Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sử dụng bạo lực cách mạng là quy luật phổ biến trong đấu tranh giành và giữ chính quyền

 

 

Cách mạng xã hội chủ nghĩa tất yếu đòi hỏi phải giải quyết vấn đề cơ bản nhất của cách mạng là vấn đề chính quyền. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp công nhân phải trở thành giai cấp thống trị, phải thiết lập chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân phải sử dụng bạo lực cách mạng dưới mọi hình thức để đập tan bộ máy cai trị của giai cấp tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân phải giành lấy quyền dân chủ: “Mục đích của Liên đoàn những người cộng sản là dùng mọi biện pháp tuyên truyền và đấu tranh chính trị để thực hiện việc đập tan chế độ xã hội cũ, lật đổ giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp vô sản về mặt tinh thần, chính trị và kinh tế, thực hiện cuộc cách mạng cộng sản… và không thể giải tán chừng nào mà cách mạng vô sản chưa đạt được mục đích cuối cùng của nó”[1].

Bạo lực cách mạng là sức mạnh của quần chúng lao động, được giác ngộ, được tổ chức, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản nhằm đập tan bạo lực phản cách mạng. Giai cấp công nhân sử dụng bạo lực cách mạng chỉ là điều kiện chứ không phải là mục đích của cách mạng xã hội chủ nghĩa, không phải là ý muốn chủ quan và càng không phải là nguyên nhân sản sinh ra xã hội mới. Giai cấp tư sản trong quá trình thống trị xã hội, đã không từ bỏ một thủ đoạn thâm độc nào để đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, nhằm bảo vệ địa vị thống trị của nó. Để cách mạng vô sản giành được thắng lợi, phải sử dụng các hình thức đấu tranh, trong đó chủ yếu sử dụng bạo lực. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ xã hội hiện hành. Mặc cho giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng ấy những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”[2]. Trong hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã phân tích đặc điểm của nhà nước tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và rút ra kết luận về tính tất yếu phổ biến của cách mạng bạo lực: “Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được. Việc thủ tiêu nhà nước vô sản, nghĩa là việc thủ tiêu mọi nhà nước, chỉ có thể thực hiện được bằng con đường “tiêu vong” thôi”[3]. Bạo lực cách mạng thể hiện sức mạnh thông qua hai lực lượng là lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của quần chúng, nó hỗ trợ cho nhau tạo thành cao trào cách mạng lật đổ giai cấp thống trị. Bạo lực cách mạng thường được sử dụng với hai hình thức cơ bản, đó là đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị của quần chúng, đồng thời còn là sự kết hợp của hai hình thức đó.

Mặc dù nhấn mạnh sử dụng bạo lực cách mạng là quy luật phổ biến của cách mạng xã hội chủ nghĩa, song các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng, cần phải sử dụng một cách linh hoạt phương pháp đấu tranh cách mạng bằng bạo lực và phương pháp hòa bình. Việc sử dụng phương pháp nào không phải do ý muốn chủ quan mà xuất phát từ thực tiễn tương quan lực lượng. Ở trong những tình hình cụ thể, so sánh lực lượng cách mạng đang có ưu thế hơn lực lượng phản cách mạng thì cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng có thể được thực hiện bằng phương thức hoà bình. Do cao trào đấu tranh cách mạng phát triển mạnh mẽ, giai cấp công nhân thống qua đội tiền phong của mình đã thu hút được đông đảo quần chúng cách mạng tạo nên sức mạnh chính trị buộc giai cấp thống trị phải nhường quyền thống trị cho lực lượng cách mạng. Thực tiễn cách mạng vô sản chỉ ra khả năng giành chính quyền bằng phương pháp hoà bình là rất quý và hiếm. Hiện nay, trước những biến đổi phức tạp của tình hình thế giới, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những thay đổi về chiến lược, sách lược, thủ đoạn chống phá cách mạng, nhưng bản chất của chúng vẫn không thay đổi. Chúng luôn sử dụng bạo lực phản cách mạng dưới hai hình thức chính trị và vũ trang nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội và các phong trào cách mạng. Răn đe quân sự là chính sách nhất quán của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế ngày nay, điều đó càng khẳng định tính đúng đắn và tất yếu của bạo lực cách mạng trong giành và giữ chính quyền, trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 732.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 646.

[3] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 28.

Trên lĩnh vực kinh tế của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi vững chắc của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội muốn chiến thắng được chủ nghĩa tư bản thì phải tạo ra năng suất lao động cao hơn nó, phải không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động. Do đó, giành chính quyền mới chỉ là bước đầu, nhiệm vụ tiếp theo của cách mạng xã hội chủ nghĩa là phải triển khai trên lĩnh vực kinh tế, từng bước tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, thay đổi chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi địa vị kinh tế - xã hội của nhân dân lao động.

Để thực hiện thắng lợi nội dung cách mạng về kinh tế, trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước đòi hỏi giai cấp công nhân phải giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất; tận dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại vào sản xuất; khơi dậy nguồn lực con người trong xã hội; giải quyết hài hoà các mối quan hệ lợi ích, giữa lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội và giữa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế; phát huy sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng vững chắc cho chủ nghĩa xã hội.

Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tính tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, mọi cuộc cách mạng xã hội diễn ra trong lịch sử đều bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất. Theo quy luật chung, khi lực lượng sản xuất không ngừng phát triển mâu thuẫn với quan hệ sản xuất đã lỗi thời sẽ đặt ra nhu cầu khách quan phải thay thế quan hệ sản xuất kìm hãm nó bằng một quan hệ sản xuất mới, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có,… Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội…”[1]. Việc đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn này thông qua cách mạng xã hội là động lực trực tiếp thúc đẩy xã hội vận động và phát triển. Đây chính là quy luật khách quan của sự thay thế lẫn nhau giữa các chế độ xã hội trong lịch sử.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng không nằm ngoài quy luật chung đó, nó là kết quả tất yếu của sự vận động, phát triển những mâu thuẫn vốn có trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, trong đó chủ yếu là mâu thuẫn về kinh tế - xã hội.

Trên lĩnh vực kinh tế, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển có tính chất xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. C.Mác khẳng định, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn tới “tư liệu sản xuất và sản xuất, về thực chất, đã biến thành có tính chất xã hội; nhưng chúng vẫn phải lệ thuộc vào một hình thức chiếm hữu lấy sản xuất riêng rẽ của người sản xuất cá thể làm tiền đề… Cái mâu thuẫn ấy, cái mâu thuẫn đã mang lại tính chất tư bản chủ nghĩa cho phương thức sản xuất mới, đã chứa đựng sẵn những mầm mống của mọi xung đột hiện nay”[2]. Đây là mâu thuẫn khách quan hình thành ngay từ khi ra đời phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó tích tụ trở thành mâu thuẫn cơ bản, biểu hiện ngày càng gay gắt và tạo ra tiền đề phủ định chế độ tư bản chủ nghĩa: “sự tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hóa lao động đạt đến cái điểm mà chúng không còn thích hợp với cái vỏ tư bản chủ nghĩa của chúng nữa. Cái vỏ đó vỡ tung ra. Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt”[3]. Sự phù hợp thực sự với tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất chỉ có thể là sự thay thế quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực xã hội, đó là mâu thuẫn đối kháng không thể điều hòa giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Sau khi trở thành giai cấp thống trị, nắm trong tay quyền lực kinh tế, chính trị, giai cấp tư sản ngày càng xóa bỏ tình trạng phân tán của tư liệu sản xuất, tài sản và dân cư để bảo vệ lợi ích giai cấp mình. Sự áp bức và bóc lột của giai cấp tư sản, sự cạnh tranh tự do mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra đã đẩy ngày càng nhiều người, kể cả những người thuộc tầng lớp dưới của giai cấp trung đẳng xưa kia vào tầng lớp vô sản. Do đó, mâu thuẫn giữa hai giai cấp vô sản và tư sản ngày càng tăng lên. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “xã hội ngày càng chia thành hai phe lớn thù địch với nhau, hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau: “giai cấp tư sản và giai cấp vô sản”[4]. Sự đối lập về lợi ích cơ bản giữa hai cấp này không thể dung hòa và giải quyết triệt để trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản, mà chỉ có thể giải quyết bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp vô sản, người đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại giữ vai trò lịch sử.

Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, các nước tư bản chủ nghĩa có ưu thế đầu tư công nghệ sản xuất mới và hình thành những công ty xuyên quốc gia thì lực lượng sản xuất càng phát triển, xã hội hoá cao, làm cho mâu thuẫn với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất càng sâu sắc. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã tự “điều chỉnh”, “thích nghi” bằng cách cải tiến một số khâu trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong cơ chế vận hành và quản lý xã hội tư bản chủ nghĩa. Điển hình là sự điều tiết vĩ mô để khắc phục tình trạng vô chính phủ; hoàn thiện chế độ phúc lợi; điều hòa mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, giữa giai cấp và xã hội. Tuy nhiên, tất cả những điều chỉnh mới đó của chủ nghĩa tư bản không hề đụng chạm đến chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Sự đối lập giữa tư bản và lao động làm thuê; quy luật tích lũy tư bản của sự phân hóa hai cực giàu - nghèo; mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chưa có sự thay đổi căn bản về chất. Bản chất bóc lột, bành trướng, cướp bóc tài nguyên, thương mại không bình đẳng, áp bức các quốc gia nhỏ trên phạm vi toàn thế giới; khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng... do đó trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản không thể giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của bản thân nó, đó là tiền đề khách quan quy định tính tất yếu sẽ nổ ra cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại hiện nay.

 

Bất kỳ một cuộc cách mạng nào nổ ra đều có mục tiêu riêng của nó, do bản chất của giai cấp lãnh đạo cách mạng quy định. Trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản, để lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập quyền thống trị về tay giai cấp mình, giai cấp tư sản đã giương cao ngọn cờ khẩu hiệu vì “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” để thu hút đông đảo công nhân và lao động tham gia. Nhưng sau khi đạt được mục đích, giai cấp tư sản không những không thực hiện lời hứa ban đầu mà còn quay lại đàn quần chúng lao động. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn là người bị áp bức, bóc lột, không được hưởng quyền tự do dân chủ thực sự. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là con đường cách mạng và khoa học để thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ vang của giai cấp công nhân. Do vậy, mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa hướng tới là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại và giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới không còn sự phân chia giai cấp. Để hoàn thành sự nghiệp cách mạng cao cả đó, giai cấp công nhân phải thực hiện thắng lợi mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài.

Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, để từng bước cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn với giai đoạn thứ nhất trong tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân - giai đoạn xây dựng thành giai cấp thống trị xã hội. Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa là quan trọng hàng đầu, bởi lẽ, vấn đề giành chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. chính quyền nhà nước là công cụ thống trị xã hội, nhờ đó mà giai cấp thống trị duy trì và bảo vệ chế độ xã hội. Do đó, giai cấp công nhân muốn thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang của mình phải lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền nhà nước là điều kiện để thực hiện mục tiêu tiếp theo.

Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh trên phạm vi từng nước và toàn thế giới. Đây là mục tiêu gắn với giai đoạn thứ hai trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động sử dụng nhà nước chuyên chính vô sản tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn áp bức, bóc lột và con người có điều kiện phát triển toàn diện. Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa phản ánh tập trung, sâu sắc tính chất cách mạng triệt để và tính nhân văn, nhân đạo mà các cuộc cách mạng xã hội trước không thể thực hiện được. Mục tiêu này đồng thời còn chỉ ra tính chất khó khăn, phức tạp, gay go và quyết liệt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giai cấp công nhân phải biết tập hợp và phát huy vai trò lao động sáng tạo của quảng đại quần chúng nhân dân. Đội tiền phong của giai cấp công nhân phải nắm vững, vận dụng có hiệu quả những quy luật kinh tế, xã hội và đưa ra đường lối chiến lược, sách lược phù hợp với điều kiện thực tế của mỗi giai đoạn cách mạng.

Thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước đã chứng minh tính ưu việt, những khả năng thực tế trong thực hiện mục tiêu cao cả mà giai cấp công nhân đã xác định. Tuy nhiên, việc thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa là quá trình rất phức tạp gắn với cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại hiện đại, khắc phục những ảnh hưởng của phong tục lạc hậu còn tồn tại trong quần chúng nhân dân lao động. Trong giai đoạn hiện nay, hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội là là nhu cầu và khát vọng của toàn nhân loại đang hướng đến. Thực hiện những mục tiêu đó của thời đại cũng chính là quá trình từng bước hiện thực hóa mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995; tr. 14 - 15.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 311.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 1059.

[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 597.

Chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực l­­ượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về t­­ư liệu sản xuất chủ yếu; phát triển cao về văn hóa, đạo đức.

 


Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công - nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹ thuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản được bỏ dần, đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển toàn diện các ngành mà những ngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó công nghiệp và nông nghiệp là như hai chân của nền kinh tế nước nhà[1].

Trong chủ nghĩa xã hội, ng­­ười với người là bạn, là đồng chí, anh em; con ng­­ười đư­ợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất, tinh thần phong phú, đ­­ược tạo điều kiện để phát triển hết mọi khả năng sẵn có của mình. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, văn hóa là mục tiêu cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội, đó là xóa nạn mù chữ, xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng, phát triển văn hóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải trí lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan, khắc phục phong tục tập quán lạc hậu… Phương châm Phải xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng. Phải nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân[2]. Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là vì con người, giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bóc lột, có cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng cao, có điều kiện toàn diện. Người chỉ rõ: “Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc[3].

 



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 191.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 265.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 92.

XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH TRỌNG DỤNG NHÂN TÀI ĐÁNG LÊN ÁN

 Nhân tài được xem là nguồn lực quý giá của đất nước, có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội song để trọng dụng người tài là vấn đề không hề đơn giản của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Nhận thức đầy đủ, thấu đáo vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thu hút, trọng dụng nhân tài. Lợi dụng vấn đề trên các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc.

 

Những âm mưu, thủ đoạn thâm độc

 

Bằng cách nhìn thiển cận, đầy định kiến với Việt Nam các thế lực thù địch vu cáo rằng “dưới chế độ cộng sản nhân tài không được trọng dụng. Mặt khác, họ ca ngợi, cường điệu hóa chế độ đãi ngộ nhân tài ở các nước tư bản phương Tây, miệt thị, phủ nhận những chủ trương, chính sách cũng như thực tế thực hiện chủ trương, chính sách trọng dụng nhân tài của Đảng, Nhà nước ta.

 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch truyền bá lối sống theo kiểu phương Tây; tô son, bôi hồng các chính sách ưu đãi về lương thưởng, mức sống ở các nước tư bản phát triển; cho rằng các nước phát triển là miền đất hứa. Nguy hiểm hơn, họ kích động tư tưởng hám lợi ích, trọng đồng tiền trong một bộ phận giới trẻ và người lao động. Các tổ chức phản động, số đối tượng cơ hội chính trị đã tuyệt đối hóa yếu tố tài năng và lợi nhuận, xem nhẹ vấn đề đạo đức, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc. Đây là những âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm làm giảm chí hướng xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, nhất là các thế hệ thanh thiếu niên.

