Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2025

Bác bỏ luận điệu phủ nhận vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại

“Phi chính trị hóa” Quân đội là mục tiêu chống phá trọng điểm của các thế lực thù địch, phản động trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Thủ đoạn này đang được đẩy mạnh dưới chiêu bài xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò của công tác đảng, công tác chính trị khi Đảng, Nhà nước ta chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Đây là vấn đề cần làm rõ và đấu tranh, bác bỏ.

Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là đòi hỏi tất yếu, khách quan, chủ trương lớn, thể hiện tầm nhìn, tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước nhằm xây dựng Quân đội có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tuy nhiên, lợi dụng chủ trương này, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh chống phá dưới nhiều góc độ khác nhau. Một trong số đó là đưa ra các luận điệu tuyên truyền nhằm hạ thấp và phủ nhận vai trò của công tác đảng, công tác chính trị, như: xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại chỉ cần đầu tư mua nhiều vũ khí, khí tài hiện đại; loại bỏ các hoạt động không cần thiết, nhất là công tác đảng, công tác chính trị để tập trung thời gian cho huấn luyện theo hướng chuyên nghiệp, nhà nghề; thậm chí cho rằng, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị chỉ làm “mất thời gian” và “không có lợi ích gì trong xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại. Đồng thời, họ cổ súy, tung hô thuyết “vũ khí luận”, với nội dung cốt lõi là tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, trang bị, xem nhẹ yếu tố con người và nhân tố chính trị tinh thần, v.v. Mục đích của những luận điệu trên vẫn là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; thực hiện “phi chính trị hóa”, làm thay đổi bản chất cách mạng, khiến cho Quân đội từng bước xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn đều bác bỏ sự xuyên tạc phi lý, phản khoa học của những luận điệu này.

Trước hết, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị sẽ góp phần bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội - nhân tố hàng đầu quyết định đến việc xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại. Chúng ta đều biết, Quân đội ta do Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện theo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Cũng nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng mà Quân đội ta đã ngày càng trưởng thành, lớn mạnh cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên những chiến công hiển hách. Vì vậy, việc xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại trước hết phải bảo đảm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Để làm được điều đó nhất thiết phải tiến hành công tác đảng, công tác chính trị và phải luôn xem đó là nhân tố quan trọng, nguyên tắc bất di, bất dịch trong xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Đó cũng là sự bảo đảm vững chắc để Quân đội luôn giữ vững bản chất, phương hướng chính trị đúng đắn, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; là Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Không những thế, thông qua các mặt công tác: tư tưởng, tổ chức, cán bộ, chính sách,... công tác đảng, công tác chính trị còn làm cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quán triệt, nhận thức sâu sắc, tạo sự đồng thuận cao về đường lối, chủ trương xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng; nắm chắc cơ sở lý luận, thực tiễn; vị trí, ý nghĩa, sự cần thiết phải hiện đại hóa Quân đội. Nếu không thực hiện đúng nguyên tắc này, tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và chiến thắng kẻ thù. Bài học về sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây cho thấy, nguyên nhân cốt yếu là quân đội các nước này từng bước từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị bị tê liệt, kém hiệu quả. Vì vậy, để xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, lập luận cho rằng hoạt động công tác đảng, công tác chính trị “không có tác dụng gì” trong xây dựng Quân đội hiện đại chỉ là lối suy diễn chủ quan, với mưu đồ không trong sáng và không thể chấp nhận được.

Xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại là quá trình lâu dài, bao gồm nhiều nội dung; trong đó, cùng với vũ khí, trang bị, cần chú trọng xây dựng con người và tổ chức - nhân tố trung tâm, giữ vai trò quyết định. Đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí, quyết tâm cao, trung thành, tận tụy với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; có tư duy, trình độ, năng lực, làm chủ khoa học và công nghệ, sử dụng thành thạo các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật tiên tiến; có phương pháp, tác phong hiện đại, v.v. Và hoạt động công tác đảng, công tác chính trị sẽ góp phần xây dựng, giáo dục, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, đáp ứng yêu cầu quan trọng này; đồng thời, thu hút, trọng dụng nhân tài, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ mục tiêu hiện đại hóa Quân đội. Mặt khác, thực tiễn quá trình điều chỉnh, sắp xếp tổ chức, biên chế trong lộ trình xây dựng Quân đội hiện đại đã và đang tác động đến nhiều cấp, ngành, đơn vị, tổ chức và cá nhân, cùng không ít những vấn đề nhạy cảm, phức tạp nảy sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân và nhân dân. Vì vậy, công tác đảng, công tác chính trị càng có vai trò quan trọng, khâu then chốt, quyết định nhằm xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Qua đó, trực tiếp góp phần xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, nhất là ở cơ sở, bảo đảm luôn đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, lãnh đạo cơ quan, đơn vị vượt qua những khó khăn, thách thức, giải quyết hài hòa, thấu đáo những vấn đề nảy sinh trong điều chỉnh tổ chức, biên chế lực lượng, xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Cùng với đó, vai trò của công tác đảng, công tác chính trị còn thể hiện ở việc chăm lo bồi dưỡng, phát triển phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân cách mạng, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ ý thức trân trọng, giữ gìn và không ngừng phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong giai đoạn phát triển mới của Quân đội và kỷ nguyên vươn mình của đất nước; tăng cường mối quan hệ đoàn kết quân - dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giáo dục, định hướng tư tưởng, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; không dao động trước khó khăn, thử thách; không bị cám dỗ bởi lợi ích vật chất; sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung, lợi ích tập thể; nhận thức sâu sắc đối tượng, đối tác, tình hình nhiệm vụ, thấy hết thuận lợi, khó khăn, xác định rõ trách nhiệm và quyết tâm hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, xây dựng Quân đội nhân dân tiến lên hiện đại không chỉ bao hàm việc đầu tư hiện đại hóa vũ khí, trang bị, mà còn cần thiết phải xây dựng cả nhân tố con người, tổ chức và nghệ thuật quân sự, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, vượt trội, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì thế, luận điệu tuyệt đối hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật, xem nhẹ hoặc loại bỏ công tác đảng, công tác chính trị trong quá trình hiện đại hóa Quân đội là cách nhìn phiến diện, phi thực tiễn và không có cơ sở khoa học.

Lịch sử 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam cho thấy, công tác đảng, công tác chính trị luôn là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại; phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của bộ đội, nhân lên sức mạnh vũ khí, trang bị. Nhận rõ vị trí, vai trò đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương xây dựng Quân đội toàn diện về mọi mặt; trong đó, hoạt động công tác đảng, công chính trị nhằm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị luôn được đặt lên hàng đầu. Công tác đảng, công tác chính trị được tiến hành trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản chân chính, qua đó, thúc giục cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy cao độ bản lĩnh chính trị, ý chí, quyết tâm chiến đấu kiên cường vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, sẵn sàng “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”,… đánh bại quân đội nhà nghề của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với những vũ khí tối tân, hiện đại gấp nhiều lần chúng ta. Điều đó đã minh chứng cho tư tưởng của V. Lê-nin, rằng: “Ở đâu mà công tác chính trị trong quân đội, công tác của các chính ủy làm được chu đáo nhất…, ở đấy không hề có tình trạng lỏng lẻo trong quân đội, quân đội giữ gìn được trật tự tốt hơn, và tinh thần của họ cũng cao hơn; ở đấy thu được nhiều thắng lợi hơn”1 và “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”2. Đồng thời, là bài học kinh nghiệm quý báu để hoạt động công tác đảng, công tác chính trị tiếp tục phát huy hiệu lực, hiệu quả, củng cố niềm tin của bộ đội vào khả năng chiến đấu, chiến thắng của quân và dân ta; nhận thức sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng “người trước, súng sau” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu; sử dụng hiệu quả vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, tạo sức mạnh tổng hợp, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao của kẻ thù.

