Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả để đất nước vươn mình bước vào kỷ nguyên mới

 Tại Đại hội XIII, Đảng ta chủ trương: “Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả”(1). Thực hiện hiệu quả quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả chính là một trong những giải pháp quan trọng và cấp thiết thúc đẩy đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Sự cần thiết thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả

Quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả ở Việt Nam được hiểu là quá trình Nhà nước với vai trò là trung tâm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực phổ quát của quản trị tốt, sử dụng các công cụ, phương tiện, phương thức phù hợp huy động mọi nguồn lực trong xã hội và sự tham gia của các chủ thể khác nhau để ban hành, tổ chức thực hiện các quyết sách, mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm đưa quốc gia phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả.

Việc Đảng khẳng định chủ trương đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả đã khẳng định tầm nhìn của Đảng về tầm quan trọng của quản trị quốc gia đối với sự phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam đang quan tâm rất sâu sắc đến quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả. Thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay xuất phát từ những lý do sau đây:

Một là, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những đột phá về công nghệ số đang tạo ra một cuộc cách mạng về năng suất, chất lượng, làm thay đổi về tư duy quản trị. Xã hội loài người đang bước vào kỷ nguyên kỹ thuật số gắn liền với những thay đổi tổng thể và toàn diện của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức và quốc gia về cách sống, cách làm việc và phương thức lao động, sản xuất, giải quyết vấn đề thực tiễn dựa trên nền tảng số, công nghệ thông minh. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ với trọng tâm là chuyển đổi số, sự phát triển công cụ sản xuất trong nền kinh tế số tạo ra những biến đổi sâu sắc của lực lượng sản xuất, tạo ra những mâu thuẫn với quan hệ sản xuất hiện hữu, hình thành phương thức sản xuất mới, đòi hỏi thay đổi căn bản cách thức tổ chức sản xuất và quản lý xã hội. Điều đó cũng tất yếu đòi hỏi sự cần thiết phải có nền quản trị quốc gia hiện  đại, hiệu quả đáp ứng với yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển ở mỗi quốc gia trong thời đại kỷ nguyên số.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vừa giúp các quốc gia phát triển nhanh, rút ngắn thời gian trong việc đạt được các mục tiêu quan trọng nhờ áp dụng công nghệ, nhưng cũng có thể làm cho các quốc gia bị bỏ lại phía sau, thậm chí rất xa, nếu không biết tận dụng tối đa thành tựu khoa học - công nghệ vào thực tiễn. Điều này đòi hỏi cần phải thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả với tầm nhìn xuất sắc, tư duy đột phá, tập trung nguồn lực và phương thức quản trị phù hợp.

Hai là, nhận thức và tư duy dịch chuyển từ “quản lý” sang “quản trị” ngày càng đầy đủ và đi vào chiều sâu.

Tư duy “quản trị” bắt đầu từ khu vực tư, gắn với “quản trị doanh nghiệp”. Gắn liền với “quản trị” là “hiệu quả” quản trị. Hiệu quả là các kết quả, lợi ích đạt được khi đặt trong mối tương quan so sánh với nguồn lực bỏ ra và mục tiêu định trước. Các nguồn lực bỏ ra, như kinh phí, thời gian, công sức, nhân lực... Trên phương diện quản lý công, các kết quả, lợi ích đạt được cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, sự thỏa mãn của những bên liên quan... Hiện nay, không chỉ khu vực tư, khu vực công cũng đã và đang dịch chuyển về tư duy và trong thực tiễn ngày càng chú trọng đến “hiệu quả” trong hoạt động. Đây là điều kiện cần thiết để chuyển đổi theo hướng quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả; đồng thời, cũng góp phần thúc đẩy quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.

Ba là, khát vọng và mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy tinh thần, ý chí và khát vọng phát triển đất nước, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn”. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, nước ta trở thành nước đang phát triển, có mức thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.

Để thực hiện được những mục đích, mục tiêu vô cùng quan trọng này thì không thể không chuyển đổi phương thức quản lý, quản trị. Nếu vẫn duy trì theo phương thức quản lý truyền thống với tư duy cũ thì không thể thực hiện được những mục đích, mục tiêu này. Việc chuyển đổi sang “quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả” là tất yếu.

Bốn là, các nguồn lực truyền thống trong xã hội ngày càng hữu hạn.

Các nguồn lực trong xã hội, như đất đai, tài nguyên... ngày càng hữu hạn, còn trí tuệ con người, khoa học, công nghệ là vô hạn. Trong khi đó, nhu cầu của người dân và xã hội ngày càng cao, đa dạng, luôn phát triển, đặt ra yêu cầu và thách thức trong quản trị quốc gia vừa phải đáp ứng nhu cầu hiện tại, nhưng cách thức quản trị là làm sao không ảnh hưởng đến tương lai. Chẳng hạn: vừa thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, nhưng cần phát triển bền vững, bảo vệ được môi trường sinh thái... Đồng thời, quản trị quốc gia cũng gắn liền với bài toán “làm thế nào phát huy được tối đa trí tuệ nguồn nhân lực, nguồn lực quan trọng nhất”.

Năm là, môi trường xã hội biến động, phức tạp, không chắc chắn.

Khi xã hội càng phát triển, xu hướng ngày càng có những biến động, phức tạp, không chắc chắn. Chẳng hạn: khủng hoảng kinh tế, đại dịch COVID-19, biến  đổi khí hậu, cơn bão số 3 vừa xảy ra đối với Việt Nam và một số quốc gia, các phương tiện truyền thông xã hội với những thông tin thật, giả không dễ để xác định... Với phương thức quản lý truyền thống sẽ rất khó thích ứng với những vấn đề đó. Điều này đòi hỏi quản trị phải linh hoạt, thích ứng hiệu quả, tức là cần thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.

