Thứ Hai, 3 tháng 3, 2025

Từ bài học trong Chiến dịch Tây Nguyên, quyết tâm xây dựng thế trận phòng thủ Quân khu 5 vững chắc


LTS: Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, ngày 4-3-1975, bộ đội ta chính thức nổ súng mở màn Chiến dịch Tây Nguyên. Thắng lợi vang dội của chiến dịch mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đã tạo thế và lực để quân và dân ta giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025), Báo Quân đội nhân dân mở Chuyên mục "50 năm Đại thắng mùa Xuân 1975". Tòa soạn rất mong các đồng chí lãnh đạo, các vị tướng lĩnh, nhân chứng lịch sử, chuyên gia và cộng tác viên gửi bài viết cho chuyên mục này.

Chiến thắng Tây Nguyên làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng và thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành tổng tiến công trên toàn miền Nam, để lại nhiều bài học trong xây dựng thế trận phòng thủ Quân khu 5 ngày nay.

Xây dựng khu vực phòng thủ có tiềm lực, sức mạnh toàn diện, thế trận liên hoàn, vững chắc

Để làm nên Chiến thắng Tây Nguyên, Đảng ta đã phát huy cao độ sức mạnh chính trị-tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, nêu cao ý chí quật cường, đoàn kết một lòng để giành chiến thắng. Công tác tổ chức, chuẩn bị, bảo đảm các mặt, đặc biệt là hậu cần-kỹ thuật; xây dựng lực lượng, tạo lập thế trận, tạo thế, tranh thời, lập mưu đã được tiến hành một cách chu đáo, chặt chẽ. Thường vụ Khu ủy Khu 5 và tỉnh ủy các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum huy động mọi khả năng của địa phương để phục vụ chiến dịch. Sự đóng góp, ủng hộ to lớn của địa phương là một trong những nguyên nhân thắng lợi của chiến dịch.

Ngày nay, trong xây dựng thế trận phòng thủ quân khu, thành phần đầu tiên là khu vực phòng thủ (KVPT) cấp tỉnh. Cần chú trọng củng cố, tăng cường tiềm lực chính trị-tinh thần, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống; phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lợi chính đáng, hợp pháp của nhân dân; quán triệt sâu sắc phương châm: Dựa vào dân, “dân là gốc”, là trung tâm, là chủ thể; khơi dậy tinh thần yêu nước, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ; xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, yên dân là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Từ bài học trong Chiến dịch Tây Nguyên, quyết tâm xây dựng thế trận phòng thủ Quân khu 5 vững chắc

Trung tướng Thái Đại Ngọc kiểm tra, động viên Hải đội dân quân thường trực (Bộ CHQS TP Đà Nẵng). Ảnh: VĂN CHUNG

 

Về kinh tế, không thể có tiềm lực mạnh trong nền kinh tế kém phát triển. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để phát triển kinh tế. Xây dựng tiềm lực kinh tế, tạo nguồn lực vật chất ngày càng dồi dào cho các hoạt động của KVPT, phòng thủ quân khu. Phát triển kinh tế phải tập trung phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Chú trọng nghiên cứu, điều chỉnh phân bố dân cư, sắp xếp lại các ngành nghề sản xuất, đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn. Quy hoạch phát triển các ngành kinh tế-xã hội chú trọng tính lưỡng dụng. Các dự án phát triển kinh tế-xã hội phải được thực hiện đúng quy trình, chặt chẽ, bảo đảm có ý kiến thẩm định về quốc phòng, an ninh trước khi triển khai thực hiện tại địa phương.

Về thế trận quân sự, trong Chiến dịch Tây Nguyên, ta đã tạo dựng được thế trận hiểm hóc, tổ chức phối hợp tác chiến nhịp nhàng giữa các lực lượng theo một kế hoạch thống nhất, góp phần làm nên thắng lợi. Ngày nay, xây dựng thế trận quân sự trong KVPT gồm các thành phần: Thôn, làng, tổ dân phố, khu dân cư, khối phố, các đơn vị kinh tế; tổ chức các khu vực bám trụ bí mật; KVPT then chốt, căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, hậu cần-kỹ thuật; khu sơ tán; sở chỉ huy các cấp; tổ chức các điểm tựa, cụm điểm tựa, khu vực phòng ngự, trận địa chiến đấu; các công trình chiến đấu tuyến đảo gần bờ... phải bảo đảm phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh trên địa bàn. Xuất phát từ vị trí địa lý chiến lược, đặc điểm địa hình của Quân khu 5, phải chủ động chuẩn bị thế trận quân sự trong KVPT, phòng thủ quân khu, tập trung chống địch tiến công chia cắt chiến lược theo hướng Đông-Tây trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (trong tương lai), đòi hỏi phát huy tối đa khả năng tác chiến độc lập của lực lượng tại chỗ, tạo thuận lợi cho phối hợp, hiệp đồng, cơ động, chi viện, sẵn sàng xử lý mọi tình huống.

Về xây dựng lực lượng, trên cơ sở quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22-9-2008 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành KVPT vững chắc trong tình hình mới; Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tập trung triển khai xây dựng lực lượng quốc phòng, nòng cốt là LLVT. Xây dựng lực lượng thường trực “tinh, gọn, mạnh”; xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Lực lượng dự bị động viên hùng hậu, đủ số lượng, chất lượng cao, đúng cơ cấu thành phần, trình độ quân sự, chuyên môn giỏi. Lực lượng dân quân tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”. LLVT giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên địa bàn Quân khu.

Xây dựng, phát triển các khu kinh tế - quốc phòng ở những địa bàn trọng điểm trên tuyến biên giới, biển, đảo

Xây dựng thế trận phòng thủ quân khu gồm nhiều thành phần; trong đó, các khu kinh tế-quốc phòng (KT-QP) là một thành phần quan trọng. Hiện nay, Quân khu có 3 đoàn KT-QP (516, 737, 207) và 2 công ty (Công ty Cà phê 15, Công ty TNHH MTV Hữu Nghị Nam Lào). Các đơn vị đứng chân ở những địa bàn trọng điểm trên tuyến biên giới, biển đảo, có vị trí quan trọng trong phòng thủ quân khu, KVPT các địa phương.

Quá trình xây dựng các khu KT-QP được Nhà nước quan tâm đầu tư, kết hợp huy động vốn của địa phương và vốn của các đơn vị, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các đoàn KT-QP và các công ty quan tâm đến việc bố trí lại dân cư, hình thành các cụm làng, xã biên giới, thực hiện “3 bám”, “4 cùng”, làm tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, vừa thực hiện nhiệm vụ sản xuất, vừa xây dựng vành đai biên giới bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, nhận thức của người dân trong chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước được nâng cao, từng bước đẩy lùi các tệ nạn, hủ tục, thay đổi tập quán canh tác, sản xuất lạc hậu. Thế trận quốc phòng toàn dân được tăng cường, an ninh chính trị trên địa bàn được giữ vững, cơ sở chính trị được củng cố. Hạ tầng được đầu tư xây dựng như đường giao thông nông thôn, thủy lợi, mạng lưới điện, nước sạch, trường học, bệnh xá... mang lại lợi ích thiết thực cho người dân. Các dự án phát triển sản xuất đã góp phần giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân, phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Đặc biệt, tại Khu KT-QP Ea Súp (Đắk Lắk), tỷ lệ hộ nghèo chiếm gần 90% số hộ đồng bào dân tộc vùng dự án (năm 2015) đã giảm xuống còn 59,66% (năm 2024). Các đoàn KT-QP của Quân khu đã thực sự tạo dựng được lòng tin với cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân trên địa bàn đứng chân; uy tín của đơn vị, của LLVT Quân khu, của Quân đội ngày càng được nâng cao.

