Thứ Hai, 2 tháng 12, 2024

NHẬN DIỆN CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Cán bộ là cái gốc của mọi công việc…”. Vì thế, công tác nhân sự đại hội Đảng là công tác đặc biệt quan trọng của công tác cán bộ, gắn liền với vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước. Đây cũng là công tác nhạy cảm, phức tạp, đối diện với vô vàn khó khăn, thách thức “nội sinh”, “ngoại sinh”. Và như chúng ta đã từng được chứng kiến sự thật có tính lịch sử trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, các kỳ họp của Quốc hội hay các ngày kỷ niệm lớn của đất nước, của Đảng và Quân đội, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng hoạt động chống phá, trong đó đặc biệt tập trung vào công tác nhân sự. Và khi Đảng ta ngày càng quyết liệt với công tác phòng, chống tham nhũng thì các thế lực này lại xem đó là cơ hội để xuyên tạc, bóp méo, làm sai lệch ý nghĩa của cuộc chiến chống “giặc nội xâm” nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Nhận diện những luận điệu sai trái

Để chuẩn bị cho lực lượng kế thừa, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, cấp ủy các cấp đều chú trọng công tác nhân sự thông qua việc quy hoạch, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm cán bộ nhằm tạo điều kiện cho cán bộ sâu sát với thực tiễn, rèn luyện năng lực, bản lĩnh ở nhiều vị trí công tác khác nhau. Bên cạnh đó, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng cũng ngày càng quyết liệt, thể hiện rõ tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong ý thức và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong cả hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, trong luận điệu của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, những mặt công tác thường xuyên và ý nghĩa này thì đó lại là kết quả của “chạy chức chạy quyền”, là “phe cánh tạo thế lực”… từ đó bác bỏ hoàn toàn vai trò của công tác nhân sự trong việc xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Mục đích của chúng không gì ngoài việc làm lung lay niềm tin của dân vào công tác cán bộ của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa Đảng với Nhân dân. Nhan nhản các trang mạng xã hội đăng tải những bài dự đoán nhân sự cấp cao cho Đại hội với lời lẽ đầy ác ý. Nguy hiểm là đã có không ít cán bộ, người dân tin vào những thông tin và luận điệu xuyên tạc ấy.

Về công tác phòng, chống tham nhũng, nếu cả cộng đồng quốc tế đã công nhận và người dân ngày càng tin vào nỗ lực của Đảng thì các thế lực thù địch lại cho rằng đó chỉ là “đấu đá phe cánh”, qua đó phủ nhận sự ổn định chính trị của đất nước. Với thủ đoạn “nhào nặn trắng đen”, chúng đã phủ nhận hoàn toàn kết quả công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng việc pha trộn thông tin thật giả, hướng dư luận đến những tiêu cực mà không thấy những kết quả tích cực từ công tác này.

Hãy thực sựu tỉnh táo trước thông tin xấu, độc

Việc chống phá, xuyên tạc, bóp méo sự thật là âm mưu thường xuyên, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, nhất là đối với công tác nhân sự vốn rất được người dân, cán bộ, đảng viên quan tâm. Lợi dụng sự quan tâm này, chúng liên tục tung ra các thông tin về công tác cán bộ - có khi là dự đoán nhân sự sắp được bổ nhiệm, có khi là tung tin “bí mật đằng sau” việc kỷ luật cán bộ, có khi là thông tin bịa đặt về sức khỏe của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước hoặc tung tin sai trái về hoạt động của một nhân sự cấp cao trên lĩnh vực kinh tế nhằm tạo tâm lý hoang mang, gây xáo trộn nền kinh tế trong nước… Để tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc, thông tin xấu độc này, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nhớ quản lý cán bộ là một phần quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng, cũng là tất yếu khách quan của bất cứ thể chế chính trị nào trên thế giới. Chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận; lựa chọn, bố trí cán bộ là chức năng của đảng cầm quyền và trở thành phương thức cầm quyền của Đảng. Quá trình quy hoạch, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ luôn được thực hiện một cách công khai, minh bạch, theo quy trình cụ thể, rõ ràng. Đặc biệt, dù nhân sự ở cấp nào có thay đổi nhưng nguyên tắc hoạt động, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng luôn nhất quán, đảm bảo tính kế thừa, không bị chi phối bởi bất cứ thế lực nào, không bị thay đổi như các thể chế đa đảng khác.

Còn vấn nạn tham nhũng, tiêu cực không chỉ xuất hiện ở riêng Việt Nam hay một đất nước nào mà đó là vấn đề nan giải ở mọi thể chế có giai cấp, là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực Nhà nước, là sự tha hóa quyền lực của người có chức có quyền. Thấy rõ điều này, Đảng ta luôn đẩy mạnh cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, để làm trong sạch Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền vững mạnh. Đây hoàn toàn không phải là cuộc đấu đá giữa các phe, cánh mà mỗi vụ việc bị phanh phui là “diệt sâu để cứu cây”; mỗi cán bộ bị xét xử về hành vi sai trái của mình là giúp cho những đảng viên, cán bộ khác tự soi và tự sửa bản thân để không đi vào con đường sai trái và tiếp tục cống hiến cho Đảng, phục vụ Nhân dân.

Đoàn kết thống nhất là truyền thống quý báu của dân tộc ta từ bao đời nay, làm nên sức mạnh chiến thắng giặc ngoại xâm. Đó cũng là sức mạnh nội tại trong Đảng, nguyên tắc đoàn kết thống nhất được biểu hiện thực tế trong toàn bộ hoạt động của Đảng. Trước sự chống phá ngày càng ráo riết của các thế lực thù địch, cán bộ, đảng viên càng phải đoàn kết để đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, các thủ đoạn gây mất niềm tin và chia rẽ đoàn kết nội bộ. Không để tư tưởng xấu độc, cực đoan len lỏi vào trong suy nghĩ; tận lực, tận tụy, hết lòng với nhiệm vụ được giao, hết lòng phục vụ Đảng, phục vụ Nhân dân - đó chính là cách mà mỗi cán bộ, đảng viên có thể làm và làm tốt nhất để giữ vững bản lĩnh trước sự chống phá vô hình nhưng cũng vô cùng nguy hiểm của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

 

KHẲNG ĐỊNH BẢN LĨNH, TRÌNH ĐỘ LÀM CHỦ BẦU TRỜI CỦA PHI CÔNG QUÂN SỰ

 

Đại tá Nguyễn Văn Sơn và Thượng tá Nguyễn Hồng Quân thuộc Trung đoàn Không quân 940, Trường Sĩ quan Không quân (Quân chủng Phòng không - Không quân) với bản lĩnh, kỹ năng xuất sắc, đã bình tĩnh đối mặt với tình huống nguy hiểm, đưa ra những quyết định chính xác và an toàn trở về. Hành động của hai phi công đã minh chứng cho trình độ và tinh thần, ý chí thép của người quân nhân cách mạng.

Sự cố bất ngờ và quyết định dũng cảm

Trở về an toàn sau sự cố, Thượng tá Nguyễn Hồng Quân bày tỏ: “Đối với mỗi phi công, chắc chắn không ai muốn nhảy dù vì luôn mong muốn bảo đảm khối tài sản quốc gia. Chúng tôi đã trao đổi rất kỹ và điều khiển máy bay, bay đi bay lại nhiều lần để quyết tâm hạ cánh thành công. Nhưng điều kiện không cho phép, buộc chúng tôi phải nhảy dù”.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Phụng Tuấn, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân, trên máy bay có 3 càng, 1 càng mũi, 2 càng chính; nếu 1 trong 2 càng chính không ra thì phi công sẽ phải làm động tác thả càng khẩn cấp. Sau khi thả càng khẩn cấp mà càng vẫn không ra được thì bắt buộc phi công phải nhảy dù, ở đây phi công vẫn cố hết sức để tạo quá tải cho một bên càng ra nốt nhưng không được. Trong trường hợp này nắp buồng càng đã ra rồi, phi công vật lộn với máy bay rất nhiều lần, 7 đến 8 lần với khối tải lớn nhưng càng vẫn không ra nên mới quyết định nhảy dù. Đây là một quyết định dũng cảm và chắc chắn. Vì trong trường hợp máy bay còn điều khiển tốt, phi công phải tránh những khu vực đông dân cư, làng mạc để tránh thảm họa cho dân chúng.