 

Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều quan tâm đến thu hút, trọng dụng, giữ nhân nhân tài. Việc thu hút, trọng dụng nhân tài là một chính sách ưu tiên cho phát triển đất nước. Nhưng cũng giống như các quốc gia khác, đặc biệt là các nước đang phát triển việc thu hút, giữ nhân người tài là vấn đề không hề đơn giản. Đặc biệt nước ta đi chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, bị chiến tranh tàn phá, mặt khác việc bảo đảm chính sách đãi ngộ phù hợp nguồn lực hiện có của đất nước, bảo đảm hợp lý, công bằng, tiến bộ xã hội; đồng thời phụ thuộc điều kiện kinh tế - xã hội chung của từng địa phương, từng ngành, từng lĩnh vực. Vì vậy, không thể đem chính sách đãi ngộ nhân tài của các nước phát triển để so sánh khập khiễng và áp đặt một cách chủ quan, tùy tiện, duy ý chí, máy móc lên các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

 

Không phủ nhận ở nhiều nước tư bản phát triển có chế độ đãi ngộ cao đối với nhân tài, do các nước đó có tiềm lực kinh tế - xã hội lớn. Song xét về bản chất sâu xa mục đích đãi ngộ nhân tài của các nước tư bản nhằm phục vụ cho lợi ích giai cấp tư sản là chủ yếu. Mặt khác, những nước này tập trung chú trọng đến yếu tố tài năng, trình độ, năng lực. Ở các nước đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, trong đó có Việt Nam mục đích của trọng dụng nhân tài nhằm phát huy tối đa nguồn lực con người đem tài năng và đạo đức của cá nhân để mang lại lợi ích cho quốc gia - dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình”.

 

Chính sách trọng dụng nhân tài là đúng đắn, hợp lý, hiệu quả

 

Có một thực tế là trong năm tháng thực hiện công cuộc kháng chiến, kiến quốc, mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội lúc bấy giờ còn nhiều khó khăn, thử thách nên chế độ đại ngộ đối với người tài ở mức độ nhất định nhưng người tài giỏi vẫn tình nguyện phục vụ Đảng, Nhà nước, nhân dân.

 

Trải quan các kỳ đại hội Đảng đều chú trọng thu hút, bồi dưỡng nhân tài. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài”.

 

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về thu hút, trọng dụng nhân tài, nhiều địa phương đã căn cứ tình hình thực tiễn để xác định trọng tâm thu hút nhân tài về làm việc phù hợp với nhu cầu và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, trong đó tập trung vào lĩnh vực như: Y tế, kỹ thuật - công nghệ, kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục bằng những chế độ đãi ngộ cụ thể như chính sách tuyên dương, vinh danh; chế độ tuyển thẳng không qua thi tuyển; ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, trợ cấp ban đầu.

 

Theo Chỉ số Cạnh tranh nhân tài toàn cầu (Global Talent Competitiveness Index) do trường kinh doanh INSEAD công bố năm 2020 Việt Nam xếp hạng 96 trên 132 quốc gia đến năm 2023, Việt Nam đứng ở vị trí 75 trong xếp hạng trong tổng số 134 quốc gia, trong số các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam đứng trên Thái Lan vị trí 79, Indonesia vị trí 80, và Philippines vị trí 84. Dù đây là chỉ số mang tính chất tham khảo, song cũng chứng minh phần nào giá trị những chủ trương, chính sách trong dụng nhân tài của Việt Nam trên thực tế./.

Đóng góp cho cộng đồng quốc tế, nâng cao vị thế Việt Nam

 Những năm qua, Việt Nam đã có nhiều đóng góp hiệu quả cho công việc chung của các tổ chức khu vực và quốc tế, góp phần giải quyết các vấn đề và thách thức mang tính toàn cầu. Thông qua hoạt động này không chỉ chứng minh năng lực, trách nhiệm của Việt Nam đối với các nỗ lực vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng trên toàn thế giới, mà còn khẳng định vai trò, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao của đất nước.

Từ những ý tưởng, sáng kiến...

Những đóng góp của Việt Nam trước hết được thể hiện qua sự tham gia tích cực, có trách nhiệm trong việc tìm giải pháp cho các vấn đề mà Liên hợp quốc (LHQ) - tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh - cũng như các tổ chức khu vực và quốc tế quan tâm.

Đến nay, Việt Nam đã hai lần đảm nhiệm thành công cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (HĐBA) LHQ, qua đó thể hiện trách nhiệm cao, trực tiếp đóng góp vào các nỗ lực duy trì hòa bình, an ninh quốc tế và khu vực. Dấu ấn mà Việt Nam để lại trong nhiệm kỳ đầu tiên (2008-2009) đảm nhiệm cương vị này là đóng góp vào các quyết định trên nhiều vấn đề liên quan đến xung đột tại các khu vực, tái thiết hậu xung đột, chống khủng bố, nâng cao tính minh bạch của HĐBA LHQ; thúc đẩy hợp tác giữa LHQ với các tổ chức khu vực, nhất là trong việc tăng cường lòng tin và đối thoại, ngăn ngừa và giải quyết xung đột, xử lý các thách thức chung toàn cầu.

Trong nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam tiếp tục hoàn thành xuất sắc vai trò Ủy viên không thường trực HĐBA LHQ thông qua việc thúc đẩy bầu không khí đồng thuận, đối thoại, hợp tác vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế; đề xuất nhiều sáng kiến, đóng góp thực chất vào công việc của HĐBA. Điển hình là trên vai trò Chủ tịch HĐBA tháng 1-2020, Việt Nam đã thúc đẩy HĐBA thông qua Tuyên bố Chủ tịch đầu tiên của HĐBA về tôn trọng Hiến chương LHQ, góp phần đề cao giá trị và các nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử dựa trên Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế. Tiếp đó, khi đảm nhiệm vai trò Chủ tịch HĐBA vào tháng 4-2021, Việt Nam đã thúc đẩy thông qua Tuyên bố Chủ tịch của HĐBA nhấn mạnh nhu cầu tăng cường hợp tác quốc tế để chung tay giải quyết hậu quả bom, mìn sau chiến tranh đối với an toàn và sinh kế của người dân, cộng đồng.