Từ cơ sở trên có thể khẳng định, trong xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại, vai trò của công tác đảng, công tác chính trị không những không mất đi, mà ngày càng  trở nên quan trọng. Các luận điệu nhằm phủ nhận, hạ thấp vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội đều không có cơ sở khoa học và tính thuyết phục, mà mang tính chủ quan với ý đồ không trong sáng, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Sưu tầm

Cảnh giác với âm mưu, phương thức thủ đoạn của Hmong Human Rights Coalition

Hmong Human Rights Coalition là trang mạng xã hội Facebook được lập năm 2020, tại BangKok, Thái Lan, có địa chỉ ID 10148940511234546 do Vàng Chểnh Mềnh (Vang Meej Vaaj), Lù A Da cùng một số đối tượng người Mông có gốc gác Việt Nam, hiện đang sống ngoài Việt Nam, chủ yếu tại Thái Lan, Hoa Kỳ lập.

Hmong Human Rights Coalition  thu hút hơn 11 nghìn lượt thích, hơn 20 nghìn người theo dõi chủ yếu là đồng bào người Mông ở Việt Nam với hàng trăm nghìn lượt tương tác. Trang được lập để đăng tải, chia sẻ bài viết, video, live stream các nội dung xuyên tạc, hướng lái không đúng sự thật các vụ việc, sự kiện liên quan đến đồng bào dân tộc Mông (chủ yếu là người Mông theo đạo Tin Lành ở Việt Nam) và việc thực hiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với cộng đồng người dân tộc Mông ở Việt Nam, nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết giữa người Mông với người Kinh, người Mông không theo đạo với người Mông theo đạo và truyền tải thông điệp Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng cầm quyền độc đoán, độc tài; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước kỳ thị tôn giáo, kỳ thị người Mông.

Qua đó kêu gọi những người đồng bào Mông bất mãn về chính trị, chế độ; đồng bào có nhận thức hạn chế về chính trị, thiếu hiểu biết về pháp luật hay thiếu thông tin chính thống về các vụ việc, sự kiện Hmong Human Rights Coalition đề cập đến hùa theo, ủng hộ cùng các đối tượng phản động đứng lên chống lại Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng một cuộc sống mới mà theo Hmong Human Rights Coalition là tốt đẹp hơn cho đồng bào Mông.

Hiện nay trang tập trung sử dụng chiêu bài đăng tin, video, live stream trực tiếp để bình luận, chia sẻ về các nội dung vụ việc có thật đã được chúng hướng lái hoặc các sự kiện không có thật được chuẩn bị sẵn kịch bản dàn dựng lên để tạo diễn đàn, kêu gọi mọi người tham gia ý kiến, bình luận các vụ việc, sự kiện được chúng dựng lên thường là những vấn đề nhạy cảm liên quan trực tiếp đến đồng bào dân tộc Mông. Hmong Human Rights Coalition đang triệt để lợi dụng việc một bộ phận đồng bào người Mông thiếu thông tin chính thống do gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tin chính thống (Không đọc, nghe được tiếng phổ thông) để phát tán ồ ạt, trực tiếp những tin, bài xuyên tạc, bóp méo sự thật, thông qua những bản tin tiếng Mông với tiêu đề giật gân, phản động về vấn đề liên quan đến đồng bào người Mông dưới dạng đặt câu hỏi, bỏ ngỏ vấn đề để đối tượng tiếp cận tự suy ngẫm, tự tìm hiểu với những thông tin trộn lẫn thật giả, kích thích tính hiếu kỳ, tò mò của cộng đồng mạng từ đó gắn các đường link dẫn đến các trang phản động để người dùng tự nghiên cứu và tìm hiểu các nội dung đã được chuẩn bị sẵn tại các trang phản động như BPSOS – Tị Nạn Thái Lan; BPSOS – Đề Án Dân Quyền Việt Nam; Youtube: HM24h Online; Bàn Tròn Đa Tôn Giáo Việt Nam…từ đó hướng lái, lồng ghép quan điểm của chúng đến người tiếp cận và kêu gọi sự phụ họa của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, người nhận thức hạn chế về chính trị tham gia bình luận, chia sẻ.

Để không bị Hmong Human Rights Coalition hướng lái, kích động phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc Công an xã Long Hẹ đề nghị người dân khi tiếp cận các nội dung trang truyền tải cần thận trọng, tỉnh táo có trách nhiệm đấu tranh, phản biện lật tải âm mưu, thủ đoạn của trang một cách sâu rộng để mọi người không bị Hmong Human Rights Coalition hướng lái theo ý đồ của chúng.

Sưu tầm

Sáp nhập tỉnh, bỏ cấp huyện cán bộ công chức cấp xã đi về đâu

Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về triển khai nghiên cứu, đề xuất tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, trong đó đề ra chủ trương sáp nhập một số đơn vị hành chính cấp tỉnh, không tổ chức cấp huyện, sáp nhập một số đơn vị cấp xã, thực hiện mô hình địa phương 2 cấp (tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể); khẳng định đây là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn, khắc phục triệt để chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, chia cắt về địa bàn, lĩnh vực, tổ chức trung gian cồng kềnh; tiết kiệm ngân sách, tạo điều kiện để quy hoạch, phân bố nguồn lực, hiệu quả, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước và thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền. Việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã đến nay không chỉ nhận được sự đồng thuận từ giới chuyên gia, nhà khoa học, chủ trương tinh gọn bộ máy cũng được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh sự đồng tình, ủng hộ, vẫn còn nhiều ý kiến bày tỏ băn khoăn về việc công chức cấp xã sẽ “đi về đâu” khi không còn cấp huyện. Một số tài khoản cá nhân trên nền tảng mạng xã hội Facebook đăng tải bài viết sau đó chia sẻ lên các hội, nhóm dưới dạng đặt vấn đề như: “Chính thức đưa cán bộ cấp huyện về làm xã, thẳng tay loại người yếu kém, vậy công chức xã đi đâu về đâu”, “TIN BUỒN Sau khi bỏ cấp huyện đưa cán bộ huyện về xã làm việc, công chức cấp xã đi đâu về đâu?”, “Sáp nhập tỉnh, xã bỏ huyện: Hàng ngàn cán bộ dôi dư đi đâu về đâu? Mất việc biết lấy gì để nuôi gia đình đây?”… Việc giật tít đăng tải các nội dung mang tính, phiến diện, một chiều gây nên những hoang mang, thậm chí lo lắng của một bộ phận quần chúng nhân dân trên không gian mạng; các tài khoản tham gia bình luận với nhiều quan điểm trái chiều, tạo dư luận thiếu tích cực về chủ trương của Đảng và nhà nước, ảnh hưởng đến tư tưởng cán bộ, công chức cấp xã.

Tại mục 3, Điểm 5.2, Kết luận số 137-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; Đảng ta đã xác định rõ về biên chế cấp xã: “Trước mắt giữ nguyên số lượng biên chế, cán bộ, công chức, viên chức của cấp huyện, cán bộ công chức cấp xã hiện có trước sắp xếp và thực hiện việc rà soát, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, bảo đảm trong thời hạn 5 năm cơ bản theo đúng quy định” và trước mắt thực hiện việc “Kết thúc việc sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, giao chính quyền địa phương xem xét, có thể sắp xếp người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tham gia công tác tại thôn, tổ dân phố và thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ không bố trí công tác theo quy định”.