Điều đó cho thấy quyết định nhảy dù của hai phi công không phải là một quyết định dễ dàng, đồng nghĩa với việc từ bỏ chiếc máy bay, một tài sản quý giá của đất nước. Tuy nhiên, đặt sự an toàn về tính mạng và tránh gây thiệt hại cho người dân, hai phi công đã bình tĩnh tính toán, lựa chọn vị trí nhảy dù an toàn nhất, tránh xa khu dân cư. Hành động của họ không chỉ là sự dũng cảm mà còn là sự thông minh và tính toán kỹ lưỡng.

Đại tá Nguyễn Văn Sơn chia sẻ: “Hướng nhảy dù của chúng tôi vào hướng quy định của sân bay và bằng các kỹ năng sinh tồn theo hướng dẫn, chúng tôi đi bộ hướng về sân bay, hướng 90 độ ra biển, leo lên đến đỉnh núi cao hơn 700 mét, lúc đó có sóng điện thoại và kết nối được với đồng đội và lực lượng cứu hộ”.

Có mặt chỉ huy tại hiện trường, Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam bày tỏ: “Sự cố hai phi công Trung đoàn 940 gặp phải là trường hợp bất trắc, vô cùng phức tạp. Rất là lo và thương anh em. Trong tình huống như vậy, anh em vượt qua bằng nghị lực bản lĩnh và sự đoàn kết”.

Huấn luyện trong mọi điều kiện thời tiết

Đại tá Nguyễn Văn Sơn, sinh năm 1977, tại Quỳnh Phụ, Thái Bình; năm 2002, Nguyễn Văn Sơn tốt nghiệp phi công quân sự tại Học viện Phòng không - Không quân và được điều về làm giảng viên bay tại Trung đoàn 920, Trường Sĩ quan Không quân. Sau đó anh được cử sang Liên bang Nga đào tạo nâng cao tại Học viện Không quân Gagarin. Năm 2014 về nước, anh tiếp tục công tác tại Trung đoàn 920.

Năm 2021, khi đang là Phó trung đoàn trưởng Trung đoàn 910, đã trải qua hơn 2.000 giờ bay trên các loại máy bay khác nhau, anh cùng 11 phi công của Trường Sĩ quan Không quân được Quân chủng Phòng không - Không quân cử sang Liên bang Nga để học chuyển loại lý thuyết máy bay Yak-130. Cũng năm 2021, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Trung đoàn 940, trực thuộc Trường Sĩ quan Không quân với nhiệm vụ tổ chức huấn luyện, đào tạo các khoa mục ứng dụng chiến đấu trên máy bay huấn luyện - chiến đấu Yak-130 cho các đối tượng học viên phi công quân sự theo quy trình đào tạo phi công phản lực. Nguyễn Văn Sơn được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 940.

Trở về nước, anh tiếp tục được các chuyên gia Nga hướng dẫn thực hành bay trên máy bay Yak-130 tại sân bay Phù Cát. Trong quá trình thực hành bay chuyển giao cũng như chỉ huy bay cùng với các chuyên gia, Nguyễn Văn Sơn luôn tranh thủ quan sát và học hỏi họ từ những điều nhỏ nhất. Bên cạnh đó, anh còn nghiêm túc thực hiện các thao tác điều khiển máy bay theo chỉ dẫn của các chuyên gia, đồng thời tích cực học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ kỹ thuật bay, chỉ huy bay cũng như nâng cao năng lực quản lý, điều hành đơn vị. Nhờ sự nỗ lực, chịu khó học hỏi nên chỉ sau 3 tháng thực hành bay, Nguyễn Văn Sơn đã hoàn thành chương trình khoa mục bay ngày, bay đêm, bay biển và cùng với chuyên gia tham gia bay bắn, ném bom, đạn thật diệt mục tiêu trên đất liền, trên biển. Kết quả đạt thành tích xuất sắc, anh được các chuyên gia Nga đánh giá cao về khả năng tiếp thu kỹ thuật lái, bắn đạn thật, ném bom cũng như trình độ chỉ huy bay.

Còn Thượng tá Nguyễn Hồng Quân, sinh năm 1983, tại Thạch Hà, Hà Tĩnh được đào tạo phi công tại Trường Sĩ quan Không quân. Anh đã trải qua nhiều cương vị từ giảng viên phi đội, chính trị viên phi đội, rồi chủ nhiệm bay. Anh có hơn 2.000 giờ bay tích lũy trên các loại máy bay Yak-52, L-39, Mig-21, Su-27 và Yak-130. Trong đó, riêng Yak-130 anh đã có gần 800 giờ bay tích lũy, với bay ứng dụng chiến đấu tất cả các khoa mục, ở các điều kiện khí tượng khác nhau. Thượng tá Nguyễn Hồng Quân cũng có thời gian cùng với Đại tá Nguyễn Văn Sơn tại Liên bang Nga học chuyển loại lý thuyết máy bay Yak-130.

Được biết, chỉ sau 3 tháng tham gia bay thực hành chuyển loại máy bay Yak-130, tất cả các phi công của Trung đoàn 940 đều hoàn thành các khoa mục bay ngày, bay đêm, bay biển với chuyên gia nước bạn, đồng thời tham gia bay bắn đạn thật, ném bom tiêu diệt mục tiêu trên đất liền, trên biển đạt thành tích xuất sắc. Sau 8 tháng, đơn vị đã triển khai đưa khí tài Yak-130 vào huấn luyện đêm và huấn luyện bay biển... Chính nhờ việc huấn luyện chặt chẽ, đầy đủ nên các phi công đã có những kinh nghiệm xử lý, phán đoán tình huống chính xác.

Đại tá Lê Văn Uy, Chính ủy Trường Sĩ quan Không quân đánh giá: “Với bản lĩnh, trình độ của 2 phi công cấp 1, với hơn 2.000 giờ bay đã tích lũy được trên 3, 4 loại máy bay, phi công thực hiện các động tác cơ động phức tạp theo đúng sổ tay xử lý bất trắc và tập trung quan sát, lựa chọn hướng bay phù hợp, để không ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của nhân dân. Mặc dù biết mình sẽ nhảy dù xuống nơi địa hình rừng núi hiểm trở, nhưng với tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường của người cán bộ, giảng viên bay, 2 phi công đã nhanh chóng thống nhất và quyết định cùng nhau thực hiện động tác nhảy dù”.

Sự cố máy bay Yak-130 là một thử thách lớn nhưng cũng là cơ hội để thấy được bản lĩnh, sự dũng cảm và tinh thần trách nhiệm của hai phi công Trung đoàn 940. Đây là một bài học về sự chuẩn bị kỹ lưỡng, khả năng ứng biến linh hoạt và tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình. Đối với lực lượng không quân, đây là cơ hội để đánh giá lại hệ thống huấn luyện, bảo dưỡng máy bay và công tác tìm kiếm cứu hộ./.

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO VÀ THÀNH TỰU TRONG CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM.

 

Dùng hình ảnh cây tre Việt Nam để làm biểu tượng, bản sắc ngoại giao Việt Nam là bởi cây tre có gốc vững, thân chắc và cành uyển chuyển. Gốc vững chính là thực lực của ta. Thân vững chính là lợi ích quốc gia dân tộc. Cành lá uyển chuyển là cách thức mà chúng ta ứng xử trong ngoại giao. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình đưa ra những luận điệu xuyên tạc, công kích đường lối, chính sách ngoại giao, phủ nhận những thành tựu trong công tác đối ngoại của Việt Nam.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá

Mới đây, sau khi cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được ra mắt bạn đọc thì một số tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các hãng truyền thông hải ngoại định kiến với Việt Nam đã tung ra những bài viết, hình ảnh, video trên các nền tảng mạng xã hội với nội dung sai trái.

Họ đưa ra luận điệu sai lệch rằng “cuốn sách là không cần thiết”, “trường phái ngoại giao cây tre là ngả nghiêng, không thực chất, không có lập trường, không rõ ràng”, “gió chiều nào theo chiều ấy”… Mục đích của các thế lực thù địch là xuyên tạc trường phái “ngoại giao cây tre”, thể hiện qua những vấn đề sau:

Thứ nhất, xuyên tạc để tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta cũng như vai trò quản lý xã hội của Nhà nước, đòi thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam; ca ngợi kiểu cách đối ngoại phương Tây để tạo “cơn sóng ngược” nhằm hướng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, cho rằng như thế mới có đường lối đối ngoại đúng đắn.