Ở bình diện khu vực, trong suốt chặng đường đồng hành với ASEAN, Việt Nam đã có nhiều đóng góp thực chất cho hợp tác nội khối cũng như giữa ASEAN với các đối tác. Đặc biệt, trong hai lần đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN vào năm 2010 và 2020, Việt Nam đã thể hiện vai trò dẫn dắt trong đề cao tinh thần đoàn kết, thống nhất nội khối; tăng cường hợp tác, gắn bó, tương trợ và ủng hộ lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên ASEAN; thúc đẩy giải quyết các thách thức an ninh ở khu vực. Còn khi đảm nhiệm vai trò chủ nhà của Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vào năm 2017, Việt Nam là một trong những quốc gia chủ động đề xuất và tham gia triển khai nhiều sáng kiến liên quan tới các lĩnh vực khác nhau như thương mại, đầu tư, y tế, chống khủng bố...

...đến hành động cụ thể

Bên cạnh việc tích cực đề xuất các ý tưởng, sáng kiến, Việt Nam còn triển khai các hoạt động cụ thể để hỗ trợ cộng đồng quốc tế và các nước bạn bè, đối tác giải quyết các vấn đề nổi cộm.

Một trong những ví dụ điển hình nhất minh chứng cho đóng góp của Việt Nam vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, đó là từ năm 2014, Việt Nam đã cử sĩ quan tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ tại Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi. Sau 10 năm triển khai, đến nay, Việt Nam đã cử hơn 900 lượt quân nhân, cảnh sát cùng các bệnh viện dã chiến cấp 2 và đội công binh tham gia các phái bộ gìn giữ hòa bình LHQ ở Nam Sudan, Cộng hòa Trung phi, Khu vực Abyei. Các cán bộ, sĩ quan của Việt Nam luôn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, thể hiện bản lĩnh, năng lực chuyên môn tại địa bàn công tác và được lãnh đạo, các quan chức LHQ nhiều lần khen ngợi, đánh giá cao. Điều này đã góp phần lan tỏa hình ảnh tốt đẹp về đất nước, con người và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Khi Thổ Nhĩ Kỳ hứng chịu các trận động đất với quy mô và mức độ tàn phá nghiêm trọng vào tháng 2-2023, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên cử lực lượng tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn sang giúp nước bạn. Trong điều kiện khó khăn về nhiều mặt, đặc biệt là thời tiết khắc nghiệt, các cán bộ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội nhân dân Việt Nam đã phối hợp cùng lực lượng của các nước kịp thời xác định nhiều vị trí có người gặp nạn, bàn giao cho chính quyền và lực lượng chức năng Thổ Nhĩ Kỳ xử lý, qua đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đáng chú ý, đây mới là lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam cử lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa động đất ở nước ngoài. Phía Thổ Nhĩ Kỳ nhấn mạnh nghĩa cử cao đẹp này đã thể hiện rõ cam kết của Việt Nam trong việc thực hiện sứ mệnh nhân đạo toàn cầu.

Ngay trong thời điểm đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, không chỉ tích cực tham gia chia sẻ kinh nghiệm phòng, chống dịch với cộng đồng quốc tế, Việt Nam còn triển khai các hoạt động viện trợ về vật tư, thiết bị y tế cho công cuộc chống dịch của các quốc gia khác ở khu vực cũng như thế giới; đóng góp tài chính cho Quỹ ứng phó Covid-19 của LHQ và cơ chế COVAX; đồng thời cử chuyên gia y tế sang hỗ trợ một số nước ASEAN chống dịch.

Tình hình khu vực và quốc tế đang chứng kiến nhiều chuyển biến, nhưng với những kết quả đã đạt được và với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho các mục tiêu liên quan đến hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như thế giới.

 

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Tổng thống Singapore Tharman Shanmugaratnam

Sáng 3-12, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Singapore, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã hội kiến Tổng thống Singapore Tharman Shanmugaratnam.

Tổng thống Tharman Shanmugaratnam nhấn mạnh, chuyến thăm chính thức Singapore của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn là hoạt động có ý nghĩa quan trọng, ngay trước thềm các ngày lễ lớn của hai nước năm 2025, góp phần đưa quan hệ hai nước ngày càng phát triển mạnh mẽ và thiết thực hơn; chúc mừng Quốc hội Việt Nam đã sát cánh cùng Chính phủ đưa ra những quyết sách đúng đắn, giúp đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế-xã hội, có tốc độ tăng trưởng GDP cao.

Tổng thống Singapore trân trọng đề nghị Chủ tịch Quốc hội chuyển lời mời Tổng Bí thư Tô Lâm sớm thăm Singapore vào thời gian phù hợp.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn bày tỏ vui mừng lần đầu tiên đến thăm chính thức Singapore trên cương vị mới; cảm ơn Tổng thống Tharman Shanmugaratnam dành thời gian với Đoàn và trân trọng gửi lời thăm hỏi thân tình của Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đến Tổng thống và mong được đón Tổng thống thăm Việt Nam trong thời gian tới.