Thực tiễn cho thấy, hoạt động tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế không tách rời nhiệm vụ xây dựng lực lượng, tăng cường phòng thủ. Trong giai đoạn cách mạng mới, xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, LLVT Quân khu tiếp tục thực hiện tốt chức năng đội quân lao động sản xuất. Các đơn vị cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương vừa chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, tạo việc làm, sinh kế bền vững cho nhân dân, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, vừa tham gia quy hoạch, bố trí lại dân cư, hình thành các điểm, cụm dân cư tập trung ở những địa bàn xung yếu, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Tăng cường đối ngoại quốc phòng, đối ngoại nhân dân, thực hiện bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, của Chiến dịch Tây Nguyên nói riêng có liên quan mật thiết đến mối quan hệ đoàn kết, "chung lưng đấu cật" chống kẻ thù chung của 3 dân tộc Việt Nam-Lào-Campuchia. Đối với Quân khu 5-địa bàn có đường biên giới chung với hai nước bạn, có vị trí quan trọng trong xây dựng không gian chiến lược Việt Nam-Lào-Campuchia, trong tình hình mới, cần phát huy hơn nữa truyền thống lịch sử quan hệ đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa 3 Đảng, 3 nước, giữa quân và dân Quân khu 5 với quân và dân Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện với Lào; tăng cường mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài với Campuchia.

Ban Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 5, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thường xuyên quán triệt, thực hiện nghiêm đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng; thực hiện tốt các mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, yêu cầu, nhiệm vụ công tác đối ngoại; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương trên địa bàn, các cơ quan chức năng trong và ngoài Quân đội, triển khai toàn diện, có hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng.

Trên tuyến biên giới phía Tây, các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, những hộ dân sống gần đường biên giới... có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ chủ quyền, an ninh “phên giậu” của đất nước. Tuy nhiên, đời sống của dân cư khu vực biên giới còn nghèo, lạc hậu, trình độ dân trí thấp, dễ bị các thế lực thù địch dụ dỗ, lôi kéo. Do vậy, một trong những vấn đề cốt lõi là phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân; xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao dân trí vùng biên giới; tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nhân dân đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới; tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân hai bên biên giới xuất, nhập cảnh, làm ăn, thăm thân; đấu tranh chống lợi dụng quan hệ thân tộc của cộng đồng người dân tộc thiểu số hai bên biên giới để tuyên truyền, móc nối, gây chia rẽ mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Việt Nam-Lào-Campuchia; cùng nhau xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên là thắng lợi của sự thống nhất giữa ý Đảng-lòng dân, đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích. Chiến dịch Tây Nguyên đã để lại nhiều bài học lịch sử có giá trị sâu sắc trong xây dựng thế trận phòng thủ Quân khu, nhất là xây dựng KVPT có tiềm lực, sức mạnh toàn diện, thế trận liên hoàn, vững chắc, chống chia cắt chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; xây dựng, phát triển các khu KT-QP ở những địa bàn trọng điểm trên tuyến biên giới, biển, đảo, LLVT Quân khu 5 tiếp tục thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; đồng thời, phát huy truyền thống đoàn kết quốc tế cao cả, thủy chung son sắt với quân và dân hai nước bạn Lào và Campuchia, tăng cường đối ngoại quốc phòng, đối ngoại nhân dân, thực hiện bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Trung tướng THÁI ĐẠI NGỌC, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, nguyên Tư lệnh Quân khu 5

BÁO QĐND


Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025

Ngày 3-3, trong không khí vui tươi, phấn khởi và tiếng quân nhạc hào hùng, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trong toàn quân đã tham gia Lễ ra quân huấn luyện năm 2025. Tại các điểm diễn ra lễ ra quân huấn luyện, ánh mắt cán bộ, chiến sĩ ngời lên quyết tâm giành thành tích cao trong mùa huấn luyện mới

Các nội dung: Duyệt đội ngũ, trình diễn kỹ năng chiến đấu, võ thuật, bắn súng, vượt vật cản, thi đấu thể thao... được các đơn vị thực hiện thuần thục, chuẩn xác và đẹp mắt. Cùng với đó là hàng nghìn mô hình, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, thành quả tăng gia sản xuất cũng được trưng bày, thể hiện tinh thần chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của bộ đội...

Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025
Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trao cờ Đơn vị huấn luyện giỏi năm 2024 của Bộ Quốc phòng tặng Trung đoàn 285, Sư đoàn 363, Quân chủng Phòng không - Không quân.
Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025

Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân uỷ Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và lãnh đạo Quân chủng Hải quân trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 147 (Vùng 1, Quân chủng Hải quân) tại lễ ra quân huấn luyện.

Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025

Đoàn Nghi lễ Quân đội (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) duyệt đội ngũ. Ảnh: NGUYỄN THĂNG

Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025
Duyệt đội ngũ trong lễ ra quân huấn luyện ở Lữ đoàn 147 (Vùng 1, Quân chủng Hải quân).
Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025
Nữ quân nhân Lữ đoàn 603 (Quân khu 3) thể hiện ca khúc chào mừng lễ ra quân huấn luyện của đơn vị.
Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025
Chiến sĩ mới Tiểu đoàn 9 (Lữ đoàn Tăng thiết giáp 416, Quân khu 9) chuẩn bị mô hình, vật chất huấn luyện.
Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025
Chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 141 (Sư đoàn 3, Quân khu 1) trình diễn nhảy qua vòng lửa.
Toàn quân sôi nổi ra quân huấn luyện năm 2025
Niềm vui của chiến sĩ trẻ trong ngày ra quân huấn luyện.

BÁO QĐND

“Lưỡng quốc tướng quân" Nguyễn Sơn, vị tướng đa tài

Năm 1948, trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng chí Nguyễn Sơn (tên thật là Vũ Nguyên Bác) được phong hàm Thiếu tướng. Là một người đa tài, ông đã để lại nhiều dấu ấn trong cuộc đời cách mạng ở cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc.

Nguyễn Sơn quê gốc của ông ở làng Kiêu Kỵ, Gia Lâm nhưng sinh ra và lớn lên ở phố Yên Ninh, Hà Nội. Được trui rèn, dạy bảo trong một gia đình có truyền thống hiếu học và tinh thần yêu nước nên Vũ Nguyên Bác được giác ngộ cách mạng từ khá sớm. Năm 1925, vừa bước vào tuổi 17, Nguyên Bác đã được người của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Hà Nội lựa chọn và bí mật đưa sang Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Nguyên Bác được đổi tên là Lý Anh Tự và được tham dự khóa học chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Mùa xuân năm 1927, khóa học kết thúc, Lý Anh Tự được Nguyễn Ái Quốc gửi vào học ở Trường Quân sự Hoàng Phố - một ngôi trường đào tạo cán bộ quân sự khá nổi tiếng của Quốc dân Đảng lúc bấy giờ.