Thứ hai, gieo rắc, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, tạo “ngòi nổ” để kích động tâm lý chống đối, phản kháng, gây chia rẽ, kỳ thị trong ngoại giao, đặc biệt gây sự hiểu nhầm đối với người dân trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định xã hội, ảnh hưởng tiêu cực an ninh quốc gia, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ ba, hạ bệ vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế, tìm cách làm cho các đối tác của Việt Nam thiếu niềm tin, e ngại trong xúc tiến hợp tác kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; gây ra sự hiểu sai về đất nước, con người Việt Nam; tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới.

Có thể thấy, âm mưu của các thế lực thù địch là rất nguy hiểm, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nếu không tỉnh táo nhận diện và có cái nhìn khách quan, đúng đắn, đầy đủ về giá trị trường phái “ngoại giao cây tre” thì rất dễ rơi vào cái bẫy của đối tượng xấu giăng ra, thậm chí dễ trở thành “quân tốt”, “con bài” trong các hoạt động chống phá của các hội nhóm phản động, cơ hội chính trị.

Cần hiểu đúng về trường phái “ngoại giao cây tre”

“Ngoại giao cây tre” là khái niệm được nhắc nhiều trong những năm gần đây. Đây là trường phái ngoại giao được đúc kết, hình tượng hóa đường lối đối ngoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện, trong đó trường phái ngoại giao này được xây dựng trên phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

Vậy cụm từ “ngoại giao cây tre” có từ bao giờ?

Vào tháng 8/2016, tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định trường phái ngoại giao độc đáo, mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam. Đến tháng 12/2021, tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư tiếp tục nhấn mạnh: “Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã kế thừa và phát huy bản sắc, cội nguồn văn hóa và truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hình thành nên trường phái đối ngoại, ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc cây tre Việt Nam. Đó là vừa kiên định về nguyên tắc, vừa uyển chuyển về sách lược; mềm mại, khôn khéo nhưng cũng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, can trường trước mọi khó khăn, thử thách, vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân; đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc”.

Qua đó, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích, làm sâu sắc thêm cơ sở hình thành, đặc trưng về trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Trên cương vị là người đứng đầu Đảng, với tư duy đối ngoại sâu sắc mang tầm chiến lược cao và thực tiễn trải nghiệm hoạt động ngoại giao phong phú, sinh động, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cho ra đời cuốn sách “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam””. Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương khẳng định, cuốn sách của Tổng Bí thư là kim chỉ nam cho đường lối, chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại; đóng góp to lớn, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn về xây dựng CNXH và con đường đi lên CNXH của Việt Nam.

Đồng chí Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương đánh giá, cuốn sách có giá trị vô cùng to lớn bởi đây là công trình đầu tiên mang tính hệ thống, tập hợp những phát biểu, bài viết của Tổng Bí thư về lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao. Các bài viết thể hiện một cách cụ thể, sâu sắc và sinh động sự đóng góp to lớn, quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư trên nhiều cương vị khác nhau trước đây và với cương vị là lãnh đạo cao nhất của Đảng ta hiện nay trong việc xây dựng và phát triển đường lối đối ngoại của Việt Nam; đồng thời, khẳng định sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, toàn diện, xuyên suốt của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đối với công tác đối ngoại trên cả ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Bàn về những thành tựu đối ngoại và những đóng góp của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đồng chí Thongsavanh Phomvihane, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khẳng định: “Những thành tựu của Việt Nam nói chung, những thành tựu trong công tác đối ngoại nói riêng cũng chính là những thành tựu, là bài học kinh nghiệm quý báu cho đất nước Lào… Đặc biệt, Đảng, Nhà nước Lào đánh giá cao ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong việc nhấn mạnh 6 nhóm vấn đề là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn, nặng nề nhưng đầy vẻ vang trong việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại của Việt Nam”.

Trong bài viết “Giá trị thời đại của trường phái ngoại giao mang bản sắc “cây tre Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng”, đồng chí Hàn Phương Minh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Chính hiệp toàn quốc Trung Quốc, Chủ tịch Học hội ngoại giao và quan hệ quốc tế CHARHAR đã chia sẻ cảm xúc: “Ngoại giao “cây tre Việt Nam” là vừa kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa tích cực mở rộng trong lĩnh vực ngoại giao, bảo vệ và phát triển lợi ích quốc gia của Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn tính linh hoạt và tính nguyên tắc, nỗ lực thích ứng với thế giới không ngừng biến đổi; mặt khác, cùng với việc phát triển các quan hệ ngoại giao hiện có, thiết lập các quan hệ hợp tác mới. Đây chính là nền tảng ngoại giao để Việt Nam vẫn phát triển ổn định, lành mạnh dù đứng trước tình hình thế giới vô cùng phức tạp”.

Còn rất nhiều chính khách, học giả, nhà nghiên cứu thế giới đánh giá cao đường lối, chính sách đối ngoại, ngoại giao của Đảng, Nhà nước ta, ghi nhận những cống hiến to lớn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong quá trình phát triển đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” mang lại giá trị gì?

Các hoạt động đối ngoại theo trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã góp phần củng cố vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; phục vụ đắc lực, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, tăng cường sức mạnh dân tộc, góp phần xây dựng một thế giới hòa bình, hợp tác. Qua trường phái ngoại giao ấy, từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII của Đảng đến nay, Việt Nam tiếp tục mở rộng, làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, trọng tâm là các nước láng giềng, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống.

Vừa qua, chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc và các hoạt động trong chuyến công tác tại Hoa Kỳ, Cuba đã một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, luôn đóng góp tích cực vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Thành công của các chuyến thăm, hoạt động đối ngoại này đã tạo nên bước phát triển mới về chất trong đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta.

Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 6 nước đối tác chiến lược toàn diện, 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Trên phương diện kinh tế, thông qua ngoại giao “cây tre Việt Nam”, năm 2023 đã góp quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu đạt trên 680 tỷ USD, thu hút FDI đạt 36,6 tỷ USD, tăng 32,8%, nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đã cam kết đầu tư dài hạn ở Việt Nam…

Khẳng định thành tựu do “ngoại giao cây tre” mang lại, tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 ngày 19/12/2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định, công tác đối ngoại đã “đạt được nhiều kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử, trở thành một điểm sáng đầy ấn tượng trong toàn bộ những kết quả, thành tựu chung của đất nước”.

Trước một thế giới với vô vàn sự chia rẽ, xung đột, Việt Nam đang dần khẳng định vị thế, uy tín đối với bạn bè quốc tế, là biểu tượng của hòa bình, độc lập, tự chủ, thân thiện, hiếu khách, nơi các đối tác đặt niềm tin cho những mối quan hệ tốt đẹp. Những đóng góp của trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã được chứng minh, khẳng định giá trị trên thực tế. Đây là minh chứng sinh động góp phần bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động về đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam.

 

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRONG QUÁ TRÌNH THỂ CHẾ HÓA ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG

 

Trong bài viết "Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", đăng Báo Nhân Dân số ra ngày 21/10/2024, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách; lãnh đạo thể chế hóa đường lối, chính sách thành pháp luật để quản lý Nhà nước và xã hội.

Như vậy, pháp luật trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần phải liên tục được hoàn thiện để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, phát huy dân chủ, vì con người, công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Tổng Bí thư yêu cầu: Để thực hiện tốt công tác này cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả việc thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước.

Đồng thời, phải có quy trình xây dựng pháp luật chặt chẽ, khoa học, dân chủ để chính sách, pháp luật thể hiện được đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thu hút mọi nguồn lực cho sự phát triển; nhưng cũng phải linh hoạt để kịp thời phản ứng chính sách, có giải pháp xử lý kịp thời các vấn đề thực tiễn phát sinh làm chậm sự phát triển theo nguyên tắc bảo vệ, bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc là trước hết và trên hết.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội trước hết bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách xây dựng và phát triển đất nước. Trên thực tế, quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước thể hiện năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương và định hướng chính sách của Đảng cũng chính là việc sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống, để đường lối, chủ trương của Đảng được hiện hữu bởi hệ thống luật pháp, các quy định của Nhà nước và theo đó, mọi hoạt động, vận hành của các cơ quan nhà nước, các cán bộ, đảng viên được thực hiện và điều chỉnh bởi pháp luật.

