ máy nhà nước khác (?!).

Sự thật là, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả hoạt động của Nhà nước đều nhằm mục đích bảo đảm cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Với mục tiêu, lý tưởng cao đẹp đó, hàng triệu đảng viên và CBCCVC trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước các cấp không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thậm chí có người đã hy sinh cả tính mạng của mình vì lợi ích của đất nước, của nhân dân, của Đảng. “Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều cố gắng chăm lo đời sống nhân dân. Đảng luôn luôn coi việc bảo đảm và cải thiện đời sống nhân dân là trách nhiệm to lớn thường xuyên của mình”. Nhưng, bên cạnh những CBCCVC luôn giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng, cũng có một bộ phận CBCCVC thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ngại khó, ngại khổ, sợ trách nhiệm, nên không dám làm mà né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác. Tuy nhiên, không phải vì thế mà lấy hiện tượng để đánh giá bản chất, khi cho rằng CBCCVC trong hệ thống chính trị của chúng ta đều xấu, rằng “cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là bản chất” của nhà nước ta, bởi như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “nếu xấu như vậy thì tại sao những năm qua chúng ta tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn mà cả thế giới thừa nhận, vị thế nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao?”. Đảng ta sẵn sàng nhìn nhận một cách khách quan, bên cạnh những thành tựu trong công tác xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên, CBCCVC, thời gian qua, vẫn còn một bộ phận đảng viên, CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm và đặt ra yêu cầu phải đấu tranh không khoan nhượng với những hạn chế, khuyết điểm đó. “Chiến đấu ở đây không phải chỉ hiểu đơn thuần là chiến đấu với kẻ thù, mà chiến đấu với tình trạng trì trệ, không phát triển; chiến đấu với việc làm sai trái; chiến đấu với chính bản thân mình để vượt lên những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân; chiến đấu chống lại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch”.

Thứ hai, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là do chế độ một đảng lãnh đạo.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, do ở Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất lãnh đạo nên quyền lực chính trị tập trung, hạn chế sự sáng tạo của các cá nhân, dẫn đến nhiều CBCCVC thụ động, không dám có sáng kiến, coi “ý đảng” đứng trên pháp luật. Từ đó, các thế lực thù địch cho rằng, cần thực hiện đa nguyên, đa đảng, để quyền lực không còn tập trung, để có pháp luật bảo vệ (?!)

Sự thật là, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Do đó, không có chuyện Đảng đứng trên pháp luật hay không theo pháp luật để lãnh đạo đất nước; nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước bảo đảm tính thống nhất, không mâu thuẫn với nhau, bởi pháp luật chính là sự thể chế hoá chủ trương, đường lối, quan điểm được thể hiện trong nghị quyết của Đảng và nghị quyết của Đảng cũng không thể trái pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không can thiệp vào công việc cụ thể của Nhà nước mà chỉ định hướng hoạt động thông qua nghị quyết, đường lối của Đảng; thông qua tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; thông qua đội ngũ đảng viên trong bộ máy nhà nước, thông qua công tác kiểm tra, giám sát và sự gương mẫu của đảng viên. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tổ chức quyền lực theo nguyên tắc phân công quyền lực, nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kế thừa những nhân tố hợp lý của mô hình nhà nước pháp quyền của nhân loại với mục tiêu bảo đảm cho pháp luật trở thành tối thượng, được thực thi trên thực tế. Điều đó thể hiện ở việc Đảng ta chỉ đạo thể chế hóa tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Như vậy, quyền lực nhà nước vẫn bảo đảm được vận hành hiệu quả “trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”. Ở Việt Nam, dù một đảng lãnh đạo, dù chúng ta không thực hiện tam quyền phân lập, song vẫn bảo đảm Hiến pháp là tối thượng thông qua nguyên tắc pháp quyền. Không có cá nhân, tổ chức nào hoạt động đứng ngoài hay đứng trên pháp luật. Pháp luật ở nước ta đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của CBCCVC trong hoạt động công vụ và đó cũng là cơ sở để xác định rõ trách nhiệm của CBCCVC. Vì vậy, để khắc phục tình trạng CBCCVC sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm, vấn đề cốt yếu không phải là “thay đổi thể chế chính trị” như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc, mà chính là cần phải hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, gắn với xây dựng một hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán.

Thứ ba, đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng, cán bộ sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm là do đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực quá quyết liệt.

Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chỉ nhằm “đấu đá nội bộ, triệt phe cánh đối lập”; do Đảng ta xử lý kỷ luật mạnh tay những đảng viên, CBCCVC tham nhũng, tiêu cực, cả những cán bộ đã nghỉ hưu, lật lại những vụ tham nhũng, tiêu cực cách đây nhiều năm, nên nhiều CBCCVC sợ trách nhiệm vì mang tâm lý “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm thì không sai”, né tránh trách nhiệm để bảo đảm “an toàn”(?!).

Phát biểu tại Phiên họp thứ 21 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngày 20-1-2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu phải: “Chấn chỉnh, đấu tranh đẩy lùi, loại bỏ tư tưởng lo ngại việc đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng sẽ “làm chậm sự phát triển”, làm “hạn chế sức sáng tạo, dám nghĩ, dám làm”, “nhụt chí”, “làm cầm chừng”, “phòng thủ” trong một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”. Tổng Bí thư khẳng định: “Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng và xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ làm “chùn bước” những ai có động cơ không trong sáng, đã trót “nhúng chàm” và những người không nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, thiếu kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh”.

Ngoài ra, thực tế cho thấy, tình trạng sợ trách nhiệm, né tránh trách nhiệm có một phần nguyên nhân từ sự yếu kém của một bộ phận CBCCVC do hạn chế về năng lực, về phẩm chất, đạo đức hay đã từng mắc phải sai phạm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, nay sợ bị phát hiện và bị xử lý, nên không dám làm hoặc làm “cầm chừng”, “đối phó”, né tránh trách nhiệm để mong được “an toàn”. Cần nhận thức rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo, với phương châm “kiên quyết, kiên trì, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” được tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt thời gian qua là động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển đất nước, “chính nhờ làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại”. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiệu quả góp phần làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước, giảm bớt sự nhũng nhiễu của một bộ phận CBCCVC đối với người dân, doanh nghiệp, qua đó, ngày càng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Như vậy, rõ ràng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mang lại nhiều lợi ích, không hề “làm cản trở sự phát triển của đất nước” như các thế lực thù địch xuyên tạc.