Trên tinh thần thực hiện Kết luận số 137-KL/TW ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Bộ Nội vụ đã nhấn mạnh việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã, xây dựng mô hình tổ chức chính quyền 2 cấp phải bảo đảm “thận trọng, kỹ lưỡng, chất lượng”, bên cạnh đó vẫn đảm bảo thực hiện chế độ chính sách đối với những cán bộ không bố trí công tác theo quy định và làm tốt công tác chính trị tư tưởng đối với những trường hợp bị tác động.

Thiết nghĩ, sáp nhập đơn vị hành chính, sắp xếp, bố trí và tuyển chọn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là lãnh đạo, quản lý ở đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã mới sau khi sắp xếp cũng là dịp để đánh giá toàn diện, từ đó chọn lọc những cán bộ có năng lực ngang tầm nhiệm vụ để cùng đưa đất nước bước vào “kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc. Thời gian đầu sau sắp xếp bộ máy và đơn vị hành chính còn vô vàn khó khăn, phức tạp phải giải quyết ở phía trước, tuy nhiên trước vận mệnh mới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam, rất hy vọng mỗi chúng ta phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, đồng lòng, cùng chung tay xây dựng đất nước vững mạnh, vươn mình mạnh mẽ để “sánh vai với các cường quốc” trên Thế giới./.

Sưu tầm

Đại thắng Mùa Xuân 30/4/1975 – niềm tự hào dân tộc!

Tháng 4 về, cả nước cùng ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc, tri ân tưởng nhớ tới những người con ưu tú đã chiến đấu dũng cảm vì hòa bình, tự do của Tổ quốc; Để nhắc nhở thế hệ đi sau nhận thức sâu sắc hơn giá trị, bài học kinh nghiệm được tổng kết từ thực tiễn đấu tranh của lịch sử dân tộc và tiếp thêm sức mạnh, ý chí quyết tâm trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; biến những thành tựu vẻ vang sau đại thắng mùa xuân 30/4/1975 thành động lực để hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, thịnh vượng của dân tộc Việt Nam.

Ôn lại truyền thống đó không chỉ nhắc nhở mỗi chúng ta về bài học lịch sử ngàn năm nước Việt, mà còn để thế hệ Việt Nam hôm nay hiểu rõ những bài học xương máu, những trang sử oai hùng của cha ông ta trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Để mỗi chúng ta hiểu bảo vệ từng vùng đất, từng vùng trời, vùng biển, từng ngọn cỏ cho đến hạt cát bé nhỏ nhất trên lãnh thổ quê hương thiêng liêng đến thế nào!

Thế nhưng, đâu đó vẫn còn những luận điệu xuyên tạc, đầy kích động của một số đối tượng như: “Có cần thiết để mãi nhớ ngày 30/4/1975”; “Ngày 30/4/1975 kết thúc của chiến tranh và khởi đầu của một hình thức áp chế mới”; “Lễ tưởng niệm ngày 30/4 cho dù có một nửa triệu người ít vui hơn những sẽ không có nửa triệu người buồn”… thu hút đến hàng trăm, hàng ngàn lượt bình luận, theo dõi, chia sẻ…

Một điều chắc chắn phải khẳng định rằng: Không đánh tráo khái niệm, không tung hỏa mù, giặc là giặc, bán nước là bán nước, cướp nước là cướp nước. Không thể đánh đồng ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của Mỹ và bè lũ tay sai với thiệt hại sau chiến tranh của các bên. Tưởng niệm, vinh danh đồng bào, chiến sỹ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc chứ không ai tưởng niệm những người đã cấu kết, làm tay sai cho kẻ thù? Nếu không có đại thắng ngày 30/4 lịch sử, kết thúc chiến tranh thì chắc chắn sẽ có thêm nhiều người chết vì chiến tranh, có thể rất nhiều người không được sinh ra, và có thể những người được sinh ra không còn sống đến ngày hôm nay. Vậy nên vui hay nên buồn? Thống nhất đất nước là khát vọng của cả dân tộc, những người con của Tổ quốc sẵn sàng hy sinh để dành lại tự do cho đất nước.  

Lịch sử đã ghi lại giai đoạn 7/1954 – 4/1975, Mỹ đã sử dụng mọi chiến lược, kế hoạch, từ mang tên các vị tổng thống Mỹ đương nhiệm, đến mang tên các tướng Mỹ sừng sỏ: “Chiến lược Aixenhao”, “Jônxơn”, “Nichxơn” đến “Kế hoạch Taylo”, “Mắc Namara”, “Oétmolen”, “Abơraham”… hoặc với tên gọi chiến lược mang mục tiêu, nội dung cụ thể phải thực hiện như: “Bình định, xúc dân tập trung, cô lập Việt Cộng”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Phi Mỹ hóa chiến tranh”… đi đôi với các chiến lược đó là hàng loạt thủ thuật, chiến thuật: “Ấp chiến lược”, “Pháo đài chống Cộng”, “Thiết xa vận”, “Không vận – kỵ binh bay”, “Hàng rào điện tử”, “Chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân” nhằm “cắt nguồn chi viện, cô lập miền Nam, để Mỹ dễ dàng “bóp chết” lực lượng đang chiến đấu trên địa bàn miền Nam… Mỹ “dùng người Việt đánh người Việt”, thông qua chính sách tay sai Ngô Đình Diệm, Mỹ thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”, đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước, trả thù những người kháng chiến cũ, tiêu diệt cơ sở cách mạng ở miền Nam, ban hành Luật 10/59, biến miền Nam thành nhà tù, trại giam, trại tập trung, cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu. Chúng dùng quân đội ngụy tay sai làm công cụ tiến hành chiến tranh, càn quét dồn dân vào ấp chiến lược. Mỹ, Diệm đã lê máy chém bao nhiêu người miền Nam dùng bao cách hành hình man rợ nhất để tra tấn người Việt Nam.

Những con số về cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam khiến ta đau lòng: Nước Mỹ đã chi tổng cộng 600 tỷ đô la cho chiến tranh Việt Nam, chiếm 12% GDP quốc gia, huy động 70% lực lượng lục quân, 60% thủy quân lục chiến, 60% không quân và 40% hải quân; 22.000 xí nghiệp phục vụ chiến tranh. Số bom Mỹ dội xuống 2 miền Nam – Bắc Việt Nam là 7,8 triệu tấn. Lớn hơn lượng bom đạn mà Mỹ đã sử dụng trong bất kỳ cuộc chiến tranh nào trước đó. Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc, bình quân 01 người dân phải chịu 45,5kg bom đạn, mỗi kmchịu 6 tấn bom đạn. Tỷ lệ này lớn hơn nhiều so với những nước bị thiệt hại nặng nhất trong chiến tranh thế giới thứ 2.

Cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra ở Việt Nam là một trong 11 cuộc chiến tranh lớn trên thế giới thời hiện đại và là cuộc chiến tranh quy mô nhất trong lịch sử hơn 200 năm của nước Mỹ. Về mặt thời gian, cuộc chiến này kéo dài nhất với hơn 20 năm so với 01 năm 07 tháng của chiến tranh thế giới thứ nhất, 3 năm 8 tháng của chiến tranh thế giới thứ 2, 3 năm 1 tháng của cuộc chiến tranh Triều Tiên. Cuộc chiến này huy động sức mạnh trí tuệ và sức người, sức của cao nhất của nước Mỹ. 5 đời tổng thống từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon rồi Ford nối chân nhau điều hành 4 cuộc chiến tranh ở chiến trường Việt Nam. Từ chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ rồi Việt Nam hóa chiến tranh. Giá của cuộc chiến ấy là sinh mạng của gần 60.000 người Mỹ, hơn 11.000 quân nhân trong số này chưa tới 20 tuổi, gần 1.500 trường hợp chưa tìm được hài cốt. Khoảng 14,7% binh lính Mỹ tham gia chiến tranh tại Việt Nam mắc chứng rối loạn tinh thần, 2,2% trong số đó vẫn chưa hoàn toàn bình phục. Trong chiến tranh Việt Nam 3.181 ngôi làng đã bị phun chất diệt cỏ, chất độc hóa học dioxin, khoảng 2,1 – 4,8 triệu người có mặt vào lúc phun. Con cháu những người này có khả năng chịu di chứng của chất độc tác động vào mã di truyền. 30 năm sau, trên 300.000 liệt sĩ vẫn chưa tìm được hài cốt.

Giờ đây, trên mảnh đất hiền hòa này, tại các bảo tàng chứng tích chiến tranh ở Việt Nam, các khí cụ chiến tranh được sản xuất từ bên kia bờ Thái Bình Dương là những vật chứng lạc lõng giữa không gian thanh bình mà chúng ngự trị như những dấu chấm hỏi về sự phi lý của một cuộc chiến tàn khốc.

Ngày hôm nay, đất nước ta chuyển mình lớn lên, để cho những người ngã xuống thấy được hòa bình mà họ dành được tốt đẹp thế nào. Trải qua 50 năm, bao thế hệ sinh ra, lớn lên trong hòa bình, được học hành tử tế, nhân dân ấm no, tự do, hạnh phúc. Lễ duyệt binh, chuỗi sự kiện xoay quanh lễ kỷ niệm Đại thắng mùa xuân 30/4/1975 của đất nước vừa là niềm tự hào, vừa là vinh danh những người lính Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Bao lớp cha ông đã không quản ngại gian khổ hy sinh, cả nước dồn sức người sức của cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc với những chiến thắng vang dội ghi trong sử sách khiến kẻ thù kinh hồn, bạt vía. Chúng ta luôn tự hào về một dân tộc Việt Nam anh hùng, giàu lòng yêu nước, không khuất phục trước kẻ thù xâm lược hùng mạnh hơn gấp nhiều lần.

Để đổi lấy hòa bình không hề đơn giản. Mỗi câu chuyện chúng ta kể là một câu chuyện về hòa bình và chiến thắng. Và lịch sử được viết nên bởi chính nó chứ không phải những người chiến thắng!

Sưu tầm

Đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá về Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước - Sự kiện lịch sử, chính trị quan trọng của Đất nước


Vào ngày 30 tháng 4 năm 2025, tại thành phố Hồ Chí Minh sẽ diễn ra Lễ diễu binh, diễu hành cấp quốc gia kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025). Đây không chỉ là sự kiện quan trọng khẳng định giá trị vĩ đại, ý nghĩa to lớn của Đại thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước mà còn mang ý nghĩa chính trị và tinh thần sâu sắc, giúp kết nối thế hệ và giáo dục lòng yêu nước cho toàn thể nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay.

Về ý nghĩa của sự kiện lịch sử quan trọng này, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Đại thắng mùa xuân năm 1975 sẽ mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam”. Sự kiện này cũng đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Thấm nhuần tư tưởng đó, trước mốc son chói lọi kỷ niệm 50 năm diễn ra sự kiện, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo, định hướng và đặt yêu cầu rất cao đối với công tác tổ chức các hoạt động kỷ niệm, trọng tâm là các hoạt động lớn ở cấp Trung ương, vừa phải có ý nghĩa tri ân, có giá trị tuyên truyền, giáo dục về chính trị - tư tưởng, vừa phải mới, hấp dẫn nhưng đảm bảo thiết thực, an toàn, tiết kiện và hướng tới người dân để người dân được thụ hưởng.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá, thù địch

Trong khi cả đất nước hướng về sự kiện trên với một niềm tự hào và trân trọng; trên không gian mạng và một số diễn đàn đã xuất hiện những ý kiến đi ngược lại với suy nghĩ, tình cảm của dân tộc và bị các thế lực thù địch, đối tượng xấu ra sức bóp méo, xuyên tạc ý nghĩa của việc tổ chức diễu binh, diễu hành. Chúng sử dụng những luận điệu sai trái, thù địch, vô căn cứ, nói rằng việc diễu binh, diễu hành là “phô diễn vũ lực”, “khoe khoang khí tài, gây phản cảm”, “lãng phí ngân sáchtrái với ý dân”. Bên cạnh đó còn phủ nhận những giá trị lịch sử của Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để thực hiện âm mưu, ý đồ chống phá, chúng đã liên kết, tổ chức nhiều hoạt động với chủ đề “Tháng Tư đen”, “Ngày quốc hận”: Trong đó, đã thành lập nhiều “ban”, “hội đồng” tại Mỹ, Úc và châu Âu để quy tụ, tập hợp số “tàn dư chế độ cũ” và các “Cộng đồng người Việt tị nạn” ở một số nước…

Mặc dù những luận điệu trên đã gây hoài nghi, dao động cho một bộ phận nhỏ trong cộng đồng, chủ yếu là những thành phần có quan điểm chính trị lệch lạc, thiếu hiểu biết. Thực tế cho thấy rằng đại bộ phận nhân dân đều có nhận thức đúng đắn, thậm chí khiến cho chiêu trò chống phá của các thế lực trở nên phản tác dụng. Tại không ít những bài đăng phản tuyên truyền của chúng, dưới phần bình luận đã có rất nhiều người phản bác, thậm chí thể hiện thái độ rất cứng rắn trước những thông tin sai lệch trên.

Tỉnh táo trước những luận điệu chống phá, xuyên tạc

Trước tiên, cần hiểu rằng diễu binh, diễu hành hay duyệt binh (ở một số nước) để kỷ niệm vào các ngày lễ lớn là những sự kiện không còn xa lạ trên thế giới, có lịch sử rất lâu đời. Tại một số quốc gia, sự kiện này còn được tổ chức thường niên, như: Nga, Pháp, Vương Quốc Anh ở châu Âu; Ấn Độ và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ở châu Á… Đây là một nghi lễ vô cùng quan trọng trong lĩnh vực chính trị và quân sự, phản ánh sự phát triển kinh tế, xã hội nhằm tri ân các thế hệ chiến sĩ, giữ gìn truyền thống lịch sử, phát huy tinh thần xây dựng đất nước và góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia; đồng thời mang những thông điệp riêng, điển hình như: Liên bang Nga dùng lễ duyệt binh hằng năm vào Ngày kỷ niệm chiến thắng chống quân phát xít Đức để khẳng định vai trò chống phát xít của họ trong thế chiến thứ II; còn Trung Quốc lại tổ chức diễu hành, duyệt binh nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của Đảng Cộng sản và thông điệp Giấc mộng Trung Hoa…