Để thực hiện kiểm soát hiệu quả việc thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật của Nhà nước theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, trước tiên cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong quá trình thể chế hóa đường lối, chủ trương và định hướng chính sách của Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định chất lượng thể chế hóa của Nhà nước, bảo đảm cho hệ thống pháp luật, chính sách của Nhà nước được thể chế hóa đầy đủ, chính xác, kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng, sát thực tiễn và liên tục được hoàn thiện.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình thể chế hóa của Nhà nước thể hiện ngay từ khâu ban hành chủ trương, nghị quyết. Cấp ủy đảng các cấp ngay từ khi hoạch định đường lối, chủ trương phát triển trong từng lĩnh vực và của mỗi địa phương, đơn vị, cần sâu sát, kịp thời tổng kết thực tiễn, dự báo từ sớm, từ xa các biến động và yêu cầu phát triển. Có như vậy, chủ trương, nghị quyết mới sát thực tiễn, bảo đảm quá trình thể chế hóa của Nhà nước có tính khả thi cao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán phương pháp xây dựng nghị quyết xa rời thực tế: "Chỉ mấy cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là "đem râu ông nọ, chắp cằm bà kia", không ăn thua, không thấm thía, không ích lợi gì cả". Văn kiện Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: Ban hành nghị quyết khi thật sự cần thiết, hợp lý, thiết thực, ngắn gọn, khả thi.

Để khắc phục hiện tượng ban hành các nghị quyết chỉ dựa trên những nhận định, phán đoán mang tính chủ quan, áp đặt từ "phòng họp", cần chọn những nhiệm vụ trọng tâm, đột phá để ban hành các chương trình, đề án cụ thể hóa nghị quyết, đồng thời theo hướng rõ mục tiêu, rõ việc, rõ trách nhiệm.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật còn là việc phải khắc phục tình trạng thực hiện trực tiếp đường lối, chủ trương của Đảng mà không qua thể chế hóa hoặc "khoán trắng", áp đặt cho một số cơ quan nhà nước trong thể chế hóa, không có sự quan tâm chỉ đạo, kiểm tra cụ thể của tổ chức đảng.

Cần chú trọng việc Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và pháp luật.

Sớm có quy định cụ thể các tiêu chí về thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo các văn bản pháp luật và quy phạm pháp luật về tính phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng; có quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong soạn thảo, tham gia soạn thảo các văn bản pháp luật để bảo đảm thể chế hóa kịp thời, chính xác đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, chính sách.

Đó cũng là cách để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy tính độc lập, sáng tạo của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thể chế hóa chủ trương, đường lối, đồng thời tạo ra cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan quyền lực nhà nước.

NHÌN THẲNG - NÓI THẬT: VẼ BỆNH MOI TIỀN NGƯỜI DÂN

 

“Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi nhất cho người bệnh. Tôi sẽ tránh mọi điều bất công, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và tránh cám dỗ” là một trong những nội dung cơ bản, xuyên suốt của lời thề Hippocrates mà bất cứ sinh viên y khoa nào cũng thuộc nằm lòng trước khi ra trường. Hàng nghìn năm qua, lời thề y học gắn với ngài Hippocrates được coi là ông tổ của ngành y học phương Tây đã trở thành kim chỉ nam cho đạo đức nghề y đối với những người khoác áo blouse trắng trên khắp thế giới. Chỉ tiếc rằng, lời thề y đức cao cả đó ngày càng có nguy cơ bị mai một, thậm chí biến mất trong tâm trí của một bộ phận người hành nghề y thời nay.

Chỉ trong vòng một tuần cuối tháng 10-2024 vừa qua, 2 cơ sở y tế tư nhân tại TP Hồ Chí Minh bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính với số tiền hàng chục triệu đồng và đình chỉ hoạt động có thời hạn vì hành vi cố tình vẽ bệnh moi tiền người bệnh. Nhiều cá nhân hành nghề y của 2 cơ sở này cũng bị tước giấy phép hành nghề. Điều đáng bàn là hiện tượng vẽ bệnh moi tiền người bệnh không còn là chuyện hiếm, mà xảy ra ngày càng nghiêm trọng và đáng lo ngại. Vì chạy theo lợi nhuận, nhiều phòng khám đa khoa, chuyên khoa tư nhân đã tìm mọi cách lôi kéo người bệnh đến khám, chữa bệnh theo hình thức “thuận mua, vừa bán” thông qua rất nhiều hình thức, như: Tư vấn sức khỏe, khuyến mại giảm giá, quảng cáo trang thiết bị y tế hiện đại...

Đáng nói hơn, tình trạng lạm dụng chỉ định y khoa không chỉ diễn ra trong nhiều cơ sở y tế tư nhân mà còn xuất hiện ở không ít bệnh viện khu vực công. Ngoài việc quảng bá rầm rộ, lôi kéo người dân tham gia thực hiện các gói xét nghiệm marker trong máu để tầm soát ung thư với chi phí đắt đỏ, nhiều cơ sở khám, chữa bệnh còn lạm dụng chỉ định các dịch vụ kỹ thuật lâm sàng như xét nghiệm, nội soi, chẩn đoán hình ảnh, chỉ định các dịch vụ kỹ thuật cao và thuốc quá mức, thuốc không cần thiết... gây tốn kém nhiều cho người dân, nhất là người nghèo.

Trăn trở trước thực trạng này, một cán bộ đang công tác trong ngành y và cũng là đại biểu Quốc hội bày tỏ: Bệnh viện thì cần doanh thu, bác sĩ thì cần nhiều bệnh nhân để khám, chữa, các hãng thuốc thì thích bán được nhiều hàng, nhưng nhìn những con số chỉ định phẫu thuật tăng cao, thuốc giá đắt bán được nhiều, lại càng thương người bệnh nhiều hơn do phải chi trả những khoản phi lý.

Giải trình tại nghị trường Quốc hội về vấn đề này, người đứng đầu ngành y tế cũng thừa nhận có tình trạng lạm dụng xét nghiệm quá mức cần thiết. Tình trạng này không chỉ gây tốn kém chi phí và tâm lý bức xúc cho bệnh nhân mà còn ảnh hưởng đến Quỹ Bảo hiểm y tế.

Xét trong mối quan hệ xã hội giữa thầy thuốc và bệnh nhân, thì bệnh nhân bao giờ cũng thuộc đối tượng yếu thế hơn. Thầy thuốc luôn ở vị thế “vế cao, vai trên”, vì là người am hiểu chuyên môn nên mỗi tiếng nói, y lệnh của họ đôi khi có giá trị bằng sinh mệnh một con người. Trong khi đó, người dân có bệnh thường mang trong mình tâm lý vái tứ phương, vái cả những bậc thần thánh, siêu nhân ở một nơi xa lắc nào đó. Huống chi khi gặp được thầy thuốc (nhất là người có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi), người bệnh và người nhà của họ luôn miệng "trăm sự nhờ bác sĩ", "vạn sự nhờ bác sĩ".

Từ mối quan hệ không bình đẳng đó nên thầy thuốc bảo gì người bệnh cũng tin theo, nghe theo. Đây chính là căn nguyên sâu xa khiến tình trạng lạm dụng chỉ định y khoa ngày càng trở nên phổ biến, đồng thời cũng là dấu hiệu cho thấy sự xuống cấp, tha hóa y đức của một bộ phận y sĩ, bác sĩ thời nay.

 

 

TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN KHI LÊN ĐƯỜNG BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Thanh niên là lực lượng nòng cốt, là tương lai của đất nước. Mỗi khi Tổ Quốc cần, thanh niên Việt Nam luôn là những người tiên phong, sẵn sàng đối mặt với mọi khó khăn, hiểm nguy để bảo vệ bình yên cho quê hương. Lên đường nhập ngũ và cống hiến cho Tổ Quốc không chỉ là nghĩa vụ, mà còn là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi thanh niên.

Khi thanh niên lên đường bảo vệ Tổ Quốc, trước hết đó là sự thể hiện tinh thần yêu nước. Lòng yêu nước không chỉ là tình yêu với đất đai, non sông mà còn là sự sẵn sàng hy sinh vì sự độc lập, tự do của dân tộc. Thanh niên nhận thức rõ rằng, sự bình yên mà họ đang hưởng thụ là nhờ công lao của các thế hệ đi trước đã hy sinh, đấu tranh. Họ ý thức rõ trách nhiệm của mình để giữ gìn những thành quả đó cho thế hệ tương lai.