NHIỀU MÂU THUẪN NỘI TẠI NGÀY CÀNG BỘC LỘ TRONG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

 

Cũng phải thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Hơn thế nữa, trong điều kiện Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ngày nay, những mâu thuẫn đó càng được bộc lộ với tốc độ nhanh hơn, biểu hiện rõ nét hơn.

Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008 - 2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch COVID-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế.

Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó.

Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì đây là những mâu thuẫn nội tại, chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì những mâu thuẫn này càng lớn và không thể khắc phục được.

NHỚ BÁC, LÒNG TA TRONG SÁNG HƠN: LỜI BÁC CÒN MÃI MÃI TRONG TIM!

     Có lẽ trong chúng ta, không ai là không biết đến hình ảnh Bác Hồ ngồi ở Đền Hùng (Phú Thọ) trước đông đảo cán bộ, chiến sỹ thuộc Đại đoàn quân Tiên Phong và câu nói nổi tiếng của Người: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"!

Câu nói đó đã thấm sâu vào tim óc chúng ta nhưng ít người được biết hoàn cảnh ra đời câu nói ấy của Bác.

Hôm đó, có cả anh Văn (tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp) đi cùng và Bác biết rằng, đây là một đơn vị anh hùng được giao nhiệm vụ quan trọng là vào tiếp quản Thủ đô. Lúc đó, phần lớn cán bộ sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn... đều lui về phía sau, còn dành phía trước để cho các cán bộ đại đội được ngồi quây quần xung quanh Bác.

Bác hỏi các cán bộ, chiến sỹ:
- Các chú có biết, ta đang ngồi ở đây là đâu không?
- Thưa Bác, là trước cửa Đền Hùng ạ! - Nhiều cán bộ trả lời.
- Đúng! Bác cháu ta đang ngồi trước cửa Đền Hùng, nơi thờ các vua Hùng đã có công dựng nước. Vậy thì bác cháu ta phải làm gì bây giờ đây?

Tất cả các cán bộ đều không trả lời được. Bác liền nói lên công trạng của các vua Hùng cho cán bộ, chiến sỹ ta nghe, từ thời Lạc Long Quân qua 18 đời vua Hùng dựng nước. Sau đó, Bác kết luận bằng một câu ngắn gọn: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Đấy là lời Bác nói với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong nhưng cũng chính là lời của Bác nói với tất cả chúng ta, nói với con cháu muôn đời mai sau vậy.

Nhưng trước câu nói có ý nghĩa sâu xa đó, hôm ấy, Bác Hồ còn nói nhiều chuyện với cán bộ, chiến sỹ. Bác nói về quả đấm thép của quân đội ta đã làm cho kẻ địch phải khiếp sợ, về ta đã đánh tan một đội quân hùng mạnh của đế quốc Pháp ở Điện Biên Phủ nhưng điều thấm thía nhất là Bác nói về "viên đạn bọc đường". Bác hỏi các cán bộ:
- Đường có ngọt không?
- Có ạ!
- Vậy các cháu có thích đường không?
- Có ạ!
- Chúng ta ai cũng thích đường nhưng đường ở đây là "viên đạn bọc đường". Các chú bây giờ được giao nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô nghĩa là từ chỗ gian lao, khổ cực nay được tiếp xúc với sự giàu sang, sung sướng, với rượu ngon, gái đẹp... Đó là những "viên đạn bọc đường" mà kẻ địch giăng ra. Vì sao lại gọi nó là "viên đạn bọc đường"? Vì nó làm cho ta sa ngã, băng hoại đạo đức, mất ý chí chiến đấu. Nó cũng nguy hiểm không kém gì viên đạn thật. Bác biết rằng, trong các chú ngồi đây, có chú còn những mảnh đạn của quân thù găm trong người. Nhiều cán bộ, chiến sỹ đã lập công xuất sắc, vẻ vang. Bác, Đảng và Chính phủ rất biết công lao của các chú và sẽ có phần thưởng, đãi ngộ xứng đáng nhưng Chính phủ hãy còn nghèo, còn chưa lo kịp, còn nhiều việc phải làm, có đãi ngộ đến bao nhiêu cũng chưa xứng đáng với công lao của các chú. Nhưng Bác mong rằng, những "viên đạn bọc đường" này sẽ không làm lung lay ý chí cách mạng, làm giảm sút tinh thần hăng say chiến đấu của các chú. Các chú liệu có làm được như lời Bác dặn không?
Tất cả các cán bộ lúc ấy đều đồng thanh trả lời:
- Có ạ!

Lời của Bác thật là chân tình, chí lý. Bác quả là người biết nhìn xa, trông rộng. Bác đã lường trước mọi mua chuộc, cám dỗ của "viên đạn bọc đường" mới dặn dò cán bộ, chiến sỹ ta như thế.

Ấy vậy mà sau khi vào tiếp quản Thủ đô, bộ đội ta, cụ thể là Đại đoàn quân Tiên Phong đã mất một cán bộ tiểu đoàn phó. Anh này vì nhà lầu, vợ đẹp... không chịu được gian khổ thêm nữa nên đã rời bỏ quân ngũ, vĩnh viễn không bao giờ trở lại quân đội.

Nhưng đấy chỉ là "con sâu bỏ rầu nồi canh", còn toàn thể cán bộ, chiến sỹ thuộc Đại đoàn quân Tiên Phong đã nêu cao ý chí chiến đấu, quyết tâm thực hiện lời dạy của Bác Hồ, không để cho "viên đạn bọc đường" làm lung lay ý chí cách mạng./.
Yêu nước ST.

ĐA DẠNG HÓA, ĐA PHƯƠNG HÓA CÁC MỐI QUAN HỆ QUỐC TẾ TRONG ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM

 

vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc. Ngay khi xung đột diễn ra, Mỹ và các nước phương Tây đã có hàng loạt chính sách cấm vận nhằm vào kinh tế Nga. Chắc chắn rằng, không chỉ Nga mà rất nhiều nước sẽ chịu ảnh hưởng bởi những lệnh trừng phạt này. Tuy nhiên, một số tờ báo "lá cải" lại có vẻ hả hê, vui mừng, cho rằng kinh tế Việt Nam sắp “sụp đổ” theo Nga.

Trước hết, không ai khác, các quốc gia châu Âu là các quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng đầu tiên. Các nước này phụ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp nguyên liệu thô, thực phẩm và năng lượng từ Nga và Ukraine, trong khi giá cả của những mặt hàng này đã bị đẩy lên cao liên quan xung đột. Giá năng lượng và các mặt hàng đó cũng ảnh hưởng đến Mỹ và rất nhiều quốc gia khác. Về tài chính, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đồng thời bày tỏ quan ngại về một cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu.