Với tố chất thông minh, Lý Anh Tự đã tốt nghiệp khóa học xuất sắc và được giữ lại trường. Tháng 8-1927, Lý Anh Tự bí mật tham gia Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1929, cuộc khởi nghĩa Quảng Châu bùng nổ, anh đã cùng một số giáo viên của trường Hoàng Phố tích cực tham gia. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, do bị lộ tung tích, để tránh bị khủng bố, Lý Anh Tự tìm đường trốn về Thái Lan. Trong thời gian ngắn tại đây, Lý Anh Tự đã tích cực vận động và tổ chức cho bà con Việt kiều tham gia cách mạng.

“Lưỡng quốc tướng quân" Nguyễn Sơn, vị tướng đa tài
Chân dung tướng Nguyễn Sơn. Ảnh tư liệu

Năm 1929, Lý Anh Tự quay trở lại Quảng Đông, Trung Quốc tham gia Hồng quân với cái tên mới là Hồng Thủy. Chỉ trong vòng 3 năm, Hồng Thủy đã lần lượt được giao các trọng trách: Ủy viên chính trị Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Hồng quân 428, Chính ủy Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Hồng quân 48, Chính ủy Trung đoàn, rồi Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 34, Trưởng khoa Văn hóa và Tuyên truyền Trường Quân chính Trung ương của Hồng quân... Hồng Thủy còn là người sáng lập đoàn kịch nói đầu tiên của Hồng quân công nông.

Tháng 1-1934, tại Đại hội đại biểu công nông binh toàn quốc lần thứ hai, Hồng Thủy được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương nước Cộng hòa Xô viết Trung Hoa do Mao Trạch Đông làm Chủ tịch.

Mùa thu năm ấy, Hồng Thủy là một trong 4 người nước ngoài và là người Việt Nam duy nhất tham gia cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân. Nhưng trớ trêu thay, trong cuộc trường chinh này, Hồng Thủy bị vu cáo là "gián điệp quốc tế". Ông bị khai trừ khỏi Đảng và suýt bị ám hại. Trong lúc nguy nan, Hồng Thủy được những người bạn tốt như Chu Đức và Lưu Bá Thừa che chở, bảo lãnh nên thoát nạn.

Năm 1937, Hồng Thủy được Bát Lộ Quân cử đi chỉ huy xây dựng căn cứ kháng Nhật ở vùng Đông Bắc, tỉnh Sơn Tây. Trong thời gian này, ông lần lượt trải qua các chức vụ: Bí thư Khu ủy 4 Ngũ Đài, Phó bí thư Đảng ủy khu Đông Bắc Sơn Tây, Tổng phụ trách lớp tập huấn cán bộ ở Gia Trang... Với tính cách cương trực, thẳng thắn, trung thực, Hồng Thủy đã phê phán gay gắt lối ăn chơi sa đọa, chuyên quyền độc đoán của Diên Tích Sơn, một "lãnh chúa" ở Sơn Tây. Vì vậy mà ông bị hiềm khích và một lần nữa lại bị vu oan, bị khai trừ ra khỏi Đảng.

“Lưỡng quốc tướng quân" Nguyễn Sơn, vị tướng đa tài
Nguyễn Sơn và người vợ Trung Quốc Trần Kiếm Qua. Ảnh tư liệu 

Cuối năm 1938, Hồng Thủy được khôi phục Đảng tịch và được điều về làm Tổng biên tập Báo Kháng địch của Biên khu Tấn-Sát-Ký. Sau đó về công tác tại Trường Đại học Quân chính kháng Nhật. Tháng 8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam bùng nổ và giành được thắng lợi. Tin này làm Hồng Thủy vỡ òa, nhất là khi biết tin nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Lúc này mặc dù đang theo học tại Trường Đảng Trung ương ở Diên An nhưng Hồng Thủy kiên quyết xin được trở về Tổ quốc ngay. Được sự chấp thuận của lãnh đạo hai Đảng, từ Diên An, Hồng Thủy đáp máy bay về Trùng Khánh, rồi từ đó đi đường bộ về Hà Nội. Để giữ bí mật, ông đổi tên mới là Nguyễn Sơn.

Thời điểm Nguyễn Sơn đặt chân lên đất mẹ thì tiếng súng kháng Pháp đã vang lên ở Nam Bộ. Quân Pháp sau khi đánh chiếm Sài Gòn đang kéo quân ra Nha Trang. Mặt trận Nha Trang - Khánh Hòa "căng như dây đàn". Phải chặn đứng bước tiến của quân Pháp. Theo đề nghị của Võ Nguyên Giáp, ngày 16-7-1946, Nguyễn Sơn được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giao làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Trung Bộ. Đây là một vinh dự và trọng trách trách lớn, nhưng cũng đồng thời cho thấy sự tín nhiệm của Đảng, Chính phủ và quân đội dành cho Nguyễn Sơn. Trên cương vị mới, Nguyễn Sơn đã cùng tập thể Ủy ban lãnh đạo quân và dân Nam Trung Bộ ngăn chặn thành công cuộc tiến công của quân Pháp, làm thất bại âm mưu của chúng đánh ra địa bàn chiến lược này, đặc biệt là vùng tự do Liên khu 5. Là một nhà quân sự dày dạn kinh nghiệm, để có thể trường kỳ kháng chiến, Nguyễn Sơn đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ chỉ huy. Ông chủ trương giao cho các chi đội của các tỉnh tự tổ chức các khóa đào tạo cán bộ cấp tiểu đội; còn Ủy ban Kháng chiến miền Nam tổ chức trường chính quy đào tạo cán bộ trung đội trở lên. Trường Lục quân trung học Quảng Ngãi là một trong số đó. Ông còn chủ trương tập trung "rèn cán, chỉnh quân" qua thực tế chiến đấu.

Giữa năm 1947, chiến sự leo thang ác liệt ở chiến trường Bình Trị Thiên, Nguyễn Sơn lại được điều về làm Khu trưởng Liên khu 4. Tại đây, trên cương vị mới, Nguyễn Sơn đã có nhiều cống hiến quan trọng trong việc đưa cuộc kháng chiến trên địa bàn vượt qua được thời kỳ "bĩ cực", giúp các tỉnh ở Liên khu 4 xây dựng được các đơn vị chủ lực. Ông trực tiếp chỉ huy tiêu diệt đồn Troóc, khai thông đường liên lạc từ cơ quan Tổng hành dinh vào mặt trận Bình-Trị-Thiên và vào Liên khu 5. Khi mặt trận Huế bị vỡ, ông chủ trương, một mặt tổ chức lực lượng ngăn chặn địch, không cho chúng nống lấn; mặt khác tích cực xây dựng các tỉnh phía bắc liên khu thành hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến. Để có nguồn cán bộ bổ sung kịp thời cho mặt trận, ông cho thành lập ngay trường Quân chính của liên khu. Nguyễn Sơn vốn nổi tiếng là người đặc biệt quan tâm đến công tác luyện quân. Ông có sáng kiến đưa ra hình thức huấn luyện độc đáo là "Đại đội tập". Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đánh giá cao hình thức huấn luyện sáng tạo này: "Trong phong trào luyện quân lập công, Nguyễn Sơn đã tổ chức thành công Đại đội tập lôi cuốn cả quân đội và nhân dân". Thời gian này, ông còn biên soạn và cho phổ biến cuốn "Dân quân - Một lực lượng chiến lược" làm tài liệu bồi dưỡng phát triển lực lượng dân quân-du kích.