Sáu là, sự thành công của nhiều nước trên thế giới trong thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.

Nhiều quốc gia đã và đang thực hiện thành công quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, chẳng hạn như:

- Trung Quốc: Để quản trị quốc gia hiện đại và hiệu quả, Trung Quốc tiến hành sửa đổi thể chế, cơ cấu quản trị; xác định lại cơ cấu lợi ích cơ bản, cơ cấu quyền lực và cơ cấu hành động trong hệ thống quản trị quốc gia, xác định địa vị, vai trò, quyền lực và trách nhiệm của chủ thể quản trị, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa các cơ quan thực hiện quản trị.

- Singapore nổi tiếng trên toàn thế giới về sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên vật chất và môi trường của mình để có một nền kinh tế cạnh tranh, môi trường bền vững và chất lượng cuộc sống cao. Sự thành công của Singapore bắt nguồn từ mô hình quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả.

- Hàn Quốc quản trị quốc gia dựa trên hiệu suất. Để hiện đại hóa nền quản trị quốc gia, Chính phủ Hàn Quốc đã sớm chuyển từ phương thức kiểm soát và quản lý mang tính thủ tục sang quản trị con người dựa trên hiệu quả, minh bạch và sự tham gia. Trong quá trình này, chức năng của chính phủ và vai trò của công dân trong xã hội đã thay đổi. Mối quan hệ giữa chính phủ và công dân từ chỗ cung cấp (chính phủ đóng vai trò như nhà cung cấp - người dân đóng vai trò là người thụ hưởng) chuyển sang quan hệ đối tác, có nghĩa là chính phủ cùng với người dân điều phối chia sẻ nguồn lực.

Thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả là giải pháp nền tảng để đất nước vươn mình bước vào kỷ nguyên mới

Thứ nhất, luôn chú trọng tiêu chí tính hiện đại và tính hiệu quả trong quản trị quốc gia.

Tính hiện đại và tính hiệu quả là những đặc tính và cũng là những tiêu chí quan trọng đối với quản trị quốc gia hiện nay. Hai tiêu chí này cần luôn được chú trọng, thể hiện xuyên suốt trong tổ chức và hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và các cá nhân cũng như cả quốc gia. Tính hiện đại được thể hiện như: đẩy mạnh chuyển đổi số, quan tâm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào công việc cụ thể... Tính hiệu quả được thể hiện như: tổ chức bộ máy, nhân sự cần được tính kỹ về chi phí, kết quả đạt được; chú trọng phòng, chống tham nhũng, lãng phí...

Thứ hai, thực hiện các giải pháp để đổi mới mạnh mẽ tư duy, luôn chú trọng xác định tầm nhìn, phù hợp với sự phát triển của thời đại.

Chúng ta không thể chuyển đổi theo hướng quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả và đạt được mục đích phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân hạnh phúc nếu vẫn duy trì tư duy của quá khứ và chỉ dừng lại ở tư duy của hiện tại. Cần phải có một sự thay đổi mạnh mẽ, triệt để về tư duy và về cách mà chúng ta tư duy. Tầm nhìn xa và tầm nhìn đúng sẽ đạt được nhiều thành công và thành công thường lớn hơn nhiều.

Chuyển đổi số đòi hỏi phải có nhận thức mới, tư duy mới. Chuyển đổi nhận thức đóng vai trò tiên phong, đưa đến sự quyết tâm, tạo ra những điều kiện tốt để nâng cao năng suất, hiệu quả công việc. Đổi mới tư duy và hành động để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển nền kinh tế số, xã hội số, coi đây là nhân tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Chuyển đổi số sẽ thúc đẩy sự chuyển đổi từ “quản lý” sang “quản trị” theo cơ chế mở, tức là chuyển từ các hệ thống đơn thuần theo thứ bậc sang các hệ thống mang tính ngang hàng, đồng cấp, làm cho việc tiếp cận thông tin, loại bỏ các rào cản tương tác nhiều hơn, thúc đẩy minh bạch thông tin, quy trình quản trị của Nhà nước, đòi hỏi các cơ quan, ban, ngành của Nhà nước phải cải cách mạnh mẽ thể chế và thủ tục hành chính.

Chuyển đổi số làm cho sự kết hợp giữa người và máy ngày càng phổ biến hơn, làm cho việc ra quyết định chính xác và hiệu quả hơn dựa trên cơ sở dữ liệu, điều này đòi hỏi Nhà nước phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, có đủ năng lực tư duy, xây dựng và ứng dụng cơ sở dữ liệu vào thực tiễn công việc.

Thực tiễn hiện nay, còn có một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức tư duy còn lạc hậu hoặc không theo kịp với sự chuyển đổi của thực tiễn. Vì vậy, cần phải thường xuyên chú trọng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng để đổi mới tư duy; đồng thời, xây dựng môi trường làm việc và môi trường xã hội thúc đẩy tư duy đổi mới, trong đó vai trò của những nhà lãnh đạo, quản lý là đặc biệt quan trọng.

Sự chuyển đổi luôn đi cùng với những thách thức, thậm chí rủi ro và cả nỗi sợ trước cái mới, vượt quá khả năng và ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân nên càng cần phải sát sao để thực hiện các giải pháp cụ thể khác nhau, làm cho mỗi cá nhân vượt qua nỗi sợ cái mới.

Thứ ba, đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nếu không có nguồn nhân lực có chất lượng thì không có chủ thể tương xứng để thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả. Nguồn nhân lực có chất lượng, trong đó có nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài là yếu tố quan trọng nhất để thực hiện thành công quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả. Trong đó, nguồn nhân lực chất lượng cao và nhân tài là đặc biệt quan trọng, được chia thành các nhóm:

- Những tinh hoa lãnh đạo, quản lý có tầm và tư duy chiến lược rất tốt.