Đối với Việt Nam, Vietsovpetro là công ty lớn thứ 8 ở Việt Nam và sản xuất 1/3 lượng dầu của cả nước, và Gazprom cùng Rosneft đang tham gia vào một số dự án dầu khí tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo đúng như các số liệu thì Nga chỉ đứng thứ 24 trong số các quốc gia đầu tư vào Việt Nam, kim ngạch nhập khẩu giữa hai nước cũng chỉ đứng thứ 21 trong số các đối tác thương mại của Nga. PGS.TS. Phạm Hoàng Anh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng, Học viện Ngân hàng cho biết kim ngạch nhập khẩu này chỉ chiếm đúng 1% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Nhưng vậy là có tới hơn 20 quốc gia khác đầu tư và làm ăn kinh tế với Việt Nam nhiều hơn nước Nga, và họ hoàn toàn có thể bù đắp các phần bị ảnh hưởng. Như vậy, Việt Nam có thể bị ảnh hưởng bởi tình hình chung này nhưng chắc chắn là không ảnh hưởng nhiều bởi các lệnh trừng phạt từ Nga như trên các "báo lá cải rêu rao.

Đây là biểu hiện sinh động về thành công của đường lối ngoại giao đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế mà Việt Nam luôn kiên định theo đuổi. Nhờ chính sách ngoại giao đúng đắn, Việt Nam hiện nay có nhiều hiệp định thương mại song phương với các quốc gia phát triển nhất trên thế giới, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế. Những trò ngụy biện, ném đá và “trù ẻo” đất nước về sự phụ thuộc kinh tế vào Nga hay một quốc gia cụ thể nào thực chất chỉ là “vẽ chuyện, có bé xé ra to”, thiếu hiểu biết, vì mục đích xấu.

 

XỬ LÝ SAI PHẠM SẼ KHÔNG CÓ VÙNG CẤM, KHÔNG CÓ NGOẠI LỆ

 

Thời gian vừa qua, nhất là trong những năm tháng dịch bệnh, các cơ quan liên quan trong nước, các địa phương và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã có rất nhiều cố gắng, khắc phục mọi khó khăn do dịch bệnh gây ra, phối hợp với các hãng hàng không triển khai hơn 1.000 chuyến bay đưa khoảng hơn 240.000 công dân Việt Nam từ 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về nước. Như vậy, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới tổ chức liên tục các chuyến bay đưa công dân về nước, được nhân dân trong nước, kiều bào ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tuy nhiên, đã có một bộ phận cán bộ, nhân viên, bao gồm cả nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tô Anh Dũng đã có những sai phạm dựa trên những chuyến bay cứu trợ đó.

Trước sự việc này, các đối tượng phản động trong và ngoài nước bắt đầu mượn cớ, lập lờ đánh đồng giữa sai phạm trong việc đưa người dân Việt Nam về nước với hoàn cảnh điều kiện cách ly tại Việt Nam. Từ đó quy chụp sai phạm của một vài cá nhân trở thành sai phạm mang tính tập thể, cho rằng việc đưa công dân về nước của Chính phủ chỉ là cách để “trục lợi” cho những người đứng đầu. Các đối tượng xuyên tạc “chi phí về nước thì quá cao, còn điều kiện cách ly thì quá tệ hại không tương xứng với số tiền bỏ ra” rồi đua nhau bình luận châm biếm, mia mai. Mục đích công kích, đổ lỗi cho cả một hệ thống chính trị. Nhưng phải nhắc lại rằng: Bản thân ông Tô Anh Dũng cùng các đồng phạm vi phạm pháp luật vì đã lợi dụng quá trình xét duyệt cấp phép cho các công ty thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước để “nhận hối lộ” từ các công ty này. Điều kiện cách ly như thế nào không thuộc về sai phạm của Tô Anh Dũng.

Vì những sai phạm của mình, ông Tô Anh Dũng  đã bị Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về hành vi “Nhận hối lộ” theo quy định tại điều 354 bộ luật Hình sự. Hành động kiên quyết đó cho thấy quyết tâm của Đảng trong quá trình chỉnh đốn, tự soi, tự sửa mình, mọi sai phạm đều sẽ bị xử lý triệt để và tận gốc, sai phạm đến đâu, xử lý đến đó. Không bao che, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai.

 

NHỮNG THUYẾT ÂM MƯU VỀ THÔNG TIN ĐIỀU CHUYỂN CÁN BỘ

 

Các thế lực thù địch luôn lợi dụng những điều động, bổ nhiệm cán bộ để nói xấu đât nước. Đại tá Đinh Văn Nơi là một ví dụ. Đại tá Đinh Văn Nơi, Giám đốc Công an tỉnh An Giang là một cán bộ công an rất có năng lặc, một khắc tinh của bọn tội phạm, ông đi đến đâu là nôi đó bọn tội phạm phải run sợ. Vậy nên tình hình liên quan đến vị trí công tắc của ông là một thông tin rất nhạy cảm, luôn được các cá nhân, tổ chức phản động lợi dụng để thực hiện các hành vi với mục đích xấu. 

Gần đây, khi xuất hiện thông tin vị Giám đốc Công an tỉnh An Giang được điều chuyển về làm Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh nhưng sau đó ở lại khiến nhiều người bất ngờ. Ngay sau đó, trang Thoibao.de đăng tải bài viết với tựa đề “Tin động trời! Lộ đường dây tội phạm dùng tiền mua chức ở Bộ Công An?”.

Ở một diễn biến khác, thực hiện công tác cán bộ, hồi đầu tháng 3, nhiều trang báo đưa tin Bộ Công an đã có quyết định điều động Đại tá Đinh Văn Nơi đến nhận công tác và giữ chức Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh thay cho Đại tá Nguyễn Ngọc Lâm được điều động giữ chức Cục trưởng Cục cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, tham nhũng và buôn lậu. Tuy nhiên, Bộ Công an chưa tổ chức Lễ công bố quyết định. Đến thời điểm hiện tại, quyết định cũng chưa bị huỷ bỏ. Theo yêu cầu nhiệm vụ, công tác tại tỉnh An Giang, Bộ Công an chưa điều động đại tá Đinh Văn Nơi giữ chức vụ Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh.