Nguyễn Sơn là người đa tài. Dưới sự chỉ huy của ông, Liên khu 4 không chỉ được xây dựng thành một hậu phương vững mạnh, mà còn là một trung tâm văn hóa lớn. Dưới "trướng" của ông đã thu hút được nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi như: Đặng Thai Mai, Hữu Loan, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Sĩ Ngọc... Chính ông cũng là người đề xuất mở Lớp văn hóa kháng chiến và cho mời nhiều nhà văn hóa lớn về giảng dạy. Ông cũng cho thành lập Báo Vệ quốc quân Khu 4 và các đoàn văn công.

Năm 1948, trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, Nguyễn Sơn được phong hàm Thiếu tướng. Là người gần gũi và rất am hiểu tính cách của Hồng Thủy-Nguyễn Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi cho ông một tấm thiệp nhỏ, trên đó có mấy câu: "Tặng Sơn đệ: Đảm dục đại/ Tâm dục tế/ Trí dục viên/ Hạnh dục phương”. (Tạm dịch là: Cái gan cần phải lớn. Tâm nên tế nhị, chín chắn. Trí vẹn toàn. Hạnh phải đầy đủ, thẳng ngay). Nhận được thiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Sơn cảm động và vui vẻ cho tổ chức lễ tấn phong một cách trang nghiêm và trọng thể.

Cuối năm 1949, Nguyễn Sơn rời Liên khu 4 ra Việt Bắc công tác. Mùa hè 1950, theo thỏa thuận giữa hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, ông trở lại Bắc Kinh. Trong thời gian này, Nguyễn Sơn lần lượt trải qua các chức vụ: Cục phó Cục Điều lệnh của Tổng cục Quân huấn Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, Tổng biên tập Tạp chí Huấn luyện chiến đấu...

Ngày 27-9-1955, Hồng Thủy được Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa phong quân hàm Thiếu tướng và được tặng thưởng Huân chương Bát nhất, Huân chương Độc lập và Huân chương Giải phóng hạng Nhất. Bình luận về sự kiện này, tờ Nhân dân nhật báo lúc bấy giờ đã có bài viết, trong đó nêu rõ: "Trong lịch sử nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, phong quân hàm và tặng thưởng huân chương cho một người nước ngoài, việc này chỉ có một lần, mà cũng để tỏ lòng biết ơn và kính trọng của nhân dân Trung Quốc với một chiến sĩ quốc tế đã đổ máu hy sinh, vô tư cống hiến cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc không thể nào quên người chiến sĩ quốc tế kiệt xuất, người con ưu tú của nhân dân Việt Nam, người bạn thân thiết của nhân dân Trung Quốc".

“Lưỡng quốc tướng quân" Nguyễn Sơn, vị tướng đa tài
Tướng Nguyễn Sơn và vợ Lê Hằng Huân cùng các con. Ảnh tư liệu 

Năm 1956, Hồng Thủy lâm bệnh nặng. Thể theo nguyện vọng của ông và được sự đồng ý của lãnh đạo hai nước, ngày 29-7-1956, Hồng Thủy được đưa về Việt Nam. Ngày tiễn ông ở sân ga Tiền Môn (Bắc Kinh) có cả Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh cùng 200 vị nguyên soái, tướng lĩnh, cán bộ ngoại giao và đông đảo người mến mộ Hồng Thủy. Phía Trung Quốc đã dành hẳn một toa tàu sang trọng mà Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai thường đi để đưa Thiếu tướng Hồng Thủy-Nguyễn Sơn về nước. Tới Hà Nội, Nguyễn Sơn được Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cùng nhiều tướng lĩnh, đồng đội ra đón ở sân ga và sau đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật tiếp. Ngày 21-10-1956, Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn trút hơi thở cuối cùng khi đang ở độ chín và tài năng đang nở rộ. Ông ra đi trong nỗi tiếc thương khôn nguôi của quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam-Trung Quốc.

PGS, TS TRẦN NGỌC LONG


 

 

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được các thành tựu nổi bật về phát triển xã hội. Song, do nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lệch xã hội đã kìm hãm đến quá trình tăng trưởng và phát triển của đất nước. Từ kết quả nghiên cứu thực thực tiễn phát triển xã hội Việt Nam sau 37 năm năm đổi mới, dưới tác động chủ yếu của mặt trái nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; những bấp cập, sở hở yếu kém trong quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, chúng tôi sai lệch xã hội sẽ để lại hậu quả khó lường:

Trước hết, chúng ta cần nhận diện sai lệch xã hội là gì?

Sai lệch xã hội là sự vi phạm có nhận thức các tiêu chuẩn hoặc kỳ vọng của một nhóm hay của xã hội. Các tiêu chuẩn văn hóa và kỳ vọng định dạng một dải rộng các hoạt động của con người nên khái niệm sự lệch lạc cũng mang nghĩa rộng tương ứng. Sai lệch xã hội là hành vi của các cá nhân hoặc nhóm người nào đó không phù hợp với những gì được coi là bình thưởng của cộng đồng, có nghĩa là hành vi đó đi chệch những gì mà số đông những người khác mong đợi ở họ trong những hoàn cảnh nhất định. Sự sai lệch xã hội là sự vi phạm các chuẩn mực hoặc các quy tắc đã được chấp nhận của một nhóm xã hội hay một xã hội nhất định.

Hậu quả của sai lệch xã hội biểu hiện trên các nội dung sau đây:

Thứ nhất, có thể mang nội dung, tính chất tích cực, tiến bộ, cách tân nếu như nó vi phạm, phá vỡ hiệu lực, sự chi phối của các chuẩn mực xã hội đã lạc hậu, lỗi thời, phản động, đang kìm hãm sự phát triển của cá nhân và xã hội. Khi đó hành vi sai lệch có thể góp phần làm thay đổi nhận thức của xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

Thứ hai, hệ quả của sai lệch có thể mang nội dung và tinh chất tiêu cực, ảnh hưởng xấu hoặc nguy hiểm cho xã hội nếu như nó vi phạm, phá vỡ tính ổn định, sự tác động của những chuẩn mực xã hội phù hợp, tiến bộ, đang phổ biến, thịnh hành và được thừa nhận rộng rãi. Trong trường hợp này, sai lệch xã hội bị dư luận xã hội phê phán, lên án hoặc đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp trừng phạt theo nguyên tắc, quy định của pháp luật.

Thứ ba, sai lệch xã hội được xác định là tích cực hay tiêu cực cần phải được xem xét từ quan điểm lịch sử - cụ thể để xác định những cách thức ứng xử hợp lý. Chẳng hạn, có những điều hôm nay là chân lý, là chuẩn mực, giá trị, ngày mai có thể trở thành cái cá biệt, cái cản trở sự phát triển. Ngược lại, cái hôm nay bị quy khi là lệch lạc, cá biệt, ngày mai có thể trở thành chuẩn mực, chân lý, được thừa nhận. Đôi khi cái bị quy là “sai lệch xã hội" phải đến cả trăm năm sau mới được thừa nhận./..

 

“HỌC TẬP SUỐT ĐỜI"


                      👉 Đồng chí TÔ LÂM, Tổng Bí thư Ban Chấp hàn Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

       (LQK9) - Lính Quân khu 9 xin trân trọng giới thiệu bài viết “Học tập suốt đời” của Tổng Bí thư Tô Lâm.

      Học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành người có ích cho xã hội.

      "Cách mạng khoa học công nghệ đã và đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, tạo nên sự biến cách to lớn trong đời sống xã hội, đặt ra những yêu cầu mới, nhu cầu mới, nhiệm vụ mới, suy nghĩ mới, hành động mới với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên của hệ thống chính trị trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là tận dụng tối đa thời cơ, vận hội, đi tắt đón đầu, đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để thực hiện thắng lợi yêu cầu, nhiệm vụ, trọng trách trong giai đoạn mới, học tập suốt đời để dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh vì lợi ích chung, để trở thành những người hữu dụng đang là đòi hỏi cấp thiết đối với từng cá nhân, mỗi công dân, đặc biệt là những cán bộ, nhân viên trong hệ thống chính trị.