Chúc mừng Singapore duy trì đà tăng trưởng tích cực và có nhiều chính sách đúng đắn hỗ trợ người dân, nhất là người có thu nhập thấp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn bày tỏ tin tưởng Singapore sẽ xây dựng thành công một quốc gia “năng động và hòa nhập, công bằng và cạnh tranh, kiên cường và đoàn kết”, một xã hội có tính bao trùm và tinh thần đa sắc tộc.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chia sẻ với Tổng thống Singapore về kết quả hội đàm giữa hai Chủ tịch Quốc hội, trong đó có các định hướng, biện pháp lớn nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước và giữa hai quốc hội nói riêng trên tất cả các lĩnh vực chính trị-ngoại giao, an ninh, quốc phòng, kinh tế-thương mại, giáo dục-đào tạo, giao lưu văn hóa, giao lưu nhân dân và kết nối địa phương.

Đề cao vai trò lãnh đạo của Tổng thống, Chủ tịch Quốc hội đề nghị Tổng thống Tharman Shanmugaratnam ủng hộ triển khai hiệu quả Thỏa thuận hợp tác giữa hai Quốc hội ký kết năm 2022, góp phần đưa hợp tác giữa cơ quan lập pháp hai nước trở thành một trong những kênh hợp tác quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược Việt Nam - Singapore, tạo tiền đề nâng cấp quan hệ trong thời gian tới.

Trao đổi về các vấn đề Việt Nam quan tâm và Singapore có thế mạnh, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị Singapore và cá nhân Tổng thống quan tâm thúc đẩy triển khai Thỏa thuận về Chương trình đào tạo dành cho cán bộ trung, cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Singapore giai đoạn 2024 - 2026; tăng số lượng học bổng các cấp học cho Việt Nam; mở rộng các chương trình như Quản trị dành cho Lãnh đạo, Lãnh đạo tiềm năng tới cán bộ các cấp khác của Việt Nam.

Tán thành đề xuất của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Tổng thống Singapore khẳng định Singapore sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đề nghị hai bên tiếp tục phát huy các mô hình hợp tác điển hình như khu công nghiệp Việt Nam-Singapore; tận dụng hơn nữa cơ hội hợp tác trên các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, thị trường tín chỉ các-bon; tăng cường hợp tác năng lượng, kết nối mạng lưới điện, trong đó có mạng lưới điện ASEAN, đẩy nhanh dự án của Tập đoàn Sembcorp với Tổng Công ty Cổ phần dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC); tăng cường hợp tác, giao lưu văn hoá và du lịch.

Hai nhà lãnh đạo khẳng định sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho Hội hữu nghị Việt Nam – Singapore, người dân hai nước sống và làm việc, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhau, phát huy vai trò cầu nối cho quan hệ hữu nghị hai nước.

Trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm và hợp tác tại các cơ chế đa phương, hai nhà lãnh đạo nhất trí hai nước tiếp tục phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn, tổ chức đa phương khu vực và quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC và các diễn đàn nghị viện...; nhấn mạnh lập trường nhất quán của ASEAN về giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) nhằm bảo đảm môi trường ổn định và phát triển bền vững trong khu vực.

Hoạt động này đã kết thúc chuyến thăm chính thức Cộng hòa Singapore của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội nước ta và bắt đầu chuyến thăm chính thức Nhật Bản.

 

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn tới Tokyo, bắt đầu thăm chính thức Nhật Bản

 

Tối 3-12 (giờ địa phương), Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân Nguyễn Thị Thanh Nga cùng đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Việt Nam đã đến Sân bay Haneda, bắt đầu thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 3 tới 7-12, theo lời mời của Chủ tịch Thượng viện Nhật Bản Sekiguchi Masakazu và Phu nhân.

Đón Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Phu nhân cùng đoàn tại Sân bay Haneda, về phía Nhật Bản có: Thượng nghị sĩ Makino, Chủ tịch Ủy ban Điều hành Thượng viện Nhật Bản.

Về phía Việt Nam có Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu và phu nhân; cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam và bà con Việt Nam tại Nhật Bản.

Đây là chuyến thăm chính thức tới Nhật Bản của người đứng đầu cơ quan lập pháp nước ta sau 12 năm. Chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm hiện thực hóa đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam, thúc đẩy quan hệ hợp tác trên kênh nghị viện giữa Quốc hội Việt Nam và Nghị viện Nhật Bản đi vào thực chất, bền vững, qua đó, cụ thể hóa nội hàm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nhật Bản, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác hiệu quả, thực chất giữa Việt Nam và Nhật Bản trên tất cả các lĩnh vực.

Tại Nhật Bản, dự kiến, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn sẽ tới chào Nhà vua Naruhito, Hoàng hậu Masako; hội kiến Thủ tướng Ishiba Shigeru; hội đàm với Chủ tịch Thượng viện Sekiguchi Masakazu, Chủ tịch Hạ viện Nukaga Fukushiro. 