Lợi dụng những sự kiện trên, các đối tượng tiến hành móc nối, thêm mắm dặm muối rằng: “Tin động trời! Lộ đường dây tội phạm dùng tiền mua chức ở Bộ Công an?”, “Bộ Công An nuốt không trôi cục tiền 20 tỷ”, “Việc Bộ Công an vừa chuyển người sau đó lại hủy là hành động quá lộ liễu”,… Liệu rằng ở Bộ Công an có “đường dây tội phạm dùng tiền mua chức” như những gì các đối tượng đang rêu rao ở trên hay không?

Việc điều động, luân chuyển cán bộ phải thực hiện theo một quy trình hết sức chặt chẽ, có ý kiến tham gia của nhiều cấp, ngành, không thể có “một bàn tay che trời” trong công tác cán bộ. Thế mới thấy các “thuyết âm mưu” liên quan đến việc “chạy điều chuyển” Đại tá Đinh Văn Nơi do những tổ chức, cá nhân phản động đưa ra là hết sức nhảm nhí, sai sự thật. Suy cho cùng, chúng chỉ muốn gán “tội tham nhũng” cho Bộ Công an hòng hạ uy tín và chia rẽ lòng tin của người dân mà thôi. Vì vậy, mỗi người dân cần hết sức cẩn trọng khi tiếp nhận thông tin.

NHỮNG ĂN THEO TỪ VIỆC KHỞI TỐ NGUYỄN PHƯƠNG HẰNG

 

Nguyễn Phương Hằng - Giám đốc Công ty Đại Nam - người rất nổi tiếng trên cộng đồng mạng, nhất là về việc đòi những người làm từ thiện sao kê số tiền thu được. Gần đây dư luận được một phen sục sôi trước thông tin bà Nguyễn Phương Hằng bị bắt tạm giam và điều tra vì tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Tuy nhiên, việc này đã tạo ra tranh cãi trong dư luận, giữa những đồng tình, tiếc cho bà và những người yêu mến bà. Nhiều đối tượng như Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Mã Thái Sơn, Phạm Ngọc An, Larry De King, Nguyễn Hồng Phúc, JB Lam Nguyen… đã lợi dụng vụ bà Hằng bị bắt tạm giam để kích động những người yêu mến bà Hằng biểu tình, gây rối trật tự xã hội. Nhưng nếu chúng ta là người công tâm, khi nhìn lại toàn bộ hành vi bà Nguyễn Phương Hằng đã làm trong thời gian qua thì có thể hiểu được việc khởi tố, bắt giữ là đúng tinh thần thượng tôn pháp luật.

Công tội cần phân minh, bà Hằng có công thì dư luận đã rõ nhưng có tội thì chắc chắn sẽ phải xử lý theo pháp luật. Thời gian qua, công an TPHCM đã làm việc liên tục 5 tháng, hệ thống hóa những vi phạm của bà Hằng và đây là thời điểm chín mùi để thực thi pháp luật. Việc bà Nguyễn Phương Hằng bị khởi tố, bắt tạm giam vì tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, theo Điều 331 của Bộ Luật Hình sự là đúng pháp luật, đúng trình tự.

Có thể thấy, chiêu trò lợi dụng sự việc nóng để kích động, kêu gọi biểu tình của các đối tượng không hề mới, chỉ là bình cũ rượu mới nhưng mỗi chúng ta cần tỉnh táo, cảnh giác để tránh bị cuốn vào những luận điệu bịa đặt, sai trái đó.


 

Những việc cần làm ngay để bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

 

Tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp, đơn vị đối với với nhiệm vụ tăng cường đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. 

Nhanh chóng kiện toàn, quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ, đưa hoạt động của Ban Chỉ đạo 35, bộ phận giúp việc của các cơ quan, đơn vị vào nền nếp và có hiệu quả cao; tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời đạt hiệu quả thiết thực. Chủ động tham mưu với cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. 

Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội; ban hành các văn bản chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả các đề án, kế hoạch, hướng dẫn về tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền trước, trong, sau các sự kiện chính trị quan trọng, nhất là Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng, các vấn đề dư luận trong nước và quốc tế quan tâm; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa bàn chiến lược; một số vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, giữ vững sự ổn định trong đơn vị; chủ động thông tin tích cực, đẩy mạnh tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, kịp thời phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, thông tin xấu độc. 

Các cơ quan chức năng và các đơn vị tăng cường quán triệt, thực hiện nghiêm các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên về đấu tranh tư tưởng, lý luận; duy trì hoạt động đấu tranh có nền nếp, hiệu quả; chủ động nhạy bén nắm tình hình, tập trung tham mưu và chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh; tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trên mặt trận tư tưởng, lý luận.

Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình các cấp trong quân đội cần bám sát hơn nữa nhiệm vụ chính trị của mình, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương mở rộng các chuyên trang, chuyên mục; đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận kịp thời, hiệu quả.

Các nhà trường, viện, cơ quan nghiên cứu khoa học trong toàn quân nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu nắm bắt âm mưu thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch, tham mưu đề xuất, triển khai đấu tranh có hiệu quả, đồng thời tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và học tập lý luận chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; tăng cường liên kết, phối hợp với các cơ quan chức năng của Quân đội, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kịp thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

NHỮNG CHIÊU TRÒ BÌNH LUẬN ĐỂ HẠ THẤP UY TÍN CỦA LÃNH ĐẠO ĐẤT NƯỚC

 

Gần đây, các đối tượng chống phá, nhất là những tổ chức khủng bố, phản động luôn tìm mọi cách để phá hoại và bôi nhọ hình ảnh của Việt Nam. Một trong những thủ đoạn hay dùng nhất của bọn chúng là dùng các luận điệu, bình luận có ý mỉa mai, bôi xấu hoặc xỉa xói, xuyên tạc nhằm hạ thấp thanh danh, uy tín các đồng chí lãnh đạo nhân vào các lời nói công khai trên phương tiện thông tin đại chúng.

Cứ mỗi khi đọc báo gặp được một vấn đề nào đó ở Việt Nam đang cần giải quyết, chúng lại lôi câu nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đại ý “đất nước ra chưa bao giờ có vị thế như ngày nay” để châm biếm. Hay khi đọc được câu phát biểu của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc muốn thúc giục các đơn vị, tỉnh thành phải có ý chí vươn lên, thành “đầu tàu phát triển” thì chúng lại cho rằng Chủ tịch nước “có mỗi một câu nói mãi”. Và mới đây nhất là câu phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính nói về việc khởi nghiệp của sinh viên “rủi ro lớn nhất là không biết chấp nhận rủi ro” cũng bị đưa ra để mỉa mai rằng Thủ tướng nói câu vô nghĩa, chẳng ai hiểu.