- Những nhà khoa học, chuyên gia, chuyên viên giỏi.

- Một đội ngũ những người lãnh đạo doanh nghiệp có năng lực phát triển mạnh và có khả năng khẳng định thương hiệu toàn cầu.

- Một đội ngũ lao động chuyên nghiệp trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Về các chủ thể thực hiện chức năng quản trị: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Nhà nước là chủ thể trung tâm thực hiện chức năng quản trị; các tổ chức, cá nhân là chủ thể phối hợp, tham gia. Các chủ thể thực hiện chức năng quản trị cần phải đáp ứng được yêu cầu thực hiện quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả trên các phương diện về tư duy, tầm nhìn, năng lực thực hiện, đáp ứng kịp thời sự thay đổi, phát triển.

Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Thể chế thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước là một giải pháp rất quan trọng, phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của đời sống xã hội và sự phát triển của các quốc gia trên thế giới. Thể chế thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, bao gồm nhiều yếu tố, trong đó cần chú trọng thể chế về ứng dựng công nghệ, đầu tư cho phát triển công nghệ (bao gồm cả nhân lực công nghệ) và huy động tổng lực về nguồn lực và sự tham gia của các cá nhân, tổ chức đối với sự phát triển đất nước.

Thể chế thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước cần phải chú trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia thông qua việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ, các mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số. Hệ thống pháp luật phải thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế cho phù hợp với kỷ nguyên số có vai trò rất quan trọng, có đặc điểm là chủ động, chấp nhận những đổi mới, sáng tạo và những thử nghiệm mới. Thể chế cần phải đi trước một bước khi đã xác định rõ tầm nhìn, mục tiêu và dự kiến chuẩn bị nguồn lực để triển khai.

Cần tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để phát triển nền khoa học Việt Nam, phát triển mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm; thúc đẩy phát triển mô hình kinh doanh mới, kinh tế số và xã hội số. Thể chế và hành lang pháp lý hiện nay có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của tiến trình chuyển đổi số, do chuyển đổi số đang đặt ra những thực tiễn mới, yêu cầu mới mà công tác quản lý, quản trị, cơ sở pháp lý, chính sách cần phải thay đổi cho phù hợp. Không thể đổi mới mô hình tăng trưởng khi những rào cản thể chế, chính sách chưa được giải quyết.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số quốc gia; đầu tư cho phát triển công nghệ (bao gồm cả nhân lực công nghệ).

Chuyển đổi số thực chất là cuộc cách mạng về tư duy, hướng đến một hình thái tổ chức xã hội mới dưới sự tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật số đã phát triển đến một cấp độ cao, đòi hỏi xã hội và phương thức quản trị xã hội phải chuyển đổi để thích ứng với những điều kiện mới.

Để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số theo hướng chủ động tham gia và làm chủ các nền tảng căn bản, chúng ta cần lấy việc nâng cao trình độ công nghệ của nền kinh tế là tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của khoa học, công nghệ. Cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, triển khai, trong đó chú trọng nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa kết quả. Lựa chọn và tập trung hỗ trợ triển khai nghiên cứu ứng dụng phát triển công nghệ cho một số ngành và lĩnh vực then chốt.

Chuyển đổi số đi liền với việc phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Nâng cao tiềm lực và trình độ khoa học - công nghệ trong nước để có thể khai thác các hướng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ mới, tập trung phát triển công nghệ ưu tiên có khả năng ứng dụng cao, nhất là công nghệ số, thông tin, sinh học, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa...

Cần đầu tư mạnh mẽ hơn cho việc nghiên cứu, phát triển công nghệ, đào tạo nhân lực công nghệ. Vấn đề đầu tư và định hướng phát triển các công nghệ chủ đạo, trí tuệ nhân tạo, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, có nguồn nhân lực để thực hiện và cần sự phối hợp của các đơn vị, cơ sở nghiên cứu, ứng dụng, phát triển trên diện rộng cùng với sự hợp tác quốc tế chặt chẽ, hiệu quả. Đồng thời, cần quan tâm thị trường khoa học - công nghệ gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học - công nghệ.

Việc xác định rõ các trọng điểm đầu tư, phát triển để tập trung đầu tư nguồn lực cho đúng và đủ mạnh. Việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là không thể thiếu được, là sự đầu tư dài hạn, mang tính chiến lược và cũng đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn.

Thứ sáu, huy động mọi nguồn lực trong xã hội và sự tham gia của nhiều chủ thể trong quản trị quốc gia.

Sự  dịch chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị kéo theo cách tiếp cận đa chủ thể trong quản trị nhà nước; đồng thời, chú trọng huy động mọi nguồn lực trong xã hội, tức là cần có tư duy và cách làm theo hướng huy động “tổng lực” trong quản trị quốc gia. Điều đó càng khẳng định tiêu chí về tính hiệu quả của quản trị quốc gia.

Thứ bảy, chú trọng chất lượng phát triển, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững.

Sự phát triển đất nước cần chú trọng chất lượng phát triển, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững. Chất lượng phát triển dựa trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, giá trị gia tăng cao từ sản phẩm, hàng hóa. Gắn liền với chất lượng phát triển hiện nay là xu thế cần phải phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn./.

 

 

Lý luận về thời đại theo tư tưởng V.I.Lênin

 


Lý luận cơ bản về thời đại đã được V.I.Lênin trình bày một cách hệ thống trong tác phẩm “Dưới ngọn cờ của người khác” và “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. V.I.Lênin đã làm rõ hơn cơ sở khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen về phân chia thời đại. V.I.Lênin chỉ rõ trong mỗi thời đại đều có và sẽ còn có những phong trào cá biệt, cục bộ, khi tiến khi lùi; đều có và sẽ còn có những thiên hướng khác nhau đi chệch ra khỏi phong trào chung và nhịp độ chung của phong trào. Chúng ta không thể biết những phong trào lịch sử cá biệt của một thời đại nào đó sẽ phát triển nhanh chóng đến mức nào và sẽ đạt kết quả như thế nào. Nhưng chúng ta có thể biết và chúng ta biết giai cấp nào đang đứng ở trung tâm của thời đại này hay thời đại khác và xác định nội dung căn bản, phương hướng phát triển chính của thời đại ấy, những đặc điểm chủ yếu của bối cảnh lịch sử của thời đại ấy.