Bên cạnh đó, lên đường bảo vệ Tổ Quốc cũng là cơ hội để thanh niên tôi luyện bản thân. Quá trình rèn luyện trong quân ngũ giúp các bạn trẻ học hỏi thêm nhiều kỹ năng sống, xây dựng phẩm chất kiên cường, ý chí sắt đá và tinh thần đoàn kết. Đó là những điều quý giá, tạo nên bản lĩnh để các bạn có thể vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống.

Trách nhiệm của thanh niên khi lên đường bảo vệ Tổ Quốc còn là trách nhiệm với gia đình và xã hội. Họ không chỉ là niềm tự hào của gia đình mà còn là tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm và lòng dũng cảm cho cộng đồng, cho các thế hệ trẻ noi theo. Những người thanh niên lên đường nhập ngũ đã gác lại những ước mơ riêng, để ưu tiên cho sự bình yên của hàng triệu đồng bào, cho tương lai của đất nước.

Trách nhiệm của thanh niên khi lên đường bảo vệ Tổ Quốc không dừng lại ở việc hoàn thành nghĩa vụ quân sự, mà còn là trách nhiệm duy trì và phát huy tinh thần yêu nước, sẵn sàng đóng góp cho xã hội sau khi trở về. Họ sẽ là những công dân gương mẫu, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Thanh niên Việt Nam,  những người trẻ với trái tim nóng bỏng, luôn sẵn sàng lên đường khi Tổ Quốc gọi tên. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào lớn lao, là tiếng gọi của tình yêu Tổ Quốc trong mỗi con người. Và dù ở bất cứ đâu, bất cứ thời điểm nào, thanh niên vẫn luôn kiên định một lòng, gánh vác trách nhiệm thiêng liêng, vì một Việt Nam hòa bình và hạnh phúc.

VIỆT NAM CÓ ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐI LÊN CNXH

 

Những năm đầu triển khai thực hiện đường lối đổi mới, trong lúc tình hình kinh tế - xã hội còn đang hết sức khó khăn thì CNXH ở các nước Đông Âu, rồi Liên Xô sụp đổ; nguồn viện trợ, bao cấp quốc tế không còn nữa, các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh chiến lược Diễn biến hòa bình kết hợp với bạo loạn lật đổ nhằm xoá bỏ CNXH ở nước ta… Trong bối cảnh đó, một số người băn khoăn, liệu nước ta có đứng vững và tiếp tục xây dựng CNXH được không?

Đúng là sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đang đứng trước những khó khăn và thử thách rất lớn. Nhưng bên cạnh đó lại xuất hiện những thời cơ thuận lợi mới, bảo đảm cho cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển theo con đường XHCN:

Trước hết là sự nghiệp cách mạng XHCN của nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức và rèn luyện đã trở thành một Đảng Mác - Lênin chân chính, đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua nhiều thử thách ác liệt, gay go, có thời kỳ tưởng chừng khó vượt qua, để rồi giành thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam có phạm phải những sai lầm khuyết điểm nhưng đã thấy được. Đại hội VI của Đảng đã tự phê bình sâu sắc và khởi xướng công cuộc đổi mới để đưa đất nước tiếp tục tiến lên. Cũng trong điều kiện cải tổ như Việt Nam, nhưng CNXH ở nhiều nước đã bị sụp đổ, còn Việt Nam lại thu được những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng là đúng đúng, bước đi, cách làm là phù hợp.

Cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Việt Nam còn có những thành quả đã giành được với một hệ thống chính trị, từ chính quyền nhân dân đến lực lượng vũ trang, đoàn thể cách mạng, rồi các cơ sở của kiến trúc thượng tầng đã được xây dựng, đang trong quá trình đổi mới để nâng cao năng lực và hiệu quả, với một cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật vững chắc.

Nhân dân Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn và truyền thống kiên cường bất khuất. Nhìn lại mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, chúng ta càng tự hào về ý chí Việt Nam, tính cách Việt Nam, truyền thống Việt Nam, luôn đứng vững trên đôi chân của chính mình, đi lên bằng bàn tay khối óc của mình. Nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước từ trước đến nay và từ nay về sau bằng sức mình là chính. Kinh nghiệm lịch sử khẳng định rằng vận mệnh dân tộc, đất nước đứng vững và tiến lên là do nhân dân quyết định.

Sức mạnh tinh thần của dân tộc được phát huy cao độ trong thời đại Hồ Chí Minh. Bằng ý chí tự lực, tự cường, độc lập, tự chủ, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm Cách mạng tháng Tám thành công, kháng chiến thắng lợi thì sẽ nhất định xây dựng thành công CNXH.

Nhân dân Việt Nam ở những thời điểm khó khăn, phức tạp nhất của tình hình kinh tế - xã hồi (đặc biệt là những năm 80 của thế kỷ XX) nhưng vẫn một lòng theo Đảng và tin tưởng vào chế độ XHCN, vẫn một lòng mong mỏi Đảng sửa chữa những sai lầm khuyết điểm để đưa công cuộc đổi mới đi tới thắng lợi.

Việt Nam còn có nhiều lợi thế, nguồn lực phát triển, đó là nguồn lao động dồi dào, tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo. Đó là những điều kiện hết sức quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế thực hiện dân giàu nước mạnh.

Ngoài ta, điều kiện quốc tế tuy có những khó khăn thử thách, song lại có nhiều yếu tố thuận lợi: Đó là quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, thành quả của cuộc cách mạng KHCN mà Việt Nam có thể tận dụng, xu thế hoà bình và hợp tác ở khu vực và thế giới ngày càng mở rộng và phát triển. Với đường lối đối ngoại rộng mở, Việt Nam có thể tận dụng được những khả năng to lớn về vốn, thị trường, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của bên ngoài để bổ sung và phát huy sức mạnh trong nước…

Việt Nam đi theo con đường XHCN không phải là sự lựa chọn ngẫu nhiên, cảm tính của một cá nhân nào mà là sự lựa chọn của lịch sử, trong đó sự lựa chọn của Bác Hồ và Đảng ta ngay từ năm 1930 là sự lựa chọn có ý nghĩa khởi đầu, khai phá ngọn nguồn cho một dòng chảy của lịch sử nước ta suốt 94 năm qua.

Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh lịch sử không bình thường, đi qua những chặng đường quanh co, khúc khuỷu. Thành công có nhiều nhưng hạn chế cũng không ít. Điều làm lên sự kỳ diệu và vĩ đại của Đảng là ở chỗ: Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được trách nhiệm của mình trước lịch sử và dân tộc, không dao động vào mục tiêu con đường đã chọn, quyết tâm cùng nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng đề ra.

Chính bởi kiên định với mục tiêu lý tưởng, không dao động hoài nghi nên dù đổi mới diễn ra trong bối cảnh phức tạp, bất lợi song CNXH ở Việt Nam vẫn trụ vững, công cuộc đổi mới ở Việt Nam vẫn giành được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực.

Mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, công kích CNXH của kẻ địch, mọi lời khuyên, góp ý dưới dạng “tâm huyết” của một số phần tử bất mãn, cơ hội đều đi ngược lại lợi ích của nhân dân, làm cản bước tiến của dân tộc, chúng ta cần chủ động đối phó để bảo vệ vững chắc trận địa chính trị tư tưởng, một mũi tiến công chủ yếu của các thế lực thù địch trong chiến lược DBHB, song lại là một yếu tố lợi thế của cách mạng Việt Nam cần phải bảo vệ.

THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ GÓP PHẦN BẢO ĐẢM QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN

 

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội, phát huy một bước quyền làm chủ của nhân dân, nhờ đó đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Trước yêu cầu của tình hình mới, vấn đề thực hiện dân chủ ở cơ sở tiếp tục được Đảng và Nhà nước chú trọng và không ngừng đẩy mạnh.

Theo quy định của pháp luật, thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để mọi tầng lớp nhân dân được thông tin kịp thời cũng như được thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của thực hiện dân chủ ở cơ sở, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, trong đó chỉ rõ khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân tại cơ sở, phải đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị.

Trên cơ sở của Chỉ thị số 30-CT/TW, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản về việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở như: Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 26/2/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị quyết số 55/NQ-UBTVQH10 ngày 30/8/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan,…

Đặc biệt, ngày 20/4/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp lệnh số 34).