Hay như mới đây, khi tham dự Ngày hội khởi nghiệp quốc gia của học sinh sinh viên lần thứ 4, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có một câu nói đầy khích lệ “Rủi ro lớn nhất là không biết chấp nhận rủi ro”. Ý của Thủ tướng muốn động viên, khích lệ tinh thần dám nghĩ, dám làm của học sinh, sinh viên và thế hệ thanh thiếu niên, góp phần dựng xây đất nước. Vậy nhưng, không biết là giả vờ hay thật, Việt Tân ám chỉ rằng câu nói này vô nghĩa và dùng điều này để bôi nhọ Thủ tướng.

Ngay cả tại Mỹ, người sáng lập Facebook cũng từng sử dụng câu nói tương tự với đại ý rằng thế giới hiện nay đang thay đổi rất nhanh, và nếu cứ ngồi yên một chỗ không dám chấp nhận rủi ro để thay đổi theo và phát triển thì chắc chắn thất bại. Câu nói này từng được Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dẫn lại và hiện tại là Thủ tướng Phạm Minh Chính. Không hiểu bọn chúng nghĩ gì khi biết tác giả gốc của câu nói này, liệu họ có chê bai Mark là phát biểu vô nghĩa hay không?

Như vậy, lãnh đạo Việt Nam luôn tôn trọng những người trẻ tuổi, cả ở Việt Nam hay ở Mỹ, đó cũng là tôn trọng những giá trị tốt đẹp của thế giới, đâu có phân biệt hay kỳ thị một ai. Tất cả những kẻ không nhìn thấy điều đó, chỉ muốn tìm cách bôi nhọ, bôi xấu người khác cuối cùng cũng chỉ vì những lợi ích cá nhân của họ mà thôi!

 

ÁN TÙ NHÂN VĂN CHO LÊ CHÍ THÀNH

 Lê Chí Thành kẻ chuyên xuyên tạc sự thật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của Tòa án nhân dân; quyền, lợi ích hợp pháp của Công an nhân dân. Vừa rồi, y bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kết án 2 năm tù về tội chống người thi hành công vụ. tuy nhiên, một số đối tượng lai rêu rao, ủng hộ cho Lê Chí Thành.

Trước hết nói về Lê Chí Thành, Thành được cộng đồng mạng biết đến là Youtuber thường xuyên xuất hiện trên mạng xã hội với những video về Cảnh sát giao thông làm việc trên các tuyến đường ở TP.HCM. Sau một thời gian “tự do giám sát” lực lượng Cảnh sát giao thông, Lê Chí Thành có lẽ tự cho mình có “kim bài miễn tử” nên đã có nhiều hành vi “thách thức” lực lượng chức năng. Đơn cử là ngày 20/3/2021, trên xa lộ Hà Nội (Thành phố Thủ Đức), Lê Chí Thành không chấp hành hiệu lệnh biển báo giao thông, lái xe hơi sai làn đường. Không những không xuất trình giấy tờ mà Thành còn tranh cãi kéo dài với Tổ công tác. Không những vậy, Thành còn quay phim, phát trực tiếp trên mạng xã hội và kêu gọi mọi người chia sẻ, ủng hộ. Hung hăng, “hổ báo” khi vi phạm là vậy, thế nhưng khi đứng trước vành móng ngựa, Thành lại ngoan ngoãn nhận tội và xin được giảm án.

Ngay sau khi Lê Chí Thành bị kết án, Nguyễn Văn Đài, Hội anh em dân chủ đã lập tức đăng đàn, cho rằng “y án 2 năm tù với cựu đại úy Lê Chí Thành là một tội ác đối với số ít những người có lương tâm còn lại trong ngành công an”.

Để mà nói thì 2 năm tù giam cho tội “Chống người thi hành công vụ” là mức án còn có phần “nhẹ nhàng” cho tội danh này. Nhìn sang những nước khác trên thế giới, tội phạm chống người thi hành công vụ luôn là tội danh có những bản án rất nghiêm khắc. Ví dụ như tại Australia, người nào tấn công, quấy rối hoặc đe dọa sĩ quan cảnh sát trong khi thi hành nhiệm vụ, dù không gây thương tích có thể bị phạt tù từ 5 đến 7 năm. Còn ở tại Mỹ, nếu bạn không chấp hành hiệu lệnh của Cảnh sát thì việc người đó bị chĩa súng và ăn “kẹo đồng” là điều bình thường chứ đừng nói đến việc tranh cãi hoặc livestream, đồng thời có thể đón nhận bản án lên đến 5 năm tù.

Mức án 2 năm tù giam đó là đúng người, đúng tội và có tính “nhân văn” sâu sắc của chính quyền Việt Nam. Bản án đúng là vậy, thế nhưng Nguyễn Văn Đài và Hội anh em dân chủ vẫn cố tình đăng đàn chỉ trích “chính quyền Việt Nam. Đây chỉ là những hành vi nhằm hạ uy tín cũng như chia rẽ lòng dân mà thôi.

CHIÊU TRÒ CỦA VĂN PHÒNG CỦA TỔ CHỨC THEO DÕI NHÂN QUYỀN

 

Việt Nam và Nhật Bản là hai đối tác chiến lược, luôn cùng nhau hợp tác làm ăn, buôn bán nhiều ngành nghề, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong các lĩnh vực. Thế nhưng, Văn phòng của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tại thủ đô Tokyo lại luôn tìm cách để "ly gián" quan hệ hai nước.

Đơn cử là ngày 26/4/2022 vừa qua, ngay trước thềm chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản, tổ chức này đã kêu gọi người đứng đầu chính phủ Nhật Bản đưa vấn đề nhân quyền lên bàn nghị sự trong khi thực hiện chuyến công du tới Việt Nam tới đây. Lý do mà tổ chức này đưa ra để Thủ tướng Nhật Bản lên tiếng đó là tình trạng gia tăng đàn áp nhắm vào những nhà hoạt động nhân quyền; chính quyền Việt Nam trong khoảng thời gian hơn một năm trở lại đây đã bắt, xét xử 51 người bao gồm những nhà hoạt động, nhà báo công dân và nhà bất đồng chính kiến.

Việc kêu gọi Thủ tướng Nhật Bản lên tiếng về tình hình nhân quyền ở một nước khác đã nực cười, lý do Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đưa ra còn nực cười hơn gấp nhiều lần. Bởi mỗi người dân Việt Nam chúng ta đều thấy rằng mình được tự do như thế nào, nói vui với nhau thì có lẽ chỉ có người dân Việt Nam có thể đối chất với cơ quan chức năng, ví dụ như việc người tham gia giao thông khi bị kiểm tra phương tiện lại yêu cầu Cảnh sát giao thông xuất trình chuyên đề, chương trình, kế hoạch. Ở góc nhìn này chúng ta có thể thấy người dân Việt Nam “tự do” như thế nào.