Việc nghiên cứu thời đại lịch sử có một ý nghĩa to lớn liên quan đến đường lối, chiến lược, sách lược của đảng của giai cấp công nhân. V.I.Lênin cho rằng có hiểu được thời đại chúng ta đang sống là thời đại nào “...thì chúng ta mới có thể định ra đúng đắn sách lược của chúng ta; và chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ”[1].

V.I.Lênin cho rằng, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới - thời đại chuyên chính vô sản. Theo V.I.Lênin, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, bước ngoặt thế giới đã diễn ra. Thời đại của chế độ nghị viện tư sản đã kết thúc, một chương mới của lịch sử toàn thế giới bắt đầu - thời đại chuyên chính vô sản.



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 26, Dưới ngọn cờ của người khác” (1917), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.174

Học tập suốt đời

 Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành người có ích cho xã hội.

Cách mạng khoa học - công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là tận dụng tối đa thời cơ, vận hội, đi tắt đón đầu, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.

Học tập suốt đời không phải là vấn đề mới. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ, Người căn dặn: “… Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”(1); “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”(2). Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập. Chủ trương học tập suốt đời được đề cập trong nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26-7-2002, Hội nghị Trung ương 6 khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội X, XI của Đảng, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”(3) bởi người cách mạng phải học suốt đời, học trong sách vở, học lẫn nhau và học từ nhân dân; “bể học” mênh mông, không bao giờ cạn.

Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền của đất nước; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất hơn ở hầu khắp các địa phương; môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, gắn với cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa. Trong nhiều dòng họ, làng, xã, thôn, bản phong trào thi đua học tập phát triển mạnh. Ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền... Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế - xã hội ở địa phương. Những mô hình mới, những tấm gương sáng về tinh thần học không bao giờ muộn, có nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo và khuyên con cháu “học, học nữa, học mãi”; “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”(4), góp phần để đất nước ta đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới.

Bên cạnh kết quả, thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ trong học tập, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học. Tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân; ảnh hưởng đến tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo, không đủ nền tảng kiến thức và tự tin về năng lực đề xuất và thực hiện những sáng kiến, giải pháp đột phá. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, cơ sở đào tạo, hoặc chạy theo việc học để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kiến thức, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng... Một bộ phận biểu hiện ngại học, không có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với “guồng quay” hối hả của nhịp sống “vũ bão” thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.

Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để “sánh vai” với thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu  trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh - gọn - mạnh; hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024, của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm; hơn thế, những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và có 65% những công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới. Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung, tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại.

Trong bối cảnh đó, học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khoá quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để bảo đảm sự phát triển thịnh vượng, bền vững. Học tập suốt đời giúp mỗi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường trở thành nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.

Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; có quyết tâm, dám chịu trách nhiệm về kết quả công việc, lĩnh vực, ngành mà mình đảm trách, dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. Khi đó, chúng ta sẽ xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình để hiện thực hoá nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước. 

Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời; mỗi cán bộ, đảng viên luôn ý thức rõ học tập suốt đời là nhiệm vụ cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao. Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khoẻ, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mỗi công dân cần không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp; mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học - công nghệ, kiến thức số; tích cực tuyên truyền, vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời. Qua học tập suốt đời để hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó.

Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng. Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng “vượt rào” đột phá vì lợi ích chung. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia. Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo; chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.

Chúng ta đang sống trong thời đại mà tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững; cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân. Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng./.

 

 

Nhân rộng mô hình bộ đội biên phòng giúp dân phát triển kinh tế

 Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, cán bộ, chiến sĩ bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam không quản ngại khó khăn, cùng dân bản xây dựng các mô hình phát triển kinh tế, giúp đồng bào vùng biên ổn định đời sống, xóa đói giảm nghèo.

Nhiều năm nay, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Tr’hy, huyện miền núi Tây Giang, tỉnh Quảng Nam luôn bám sát cơ sở, gắn bó mật thiết với người dân. Thông qua những cách làm sáng tạo, mô hình hay, Đồn Biên phòng Tr’hy đã giúp dân phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

Trước đây, ông Bhlinh Mưr, dân tộc Cơ Tu ở  xã Tr’hy, huyện miền núi Tây Giang, tỉnh Quảng Nam thuộc diện hộ nghèo, gia đình sống chủ yếu dựa vào làm nương rẫy. Được cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Tr’hy hỗ trợ cây giống, bày cách làm làm lúa nước, đến nay gia đình Bhlinh Mưr đã thoát nghèo. Hiện, ông Bhlinh Mưr trồng được 3 sào lúa nước, mỗi năm 2 vụ, năng suất tăng gấp nhiều lần so với làm rẫy. Ngoài ra, ông Bhlinh Mưr còn đầu tư trồng cam vinh, trồng cây mắc ca, nuôi heo đen bản địa và hàng trăm con gà, vịt… Ông Bhlinh Mưr cho biết, nhiều hộ đồng bào trong thôn, bản đã biết phát triển kinh tế nhờ cán bộ, chiến sĩ Biên phòng giúp đỡ.  “Nhờ Bộ đội Biên phòng hướng dẫn cách làm ăn, hỗ trợ con giống để phát triển kinh tế. Hiện nay, gia đình thực hiện mô hình nuôi gà địa phương và trồng cây mắc ca, cây có giá trị kinh tế cao. Từ khi được cán bộ, chiến sĩ Biên phòng hướng dẫn cách chăn nuôi và trồng trọt, từ đó người dân nhận thức được, một số hộ gia đình phát triển tốt.”