Sau 15 năm thực hiện Pháp lệnh số 34, để tiếp tục thể chế hóa quan điểm của Đảng về thực hành dân chủ ở cơ sở gắn liền với phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" theo tinh thần của Đại hội XIII, đồng thời khắc phục một số hạn chế, bất cập của Pháp lệnh số 34 vì không còn phù hợp bối cảnh mới, ngày 10/11/2022, Quốc hội đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (có hiệu lực từ ngày 1/7/2023). So với Pháp lệnh số 34, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở có nhiều điểm mới phù hợp yêu cầu thực hiện dân chủ ở cơ sở trong tình hình mới hiện nay.

Về phạm vi điều chỉnh, nếu Pháp lệnh số 34 chỉ quy định phạm vi thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thì Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 mở rộng điều chỉnh đến việc thực hiện dân chủ trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức có sử dụng lao động.

Về nguyên tắc thực hiện, nếu Pháp lệnh số 34 đề ra 5 nguyên tắc thì Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 xác định 6 nguyên tắc, trong đó có những điểm nhấn mới hết sức quan trọng như yêu cầu bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội trong thực hiện dân chủ ở cơ sở; thực hiện dân chủ ở cơ sở trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm trật tự, kỷ cương, không cản trở hoạt động bình thường của chính quyền địa phương cấp xã, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động...

Đặc biệt, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 bổ sung thêm nguyên tắc hoàn toàn mới, đó là phải: "Tôn trọng ý kiến đóng góp của Nhân dân, kịp thời giải quyết kiến nghị, phản ánh của Nhân dân".

Về quyền và nghĩa vụ của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, nếu như Pháp lệnh số 34 không có quy định cụ thể về vấn đề này thì Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 đã dành hẳn hai điều (Điều 5, Điều 6) trong Chương 1 (Những quy định chung) để nêu rõ: các công dân không chỉ có quyền mà còn phải có nghĩa vụ trong thực hiện dân chủ ở cơ sở như: Tuân thủ quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tham gia ý kiến về các nội dung được đưa ra lấy ý kiến ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; chấp hành quyết định của cộng đồng dân cư, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng lao động…

Đặc biệt, trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 có bổ sung thêm Quyền thụ hưởng của công dân tại Điều 7. Đây được xem là một bước tiến rất quan trọng trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, giúp cho quyền làm chủ của người dân ngày càng đi vào chiều sâu.

Về vấn đề công khai thông tin ở xã, phường, thị trấn, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 bổ sung một số nội dung công khai (gồm 14 nội dung) phù hợp quy định trong Luật Tiếp cận thông tin.

Việc điều chỉnh, bổ sung nội dung và hình thức công khai thông tin tại xã, phường, thị trấn của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở 2022 so với Pháp lệnh số 34 không chỉ góp phần bổ sung, thể chế hóa những quy định mới của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của người dân mà còn góp phần quan trọng trong việc cung cấp đầy đủ các nguồn thông tin chính xác đến người dân, giúp nhân dân nâng cao nhận thức, chủ động, tích cực, tự giác trong thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước cũng như tạo cơ sở để dân biết, dân bàn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật.

Có thể khẳng định, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở ra đời thay thế cho Pháp lệnh số 34 là hết sức kịp thời và cần thiết. Sau hơn một năm triển khai, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Việc công khai rộng rãi, đầy đủ mọi thông tin với nhiều hình thức dân bàn cùng những cơ chế hiệu quả để dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, nhờ vậy giúp người dân ngày càng nhận thức đầy đủ hơn cũng như thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của mình.

Để phát huy hơn nữa hiệu quả của việc thực hiện các quy định về dân chủ ở cơ sở, thời gian tới chúng ta cũng cần nghiêm túc khắc phục những hạn chế, bất cập hiện nay. Đó là tình trạng một số cấp ủy đảng, cơ quan chính quyền, tổ chức, đơn vị cấp cơ sở nhất là người đứng đầu còn chưa nhận thức hết tầm quan trọng của vấn đề này cho nên chưa đề cao quyết tâm, thiếu những cách làm hay, sáng tạo.

Vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên ở một số cấp cơ sở do có những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham ô, tham nhũng nên dù biết rõ những quy định pháp luật vẫn cố tình làm trái để trục lợi cá nhân từ đó vi phạm nghiêm trọng đến thực hiện dân chủ ở cơ sở, xâm phạm đến quyền làm chủ của người dân. Mặt khác, một bộ phận người dân chưa có ý thức tự giác, chấp hành nghiêm những quy định trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở…

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót nêu trên, thời gian tới chúng ta cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau: Tăng cường các biện pháp, cơ chế để tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị nhất là ở cấp cơ sở về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan dân chủ ở cơ sở.

Cùng với đó cũng phải đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở đến mọi đối tượng với hình thức và cách làm phù hợp, góp phần đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện, kịp thời tuyên dương, khen thưởng, động viên, nhân rộng, lan tỏa các gương điển hình, những mô hình tốt, cách làm hay; đồng thời phát hiện và xử lý nghiêm trường hợp các cá nhân, tổ chức có các hành vi vi phạm.

NGÔI TRƯỜNG MƠ ƯỚC GIÚP BAO THẾ HỆ THANH NIÊN TRƯỞNG THÀNH

 

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập nên những trang sử hào hùng. Cùng với sự lớn mạnh của Quân đội, hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của toàn dân tộc. Trải nghiệm trong môi trường quân ngũ, thanh niên được tôi luyện, trau dồi về tư tưởng, khí phách, được hun đúc hoài bão lớn. Có thể khẳng định, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn là “trường học lớn” của thanh niên Việt Nam.

Quân đội là trường học về chính trị, rèn luyện bản lĩnh. Trong môi trường Quân đội, công tác chính trị là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu. Công tác giáo dục chính trị được tiến hành thường xuyên, thấm nhuần trong tư tưởng của mọi quân nhân, đặc biệt chú trọng giáo dục thanh niên mới nhập ngũ. Thông qua các chuyên đề giáo dục chính trị, pháp luật, tiếp cận với các phương tiện truyền thông hiện đại, thanh niên được giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhận định rõ tình hình trong nước và trên thế giới. Thanh niên đã qua Quân đội đa số được rèn luyện phẩm chất chính trị, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, có ý thức chính trị sâu sắc, hiểu thấu đáo trách nhiệm của thanh niên đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhiều thanh niên vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay trong thời gian tại ngũ, điều đó không chỉ giúp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội mà còn góp phần tạo nguồn đảng viên, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng cho các địa phương sau khi bộ đội xuất ngũ. Quân đội là nơi rèn luyện bản lĩnh chính trị sắt son, lòng kiên định và trung thành với chế độ, luôn ngời sáng một tinh thần lạc quan và niềm tin tất thắng.

Quân đội là trường học về chuyên môn. Người thanh niên đã qua quân ngũ trước hết có kiến thức về quân sự, quốc phòng. Tùy theo quân binh chủng, bậc học khác nhau, có thể có các kiến thức ở các chuyên ngành khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhân văn với trình độ khác nhau để phục vụ công tác và yêu cầu xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Được học nghề và tạo việc làm khi rời quân ngũ để tiếp tục đóng góp tốt hơn cho gia đình và xã hội.

Quân đội là trường học rèn kỷ luật. Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội. Được cụ thể hóa bằng các chế độ sinh hoạt, học tập, công tác hàng ngày, hàng tuần và được quản lý chặt chẽ thông qua hệ thống các tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới. Trong môi trường đó tất cả các quân nhân đều bình đẳng tu dưỡng, học tập, rèn luyện và cống hiến. Trong suốt quá trình đó, mọi ưu điểm, thành tích, chiến công, cũng như những khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót và vi phạm của mỗi quân nhân đều được các tổ chức đánh giá ghi nhận, phân tích chỉ rõ và quản lý chặt chẽ theo phân cấp; chính việc rèn luyện kỷ luật đã tạo thành phẩm chất đạo đức riêng có của mỗi quân nhân.

Quân đội là trường học rèn thể lực, thể chất. Thông qua các hoạt động huấn luyện kỹ, chiến thuật, các nội dung huấn luyện thể lực, hành quân, rèn luyện, diễn tập tổng hợp, luyện tập thể dục thể thao một cách đều đặn đã giúp cho thanh niên Quân đội nâng cao sức khỏe, sự dẻo dai, bền bỉ, tăng cường khả năng chịu đựng trước sự khắc nghiệt của thời tiết cũng như yêu cầu cao của nhiệm vụ chiến đấu.