Với ý đồ chống phá Việt Nam từ gần một thập kỷ, văn phòng của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tại thủ đô Tokyo, Nhật Bản vẫn kêu gọi Nhật Bản tạo sức ép với Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Kể cũng lạ, văn phòng tại Tokyo với nhiệm vụ là theo dõi nhân quyền ở Nhật Bản, thế nhưng lại can thiệp vào câu chuyện của Việt Nam, không rõ văn phòng này có tư cách gì để đánh giá, đồng thời đề nghị một chính quyền sở tại tạo sức ép với Việt Nam. Có thể thấy bản chất của lời kêu gọi này chỉ là lợi dụng sức ảnh hưởng, nền kinh tế của Nhật Bản để tạo sức ép với các nước đang hợp tác với Nhật, trong đó có Việt Nam. Chưa kể, người đại diện văn phòng này chắc gì đã được đặt chân đến Việt Nam mà chỉ biết đến nhân quyền Việt Nam thông qua sách, báo, những thông tin từ những tổ chức chống đối trong và ngoài nước.

Như vậy, nhân dân thế giới cần nhìn nhận lại hoạt động của Văn phòng của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tại thủ đô Tokyo, Nhật Bản. Đây thực sự không phải là địa chỉ tin cậy để có thể tin tưởng về vấn đề nhân quyền./.

VỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

 

Với âm mưu chống phá Việt Nam, nhiều tổ chức, cá nhân phản động luôn tìm mọi chiêu bài, chiêu thức để hạ thấp uy tín Việt Nam trên trường quốc tế, trong đó có chiêu bài bôi nhọ về quyền tự do báo chí.       

Việt Nam là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, sớm tham gia vào các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Trên phương diện pháp lý, tổ chức này ắt hẳn không nắm được tất cả các bản Hiến pháp của nước ta (các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013) đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân. Ở mỗi bản Hiến pháp, nội dung này được kế thừa, phát triển phù hợp từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta. Từ ngay Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã quy định một cách khái quát quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được phát triển xuyên suốt trong các bản Hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được khẳng định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Như vậy, qua các lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, Việt Nam luôn khẳng định, tôn trọng và có quy định bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính của nhân dân.

Nội hàm của quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân tiếp tục được thể hiện trong các Điều 10 và Điều 11 Luật Báo chí năm 2016, theo đó công dân đầy đủ có các quyền tự do báo chí: Sáng tạo tác phẩm báo chí; Cung cấp thông tin cho báo chí; Phản hồi thông tin trên báo chí; Tiếp cận thông tin báo chí; Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; In, phát hành báo in. Còn nếu RSF vẫn còn “ngoan cố” đánh giá sai về tình hình tự do báo chí thì Điều 13, Luật Báo chí năm 2016 sẽ vạch trần sự “lếu láo” của bảng xếp hạng kia, theo đó đã ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Tóm lại, việc bôi xấu, xuyên tạc tình hình báo chí Việt Nam là một trong nhiều chiêu bài nhằm chống phá của những kẻ luôn nuôi tham vọng thay đổi chế độ ở Việt Nam. Điều này đã trở nên “lạc lõng” khi tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng và bảo vệ trên cơ sở từng người dân, từng nhà báo thực hiện đúng pháp luật, nêu cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ của công dân./.

LÀM RÕ VỀ TỔ CHỨC PHÓNG VIÊN KHÔNG BIÊN GIỚI (RSF)

 

Tổ chức Phóng viên không biên giới là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, hoạt động dựa trên Điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền với mục đích bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tôn chỉ mục đích cao quý là vậy, thế nhưng những hoạt động của tổ chức này dường như đang đi ngược lại mục đích khi được thành lập. Vừa rồi, tổ chức này lại một lần nữa xếp Việt Nam ở vị trí 174/180 quốc gia và vùng lãnh thổ về Chỉ số tự do báo chí.

Điều này cũng dễ hiểu, vì RSF không đưa ra khái niệm về “tự do báo chí”, tức là tổ chức này đã không hình thành được một định nghĩa và cách hiểu cơ bản về tự do báo chí, những yếu tố được tổ chức này sử dụng để đánh giá tự do của một nền báo chí không cân nhắc đến các yếu tố văn hóa, xã hội, nhận thức của từng quốc gia riêng biệt mà những đánh giá và xếp hạng của tổ chức này luôn dựa vào “danh sách đen” của Bộ Ngoại giao Mỹ, mà trong “danh sách đen” này luôn có tên Việt Nam. Việc lấy tiêu chuẩn của “tự do báo chí” của Mỹ và phương Tây để đánh giá tự do báo chí toàn cầu đã khiến Việt Nam và những nước như Iran, Syria, Triều Tiên, Cuba, Trung Quốc đã nhiều lần “bức xúc” trước quy cách đánh giá “vô thiên vô pháp” và vô cùng phiến diện của tổ chức này.

Mặt khác, Tổ chức Phóng viên không biên giới lại không đưa ra bất kỳ báo cáo nào về hoạt động chống lại nhà báo của các nước tư bản và các đồng minh như việc 176 người hoạt động trên lĩnh vực truyền thông bị giết hại tại Philippines từ năm 1986 đến nay, hay việc 16 nhà báo bị giết chết trong một lần NATO không kích Đài truyền hình Nam Tư (RTS) cũng tuyệt nhiên không được nhắc đến trong bất cứ một bản báo cáo nào. Có vậy chúng ta mới có thể thấy sức mạnh của “đồng đôla” có thể xoay chuyển cục diện của một tổ chức phi chỉnh phủ hoặc tiến xa hơn đó là sức mạnh “đổi trắng thay đen” một cách trắng trợn. Ngoài ra, về nguồn ngân quỹ, ngân quỹ hoạt động của RSF lại đến phần lớn từ các nước tư bản lớn như Pháp, Mỹ thông qua nhiều con đường khác nhau như thông qua Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ (NED).

Như vậy việc đánh giá “tự do báo chí” của RSF đâu còn khách quan được nữa. Việc Việt Nam xếp hạng gần áp chót bảng xếp hạng về chỉ số tự do báo chí do tổ chức này thực hiện là điều đương nhiên, đâu có căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam. Muốn đánh giá đúng, hãy cứ đến, sẽ thấy Việt Nam tự do báo chí như thế nào, không nên nhắm mắt nói bừa như vậy./.