Đồn Biên phòng Tr’hy đóng quân trên địa bàn xã Tr’hy, huyện miền núi cao Tây Giang phụ trách 2 xã AXan và Tr’hy với hơn 1.000 hộ dân, chủ yếu là đồng bào Cơ Tu sinh sống. Trước đây, đồng bào nơi biên giới làm ăn theo kiểu tự cung tự cấp, không dám vay vốn để phát triển sản xuất.

Đồn Biên phòng Tr’hy đã phối hợp với địa phương và phân công cán bộ về từng hộ gia đình hướng dẫn bà con chuyển đổi cây trồng, vật nuôi và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vay vốn phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho gia đình. Có vốn, nhiều hộ làm ăn hiệu quả như nuôi bò, nuôi dê, đào ao thả cá, mua máy xay xát. Qua đó, từng bước thay đổi tư duy sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, người dân tự chủ vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng, góp phần xây dựng bản làng biên giới ngày một khởi sắc.

Thượng tá Bùi Văn Đức, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Tr’hy cho biết: “Về vấn đề phát triển kinh tế, giúp bà con nhân dân trên địa bàn đơn vị đóng quân. Trên cơ sở nguồn lực của đơn vị, chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương của 2 xã và tham mưu cho Huyện ủy, UBND huyện ưu tiên hỗ trợ những chương trình về phát triển kinh tế. Đặc biệt, chúng tôi đã hỗ trợ về con giống cho bà con. Chúng tôi xây dựng mô hình điểm về tăng gia sản xuất, vườn, ao chuồng cho bà con tham quan và hướng dẫn cách nuôi trồng để đảm bảo năng suất kinh tế. Bên cạnh đó, hỗ trợ bò giống, nuôi heo đen bản địa, hướng dẫn trồng lúa nước, trồng cây quế và trồng cây dược liệu để giúp bà con làm kinh tế vươn lên thoát nghèo”

Mấy năm trước, đời sống của đồng bào Cơ Tu, Tà Riềng, Giẻ Triêng ở vùng núi tỉnh Quảng Nam còn phụ thuộc vào nương rẫy. Tình trạng thiếu lương thực diễn ra nhiều tháng trong năm, người dân chỉ biết trông chờ gạo cứu trợ của Nhà nước.

Từ ngày Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam phối hợp với các cấp chính quyền địa phương phát triển dự án lúa nước, hướng dẫn nhân dân chuyển đổi sản xuất, bà con từng bước bảo đảm được nguồn lương thực tại chỗ. Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam đã hỗ trợ bà con hơn 1.000 bò giống, heo giống, dê con, heo đen, hướng dẫn thực hiện mô hình trồng sâm xen canh bắp nếp tại các xã vùng biên giới.

Đại tá Hoàng Văn Mẫn, Chính ủy, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam cho biết: Nhiều hộ nghèo còn được giúp kinh phí làm nhà ở, khám bệnh miễn phí. “Ngoài nhiệm vụ quản lý bảo vệ biên giới, Bội đội Biên phòng tỉnh quảng Nam xác định tham gia phát triển kinh tế xã hội ở khu vực biên giới. Hằng năm, Bội đội Biên phòng đều ra chỉ tiêu, mục tiêu để giúp cho các hộ dân khu vực biên giới từng bước được cải thiện. Trong những năm qua, Bội đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam hỗ trợ giúp bà con phát triển kinh tế. Qua đó, bộ mặt đối với nhân dân khu vực biên giới đã thay đổi rõ rệt”.

Từ sự giúp đỡ của Bộ đội Biên phòng và cấp ủy, chính quyền địa phương tỉnh Quảng Nam, bà con vùng biên giới đã dần thay đổi nếp nghĩ, cách làm. Từ đó, xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo rất hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế địa phương.

Khái quát một số đặc điểm về cán bộ cấp chiến lược

 

Thứ nhất, cán bộ cấp chiến lược phải có đạo đức cách mạng trong sáng, dĩ công vi thượng, trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng và Nhân dân, thực sự vì nước vì dân. Cán bộ cấp chiến lược hoàn toàn không có biểu hiện gì dính dáng đến tham nhũng, lợi ích nhóm…

Thứ hai, cán bộ cấp chiến lược phải có trình độ trí tuệ, có tư duy chiến lược. Trình độ bao gồm lý luận Mác –Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn trong lĩnh vực được giao; có khả năng để tham gia hoạch định cương lĩnh đường lối chính sách pháp luật, phải thấy trước vấn đề, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói, người lãnh đạo phải thấy trước vấn đề, không thấy trước vấn đề thì không làm lãnh đạo được.

Thứ ba, cán bộ cấp chiến lược phải có năng lực tổ chức thực tiễn để hiện thực hóa cương lĩnh, đường lối, chính sách, pháp luật. Để làm được điều này, đòi hỏi người đó phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa nói và làm, giữa nhận thức và hành động.

Thứ tư, cán bộ chiến lược phải có phong cách lãnh đạo, làm việc đúng đắn. Phong cách này đòi hỏi gắn với thực tiễn thế nào, chống quan liêu thế nào, chống vô cảm thế nào, gần dân thế nào. Từ phong cách lãnh đạo gắn với nhạy cảm chính trị để củng cố uy tín chính trị với cấp dưới, với Nhân dân. Cán bộ cấp chiến lược phải là người được quần chúng và cấp dưới tín nhiệm mới quy tụ, đoàn kết và lãnh đạo được.

Thứ năm, trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng 4.0 đòi hỏi cán bộ cấp chiến lược phải am hiểu sâu sắc những vấn đề của thời đại, của quốc tế, nhận ra những thuận lợi, khó khăn một cách chủ động để suy nghĩ đường hướng cho đất nước mình, dân tộc mình. Nếu không mở tầm nhìn ra bên ngoài thì đóng góp của cán bộ cấp chiến lược rất hạn chế.

Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp theo tư tưởng V.I.Lênin

 


V.I.Lênin dự báo: “… ngày mai đây của lịch sử toàn thế giới sẽ chính là ngày mà các dân tộc bị bọn đế quốc áp bức được thức tỉnh, sẽ dứt khóat vùng dậy, và bắt đầu một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài và gian khổ để tự giải phóng mình”[1]. Vì vậy, muốn làm cho lực lượng cách mạng vô sản tăng lên gấp bội, nhất thiết phải thực hiện được sự kết hợp chặt chẽ, sự thống nhất cao độ giữa phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản phát triển với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Theo V.I.Lênin, nhiệm vụ của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc là vì sự nghiệp giải phóng của chính bản thân, phải ủng hộ hết sức mình phong trào giải phóng dân tộc, phải đấu tranh chống chủ nghĩa nước lớn, chống chủ nghĩa sô vanh, “chủ nghĩa vệ quốc” của bọn đế quốc phản động. Cách mạng giải phóng dân tộc là đồng minh tự nhiên của phong trào vô sản.

Trong điều kiện cụ thể của cách mạng Nga và cách mạng thế giới đầu thế kỷ XX, đối với vấn đề quan hệ giai cấp và dân tộc, do yêu cầu phải đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc, một trong những kẻ thù nguy hiểm nhất của chủ nghĩa cộng sản, V.I.Lênin đã tập trung làm nổi bật nhân tố giai cấp, nhân tố quốc tế. Điều này hoàn toàn đúng. Song, điều kiện ấy, không tránh khỏi có những trường hợp vấn đề dân tộc chưa được đề cập đúng mức. Chính V.I.Lênin sau đó đã nâng vấn đề dân tộc lên, làm sâu sắc thêm quan điểm giai cấp, điều chỉnh một số nhận định cho phù hợp với điều kiện phong trào giải phóng dân tộc đã phát triển thành cao trào rộng lớn.



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 45, “Về vấn đề dân tộc” (1922), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.414.

Đấu tranh chống lại những quan điểm phủ nhận tính chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Cần phải tăng cường đấu tranh chống lại sự xuyên tạc nguồn gốc, bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội. Công khai đòi “phi chính trị hóa” quân đội, đòi bỏ hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị trong Quân đội; kích động, chia rẽ sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ quân đội, đoàn kết thống nhất Quân đội với các lực lượng vũ trang, với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuyên truyền luận điệu “quân đội là của dân tộc”, “quân đội là của nhà nước”, “quân đội chỉ trung thành với nhân dân, với Tổ quốc chứ không phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng”, kêu gọi xây dựng “quân đội nhà nghề”. Thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kích động Quân đội “trở về với dân tộc”, chống lại sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Đấu tranh chống lại sự xuyên tạc lịch sử, truyền thống cách mạng, tạo dựng, bịa đặt tình hình thực tiễn


Cần phải đấu tranh chống lại sự xuyên tạc lịch sử, truyền thống cách mạng, tạo dựng, bịa đặt tình hình thực tiễn nhất là về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam. Nó xuyên tạc, bôi xấu lịch sử đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, coi đấu tranh giải phóng dân tộc là sai lầm, đẩy đất nước vào chiến tranh, xung đột, “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn”, “đất nước chia cắt”, gia đình ly tán; phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền lãnh thổ, biên giới, hải đảo. Nó hạ thấp thành quả xây dựng đất nước, phát triển xã hội; tạo dựng chứng cớ, vu cáo Việt Nam không có tự do báo chí, vi phạm các quyền dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo; đất nước không có dân chủ, không có quyền con người; kì thị, đàn áp dân tộc thiểu số, không có tự do về tôn giáo; kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Chuyên chính vô sản và dân chủ vô sản theo tư tưởng của V.I.Lênin

 


V.I.Lênin coi chuyên chính vô sản là “hòn đá thử vàng” đối với những người cộng sản chân chính. Trong các tác phẩm của mình, V.I.Lênin đề cập đến chuyên chính vô sản dưới nhiều góc độ, nhằm làm nổi bật bản chất, chức năng, nhiệm vụ của chuyên chính vô sản.

Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, V.I.Lênin đã đề cập một cách toàn diện, sâu sắc về chuyên chính vô sản; đã đấu tranh phê phán những quan điểm cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác về cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản; tổng kết kinh nghiệm lịch sử các cuộc đấu tranh của công nhân các nước, nhất là các nước châu Âu trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.

Thực chất của chuyên chính vô sản, theo V.I.Lênin đó là việc phải “tổ chức đội tiền phong những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp bức”. Người còn nhấn mạnh đến nguồn gốc, sức mạnh của chuyên chính vô sản dứt khóat đó không chỉ phải là bạo lực mà là ở tính tổ chức, tính kỷ luật của giai cấp công nhân.

Về nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, V.I.Lênin cho rằng việc thủ tiêu mọi chế độ người bóc lột người, đó là nhiệm vụ đầu tiên, cơ bản và tiếp theo là nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là hai nhiệm vụ hết sức nặng nề và nó phải được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng. Việc thực hiện hai nhiệm vụ ấy đòi hỏi phải có một chế độ quản lý mới của giai cấp công nhân. Nội dung của chế độ quản lý ấy phải phản ánh được tính chất nhân dân và phải xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin chú trọng vấn đề thực hiện nền chuyên chính vô sản với mục đích vừa bảo vệ những thành quả cách mạng, vừa xây dựng thành công xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin tiếp tục phát triển, làm sâu sắc thêm những vấn đề chuyên chính vô sản đã được trình bày trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”. Những tư tưởng về chuyên chính vô sản trong giai đoạn giai cấp công nhân đã giành được chính quyền được V.I.Lênin trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Bàn về chuyên chính vô sản” viết năm 1919.