Đối với nước ta, lễ diễu binh, diễu hành cấp quốc gia kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cũng mang nhiều ý nghĩa riêng. Buổi lễ có sự tham gia của 48 khối diễu binh, diễu hành, trong đó 36 khối thuộc lực lượng Quân đội, Công an Nhân dân và 12 khối dân sự đại diện cho quần chúng nhân dân, trí thức, người lao động, thanh thiếu nhi, những lực lượng tham gia làm việc, xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới; thể hiện cho tinh thần đoàn kết xuyên suốt chiều dài lịch sử của mọi tầng lớp nhân dân trên đất nước ta. Đặc biệt buổi lễ còn có sự tham gia của các lực lượng quân đội thuộc 03 nước: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Quân đội Nhân dân Lào, Quân đội Hoàng gia Campuchia như một sự tri ân sâu sắc đến những đóng góp của 03 nước trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc của Việt Nam. Bên cạnh đó, với sự tham dự của nhiều đoàn lãnh đạo cấp cao, đại diện các chính đảng, tổ chức quốc tế, phong trào hòa bình, phong trào phản chiến, buổi lễ góp phần truyền tải hình ảnh về đất nước Việt Nam đổi mới, hội nhập, thân thiện với quốc tế; thúc đẩy mối quan hệ ngoại giao của nước ta trong tương lai.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá vô căn cứ, thiếu phân tích khách quan

Lễ diễu binh, diễu hành cấp quốc gia kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam sẽ không có khối điều khiển các khí tài quân sự, hoàn toàn không có sự “phô diễn vũ lực” mà chỉ có niềm tự hào dân tộc, đoàn kết, đồng lòng. Trong những ngày tập luyện, hợp luyện, sơ duyệt và tổng duyệt vừa qua, đã có hàng ngàn, hàng vạn người dân từ nam, nữ thanh niên đến những người cao tuổi, từ hàng ngũ trí thức đến những người dân lao động và cả những người nước ngoài đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam đổ ra đường để ngắm nhìn đoàn diễu binh, diễu hành bất kể thời tiết nắng mưa. Không khí hào hùng của Đại thắng mùa Xuân 1975 chưa bao giờ được tái hiện sống động như thế. Cùng với đó là hàng triệu người dân theo dõi những tin tức, những thước phim qua màn ảnh nhỏ. Tất cả đều có chung một niềm tự hào, phấn khởi, hân hoan trước sự kiện lịch sử của đất nước, dân tộc. Điều này thể hiện rằng những ý kiến phản đối lễ diễu binh, diễu hành đều mang những luận điểm chủ quan, vô căn cứ, không đại diện cho ý kiến chung của toàn thể Nhân dân.

Kết lại, việc tổ chức diễu binh, diễu hành không phải để vui mắt, mà để nhắc nhở con cháu: Muốn có hòa bình, phải giữ lấy khí phách; muốn có độc lập, phải cảnh giác từng giờ. Đây là sự kiện thể hiện ý chí chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Qua đó chúng ta muốn giới thiệu về đất nước Việt Nam đoàn kết, hoà bình, hiện đại, đi lên từ chiến tranh. Trong thời đại toàn cầu hoá, diễu binh, diễu hành hay duyệt binh không chỉ là dịp để tưởng nhớ lịch sử mà còn là cách để khẳng định vị thế của nước ta trong khu vực. Giống như lễ duyệt binh năm 2015 với sự tham gia của các lực lượng hiện đại đã góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trong mắt các nước ASEAN và các đối tác như Hoa Kỳ và Nhật Bản. Từ đó củng cố lập trường tôn trọng nền hoà bình trong khu vực cũng như trên toàn thế giới nhưng cũng không kém phần kiên quyết trong vấn đề độc lập, chủ quyền của nước ta trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

Sưu tầm


Nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch dịp 30/4

Đúng 11h30’ ngày 30/4/1975 cánh cổng sắt ở Dinh Độc Lập đã bị húc đổ, toàn bộ nội các ngụy quyền Sài Gòn phải đầu hàng vô điều kiện, lá cờ quyết thắng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập đánh dấu thời khắc toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Cả nước vỡ òa trong niềm vui thống nhất, từ đây non sông thu về một mối, Nam Bắc một nhà, Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập. Những hình ảnh về giờ phút đáng tự hào ấy không bao giờ phai nhạt trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam.

Năm nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) với chủ đề: “Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc và ý chí thống nhất đất nước”. Những ngày qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã và đang hướng về sự kiện lịch sử này bằng nhiều hoạt động nhằm làm nổi bật tầm vóc, giá trị, ý nghĩa lịch sử to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; nâng cao nhận thức, bồi đắp lý tưởng cách mạng, niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thế nhưng, đi ngược lại tinh thần ấy, có không ít tổ chức phản động, phần tử cực đoan, bất mãn chính trị vẫn ngược dòng lịch sử, cố tình xuyên tạc, kích động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá thành quả cách mạng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Vì vậy, nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong dịp này là vô cùng cần thiết.

Không khó để tìm kiếm các bài viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, phủ nhận ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ trên các nền tảng mạng xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao, gọi Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, non sông liền một dải là “ngày quốc hận”, là “tháng Tư đen”; đòi định danh lại ngày 30/4 cho phù hợp vì không chấp nhận 30/4 là ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước… Một số kẻ còn lạc lõng lớn tiếng cho là, nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam ngày nay phát triển không hề thua kém Hàn Quốc, vượt xa Thái Lan, Singapore. Rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta thực chất chỉ là “nội chiến”, là “chiến tranh ủy nhiệm”… nên không có gì đáng tự hào. Chúng lợi dụng sự kiện 30/4 để kích động, kêu gọi biểu tình, gây rối an ninh trật tự dưới vỏ bọc “tưởng niệm” hay “đòi công lý”. Tất cả những thủ đoạn của chúng đều nhằm tạo ra sự đối đầu giữa người dân với chính quyền, gây mất ổn định xã hội. Chúng lợi dụng những người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết hoặc có tâm lý bất mãn để lôi kéo tham gia vào các hoạt động trái pháp luật, từ đó tạo ra hình ảnh hỗn loạn, bất ổn trong nước. Mục tiêu cuối cùng là phá hoại sự ổn định của đất nước, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, bôi xấu hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Là người dân Việt Nam yêu nước, chúng ta cần hiểu rõ, chiến tranh đã để lại cho đất nước những nỗi đau to lớn; biết bao xương máu các anh hùng đã đổ xuống để giành lấy độc lập, tự do. Hơn ai hết, chúng ta cần nhận thức đầy đủ nguyên nhân vì sao đất nước ta có chiến tranh, vì sao Bắc Nam bị chia cắt. Đó là do mưu đồ của bọn đế quốc xâm lược, chúng muốn biến dân ta thành nô lệ, biến đất nước Việt Nam phải lệ thuộc vào ngoại bang.

Với truyền thống yêu nước và quật khởi, nhân dân ta không khuất phục trước những áp bức, bất công nên đã đứng lên chiến đấu để giành lại độc lập, tự do. Chúng ta phải chứng minh cho thế giới thấy được nguyên nhân sâu xa thất bại của Mỹ - Ngụy ngày 30/4/1975 là do cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo, trái với đạo lý, bị nhân dân trên thế giới lên án mạnh mẽ. Nhân dân Việt Nam đã trải qua biết bao mất mát hy sinh. Vì vậy, đến dịp kỷ niệm ngày giành được chiến thắng, chúng ta không chỉ vui mừng vì đất nước được độc lập, tự do, vui mừng vì quê hương ngày càng phát triển, giàu đẹp, mà còn tưởng nhớ công lao và tôn vinh những người đã anh dũng hy sinh máu xương cho Tổ quốc, để chúng ta có cuộc sống như hôm nay.