KHÔNG THỂ SO SÁNH "NHÂN QUYỀN" Ở CÁC NƯỚC TƯ BẢN VỚI Ở VIỆT NAM

 

Những nước tư bản vốn tự cho mình là “dân chủ”, tôn trọng nhân quyền, nhưng những bài học lịch sử và thực tế diễn ra ngay trong lòng các nước đó thì có vẻ lại không như vậy

Phong trào “99 chống lại 1” vẫn tồn tại ngay trong lòng nước Mỹ. Khi chính những bất công, thiếu dân chủ vẫn còn đó thì sẽ luôn còn những phong trào mới diễn ra, vạch trần dân chủ nhân quyền giả dối của Hoa Kỳ – một quốc gia mà: “Hệ thống quyền lực đó vẫn thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” hay còn gọi là phong trào “Chiếm lấy phố Wall- OWS” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản.

Các khẩu hiệu của phong trào OWS là: “Hãy chấm dứt bóc lột tầng lớp thường dân để trả cho kẻ giàu!”; “Ngân hàng được cứu giúp, chúng tôi bị bán rẻ!”. Các khẩu hiệu mà chúng ta thường bắt gặp trong phong trào này đó là: “Chúng tôi là 99%” – họ coi mình là đại diện của 99% dân số Mỹ bị thiệt thòi phải đứng lên chống lại 1% là những kẻ giàu có, tham lam đang ngự trị trên phố Walls, khiến cho bất bình đẳng và bất công xã hội Mỹ ngày càng tăng cao. Những người tổ chức phong trào còn ra tờ báo “Chiếm phố Walls”. Trong đó, tố cáo “sự lộng hành của giai cấp thống trị”, “sự xa hoa của giới tài phiệt trong khi quần chúng đang bần hàn”.

Ngay mới đây, ngày 25/5/2020, ông George Floyd, 46 tuổi, bị đè chết dưới đầu gối của một cảnh sát da trắng đã tiếp nối một danh sách dài những người Mỹ gốc Phi bị thiệt mạng do cảnh sát lạm dụng bạo lực khi trấn áp. Cái chết của ông làm bùng lên Phong trào “black lives matter” để đòi hỏi xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc diễn ra đã hàng trăm năm nay tại Mỹ. Từ Mỹ, làn sóng biểu tình chống phân biệt chủng tộc nhanh chóng lan rộng tại châu Âu với những cuộc xuống đường quy mô lớn, nhiều cuộc thu hút hơn 10.000 người tham gia. Ấy vậy mà ở Việt Nam – một đất nước bị Mỹ cho rằng “thiếu bình đẳng” lại không hề thấy tình cảnh phân biệt màu da.

Như vậy, trong khi chính quyền ở Việt Nam là “của dân, do dân và vì dân” thì chính quyền ở các nước tư bản là “của 1%, do 1 % và vì 1 %”. Vậy thì lấy tư cách gì mà các nước tư bản "lên mặt, dạy đời" Việt Nam về vấn đề nhân quyền./.

Luận cứ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

 

Việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm mọi cách xuyên tạc, suy diễn, bôi nhọ trên cơ sở các luận điệu phi lý, thiếu căn cứ hòng phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là điều không thể chấp nhận, thể hiện thông qua các vấn đề sau:

Một là, dân chủ là xu hướng phát triển tiến bộ của lịch sử loài người, nhưng nó không được quyết định bởi chế độ một đảng hay nhiều đảng mà tùy thuộc vào việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của giai cấp nào và hướng đến mục tiêu gì.

Quan điểm một đảng thì mất dân chủ, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ mang tính phiến diện. Thực tiễn cho thấy, đất nước có dân chủ không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đó có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số nhân dân lao động hay chỉ cho một bộ phận thiểu số người trong xã hội đó. Nếu một đảng chỉ phục vụ cho lợi ích riêng của đảng mình, giai cấp mình thì hoạt động của đảng đó sẽ mang tính cục bộ và khó có thể được các giai tầng khác chấp thuận để trở thành lực lượng lãnh đạo cho toàn xã hội. Ngược lại, nếu một đảng vừa đại diện cho lợi ích của đảng mình, giai cấp mình, vừa đại diện cho lợi ích của toàn xã hội thì chắc chắn đảng đó sẽ được nhân dân tin tưởng, ủy thác làm lãnh đạo xã hội. Điều đó là minh chứng xác thực để khẳng định rằng không phải đa đảng là dân chủ và một đảng là mất dân chủ.

Vấn đề một đảng hay nhiều đảng chính trị một mặt phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước, mặt khác phụ thuộc tương quan so sánh lực lượng giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Trong các nước tư bản chủ nghĩa, có nhiều đảng chính trị, nhưng chỉ có những đảng của giai cấp tư sản là cầm quyền. Những đảng đó có thể khác nhau về hình thức tổ chức, phương thức hoạt động và những mục tiêu cụ thể, nhưng về bản chất đều đại diện cho các nhóm khác nhau trong giai cấp tư sản và đều có mục tiêu duy trì, phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, của đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền vừa là sự lựa chọn của lịch sử, vừa là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, cho quyền làm chủ của nhân dân. Do vậy, luận điệu cho rằng việc Việt Nam duy trì chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo là mất dân chủ là cố tình lờ đi hoặc không hiểu bản chất chính trị của đảng hoặc cố tình quy chụp một cách thiếu thiện chí cho Việt Nam.

Thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với số lượng đảng phái chính trị. “Điển hình như ở Mỹ hiện nay có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng chúng ta không thể kết luận rằng ở Mỹ dân chủ hơn ở Hà Lan hay Na Uy”. Trên thế giới hiện nay có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là điều chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ. Vì thế, Việt Nam lựa chọn chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền cũng không phải là cá biệt, đi ngược lại xu thế chung của nhân loại như các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn rêu rao và cáo buộc!

Hai là, dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, được Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng bổ sung, hoàn thiện. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt mục tiêu mang lại độc lập cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, giúp nhân dân có quyền làm chủ thực sự. Do đó, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cao mục tiêu xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân với phương châm “Bao nhiêu lợi ích đều vì nhân dân”.

Kế thừa và phát triển quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa để xây dựng một nền dân chủ thực sự, được thực hiện trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…, thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra bằng các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ gắn liền với kỷ cương, kỷ luật và được thể chế hóa bằng pháp luật, bảo đảm bằng pháp luật.