        Học tập suốt đời không phải là vấn đề mới. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ, Người căn dặn: “… Muốn biết thì phải thi đua học. Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”[1]; “Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”[2]. Trong các giai đoạn cách mạng, đặc biệt trong những năm đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng cả nước thành xã hội học tập. 

        Chủ trương học tập suốt đời được đề cập trong nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26-7-2002, Hội nghị Trung ương 6 khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, XI, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định “Thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời”[3] bởi “Người Cách mạng phải học suốt đời, học trong sách vở, học lẫn nhau và học từ nhân dân; “bể học” mênh mông, không bao giờ cạn”.

      Thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng, việc xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời đã trở thành phong trào, thành nhu cầu, thành nếp văn hóa và đạt nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, đã hình thành hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất từ giáo dục mầm non đến đào tạo sau đại học; các loại hình trường, lớp, loại hình đào tạo được đa dạng hóa, mang lại cơ hội học tập cho người dân ở mọi lứa tuổi. 

        Phương thức cung ứng, kết nối giữa các trình độ đào tạo được cải thiện; mạng lưới, quy mô giáo dục mở rộng khắp các vùng, miền của đất nước; các phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài từng bước đi vào chiều sâu, thực chất hơn ở hầu khắp các địa phương; môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, gắn với cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa. Trong nhiều dòng họ, làng, xã, thôn, bản phong trào thi đua học tập phát triển mạnh. Ý thức học tập suốt đời đã và đang thấm sâu vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng cơ sở đào tạo, từng vùng, miền... 

       Đã có nhiều tấm gương tiêu biểu là nông dân, người lao động, cán bộ, giáo viên tích cực tự học, sáng tạo trong lao động, công tác, có nhiều đóng góp cho cộng đồng; nhiều tấm gương tiêu biểu trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, có nhiều nghiên cứu, sáng kiến giải pháp hiệu quả mang tính ứng dụng cao trong thực tiễn, trong sản xuất và đời sống; nhiều người lớn tuổi nhờ tự học, tự nghiên cứu áp dụng kiến thức, kinh nghiệm để sản xuất đã giúp gia đình thoát nghèo, xây dựng đời sống văn hóa mới và đóng góp cho kinh tế - xã hội ở địa phương. 

        Những mô hình mới, những tấm gương sáng về tinh thần học không bao giờ muộn, có nhiều người ở tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng vẫn theo học cao học, làm luận án tiến sĩ chỉ với mục đích học để làm gương cho con cháu noi theo và khuyên con cháu “học, học nữa, học mãi”; “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại”[4], góp phần để đất nước ta đạt được những thành tựu vĩ đại sau gần 40 năm đổi mới.

       Bên cạnh kết quả, thực hiện chủ trương học tập suốt đời vẫn còn một số tồn tại, hạn chế. Đào tạo, bồi dưỡng còn chạy theo số lượng mà chưa thực sự chú trọng tới chất lượng; việc tự học, thực học và học tập suốt đời của đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa đạt kết quả như mong muốn; còn tình trạng học theo phong trào, sính bằng cấp mà chưa thực sự căn cứ vào đòi hỏi thực tiễn, ngại khó, ngại khổ trong học tập, không đào sâu suy nghĩ để vươn lên chinh phục những đỉnh cao trong khoa học. 

       Tình trạng hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chủ nghĩa cá nhân, bệnh kinh nghiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ, chất lượng phục vụ nhân dân; ảnh hưởng đến tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; triệt tiêu động lực đổi mới, sáng tạo, không đủ nền tảng kiến thức và tự tin về năng lực đề xuất và thực hiện những sáng kiến, giải pháp đột phá. 

        Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thỏa mãn với kiến thức đã học trong các trường lớp, cơ sở đào tạo, hoặc chạy theo việc học để hoàn thiện bằng cấp đủ điều kiện thăng tiến, không chịu nghiên cứu, học hỏi thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, kiến thức, kỹ năng hội nhập và khả năng thích ứng... Một bộ phận biểu hiện ngại học, không có khái niệm học thường xuyên, học suốt đời nên trở thành lạc hậu, bảo thủ, không thích nghi và bắt nhịp với “guồng quay” hối hả của nhịp sống “vũ bão” thời khoa học và công nghệ 4.0 và X.0.

        Đất nước đang đứng trước thời cơ, vận hội mới để vươn mình, để “sánh vai” với thế giới như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc. Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài đưa đất nước, dân tộc bước vào xã hội giàu mạnh, người dân ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển; hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những cán bộ có tư duy, tầm nhìn, việc làm đột phá, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu  trách nhiệm, dám hy sinh, đặc biệt trong thực hiện các cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh-gọn-mạnh; hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả và thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

          Cách mạng 4.0 đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số khiến một phần nội dung giảng dạy tại nhà trường hôm nay có thể thành lạc hậu, lỗi thời sau vài năm; hơn thế, những điều phổ biến hiện nay thì 10 năm trước còn chưa xuất hiện và có 65% những công việc hiện nay sẽ bị thay thế bởi công nghệ trong những năm tới. Với thế giới phức tạp, không ổn định và biến đổi khôn lường, tri thức phải không ngừng được bổ sung, tuổi thọ con người dài hơn, thời gian về hưu đủ dài, buộc người cao tuổi phải học và hoạt động để không bị lạc hậu với xã hội hiện đại.

       Trong bối cảnh đó, học tập suốt đời trở thành một quy luật sống; không chỉ giúp mỗi cá nhân nhận biết, thích nghi, không tụt hậu trước sự biến đổi từng ngày của thế giới hiện tại, làm giàu trí tuệ, hoàn thiện nhân cách, vượt qua khó khăn, thử thách để ngày càng tiến bộ và định vị bản thân trong xã hội hiện đại; cao hơn, đây là chìa khóa quan trọng để nâng cao dân trí và đào tạo nhân lực, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, là con đường duy nhất, hướng đi tất yếu của mọi quốc gia để đảm bảo sự phát triển thịnh vượng, bền vững. 

         Học tập suốt đời giúp mỗi thành viên trong xã hội có đủ điều kiện và cơ hội tự hoàn thiện mình, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính mình, của gia đình, họ tộc, thôn, xóm, phường, xã và cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trên con đường trở thành nước dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và xã hội chủ nghĩa.

       Chỉ khi đẩy mạnh thực chất học tập suốt đời, chúng ta mới giàu có những ý tưởng, giải pháp, sáng kiến để giải quyết những đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, những vấn đề mới, chưa có tiền lệ; khắc phục triệt để những “điểm nghẽn” trong cơ chế, chính sách, biểu hiện hình thức trong tự phê bình và phê bình; xóa bỏ tình trạng trì trệ, lúng túng trong giải quyết công việc tại các địa phương, cơ quan, đơn vị; tạo ra được đội ngũ cán bộ dũng cảm, nhận thức đúng quy luật khách quan, chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ, dám nói những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, từ cuộc sống sinh động, từ đòi hỏi của đổi mới và yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; có quyết tâm, dám chịu trách nhiệm về kết quả công việc, lĩnh vực, ngành mà mình đảm trách, dám nhận lỗi, sửa sai, chịu trách nhiệm trước dân, trước Đảng, biết làm chủ bản thân và công việc; dám chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng và nếu cần, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì Đảng, vì Tổ quốc và nhân dân. 