Quân đội là môi trường trau dồi kỹ năng trong cuộc sống. Trong môi trường tập thể, thanh niên Quân đội có điều kiện chia sẻ những kĩ năng sống, lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, tránh được những sai lầm, vượt qua được những thử thách khó khăn; thắp sáng tinh thần đoàn kết, đồng tâm, đồng lòng; tương thân, tương ái, quan tâm giúp đỡ mọi người, chung tay vì cộng đồng xã hội. Qua các hoạt động thực tiễn, tuổi trẻ Quân đội được trải nghiệm rất nhiều điều ý nghĩa, hiểu được giá trị của cuộc sống, tu dưỡng sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Có thể nói, môi trường hoạt động của Quân đội hiện nay là cơ hội để thanh niên học tập, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành nhanh và vững chắc về phẩm chất, cường tráng về sức khỏe; chững chạc về phong cách; trưởng thành về nhận thức; nghiêm chỉnh về kỷ luật; thành thạo về nghiệp vụ; giao tiếp ứng xử có văn hóa. Chính những yếu tố đó giúp hàng triệu thanh niên Việt Nam khẳng định được sức trẻ, sự trưởng thành, đáp ứng được yêu cầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

ĐI LÊN CNXH LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT TIẾN HÓA CỦA LỊCH SỬ VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN TẤT YẾU CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

 Quy luật tiến hoá của lịch sử loài người đã được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin phát hiện. Đó là lịch sử của sự thay thế nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội (HTKTXH). Sự thay thế đó là một tất yếu khách quan. Trong đó, động lực của sự phát triển lịch sử là sự phù hợp của quan hệ sản xuất (QHSX) với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (LLSX). Khi QHSX không còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của LLSX thì tất yếu dẫn tới các cuộc các mạng xã hội để thiết lập các hình thức tổ chức xã hội mới. Đó là nguồn gốc của sự thay thế nhau giữa các HTKTXH. Toàn bộ lịch sử xã hội loài người đã diễn ra như vậy, từ chế độ cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, TBCN và HTKTXH cuối cùng mà C.Mác - Ph.Ăngghen dự kiến đó là HTKTXH cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNXH. Các HTKTXH trên đã lần lượt ra đời và thay thế nhau. Vì vậy, trong thời đại ngày nay, quy luật và xu thế phát triển tất yếu của các dân tộc vẫn sẽ là tiến lên CNXH.

Tuy nhiên, có một thực tế là, từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, sau khi CNXH ở một số nước Đông Âu sụp đổ, Liên Xô thành trì của cách mạng thế giới, quê hương của Cách mạng tháng Mười với hơn 70 năm xây dựng và trưởng thành cũng tan rã. Trong khi đó, CNTB vẫn tồn tại, “vẫn còn tiềm năng phát triển”. Vậy, phải chăng lý luận Mác - Lênin về quy luật tiến hoá và xu thế phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người là sai? Sự thật phũ phàng đó đã tác động và ảnh hưởng xấu đến tư tưởng tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước đối với CNXH, đối với con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Nó đòi hỏi Đảng ta phải có câu trả lời chính xác với đầy đủ cơ sở khoa học. Có như vậy chúng ta mới có cơ sở để củng cố thế trận lòng dân, mới phát huy được sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước.

Đứng vững trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, với một thái độ khách quan khoa học, Đảng CSVN đã vận dụng chính lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp xem xét đánh giá sự vật hiện tượng, là phải “khách toàn, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển”, để xem xét đánh giá về CNXH và CNTB trong tình hình hiện nay.

Trước hết nói về CNTB. Nếu như những năm 50-60 của thế kỷ XX, trong khi CNXH do Liên Xô đứng đầu đã giành được những thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, thì CNTB lại đang trong tình cảnh khó khăn, tụt hậu so với các nước XHCN. Trong bối cảnh đó, CNTB đặc biệt là các nước tư bản phát triển đã tập trung điều chỉnh chiến lược phát triển kinh tế theo chiều sâu, đẩy nhanh sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN)  và ứng dụng một cách có hiệu quả những thành tựu của cách mạng KHCN vào sản xuất và giải quyết các vấn đề xã hội. Nhờ đó, từ cuối thập kỷ 70 đến nay, CNTB đã có những bước phát triển nhảy vọt. Những thành tựu to lớn về kinh tế, khoa học, công nghệ mà CNTB hiện đại đã đạt được trong những thập niên vừa qua là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cần phải thấy rằng, dù CNTB có điều chỉnh như thế nào đi chăng nữa thì sự điều chỉnh đó vẫn nằm trong khuôn khổ của CNTB. Các mâu thuẫn cơ bản, vốn có trong lòng xã hội tư bản vẫn không hề bị xoá bỏ. Trái lại càng làm cho các mâu thuẫn đó gay gắt hơn. Trong đó trước hết phải kể đến mâu thuẫn giữa QHSX dựa trên chế độ chiêm hữu tư nhân TBCN với LLSX phát triển cao cả về tính chất và trình độ. C.Mác – Ph.Ăngghen đã từng nói: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại, những người vô sản” . Ngoài ra chính những chính sách phản động, bá quyền, những cuộc chiến tranh xâm lược và can thiệp quân sự của Mỹ và một số nước phương Tây đang trà đạp trắng trợn lên độc lập chủ quyền của dân tộc và là sự cản trở đối với sự phát triển tiến bộ và văn minh của thế giới đương đại đại. Như vậy, CNTB ngày nay dù có những điều chỉnh thích nghi, có những sự phát triển mới, song về bản chất vẫn là chế độ người bóc lột người, chứa đựng trong nó vô vàn mâu thuẫn và bất công. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, những mục tiêu lớn mà nhân loại đặt ra thì CNTB lại càng không thể có đủ khả năng giải quyết, những mục tiêu đó là: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; vấn đề giải quyết đói nghèo, bệnh tật; vấn đề mội trường, sinh thái... CNTB không những không có đủ khả năng giải quyết các mục tiêu đó mà còn là thủ phạm chính gây lên những hậu quả đó. Chính bởi vây, CNTB không thể là tương lai cho sự phát triển của nhân loại, cũng không thể là con đường lựa chọn của Đảng và nhân dân Việt Nam.

Còn đối với sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở một số nước Đông Âu và Liên Xô? Cần phải khách quan nhìn nhận rằng, sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, nước Nga rơi vào tình trạng cực kỳ khó khăn khi mà 14 nước đế quốc bao vây hòng bóp chết chính quyền Xôviết ngay từ thời kỳ trứng nước. Tuy nhiên, với bản chất ưu việt của một chế độ xã hội mới, nước Nga rồi sau đó là Liên Xô đã từng bước vượt qua khó khăn thử thách, giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, những năm 50-60 của thế kỷ XX, Liên Xô và hệ thống các nước XHCN đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, quân sự... Những thành tựu đó đã khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn; thể hiện bản chất, tính ưu việt của CNXH so với CNTB. Đó là điều không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, Liên Xô và các nước XHCN đã lâm vào khủng hoảng, trước hết là trên lĩnh vực kinh tế. Cải tổ, cải cách để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng là một tất yếu khách quan, là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa sống còn của các đảng cộng sản trong nửa cuối thập niên 80, đầu 90 của thế kỷ XX. Trong bức tranh tổng thể về cải cách, cải tổ và đổi mới ở các nước XHCN, có nước thành công và đạt được những thành tựu to lớn, CNXH vẫn trụ vững và phát triển; có nước cải tổ bị thất bại, Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản cách mạng đã lớn tiếng kêu gào về sự “cáo chung của lịch sử”, sự lạc hậu, lỗi thời của chủ nghĩa Mác – Lênin... Cần phải thấy rằng, sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở một số nước Đông Âu và Liên Xô không phải do bản chất của CNXH gây ra mà nó có nguyên nhân sâu sa và nguyên nhân trực tiếp. Nguyên nhân sâu sa là do duy trì quá lâu cơ chế tập tập trung quan liêu bao cấp, chậm trễ trong ứng dụng cách mạng KHCN. Nguyên nhân trực tiếp, là do những sai lầm nghiêm trọng của các Đảng Cộng sản trong hoạch định và chỉ đạo thực hiện đường lối cải tổ, như từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chấp nhận cơ chế đa nguyên về chính trị và chế độ đa đảng đối lập; từ bỏ học thuyết Mác - Lênin và CNXH khoa học, phủ nhận giai cấp và đấu tranh giai cấp; từ bỏ những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của V.I.Lênin và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân,… Trong những điều kiện khó khăn, phức tạp và hiểm nghèo như thế, lẽ ra cần phải đoàn kết, kiên định với mục tiêu lý tưởng để tìm ra những giải pháp khắc phục khó khăn, ổn định tình hình, phát triển đất nước, thì họ lại dao động rồi vội vàng từ bỏ CNXH. V.I.Lênin đã từng nói: “Chỉ có giai cấp nào đi theo con đường của mình mà không do dự, không chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước khó khăn nhất, gay go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có thể lãnh đạo được những quần chúng lao động và bị bóc lột. Chúng ta không cần những sự hăm hở điên cuồng. Điều cần thiết cho chúng ta, chính là bước đi nhịp nhàng của những đoàn quân vững như gang thép của giai cấp vô sản”. Cùng với những sai lầm về đường lối ở các nước XHCN còn phải kể đến nguyên nhân trực tiếp nữa, đó là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản cách mạng trong chiến lược “DBHB”…