Là công dân Việt Nam - một dân tộc Anh hùng, bất khuất, yêu hòa bình, chắc chắn không ai có thể chấp nhận những luận điệu bôi đen lịch sử về Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975, mà các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc. Những luận điệu đó hoàn toàn đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và nguyện vọng của Nhân dân. Vì vậy, mỗi chúng ta phải nêu cao tinh thần cảnh giác, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng; kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động./.

Sưu tầm

Phản bác luận điệu kỷ niệm ngày “quốc hận”

Năm nào cũng vậy, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4 - Ngày đất nước sạch bóng thù xâm lược, hòa bình tự do trở lại trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngày hòa hợp dân tộc, từng gia đình và cả dân tộc sum họp dưới mái nhà Việt Nam.

Cứ vào dịp này, tàn dư của chế độ Sài Gòn trước năm 1975 ở hải ngoại cũng xôm tụ kỷ niệm ngày “quốc hận” hay “tháng tư đen” với bát nháo các hoạt động với nhiều chủ đề như một hội chợ quê sau mùa gặt, nào là: “Nội ngoại đoàn kết vùng lên cứu nước”, “Tưởng niệm anh linh chiến sĩ vị quốc vong thân và đồng bào tử nạn vì lý tưởng tự do, dân chủ”; các địa điểm “ôm hận” cũng lòe loạt băng cờ biểu ngữ “Tất cả vì tổ quốc Việt Nam vẹn toàn lãnh thổ”;…“Sân khấu tuồng” với chủ đề “Đêm canh thức Quốc hận 30/4” kéo dài đến 11 giờ đêm với đại diện các “tổ chức, đoàn thể, liên hội và đảng phái” lần lượt phát biểu cùng nhau hô to những khẩu hiệu lên án “Cộng sản Việt Nam”, sau đó là phần đốt nến, cầu nguyện cho “Quê hương sớm thoát khỏi ách nạn, cầu nguyện cho đồng bào vượt qua hết mọi tai ương”. Rồi với rừng cờ và biểu ngữ trên tay, đoàn người tuần hành qua đường phố đòi hỏi “Tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam” với rợp bóng cờ vàng ba que và đủ loại quốc huy, biểu tượng của một chế độ đã nằm sâu dưới huyệt mộ.

Hãy nghiêm túc nhìn nhận, 30/4 không phải là “ngày Quốc Hận”. Đó là ngày chấm dứt chiến tranh, ngày đất nước sạch bóng ngoại xâm, ngày mà nhân dân Việt Nam giành lại quyền tự quyết, quyền làm chủ trên chính mảnh đất của mình. Những kẻ vẫn còn tiếc nuối một chế độ tay sai, bán nước, phản dân, thì dù có gây quỹ bao nhiêu, khóc lóc ra sao, cũng chỉ là những bóng ma chính trị lạc lõng giữa thế kỷ XXI. Hãy tỉnh táo lại! Đừng tiếp tục sống trong giấc mơ “phục quốc bằng da ua”. Đừng lấy lòng hận thù để che mắt sự thật và nhất là đừng dựng lên những màn kịch bằng buổi gây quỹ “chống Cộng” mà thực chất chỉ là dịp để ăn uống, kể chuyện xưa và moi tiền đồng hương.

Chiến thắng 30/4/1975 đã được 50 năm, đất nước Việt Nam ta, từ một đất nước bị nước ngoài xâm chiếm, từ một dân tộc bị nô lệ, đã đứng lên giành lại được nền độc lập dân tộc sau gần một thế kỷ mất nước và trở thành một quốc gia độc lập, thống nhất, có đầy đủ chủ quyền được pháp lý quốc tế thừa nhận, tôn trọng. Sự sụp đổ của Ngụy quyền Sài Gòn là tất yếu vì chính quyền đấy đi ngược lại lợi ích của nhân dân, lợi ích của quốc gia, dân tộc. Dù ai đó cố tình xuyên tạc, bóp méo thì cũng không thể làm lu mờ giá trị, ý nghĩa của sự kiện 30/4/1975 đối với tiến trình phát triển đất nước Việt Nam độc lập, tự lực, tự chủ, tự cường, tự hào dân tộc.

Sưu tầm

“Phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản” - Luận điệu xuyên tạc vô căn cứ

Để chống phá đường lối đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, các thế lực thù địch, phản động liên tục tung ra những luận điểm sai trái, phản động, trong đó có luận điểm “phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”. Đây là luận điệu xuyên tạc vô căn cứ, cần vạch trần và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Từ khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các thế lực thù địch đã hý hửng cho rằng chủ nghĩa xã hội, lý tưởng cộng sản đã “hết thời”, “cáo chung”, “đi vào ngõ cụt”. Trên thực tế, công cuộc đổi mới, cải cách, mở cửa thành công của các nước xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản mác xít chân chính, như: Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba, Lào đã dội “gáo nước lạnh”, dập tắt “sự vui mừng, hý hửng” của chúng. Thế nhưng, với bản chất ngoan cố và âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới và ở Việt Nam, thời gian qua, các thế lực thù địch đã, đang “chuyển hướng” chống phá chủ nghĩa xã hội cả về lý luận và thực tiễn với nhiều chiêu trò mới, “đánh lận con đen” như luận điệu: “phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”, mà chúng cho là “luận thuyết phát triển trong thời đại mới”. Để đánh lừa dư luận, làm lung lay nhận thức của những người thiếu hiểu biết, yếu bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin. Chúng còn lập luận rằng: “Chủ nghĩa xã hội chính là bước quá độ từ nghèo nàn, lạc hậu tiến tới chủ nghĩa tư bản, những mơ ước của chủ nghĩa xã hội thì chính chủ nghĩa tư bản đã thực hiện rồi”. Tinh vi hơn, chúng viện dẫn “V.I. Lênin là người đã nói đến việc sử dụng chủ nghĩa tư bản” để quy về “phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”. Chúng lợi dụng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đang sử dụng hình thức sở hữu tư nhân, xác định “phát triển thành phần kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế” để quy kết “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển chủ nghĩa tư bản, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội”, v.v. Luận điệu trên của các thế lực thù địch, phản động là hết sức thâm độc, nguy hiểm, nhằm phủ nhận mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa - tương lai tươi sáng của nhân loại, xóa nhòa ranh giới, “trộn lẫn” bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ tư bản chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam. Chúng ta có thể khẳng định rằng, luận điệu trên của các thế lực thù địch là hoàn toàn phi lý, vô căn cứ, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.

Về phương diện lý luận, cái gọi là “phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” là thứ lý thuyết chiết trung, hỗn tạp, ngụy biện vô căn cứ, nhằm xóa nhòa ranh giới, “trộn lẫn” bản chất của chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, phủ nhận lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung. Điều đó không thể và không bao giờ xảy ra!

Trên quan điểm duy vật lịch sử, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã nghiên cứu sâu sắc bản chất của chủ nghĩa tư bản trong các giai đoạn phát triển của nó và khẳng định: hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là hình thái kinh tế - xã hội cao nhất trong sự phát triển của lịch sử xã hội loài người, tất yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa, đó là quá trình phát triển lịch sử - tự nhiên, xã hội tư bản chủ nghĩa sẽ bị xã hội cộng sản chủ nghĩa phủ định biện chứng. Điều đó khẳng định, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là hai chế độ xã hội hoàn toàn khác nhau về bản chất.