        Khi đó, chúng ta sẽ xây dựng thành công đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có khát vọng vươn lên, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về những quyết định của mình để hiện thực hoá nhiệm vụ cách mạng, tạo ra đột phá vì lợi ích của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước.

       Xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chỉ thành công khi mỗi công dân ý thức được trách nhiệm của bản thân mình đối với việc tự học tập suốt đời; mỗi cán bộ, đảng viên luôn ý thức rõ học tập suốt đời là nhiệm vụ cách mạng với thái độ nghiêm túc và ý thức tự giác cao. Qua học tập suốt đời để nhận thức được trách nhiệm đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn, thời điểm cụ thể; có năng lực làm chủ, năng lực tổ chức cuộc sống; để không ngừng tiến bộ, có sức khỏe, có chất lượng sống tốt hơn; hiểu biết, giữ gìn và góp phần xây dựng truyền thống văn hóa dân tộc; tin tưởng vào tương lai đất nước, vào đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, có khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. 

       Mỗi công dân cần không ngừng học tập về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp, kinh nghiệm làm việc và khả năng phối hợp trong tập thể để nâng cao tính kỷ luật của tổ chức, năng suất lao động và phát huy sức mạnh tổng hợp; mỗi cán bộ, đảng viên cần học về tư cách người cán bộ cách mạng, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân; không ngừng tự học tập, tự cập nhật kiến thức mới, tham gia tích cực phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học công nghệ, kiến thức số; tích cực tuyên truyền, vận động người thân, gia đình, dòng họ tự học tập suốt đời. Qua học tập suốt đời để hoàn thành được mọi nhiệm vụ mà Đảng, cách mạng và nhân dân giao phó.

       Mỗi cấp ủy, tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp cần nhận thức rõ mục tiêu chính của học tập suốt đời là phát triển con người xã hội chủ nghĩa, từ đó xác định các nội dung học tập suốt đời cho cán bộ, đảng viên, thành viên gắn với phát động thi đua, đánh giá, biểu dương, khen thưởng. Đảng, Nhà nước sẽ sớm tổng kết, đánh giá, nghiên cứu ban hành quy định, quy trình, đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ, nhằm xây dựng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; bảo vệ cán bộ sẵn sàng đi tiên phong, sẵn sàng “vượt rào” đột phá vì lợi ích chung. 

        Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục theo định hướng mở, linh hoạt, liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân và thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Có các giải pháp cụ thể nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, ý nghĩa của học tập suốt đời và sự đóng góp của học tập suốt đời đối với nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia. 

        Theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện thí điểm các đề xuất đổi mới, sáng tạo; chủ động phát hiện những vấn đề nảy sinh, kịp thời động viên, hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hoặc xem xét, điều chỉnh, có quyết định phù hợp với tình hình thực tế; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại do nguyên nhân khách quan.

       Chúng ta đang sống trong thời đại mà tri thức, kiến thức, hiểu biết sẽ giúp con người phát huy cao độ tiềm năng để tận dụng tốt các cơ hội, ứng phó hiệu quả với những thách thức để phát triển bền vững; cũng là thời đại mà khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên hằng ngày theo cấp số nhân. Chỉ khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhà nhà, người người thực hiện hiệu quả học tập suốt đời, xây dựng được đội ngũ cán bộ dám làm, dám nói, dám chịu trách nhiệm, dám hy sinh, chúng ta mới vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng"./.

 

ĐỂ CÓ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ XÃ HỘI KỊP THỜI

Trải qua gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được các thành tựu nổi bật về phát triển xã hội. Đặc biệt, trên cơ sở đánh giá lại những kết quả về lĩnh vực này mà các đại hội Đảng trước đó đã khẳng định, văn kiện Đại hội XIII đã xác định một trong các nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ là: “...tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam".[1]

Song, do nhiều nguyên nhân đẫn đến sai lệch xã hội đã kìm hãm đến quá trình tăng trưởng và phát triển của đất nước. Từ kết quả nghiên cứu thực thực tiễn phát triển xã hội Việt Nam sau 37 năm năm đổi mới, dưới tác động chủ yếu của mặt trái nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; những bấp cập, sở hở yếu kém trong quản lý xã hội của bộ máy Nhà nước, chúng tôi đề xuất một số nguyên nhân dẫn đến sai lệch xã hội như sau:

Một là, do những sai lệch trong hệ thống giá trị. Hệ thống giá trị trong xã hội được hình thành qua các thời kỳ lịch sử nhất định và do vậy nó mang tính lịch sử; nó sẽ mất đi khi không còn phù hợp với thực tiễn xã hội song nó lại được hình thành mới khi thực tiễn biến đổi. Hệ thống giá trị được chia thành các giá trị chung phố quát (giá trị nhân loại) và các giá trị thuộc về một giai cấp hay tầng lớp nào đó. Bất kỳ một sự chệch hướng giá trị của xã hội hiện hành đều có thể bị coi là sai lệch xã hội.

Hai là, do sự biến đổi các chuẩn mực xã hội. Trong đời sống xã hội, chuẩn mực xã hội là những quy ước chung của cả công đồng hay một nhóm xã hội nhất định, quy định những hành vi cụ thể của mỗi cá nhân trong mỗi tình huống cụ thể nhất định Sự xem nhẹ các chuẩn mực xã hội, không tuân thủ các chuẩn mực xã hội có thể dẫn tới những hành vi sai lệch xã hội. Tuy nhiên, cũng như bất kỳ hiện tượng xã hội nào, chuẩn mực xã hội cũng luôn biến đổi theo thời gian. Chuẩn mực đã biến đổi hoặc bị bóp méo hoặc không được áp dụng đúng chỗ thì dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.

Ba là, do sự thay đổi các quan hệ xã hội. Quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình con người cùng nhau hoạt động sản xuất và tinh thần. Quan hệ sản xuất vật chất là quan hệ cơ bản, là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội, là mối quan hệ cơ bản, chi phối các mối quan hệ khác. Sự vận động và phát triển của quan hệ sản xuất kéo theo sự thay đổi của các quan hệ xã hội. Chuẩn mực, giá trị xã hội vừa phản ánh các quan hệ xã hội vừa điều chỉnh các quan hệ xã hội các quan hệ xã hội thay đổi sẽ làm cho hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội cũng biến đổi và dẫn đến các hành vi sai lệch xã hội.

Bốn là, do sự rối loạn các thiết chế xã hội. Các thiết chế xã hội có chức năng điều chỉnh, hướng dẫn và kiểm soát hành vi con người phù hợp với các chuẩn mực mà thiết chế xã hội tạo ra . Chúng được thiết lập trên các nhu cầu cơ bản của xã hội. Các thiết chế xã hội có vai trò kiểm soát và quản lý xã hội. Tuy nhiên, trong không ít tình huống vì nhiều lý do khác nhau dẫn đến thiết chế xã hội không được vận hành một cách bình thường, thậm chí rối loạn dẫn tới mất ổn định xã hội. Vì vậy, bất kỳ một sự rối loạn hay đổ vỡ thiết chế xã hội nào đều trở thành vấn đề xã hội nghiêm trọng, dẫn đến hành vi sai lệch xã hội.