Phân tích những nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn đến sự khủng hoảng và sụp đổ của CNXH ở một số nước Đông Âu và Liên Xô để khẳng định rằng: Không phải sự sụp đổ của một số nước XHCN có nghĩa toàn bộ CNXH sẽ bị thủ tiêu, quy luật lịch sử đã kết thúc và xu thế của thời đại đã đảo ngược. Sự khủng hoảng đó đang phản ánh những bước quanh co của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử. Cũng cần phải thấy rằng, quá trình phát triển của lịch sử từ HTKTXH TBCN sang XHCN là một quá trình lịch sử lâu dài và không thể thẳng tắp theo mong muốn chủ quan của những người cộng sản. Cách mạng XHCN là một cuộc cách mạng sâu sắc toàn diện và triệt để nhất trong lịch sử, không như những cuộc cách mạng xã hội trước đó, chỉ thay thế chế độ bóc lột này bằng chế độ bóc lột khác, cách mạng XHCN làm thay đổi hẳn nền tảng, giải phóng triệt để con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột. Một cuộc cách mạng như thế khó tránh khỏi những vấp váp sai lầm. Chính bản thân CNTB đã chứng minh, để chiến thắng được xã hội phong kiến, để thiết lập được sự thống trị của giai cấp tư sản, nó đâu chỉ có hơn 70 năm, đâu chỉ có một lần cách mạng. Cách mạng tư sản Anh bắt đầu nổ ra từ 1649 phải đến 150 năm sau với ba lần cách mạng mới thành công. Cách mạng tư sản Pháp, Đức cũng diễn ra tương tự như thế.

Sau khi CNXH ở một số nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, cũng có người muốn chủ trương đưa đất nước phát triển theo mô hình của các nước công nghiệp hóa mới (NICS), hoặc mô hình của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Cả hai mô hình đó đều không phù hợp. Bởi lẽ: các nước công nghiệp hoá mới như Hàn Quốc, Xingapo,… sở dĩ họ phát triển được như vậy vì họ có những điều kiện hết sức thuận lợi, đặc biệt và trước hết là họ gắn chặt quyền lợi của Mỹ về kinh tế, chính trị, quân sự. Mỹ đã dành cho các này những ưu đãi về viện trợ, đầu tư, tài chính, công nghệ, dịch vụ. Giữa Mỹ và các đồng minh này có sự mặc cả, mua bán lẫn nhau về lợi ích, nhờ đó họ có thể phát triển nhanh. Giả sử Việt Nam có chọn đi theo mô hình đó thì cũng chẳng bao giờ có được sự ưu đãi đặc biệt của Mỹ như họ đã từng giúp các nước trên. Còn mô hình CNXH dân chủ như Thuỵ Điển, Phần Lan, Áo,… chúng ta không thể tin và đi theo thứ “lý luận nửa vời” mà một số người cho là “hợp mốt”, sành điệu đang thình hành ở phương Tây. Bởi mô hình này xét về thực chất vẫn dựa trên ba nền tảng chủ yếu đó là chế độ tư hữu, thị trường tự do, đa nguyên về chính trị. Mô hình đó chẳng qua cũng chỉ là “cái áo khoác màu” của CNTB mà thôi.

NHẬN DIỆN THÔNG TIN SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Thông tin sai trái trên không gian mạng là những thông tin không đúng sự thật, được phát tán trên không gian mạng, lan truyền đến các tầng lớp nhân dân nhằm xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chi Minh, chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bịa đặt, vu cáo, nói xấu lãnh tụ, chia rẽ đoàn kết nội bộ, tạo sự phân tâm trong xã hội, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan, dao động, mơ hồ, mất phương hướng chính trị của quân nhân.

Thông tin sai lạc sự thật do các thế lực thù địch, phản động đăng tải, phát tán trên không gian mạng. Đây là những thông tin đối lập với thông tin đúng đắn, phản ánh sai trải sự nghiệp lãnh đạo của Đảng, với âm mưu thâm độc, nhằm hướng lái tư duy, nhận thức của cộng đồng mạng đi ngược mục tiêu, lý tưởng, phương hướng, hành động cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Kẻ địch đăng tải, phát tán thông tin sai trái là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thông tin sai trái trên không gian mạng biểu hiện trên 3 nhóm cơ bản sau:

Nhóm thứ nhất, những thông tin sai trái tác động, thúc đầy suy thoái về tư tưởng, chính trị:

Thông tin xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thông tin thổi phồng khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.

Thông tin bôi đen chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thông tin xuyên tạc tư tưởng, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chi Minh, hạ bệ uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bôi nhọ làm mất uy tín cán bộ.

Thông tin kích động, đánh lạc hướng dư luận, trộn lẫn đảng sai gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ.

Thông tin bóp méo sự thật, gây phân tâm tư tưởng trong xã hội, xuyên tạc lịch sử, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Thông tin cổ súy, đề cao chủ nghĩa cá nhân, phủ nhận vai trò của tập thể. Thông tin truyền bả tư tưởng phương Tây tự do, thực dụng.

Thông tin cổ súy giá trị đồng tiền.

Nhóm thứ hai, những thông tin sai trái tác động, thúc đẩy suy thoái về đạo đức, lối sống:

Thông tin truyền bá sản phẩm văn hóa xấu độc, đồi trụy.

Thông tin quảng bá lối sống tư bản, đề cao lối sống thực dụng ích kỷ, cực đoan.

Thông tin đề cao lối sống tư lợi, gian lận bất chấp luật pháp. Thông tin cổ suý lối sống phô trương, háo danh, thành tích.

Thông tin truyền bả lối sống hưởng thụ, cá nhân chủ nghĩa.

Thông tin cổ vũ phong cách sống nhanh, vô trách nhiệm.

Thông tin kích động lòng tham, cổ súy lối sống vô cảm.

Thông tin truyền bá văn hóa phẩm phản động, chỉ vẽ lôi sống mưu mô, xảo quyệt. Thông tin bôi nhọ truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Nhóm thứ ba, những thông tin sai trái thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ:

Thông tin cổ sủy tư tưởng, hành động chống đổi.

Thông tin kích động tâm trạng phản loạn.

Thông tin thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, vu cáo lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thông tin gieo rắc tâm lý bất mãn, gây hoài nghi.

Thông tỉnh phủ nhận, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

Thông tin kích động bi quan, bất bình, móc nối, tập hợp lực lượng chống phá Đảng và Nhà nước.

Thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, một chiều về chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

Thông tin cổ suý quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, văn hoá, nghệ thuật tự do, lệch lạc, biến thái.

Thông tin chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thông tin sai trái trên không gian mạng có tính truyền tải nhanh, gần như tức thì. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để truyền bá những thông tin xấu độc, những bài viết với ngôn ngữ, luận điệu kích động, bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ ta trên mọi lĩnh vực.

Thông tin sai trái trên không gian mạng có diện tham chiếu rộng, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng và chiều sâu. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng tác động đến mọi tầng lớp nhân dân, làm ô nhiễm môi trường thông tin xã hội, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng chính trị, dư luận xã hội, gây hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thông tin sai trái trên không gian mạng rất khó quản lý và kiểm soát. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy, lối sống thực dụng gây ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội: Đạo đức xã hội bị băng hoại, văn hóa dân tộc bị tầm thường hóa, mất bản sắc, văn hóa xã hội bị đổ vỡ. Từ đó, tác động mạnh đến chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng...; dẫn đến mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận không nhỏ những người thường xuyên tiếp cận với không gian mạng.