V.I.Lênin chỉ rõ vai trò của chuyên chính vô sản trong công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đấu tranh giữ vững những thành quả của cách mạng. Về hình thức của chuyên chính vô sản, nếu như trong giai đoạn trước Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin dự đoán nó sẽ rất đa dạng, muôn hình muôn vẻ, thì lúc này Ông chỉ rõ chính quyền Xô viết với những đặc trưng của nó, đó chính là một hình thức của chuyên chính vô sản. Về bản chất và nội dung của chuyên chính vô sản đã có sự cụ thể hóa gắn liền với vai trò lãnh đạo của đảng của giai cấp công nhân.

V.I.Lênin chỉ rõ rằng vấn đề đấu tranh giai cấp luôn luôn gắn liền với chuyên chính vô sản. Sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền thì thời kỳ này chính là thực hiện chuyên chính vô sản. Do đó, thái độ xem xét về chuyên chính vô sản được đặt lên hàng đầu. Nó trở thành một tiêu chuẩn - tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu để phân biệt những người cộng sản chân chính với những kẻ giả danh Mácxit “chuyên chính vô sản là hòn đá thử vàng”.

Về thực chất của chuyên chính vô sản, sau khi phê phán, bác bỏ quan điểm của bọn cơ hội, xét lại, cho rằng chuyên chính vô sản thực chất chỉ là bạo lực, V.I.Lênin cho rằng: Chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột và cũng không phải chủ yếu là bạo lực. Cơ sở kinh tế của bạo lực cách mạng đó là, cái bảo đảm sức sống và thắng lợi của nó chính là việc giai cấp vô sản đưa ra được một kiểu tổ chức lao động xã hội cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đây là nguồn sức mạnh, là điều bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản.

Cũng trong tác phẩm “Bàn về chuyên chính vô sản” khi nói về nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, V.I.Lênin chỉ rõ: dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân đấu tranh để giải phóng mình về kinh tế và chính trị. Sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân đấu tranh để giữ chính quyền, đập tan sự chống phá của kẻ thù và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, chuyên chính vô sản lúc này được V.I.Lênin khái quát: 1. trấn áp sự kháng cự của giai cấp bóc lột; 2. nội chiến; 3. trung lập hóa giai cấp tiểu tư sản, đặc biệt là nông dân; 4. sử dụng giai cấp tư sản; 5. bồi dưỡng tinh thần kỷ luật mới.

Điểm nổi bật trong tư tưởng về chuyên chính vô sản của V.I.Lênin trong giai đoạn này là nêu lên nhiều khía cạnh của chuyên chính vô sản. Chuyên chính vô sản là tiếp tục của cuộc đấu tranh giai cấp trong hoàn cảnh mới, điều kiện mới. Đó là cuộc đấu tranh kiên trì, có đổ máu và không đổ máu, bạo lực và hòa bình, bằng quân sự và bằng kinh tế, bằng giáo dục và bằng hành chính, chống những thế lực và những tập tục của xã hội cũ.

Chuyên chính vô sản tồn tại và không ngừng được củng cố vững chắc trên cơ sở của khối đoàn kết liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân. Chính vì vậy V.I.Lênin khẳng định rằng liên minh công nông là một nguyên tắc và là nguyên tắc cao nhất của chuyên chính vô sản. V.I.Lênin nhấn mạnh liên minh giai cấp vô sản với nông dân và các tầng lớp lao động khác, đặc biệt là trí thức. Ông viết: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối nào đứng vững được”[1].

Điều cốt yếu trong nền chuyên chính vô sản, có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của nó trong suốt quá trình cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đó là sự lãnh đạo của đảng, của giai cấp công nhân. Đảng đó phải là một đảng được rèn luyện thử thách trong đấu tranh cách mạng. Đảng đó phải không ngừng rèn luyện, được sự tín nhiệm của tất cả giai cấp công nhân và nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân lao động. Có được những phẩm chất ấy, đảng mới lãnh đạo chuyên chính vô sản hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ của mình.

Theo V.I.Lênin, cốt lõi nhất của chuyên chính vô sản là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị của mình đối với toàn xã hội thông qua chính đảng của mình. Đó là sự lãnh đạo không chia sẻ cho bất kỳ giai cấp nào. Chính điều này đã quy định sự khác nhau về bản chất giữa chuyên chính vô sản và chuyên chính tư sản. Chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực, không phải chủ yếu là bạo lực, mà chủ yếu là tổ chức, xây dựng kinh tế. Chuyên chính vô sản không phải chỉ là và chủ yếu là trấn áp mọi sự phản kháng của kẻ thù giai cấp, mà là sự mở rộng dân chủ đối với người bị áp bức. Tuy nhiên, phải hiểu rằng, mặc dù không phải là chức năng cơ bản, chức năng bạo lực trấn áp nhằm chống lại sự phản kháng của kẻ thù giai cấp, chống lại công cuộc tổ chức, xây dựng xã hội mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn hết sức cần thiết.