Để kịp thời điều chỉnh, khắc phục sai lệch xã hội, một trong những công cụ quan trọng là đổi mới thiết chế và thể chế trong lĩnh vực này./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.II, tr 336.

XÓA NHÒA LỊCH SỬ LÀ CÓ TỘI!

    Sau khi cùng đi tiễn cháu trai lên đường nhập ngũ, ông Hải mời ông Thủy về nhà mình uống trà. Hai ông vốn là bạn chiến đấu nên câu chuyện nào cũng tâm đầu ý hợp. Rót mời bạn chén trà nóng, ông Hải chậm rãi:

- Ông Thủy này, sắp đến ngày 30-4 rồi, thứ bảy tuần này tôi với ông xuống Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tham quan đi. Nghe nói bảo tàng mới xây khang trang, hiện đại lắm, hiện vật trưng bày rất nhiều. Ta xuống để ôn lại kỷ niệm thời cùng đi chiến trường nhé!

Nghe bạn đề nghị, ông Thủy vẻ trầm ngâm, tay xoay xoay cốc trà. Lát sau ông mới ngập ngừng:

- Hay ông đi một mình đi. Hôm trước thằng cả nhà tôi có đọc trên mạng, nó bảo mình trưng bày hiện vật như thế là “khơi lại nỗi đau chiến tranh”, là “chưa thể hiện tinh thần hòa hợp dân tộc”... Thế nên tôi...

- Thôi chết, chắc cháu nó lại đọc mấy trang mạng do mấy tay cơ hội chính trị, thù địch chuyên bình luận xuyên tạc về tình hình nước ta chứ gì. Trong số ấy, tôi biết có một số kẻ trước đây theo giặc, nay vẫn mang tư tưởng thù hằn dân tộc. Nhiều năm qua, họ thường mượn cớ để xuyên tạc, hòng bôi đen lịch sử dân tộc. Khi âm mưu không thành thì họ lại quay ra thực hiện các chiêu trò hòng xóa nhòa lịch sử, làm lẫn lộn trắng-đen, thật-giả.

Thế hệ trẻ bây giờ nếu không chịu nghiên cứu kỹ lịch sử thì dễ bị họ dắt mũi, xúi bẩy làm những việc có hại cho đất nước. Còn đối với Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, tôi thấy trước đây trưng bày đã tốt, nay có điều kiện mở rộng, lại thêm công nghệ hỗ trợ nên chắc chắn số lượng hiện vật được trưng bày sẽ lớn hơn, cách thức thể hiện khoa học, sinh động hơn, vì thế chắc chắn sẽ trở thành điểm tham quan lý thú của du khách.

Ông Thủy ạ, ông và tôi từng tham gia chiến đấu chống giặc, cứu nước nên ta đều hiểu giá trị của lịch sử. Việc trưng bày hiện vật lịch sử là để giáo dục các thế hệ người Việt Nam về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Đó là cả một hành trình rất dài, rất chân thực và rất đáng tự hào của người dân Việt Nam. Việc trưng bày hiện vật lịch sử quân sự cũng là để bạn bè quốc tế hiểu thêm về tinh thần quật cường, tính chính nghĩa của các cuộc chiến tranh vệ quốc do dân tộc ta tiến hành.

Tôi thấy hầu hết các nước trên thế giới đã trải qua chiến tranh đều làm như thế. Vì vậy, những người cho rằng trưng bày hiện vật lịch sử quân sự là “khơi lại nỗi đau chiến tranh” thì đích thị những người đó, một là ngây ngô, thiếu hiểu biết; hai là kẻ muốn lợi dụng dư luận để “lựa gió bẻ măng”, "đục nước béo cò”; ba là kẻ có tư tưởng thù hằn dân tộc. Những kẻ muốn xóa nhòa lịch sử là những kẻ có tội với lịch sử đấy ông ạ, tin họ làm sao được.

- Đúng là nghe ông giải thích, tôi vỡ ra nhiều lẽ. Vậy thì tôi sẽ về giáo dục lại thằng con tôi. Thứ bảy này ta cùng đi Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, ông nhé./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

TỐI ƯU HÓA NGUỒN LỰC TÀI SẢN CÔNG

 

Thực hiện Công điện số 138/CĐ-TTg ngày 20.12.2024 của Thủ tướng Chính phủ, việc tổng kiểm kê tài sản công tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý đã được thực hiện từ 0 giờ ngày 1.1.2025.

Theo đó, tiến độ thực hiện cụ thể là đến ngày 31.3.2025, các bộ, ngành, địa phương phải hoàn tất việc kiểm kê. Đến ngày 15.6.2025, gửi báo cáo về Bộ Tài chính và đến ngày 31.7.2025 Bộ Tài chính hoàn thành tổng hợp kết quả báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đến thời điểm này, theo báo cáo sơ bộ của Bộ Tài chính, nhiều bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã hoàn thành đăng ký đối tượng kiểm kê. Tuy nhiên, trái với tiến độ thực hiện của các bộ, ngành, việc thực hiện tổng kiểm kê tài sản công tại 13 hội rất chậm so với tiến độ chung của cả nước.

Để thúc đẩy tiến độ triển khai, Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính đã yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các cơ quan, tổ chức, đơn vị đăng ký đối tượng báo cáo đối với từng loại tài sản công thuộc phạm vi quản lý và cập nhật báo cáo tiến độ kiểm kê.

Tăng cường công tác hạch toán, quản lý, sử dụng tài sản công, bảo đảm kiểm kê đầy đủ tài sản hiện có, thông tin về tài sản được kiểm kê đầy đủ, chính xác. Trong quá trình kiểm kê, nếu phát hiện tài sản không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, không hiệu quả phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền để xử lý, bảo đảm tài sản được sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả.

Khác với những lần trước, lần này, phạm vi của đợt tổng kiểm kê rất rộng, với gần 100.000 đơn vị, nhiều loại tài sản khác nhau, được hình thành qua nhiều thời kỳ. Các tài sản kết cấu hạ tầng như đê điều, đường bộ; các công trình công cộng lâu năm thường thiếu tài liệu, hồ sơ bàn giao gây khó khăn trong xác định giá trị và thông tin chi tiết.

Bên cạnh đó, việc thực hiện tinh gọn bộ máy hành chính; nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền; khối lượng công việc lớn trên phạm vi toàn quốc và dù đã có quy định yêu cầu kiểm kê và hạch toán tài sản hàng năm nhưng nhiều nơi chưa thực hiện đầy đủ. Một số tài sản như quyền sử dụng đất chưa được định giá chính xác hoặc chưa có quy định cụ thể để đánh giá đã dẫn đến khó khăn trong thực hiện công tác kiểm kê.

Tuy nhiên, phải xác định rõ rằng, tổng kiểm kê tài sản công là nhiệm vụ quan trọng, không chỉ đơn thuần để nắm bắt về mặt số lượng, giá trị, cơ cấu, hiện trạng sử dụng mà thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng, khai thác. Các số liệu, thông tin, kết quả của tổng kiểm kê còn được sử dụng để xây dựng chiến lược, kế hoạch và là nền tảng để ra các quyết định về quản lý sử dụng tài sản công. Đồng thời, giúp các cơ quan quản lý, các cấp, ngành, địa phương đánh giá lại thực trạng sử dụng tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đặc biệt, việc này còn giúp Nhà nước tối ưu hóa nguồn lực, là cơ sở để hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho nên không thể chậm trễ bởi bất cứ lý do gì.