Mặc dù, khi đánh giá về chủ nghĩa tư bản, với phương pháp biện chứng khoa học, khách quan, toàn diện, lịch sử, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã thừa nhận vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản; khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa tư bản thay thế xã hội phong kiến là tất yếu của lịch sử và nhờ vận dụng hiệu quả các quy luật của kinh tế thị trường, nên giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản trong quá trình thống trị chưa đầy một thế kỷ “đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”1. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là sự phát triển bởi sự thay thế phương thức bóc lột này (phong kiến) bằng phương thức bóc lột khác (tư bản chủ nghĩa), thậm chí còn tinh vi, xảo quyệt và tàn bạo hơn gấp nhiều lần. Hơn nữa, khi giai cấp tư sản đứng ở vị trí trung tâm, nó có vai trò lịch sử là đánh đổ giai cấp phong kiến, dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản - chế độ xã hội tiến bộ hơn chế độ phong kiến. Và khi giai cấp tư sản không còn đứng ở vị trí trung tâm của thời đại (chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, đi xâm chiếm các dân tộc trên thế giới) thì vị trí trung tâm đã chuyển sang giai cấp công nhân và chủ nghĩa tư bản trở nên lỗi thời, lạc hậu so với chế độ xã hội mới văn minh, tiến bộ hơn đó là chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bàn về vai trò và bản chất của Đảng Cộng sản, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận giải một cách khoa học về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - giai cấp duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thế giới xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. Đó là khách quan do chính địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân quy định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”2. Nhưng, sự nghiệp cách mạng vĩ đại, vẻ vang ấy thành công, một trong những điều kiện tiên quyết là giai cấp công nhân phải tổ chức ra chính đảng của mình, đó là Đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản là kết quả tất yếu của sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân, là đội tiền phong của giai cấp công nhân, lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tiến hành cuộc cách mạng lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng thành công chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. V.I. Lênin khẳng định: “Mục đích của giai cấp vô sản là thiết lập chủ nghĩa xã hội, xóa bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biến tất cả những thành viên trong xã hội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của mọi tình trạng người bóc lột người”3. Hơn nữa, cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo nhằm thực hiện nhiệm vụ xuyên suốt là xây dựng những yếu tố bản chất của chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không phải là “phát triển chủ nghĩa tư bản”. Đó là quá trình cách mạng cải tạo toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tất yếu còn sự đan xen giữa những yếu tố của xã hội cũ (chủ nghĩa tư bản) và xã hội mới (xã hội chủ nghĩa); đồng thời, luôn kế thừa những thành tựu của nhân loại đã đạt được trong giai đoạn tư bản chủ nghĩa, như V.I. Lênin đã nêu: thái độ của người cộng sản chân chính là phải biết bắc những chiếc cầu nhỏ xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước; phải học tập chủ nghĩa tư bản về kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý kinh tế, trình độ giáo dục, biết sử dụng các chuyên gia tư sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng, không thể và không bao giờ có thể xóa nhòa ranh giới, hoặc gán ghép một cách sống sượng, phi lý giữa “phát triển chủ nghĩa tư bản” với “sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”; đó chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm nhằm lừa bịp dư luận của các thế lực thù địch mà thôi!

Về phương diện thực tiễn, cái gọi là “phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” là sự xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành tựu của chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Trên thực tế, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga và lãnh tụ V.I. Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã giành thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, đập tan chế độ Nga Sa Hoàng và chính quyền của giai cấp tư sản, lập nên nhà nước Xô viết của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga. Mặc dù quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xô viết, Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga và V.I. Lênin cũng đã đề cập đến việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng theo V.I. Lênin, sử dụng chủ nghĩa tư bản với tư cách là sử dụng các hình thức kinh tế trung gian, quá độ để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chứ không phải là “Đảng Cộng sản lãnh đạo phát triển chủ nghĩa tư bản” như luận điệu mà các thế lực thù địch đang rêu rao và cổ súy!

Hiện nay, một thực tế hiển nhiên là sự điều chỉnh, thích nghi để tồn tại, phát triển ở các nước tư bản đều do các đảng của giai cấp tư sản lãnh đạo (ở Mỹ là Đảng Cộng hòa hoặc Đảng Dân chủ; ở Anh là Đảng Bảo thủ hoặc Công đảng,…) tuyệt nhiên không phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo, cầm quyền. Thực tiễn đó cho thấy, luận điệu “phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” của các thế lực thù địch là phi thực tế và vô căn cứ!

Ở Việt Nam, với vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày 03/02/1930, đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam, đứng lên vũ đài chính trị lãnh đạo và là chính đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành mục tiêu giành độc lập dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, phù hợp với quy luật phát triển và nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Việc các thế lực thù địch, phản động cho rằng: Việt Nam đang sử dụng hình thức sở hữu tư nhân, thậm chí xác định phát triển thành phần kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, đóng góp khoảng 70% GDP vào năm 2030, để quy kết “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển chủ nghĩa tư bản, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội” là sự xuyên tạc trắng trợn bản chất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bởi vì, nền kinh tế ở nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sử dụng nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế. Nghĩa là, thành phần kinh tế nhà nước dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, có vai trò vừa dẫn dắt, vừa quyết định bản chất nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Còn chủ trương phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng để phát triển kinh tế, không có nghĩa là nền kinh tế ở nước ta là kinh tế tư bản chủ nghĩa, mà chủ trương phát triển kinh tế tư nhân nhằm phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động; đồng thời, vẫn chịu sự dẫn dắt, định hướng xã hội chủ nghĩa của thành phần kinh tế nhà nước, tuyệt đối không phải là nền kinh tế tư bản như các thế lực thù địch đã xuyên tạc! Hơn nữa, khi khẳng định về chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội...”4. Thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là sau gần 40 năm đổi mới toàn diện do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội đã khẳng định: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”5.

Như vậy, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn, luận điệu “phát triển chủ nghĩa tư bản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” mà các thế lực thù địch đang rêu rao không chỉ chống phá cách mạng nước ta về nền tảng tư tưởng, mà còn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hướng lái cách mạng nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chính vì vậy, hơn bao giờ hết chúng ta luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết vạch trần, đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động ẩn sau những quan điểm, luận điệu tương tự, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng và sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa cách mạng nước ta vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng một xã hội phát triển giàu đẹp, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Sưu tầm

Đại thắng mùa Xuân 1975 - Sự kiện lịch sử trọng đại, hào hùng, xua tan mọi luận điệu xấu độc

Năm nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta long trọng kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) - trang vàng chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, một sự kiện trọng đại biến ước mơ của nhân dân ta về độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc thành hiện thực. Song, bất chấp sự thật, ở đâu đó vẫn còn những người “hậm hực”, với thái độ “hằn học”, cố tình đưa ra những xuyên tạc về sự kiện lịch sử trọng đại này. Vì vậy, chúng ta phải đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu trang bác bỏ.

Đại thắng mùa Xuân 1975 là chiến công chói lọi, thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng. Chỉ trong 55 ngày đêm, ta đã đánh bại hoàn toàn quân ngụy với trên một triệu tên, do Mỹ tổ chức, huấn luyện, nuôi dưỡng và trang bị; đập tan chế độ ngụy quyền tay sai của Mỹ ở miền Nam. Trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam (tính từ năm 1954 - 1975), đế quốc Mỹ đã tiêu tốn 676 tỉ USD; nếu so với Chiến tranh thế giới thứ nhất (25 tỉ USD), Chiến tranh thế giới thứ hai (341 tỉ USD) và chiến tranh ở Triều Tiên (54 tỉ USD), thì chi phí của Mỹ cho cuộc chiến tranh tại Việt Nam là một con số khổng lồ. Trong 09 năm trực tiếp đưa quân tham chiến tại Việt Nam, có khoảng gần 58 nghìn lính Mỹ đã thiệt mạng. Đây là thất bại to lớn của đế quốc Mỹ.