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội sẽ trao Huân chương của Chủ tịch nước Việt Nam tặng một số nguyên lãnh đạo Nhật Bản; tiếp lãnh đạo Liên minh Nghị sĩ Hữu nghị Nhật - Việt, lãnh đạo các chính đảng lớn của Nhật Bản, Liên đoàn các tổ chức kinh tế Nhật Bản, Hội đồng Thúc đẩy ngoại giao nhân dân, một số cựu lãnh đạo, chính trị gia có uy tín, có đóng góp cho quan hệ hai nước, lãnh đạo một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Nhật Bản, thống đốc một số địa phương có quan hệ thân thiết với Việt Nam; gặp gỡ cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Tokyo, Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Fukuoka và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản.

Đặc biệt, trong chuyến thăm lần này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Chủ tịch Thượng viện Sekiguchi Masakazu sẽ ký Thỏa thuận hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Thượng viện Nhật Bản, tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy quan hệ giữa hai cơ quan lập pháp lên tầm cao mới trong những năm tới.

Mối quan hệ Việt Nam-Nhật Bản được đánh giá là cặp quan hệ điển hình cho thành công trong hợp tác song phương của Việt Nam với các đối tác.

Nhật Bản duy trì vị trí là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, đối tác viện trợ ODA lớn nhất, đối tác lớn thứ hai về hợp tác lao động, lớn thứ ba về đầu tư và du lịch, lớn thứ tư về thương mại.

Quan hệ hai nước thời gian qua đã có những bước phát triển về chất và đang ở giai đoạn tốt đẹp nhất, với mức độ tin cậy chính trị cao. Việc trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao, diễn ra thường xuyên và mật thiết trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội. Hợp tác kinh tế ngày càng chặt chẽ và đi vào chiều sâu. Hợp tác địa phương, giao lưu văn hóa, giao lưu nhân dân và hợp tác nguồn nhân lực ngày càng mật thiết và hiệu quả.

Hai nước vừa kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao và nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á và trên thế giới (năm 2023).

 

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm và làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

 Chiều 3-12, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy trung ương đã đến thăm và làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Tham gia đoàn có: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

Cùng dự có các đồng chí: Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; đại diện lãnh đạo các cơ quan chức năng… 

 

 

 

 

 

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm và làm việc tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu nghe giới thiệu về sa bàn trong Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.  

 

 

 

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một trong 6 bảo tàng quốc gia, là bảo tàng đầu tiên của hệ thống bảo tàng Quân đội, được thành lập ngày 17-7-1956, địa chỉ tại số 28A đường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Bảo tàng hiện đang trưng bày và lưu giữ khoảng 15 vạn hiện vật, trong đó có 4 bảo vật quốc gia.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Thủ trưởng Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam từng bước phát triển về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ; làm tốt vai trò của một thiết chế văn hoá, một bộ phận quan trọng trong hệ thống hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 2019, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được Bộ Quốc phòng đầu tư xây dựng mới, trên diện tích 386.600m2, tại phường Tây Mỗ và phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Với quy mô 4 tầng nổi và 1 tầng hầm, diện tích xây dựng 23.198m2.

Hệ thống trưng bày tại tầng 1 giới thiệu hàng nghìn hiện vật, được tổ chức, sắp xếp hiện đại, khoa học, phong phú, ứng dụng công nghệ tiên tiến của bảo tàng quốc tế, như: Sa bàn 3D mapping, màn hình tra cứu thông tin, media tư liệu ảnh, thuyết minh tự động audio guide và mã QR tra cứu thông tin hiện vật... phản ánh toàn diện lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giành độc lập của dân tộc Việt Nam; sự hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Quân đội nhân dân Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng; hơn 60 video clip, giới thiệu các chiến dịch, trận đánh và nhân vật lịch sử, mang đến cho công chúng tham quan trải nghiệm hoàn toàn mới.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một công trình văn hóa đặc biệt tiêu biểu, nơi bảo tồn và phát huy tinh hoa di sản văn hóa quân sự của dân tộc, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, học tập, tham quan và hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân trong nước và du khách quốc tế; phù hợp với chủ trương của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng: “Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một thiết chế đa năng tổng hợp, đặc biệt quan trọng, tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội và Quốc gia”.

Từ ngày 1-11-2024, trong chuỗi hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam chính thức mở cửa, phục vụ khách tham quan và miễn phí vé tham quan đến hết tháng 12-2024, tại địa chỉ: Km 6+500 Đại lộ Thăng Long, phường Tây Mỗ và Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội...

 

Tổng Bí thư Tô Lâm dự Đại hội thi đua yêu nước “Cựu chiến binh gương mẫu” lần thứ VII

 Sáng 4-12, Hội Cựu chiến binh (CCB) Việt Nam tổ chức Đại hội thi đua yêu nước “CCB gương mẫu” lần thứ VII, giai đoạn 2024-2029, kỷ niệm 35 năm Ngày thành lập Hội (6-12-1989 / 6-12-2024) và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Tổng Bí thư Tô Lâm đến dự và phát biểu chỉ đạo.

Dự đại hội có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đỗ Văn Chiến, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Đại tướng Phan Văn Giang, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Tham dự hội nghị có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Nguyễn Duy Ngọc, Chánh văn phòng Trung ương Đảng; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Dự đại hội có các đồng chí: Trần Quang Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội; Thượng tướng Bế Xuân Trường, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch Hội CCB Việt Nam. Cùng dự có các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng LLVT nhân dân, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các Ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương và TP Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; lãnh đạo Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo Hội CCB Việt Nam qua các thời kỳ. Đặc biệt, có 493 đại biểu điển hình tiên tiến xuất sắc trong Phong trào thi đua yêu nước "CCB gương mẫu" ở các cấp hội trong 5 năm qua.