Tài sản công là nguồn lực nội sinh của đất nước, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và quản lý xã hội; là nguồn lực tài chính tiềm năng cho đầu tư phát triển, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nguồn lực này được khai thông sẽ đóng góp rất lớn vào phát triển kinh tế - xã hội và điều hành kinh tế vĩ mô.

Cho nên, cần thiết phải có sự phối hợp đồng bộ từ các bộ, ngành, địa phương, nhất là trách nhiệm của lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương để việc kiểm kê đúng tiến độ và chính xác./.



MIỄN HỌC PHÍ TỪ MẦM NON ĐẾN PHỔ THÔNG: HƯỚNG ĐẾN NỀN GIÁO DỤC CÔNG BẰNG, NHÂN VĂN

Chủ trương miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập được đánh giá là quyết định sáng suốt của Bộ Chính trị, mang tính nhân văn, đúng đắn và hợp lòng dân, đặc biệt trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình.

Từ ngày 1.9.2025, Nhà nước sẽ thực hiện miễn học phí cho tất cả học sinh công lập từ mầm non 5 tuổi đến trung học cơ sở (đến hết lớp 9).
Bước ngoặt lịch sử của giáo dục Việt Nam
Tại cuộc họp ngày 28.2, Bộ Chính trị đã thống nhất quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết THPT công lập trên phạm vi cả nước. Thời điểm thực hiện từ đầu năm học mới 2025-2026 (tháng 9.2025 trở đi). Chính sách này đã thu hút sự quan tâm đặc biệt với nhiều ý kiến ủng hộ.
Trao đổi với phóng viên Báo Đại biểu Nhân dân, GS.TS Đinh Quang Báo, Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội bày tỏ vui mừng trước việc Bộ Chính trị quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước.
Theo GS Đinh Quang Báo, đây là quyết định rất sáng suốt của Bộ Chính trị, không chỉ nhận được sự hoan nghênh rất lớn của dư luận xã hội, không chỉ là niềm vui của mỗi gia đình mà còn là hạnh phúc của đất nước. Trên thế giới, nhiều quốc gia, trong đó có những nước nghèo cũng đã có quyết sách miễn học phí cho học sinh.
GS Đinh Quang Báo chia sẻ, người Việt Nam có truyền thống rất hiếu học, nhiều gia đình thậm chí vay tiền để cho con đi học, bố mẹ dù nghèo đến đâu vẫn dùng đến những đồng tiền cuối cùng cho con ăn học.
“Tôi thậm chí đã từng nghe tới câu chuyện có người cha nghèo bán cả đất, cả nhà để nuôi con đi học. Để thấy rằng đối với Việt Nam, giáo dục là gia sách hàng đầu, là một truyền thống lâu đời”, GS Đinh Quang Báo nói.
Ông nhấn mạnh, thế hệ sau là kế tục của mỗi gia đình, cũng là kế tục của đất nước, là tương lai của đất nước. Vì vậy, việc đặt vấn đề ưu tiên cho thế hệ sau về học phí là vô cùng đúng đắn.
GS Đinh Quang Báo cũng đề xuất ngoài việc miễn học phí cho học sinh, tới đây cũng nên có chính sách hỗ trợ về sách giáo khoa, ít nhất cho những khu vực vùng sâu vùng xa, những vùng nghèo trên cả nước.
“Hiện nay, đã có một số khu vực học sinh được hỗ trợ sách giáo khoa nhưng diện còn rất hẹp, theo tôi cần phải mở rộng hơn nữa. Tại nhiều nước trên thế giới, sách giáo khoa cũng đã được cung cấp miễn phí cho trường phổ thông công lập”, GS Đinh Quang Báo cho hay.
Hướng đến một nền giáo dục công bằng
Đồng ý kiến, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Việt Nam, TS Nguyễn Tùng Lâm nhìn nhận, chính sách miễn học phí cho học sinh từ tiểu học đến THPT công lập không chỉ mang đến lợi ích trực tiếp cho học sinh và gia đình mà còn góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và phát triển bền vững.
Thứ nhất, chính sách này hướng đến một nền giáo dục bình đẳng – nơi tất cả học sinh, bất kể hoàn cảnh kinh tế gia đình, đều có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng. Điều này góp phần "xóa nhòa" khoảng cách giáo dục giữa các tầng lớp xã hội và đảm bảo sự công bằng.
Thứ hai, chính sách miễn học phí giảm bớt gánh nặng tài chính cho các gia đình, đặc biệt là những gia đình có thu nhập thấp hoặc trung bình. Khi không phải lo lắng về học phí, các em sẽ tập trung hơn vào việc học và nâng cao kết quả học tập. Từ đó, khuyến khích học sinh tiếp tục học lên cao hơn, tăng tỷ lệ hoàn thành chương trình GDPT.
"Đây là chủ trương thúc đẩy Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng giáo dục, nâng cao chất lượng giảng dạy và tạo ra môi trường học tập tốt hơn cho học sinh. Các quyết sách này không chỉ góp phần xây dựng một hệ thống giáo dục bền vững và chất lượng cao, mà còn hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực tương lai của đất nước", TS Nguyễn Tùng Lâm kỳ vọng.
Việc Bộ Chính trị quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước là một quyết định nhân văn, đúng đắn và hợp lòng dân, đặc biệt trong giai đoạn đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình.
Thông qua chính sách miễn học phí cho học sinh công lập sẽ khuyến khích học sinh tích cực hơn trong học tập; tạo điều kiện cho các em đến trường, nhất là học sinh ở những vùng nông thôn còn khó khăn hay học sinh ở vùng sâu, vùng xa nhưng không được hưởng các chính sách ưu tiên, hỗ trợ.
Tuy vậy, theo TS Nguyễn Tùng Lâm băn khoăn, xét đến yếu tố chất lượng giáo dục, trường tư thục có thể cung cấp cơ sở vật chất và chương trình giảng dạy phong phú hơn, nhưng chi phí học tập lại cao hơn. Do đó, có thể khiến nhiều học sinh không có khả năng tài chính để tiếp cận môi trường này.
"Không chỉ vậy, khi nhiều gia đình chuyển con em từ trường tư sang trường công để hưởng lợi từ chính sách miễn học phí, vô tình tạo áp lực lên trường công. Các trường công có thể gặp khó khăn bởi phải tiếp nhận số lượng học sinh quá lớn, ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy. Ngân sách nhà nước cũng chịu áp lực để duy trì các trường công lập, trong khi trường tư thục lại không được hỗ trợ”, TS Nguyễn Tùng Lâm chỉ rõ.
Một số ý kiến khác cho rằng, cần mở rộng chính sách miễn học phí cho học sinh ngoài công lập và giảm bớt các khoản thu không cần thiết tại các trường. Điều này giúp tạo điều kiện học tập bình đẳng hơn cho tất cả học sinh, bất kể học tại trường công lập hay ngoài công lập.
Theo thầy Trần Mạnh Tùng (giáo viên Toán tại Hà Nội), hiện nay, các trường ngoài công lập cũng đóng góp rất lớn vào sự nghiệp giáo dục, giảm tải áp lực cho hệ thống công lập và tạo ra nhiều mô hình giáo dục đa dạng, chất lượng cao. Nếu chính sách hỗ trợ tương ứng cho học sinh ngoài công lập, sẽ tránh nguy cơ tạo ra sự dịch chuyển lớn từ trường tư sang trường công và gây mất cân bằng hệ thống giáo dục.