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 40, Diễn văn tại Đại hội II toàn Nga của các cán bộ ngành y tế và vệ sinh”, (1920), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.218

Đấu tranh chống lại quan điểm phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

 

Các thế lực thù địch thường hay công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho rằng dẫu quá khứ có một số việc Đảng làm được, nhưng nay sang thời kỳ Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nước. Nó bác bỏ Cương lĩnh, đường lối, quan điểm và các nguyên tắc cơ bản về chính trị, tư tưởng và tổ chức hoạt động của Đảng; phê phán Đảng là độc tài, độc đoán, thủ tiêu dân chủ và động lực phát triển đất nước; đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đang nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Nó mô tả Đảng ta là một bộ máy tham nhũng, lợi ích nhóm, nguyên nhân của xã hội mất dân chủ, tự do; tung tin bịa đặt trong Đảng có phe này, phái nọ; bịa đặt, nói xấu lãnh đạo cấp cao, vu cáo cán bộ của Đảng và Nhà nước; do đó cần phải cảnh giác, phê phán, đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cảnh giác trước sự phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Cần phải đấu tranh chống lại các thế lực thù địch khi nó phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phủ định lý tưởng dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; phủ nhận chủ nghĩa xã hội hiện thực, bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; coi thực chất chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chỉ là khẩu hiệu giả dối, “đỏ vỏ, xanh lòng”; không có cái gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực chất Việt Nam đã đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nó công khai ca ngợi các thuyết tư sản, tán dương chế độ tư bản chủ nghĩa; chỉ ra Việt Nam tất yếu phải thực hiện tam quyền phân lập, đa nguyên kinh tế tất yếu phải đa nguyên chính trị, đa đảng, xã hội dân sự. Nó hướng lái, kêu gọi Việt Nam không nên tôn thờ một chủ nghĩa nào, thế giới hòa đồng thì nên hòa nhập vào thế giới tư bản; tự giác khuôn theo con đường chủ nghĩa tư bản thì đến đích dân giàu, nước mạnh nhanh hơn.

Cảnh giác trước sự phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch


Cần cảnh giác khi Nó cho rằng Hồ Chí Minh “nhập khẩu” chủ nghĩa Mác vào Việt Nam; thực chất là người dân tộc chủ nghĩa; truyền bá mù quáng, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm phương tiện chứ không có tư tưởng cao siêu; đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm có tính chất lịch sử đối với dân tộc; “không có gì quý hơn độc lập tự do” là tư tưởng phi nhân tính, tác hại lâu dài đến dân tộc, cần được thay thế bằng chủ nghĩa khác - “chủ nghĩa dân tộc hài hòa và đại đồng”. Nó phủ nhận tư tưởng, đạo đức, bôi nhọ nhân cách, cuộc đời, sự nghiệp cách mạng vì dân, vì nước, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hoàn cảnh lịch sử châu Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII

 


Sự biến đổi của nền sản xuất xã hội châu Âu thế kỷ XV đến thế XVII tất yếu dẫn đến sự biến đổi cơ cấu xã hội, nhất là cơ cấu xã hội giai cấp và các quan hệ chính trị - xã hội. Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện và từng bước phát triển ở châu Âu, nhất là ở nước Anh. Ở châu Âu lúc này, xét trên phương diện kinh tế thì quan hệ sản xuất phong kiến đã lỗi thời và giai cấp phong kiến (quí tộc, địa chủ) đã bước vào thời kỳ suy tàn, trở thành lực cản của tiến bộ xã hội. Trong xã hội nổi lên các giai giai tầng như quí tộc phong kiến, tăng lữ, thương nhân, tư sản mới, thợ thủ công, nông dân, thị dân, tầng lớp lang thang... Mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp ngày càng gay gắt, trong đó nổi lên mâu thuẫn giữa quí tộc phong kiến với tư sản mới, quí tộc phong kiến với nông dân, tư sản mới với tiền vô sản.

Giai cấp tư sản mới nảy sinh từ nhiều tầng lớp xã hội như quí tộc, địa chủ tư sản hóa, chủ xưởng, thợ cả, thương nhân, chủ cho vay nặng lãi, chủ công trường thủ công... cũng đang trong quá trình biến đổi phức tạp, chưa ổn định. Mặc dù giai cấp tư sản đã trở thành một thế lực kinh tế mạnh, đang không ngừng phát triển, đang khát khao quyền lực chính trị song lúc này vẫn còn non kém, thiếu kinh nghiệm chính trị, chưa giành được quyền thống trị về chính trị.

Tầng lớp vô sản (công nhân công trường thủ công - tầng lớp vô sản tiền thân) lúc này cũng đang từng bước hình thành, chưa thực sự là một giai cấp. Họ xuất thân từ tất cả các giai tầng xã hội trước những tác động sâu sắc của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang hình thành: nông dân, thợ thủ công, dân nghèo thành thị, tiểu thương, tiểu chủ... bị phá sản. Một bộ phận lớn làm thuê trong các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa, một bộ phận không nhỏ không kiếm được việc làm, bị sa thải, thất nghiệp... phải sống lang thang, nay đây mai đó, thậm chí bị sa vào các tệ nạn xã hội trở thành tầng lớp vô sản lưu manh. Giai cấp nông dân, một bộ phận bị quá trình tích luỹ ban đầu của chủ nghĩa tư bản đẩy ra khỏi ruộng vườn, làng xã, một bộ phận khác trở thành người nông nô mới, bị cả quí tộc, phong kiến và tư sản bóc lột.

Ở Anh năm 1640, nổ ra cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Cuộc cách mạng tư sản tuy giành được thắng lợi song không triệt để. Nước Anh tiếp đó lâm vào 2 cuộc nội chiến giữa tư sản mới được nông dân, thợ thủ công ủng hộ với quí tộc phong kiến và giáo hội vào các năm (1642-1646) và (1648-1649). Năm 1648, phái “Nghị viện” thắng phái Bảo Hoàng thành lập chế độ cộng hòa.

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, ở châu Âu xuất hiện hai phong trào lớn: Phong trào văn hóa phục hưng, mở đầu ở Italia sau đó lan rộng ra toàn châu Âu; phong trào cải cách tôn giáo mở đầu ở Đức và đạt đến đỉnh cao ở Anh dẫn đến hình thành Anh giáo. Trong các phong trào văn hóa đó, xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, khoa học và nghệ thuật. Trong số đó có các đại biểu tiêu biểu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng là Tômát Morơ (Anh), Campanenla (Italia) và Uynxtenli (Anh).