Phát huy bản chất Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống “Trung thành - đoàn kết - gương mẫu - đổi mới” của Hội CCB Việt Nam, 35 năm qua, Hội CCB Việt Nam luôn nỗ lực vượt qua khó khăn, chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh Phong trào thi đua yêu nước “CCB gương mẫu”, chung sức, đồng lòng cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dựng xây đất nước.

Đại hội thi đua yêu nước “CCB gương mẫu” lần thứ VII, nhằm tổng kết Phong trào thi đua yêu nước “CCB gương mẫu” và công tác khen thưởng giai đoạn 2019-2024; đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2024-2029.

Đại hội cũng là dịp để biểu dương, tôn vinh các tập thể, cá nhân, các gương điển hình tiên tiến, nhân tố tiêu biểu trong Phong trào “CCB gương mẫu” toàn quốc. Động viên, cổ vũ các cấp hội và cán bộ, hội viên CCB hăng hái thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

CẢNH GIÁC VỚI MỘT SỐ THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP TIẾN TỚI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG

 

Mới đây, trên trang Bbctiengviet, Đài BBC đưa thông tin: Quy chế mới về bầu cử trong Đảng có gì đáng chú ý. Trong đó có nội dung “… để làm thêm một nhiệm kỳ tổng bí thư, ông Tô Lâm phải giải quyết bài toán cân bằng quyền lực giữa các nhóm trong Bộ Chính trị và tìm kiếm, tranh thủ sự ủng hộ để tạo được sự đồng thuận cho ông thành “trường hợp đặc biệt” trong nhiệm kỳ tới”. Chúng ta khẳng định, đây là những luận điệu xuyên tạc, phản động, nhằm gây mất đoàn kết nội bộ, phủ nhận công tác nhân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam, cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Thứ nhất, Ngày 10/10/2024, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII ban hành Quyết định số 190-QĐ/TW kèm Quy chế bầu cử trong Đảng. Quy chế bầu cử trong Đảng mới ban hành gồm 7 chương, 36 điều, quy định đối tượng và phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc bầu cử, hình thức bầu cử; nhiệm vụ của cấp uỷ triệu tập đại hội, các tổ chức điều hành và giúp việc đại hội trong công tác bầu cử; ứng cử, đề cử, bầu cử, danh sách bầu cử, phiếu bầu cử; trình tự, thủ tục bầu cử; tính kết quả và chuẩn y kết quả bầu cử; xử lý vi phạm; điều khoản thi hành. Quy chế này thay thế Quy chế bầu cử trong Đảng được ban hành kèm theo Quyết định số 244-QĐ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI; được phổ biến đến chi bộ và thực hiện thống nhất trong Đảng. Ban Bí thư hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Quy chế này. Bởi vậy, không có “trường hợp đặc biệt” như Đài BBC đã đưa thông tin là sai sự thật.

Thứ hai, trước mỗi kỳ đại hội, Đảng ta đều đặc biệt quan tâm lãnh đạo công tác nhân sự. Tại phiên họp đầu tiên của Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV của Đảng (diễn ra ngày 13/3/2024), cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban nhân sự Đại hội XIV của Đảng đã nhấn mạnh: Công tác nhân sự là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt”; phải “có con mắt tinh đời” trong việc đánh giá, giới thiệu, lựa chọn; phải rất tỉnh táo, tinh tường “đừng nhìn gà hóa cuốc”, “đừng thấy đỏ tưởng là chín”; phải làm tốt công tác nhân sự từ đại hội đảng bộ các cấp để góp phần chuẩn bị tốt nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng.

Đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2025 - 2030 của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, có ý nghĩa quan trọng và tác động đến toàn xã hội, do đó được các tầng lớp nhân dân trong cả nước quan tâm, theo dõi. Đại hội XIV sẽ là một dấu mốc rất quan trọng, có ý nghĩa định hướng tương lai, cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng các thế lực thù địch, phản động, chúng ra sức lợi dụng vấn đề này, các trung tâm phá hoại tư tưởng, báo đài bên ngoài (BBC, RFA, VOA, …), cùng với các phần tử cơ hội theo đuôi “dân chủ”, đối tượng phản động ở trong nước móc nối với các thành phần bất mãn chế độ đang lưu vong ở nước ngoài ra sức chống đối. Thông qua các hình thức khác nhau, trong đó chúng tiếp tục dùng mạng xã hội, báo và đài phát thanh… để tuyên truyền xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, gây nhiễu loạn thông tin, phá hoại nội bộ, kích động mâu thuẫn chia rẽ vùng miền, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước, gây hoang mang dư luận trước thời điểm chuẩn bị Đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác, tự đề kháng; không tiếp tay, không lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng. Cần phải chọn lọc thông tin chính thống, phân tích đúng sai, tránh a dua, cổ suý theo những thông tin xuyên tạc, bịa đặt; kiên quyết đấu tranh đẩy lùi mọi ý đồ xuyên tạc Quyết định số 190-QĐ/TW kèm Quy chế bầu cử trong Đảng. Đó không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân Việt Nam.