Quan điểm về dân chủ xã hội chủ nghĩa được thể hiện đậm nét trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011): “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống, ở mỗi cấp, trên tất cả lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”. Như vậy, không thể tùy tiện quy chụp rằng Việt Nam không chú trọng đến dân chủ hoặc mất dân chủ bởi điều đó phản ánh không đúng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta xác định: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”.

Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, Đại hội XIII của Đảng đã tiến hành điều chỉnh, bổ sung một số điểm mới về tư duy xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân được thực thi trên thực tế. Đồng thời, xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt” để nhân dân làm chủ. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng trên cơ sở tổng kết lý luận, thực tiễn đã bổ sung, phát triển tư duy về phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những bổ sung, phát triển ấy một lần nữa khẳng định, mặc dù, trong mỗi giai đoạn lịch sử có những thay đổi về mô hình bộ máy nhà nước, nhưng sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính là nhận thức và hành động nhất quán về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong điều kiện mới.

Ba là, mô hình “tam quyền phân lập” có thể phù hợp ở các mức độ khác nhau với một số nước trên thế giới, nhưng không phù hợp với điều kiện và thể chế chính trị của Việt Nam. Việt Nam lựa chọn cách thức tổ chức quyền lực là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”, không “tam quyền phân lập” mà kiên định nguyên tắc “quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” và “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Đây là sự lựa chọn phù hợp với bối cảnh Việt Nam cũng như xu thế khách quan của thời đại, đúc rút từ thực tiễn hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Chúng ta không phủ nhận những giá trị phổ quát của nhà nước pháp quyền, đó là tinh hoa trí tuệ nhân loại, mang tính quy luật, chứ không phải sản phẩm riêng có, độc quyền của chủ nghĩa tư bản. Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ, chưa có tiền lệ, đòi hỏi có sự nhận thức lý luận khoa học, sự vận dụng sáng tạo, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đây chính là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo các giá trị phổ quát về nhà nước pháp quyền, song cũng gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nhà nước vô sản ở Việt Nam. Quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đánh dấu một bước tiến trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta thời kỳ đổi mới.

Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ sự khác biệt về chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản. Đó là: “pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân”. Do đó, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam.

Như vậy, không thể lập luận rằng “xây dựng Nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, không thể xuyên tạc ở Việt Nam “chỉ có đảng trị, không có pháp quyền”... Mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” cũng không phải là khuôn mẫu, tiến bộ về tự do, dân chủ, nhân quyền. Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm bởi khi đưa ra luận điệu này, các đối tượng nhằm cố tình xuyên tạc, phủ nhận thể chế chính trị của Việt Nam cũng như phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; ca ngợi, cổ xúy và thúc đẩy mô hình nhà nước “tam quyền phân lập”, ca ngợi cái gọi là giá trị “tự do, dân chủ, nhân quyền” phương Tây; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ, thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Mặt khác, việc tung ra luận điệu trên hòng làm méo mó bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội, làm giảm uy tín, vị thế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên trường quốc tế. Do đó, không thể coi thường hoặc xem nhẹ các luận điệu sai trái đó.

Có thể khẳng định, các quan điểm sai trái, thù địch về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là rất nguy hiểm vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Do đó, cần nhận diện rõ các quan điểm này và có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục để củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, nâng cao nhận thức, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng./.

 

 

Một số giải pháp đấu tranh chống chiêu trò "nhân danh nhân dân" để chống phá Đảng và Nhà nước

 

Những chiêu trò trên cho thấy, nhiều đối tượng đã lấy “nhân dân” làm tấm bình phong, lợi dụng “nhân dân” để tiến hành các hành vi xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm thực hiện các âm mưu, thủ đoạn thâm độc phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng cố ý không tôn trọng thực tế khách quan là chính nhân dân, dân tộc Việt Nam đã lựa chọn con đường đi đúng đắn cho mình; Đảng và Nhà nước Việt Nam là người con do nhân dân Việt Nam sinh ra, nhờ nhân dân mà trưởng thành, vì nhân dân mà phục vụ. Nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất cứ kẻ nào nhân danh mình, thay mình thực hiện sứ mệnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Không thể tồn tại một thế lực nào tự cho mình cái quyền “đại diện nhân dân” để đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta có trách nhiệm bảo vệ danh dự, uy tín và lợi ích chính đáng của nhân dân và kiên quyết xử lý nghiêm minh tất cả những kẻ có mưu đồ “nhân danh nhân dân” để chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang dày công gây dựng.

Trong bối cảnh hiện nay, để phòng, chống, đập tan âm mưu, thủ đoạn “nhân danh nhân dân” chống phá Đảng và Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chủ yếu:

Một là, quán triệt quan điểm “dân là gốc”; làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước. Kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(12) trên cơ sở đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Kiên quyết đấu tranh loại trừ mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tránh "tạo cớ" để các thế lực thù địch, phản động khai thác, lợi dụng, xuyên tạc bản chất của chế độ, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Hai là, tập trung phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đồng thời, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập của mọi người dân; bảo đảm hài hòa và hợp lý hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước đi, từng chính sách phát triển. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường; tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách để khơi dậy và phát huy tối đa mọi tiềm năng, nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Hiệu quả kinh tế - xã hội chính là thước đo xác thực và thuyết phục nhất lòng tin của người dân đối với chủ thể cầm quyền.

Ba là, chú trọng thực hành văn hóa chính trị, nhất là văn hóa trong Đảng, văn hóa công sở và đạo đức công vụ, văn hóa dân chủ, văn hóa công dân. Đẩy mạnh nghiên cứu, xác định và xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào về truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực, mọi quan hệ của đời sống xã hội, thực sự trở thành động lực, là nguồn lực nội sinh và nền tảng cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Bốn là, việc giải quyết và xử lý hiện tượng “nhân danh nhân dân” để chống phá Đảng và Nhà nước cần dựa trên các nguyên tắc về nhân dân của Đảng, trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân. Đó là cơ sở để nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt thật của những đối tượng “nhân danh nhân dân”, núp dưới “chiêu bài nhân dân” để thực hiện những hành vi, mưu đồ đen tối chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đối với những cá nhân, tổ chức "nhân danh nhân dân" để đi ngược lại ý chí chung của toàn Đảng, toàn dân, đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc thì Nhà nước cần kiên quyết xử lý nghiêm trên cơ sở thượng tôn pháp luật, nhằm phòng, chống, ngăn chặn, loại trừ có hiệu quả tất cả những âm mưu chống phá thâm độc./.