Đại thắng mùa Xuân 1975 kết thúc oanh liệt 30 năm đấu tranh (chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc xâm lược) giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc; mang tầm vóc to lớn cả về quân sự và chính trị, cả về không gian và lực lượng. Điều đó thể hiện sâu sắc tài thao lược, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh xuất sắc của Đảng ta trong việc tổ chức lực lượng, xây dựng thế trận, tạo và nắm bắt thời cơ, hạ quyết tâm cho trận quyết chiến chiến lược để giành thắng lợi trọn vẹn. Đồng thời, phản ánh nghị lực phi thường của Quân đội ta, nhân dân ta, khẳng định ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã thực hiện trọn vẹn ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc mà Người để lại: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”1.

Đánh giá về tầm vóc và ý nghĩa của sự kiện lịch sử đó, Đại hội lần thứ IV của Đảng đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất. Một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”2.

Từ thắng lợi vĩ đại đó, trải qua nửa thế kỷ, đất nước ta đã và đang phát triển vượt bậc, vươn tầm, từng bước sánh vai với các cường quốc năm châu. Đó là sự thật rất sáng tỏ. Vậy nhưng, vẫn luôn xuất hiện những luận điệu xảo trá, đen tối, thâm độc nhằm xuyên tạc ý nghĩa cao cả và trọng đại của Đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước. Điển hình và tựu chung của các luận điệu xấu xa ấy cho rằng: cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của chúng ta là sai lầm, dẫn đến cảnh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc. Để ngụy biện cho luận điệu trên, họ lấy dẫn chứng Nam - Bắc Triều Tiên, Đông - Tây nước Đức không có cuộc kháng chiến nhưng vẫn bình thường, phát triển. Có thể khẳng định rằng, những luận điệu đó không hề mơ hồ, ngây ngô hoặc hồ đồ mà là một ý đồ thâm độc, đổi trắng thay đen của các thế lực thù địch. Và tất nhiên, sự công kích trắng trợn đó không lừa dối được ai. Chúng ta có đủ luận cứ để bác bỏ hoàn toàn ý đồ xấu xa đó với những nội dung sáng tỏ sau:

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là cuộc chiến tranh chính nghĩa, không phải “nồi da nấu thịt” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (năm 1954), thực hiện Hiệp định Giơnevơ, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương chuyển cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ đấu tranh quân sự sang đấu tranh chính trị, mong muốn giữ vững hòa bình, tiến tới thống nhất đất nước thông qua tổng tuyển cử vào tháng 7/1956. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ với dã tâm thực hiện mưu đồ chia cắt lâu dài đất nước ta đã trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, dựng lên chính quyền tay sai Việt Nam cộng hòa ở miền Nam, từ chối tổng tuyển cử, ra sức đàn áp những người yêu nước. Từ năm 1965 đến tháng 01/1973, Mỹ đã huy động khoảng 03 triệu lượt quân Mỹ và chư hầu cùng khối lượng khổng lồ vũ khí, khí tài quân sự vào loại hiện đại nhất trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam, từng bước mở rộng chiến tranh ra miền Bắc; đồng thời, nuôi dưỡng chính quyền tay sai để thực hiện mưu đồ biến miền Nam Việt Nam thành tiền đồn của Mỹ ở Đông Nam Á.

Tổng thống Pháp Ph. Mit-tơ-răng trong dịp sang thăm chính thức Việt Nam tháng 02/1993, khi trả lời các nhà báo, đã nhận xét: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại nhưng không tìm được. Dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh đã bị đẩy vào chiến tranh”3.

Như vậy, dưới góc độ lịch sử và pháp lý, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam không phải là một cuộc nội chiến, “nồi da nấu thịt” như các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc, mà là cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống giặc ngoại xâm. Bởi, chính đế quốc Mỹ là kẻ xâm lược, còn Việt Nam chỉ thực hiện quyền tự vệ chính đáng. Cũng giống như cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trước đó, trước họa xâm lược của đế quốc Mỹ, nhân dân Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác, buộc phải đứng lên chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, không phải vì hận thù mà vì khát vọng độc lập và thống nhất đất nước.

Không có chuyện “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc

Sau Hiệp định Giơnevơ, với mưu đồ hất cẳng Pháp để độc chiếm miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ đã dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm làm công cụ cai trị và đàn đáp nhân dân ta. Giữa năm 1956, Ngô Đình Diệm tuyên bố lập nước “Việt Nam cộng hòa”. Thực tế, cái gọi là chính quyền “Việt Nam cộng hòa” không phải là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam. Bởi, chính nhân dân miền Nam là lực lượng nòng cốt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam Việt Nam, điển hình là phong trào Đồng Khởi năm 1959 hay sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam năm 1960. Các lực lượng này được xây dựng từ chính người dân miền Nam, phản ánh khát vọng độc lập, tự do của họ.

Mặt khác, chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm cũng như các chính quyền của ngụy sau này, về bản chất chỉ là một bộ máy được Mỹ dựng lên và nuôi dưỡng, phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Thực tiễn lịch sử minh chứng: sau khi lên làm tổng thống ngụy, Ngô Đình Diệm đã thi hành ngay chính sách trả thù những người kháng chiến; phát động chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” với khẩu hiệu “tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “thà giết nhầm hơn bỏ sót”. Tháng 5/1959, Ngô Đình Diệm ra đạo luật phát xít 10/59, thẳng tay giết hại biết bao chiến sĩ, đồng bào yêu nước: “Tiếng máy chém đầu văng trong ánh thép, nhân dân quằn quại dưới xiềng gông, đạn bom rơi, xác ngã chất chồng, người chết không yên, tan mồ nát mả”4. Tính từ cuối năm 1954 đến năm 1959, chúng đã bắt giam 466.000 người, giết hại 68.000 người; điển hình là vụ thảm sát Phú Lợi (tháng 12/1958): chúng đầu độc 6.000 tù nhân yêu nước, giết hại 1.000 người và làm 4.000 người khác trúng độc nặng. Chúng còn hò hét “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”, “giải phóng cố đô”, v.v. Như vậy, đủ thấy tội ác của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai “trời không dung, đất không tha”, buộc chúng ta phải đứng lên kháng chiến, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, đâu phải là “huynh đệ tương tàn”!

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc, tạo điều kiện cho những người từng ở phía bên kia chiến tuyến có cơ hội hòa nhập với xã hội. Khoản 2, Điều 5, Chương I, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, quy định rõ: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”. Điều đó chứng minh rằng cuộc kháng chiến không nhằm tiêu diệt lẫn nhau, mà nhằm giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Vì vậy, luận điệu cho rằng, Đại thắng mùa Xuân 1975 là thắng lợi của cuộc chiến “huynh đệ tương tàn” giữa người Việt với nhau là một nhận định hoàn toàn sai trái, không phản ánh đúng bản chất của cuộc chiến.

Thành quả vĩ đại của Đại thắng mùa Xuân 1975

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975 là chặng đường chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, biểu tượng sáng ngời của bản lĩnh, trí tuệ và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Thời gian càng lùi xa, cùng với những đổi thay của thực tiễn trong nước và thế giới, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn về tầm vóc, ý nghĩa to lớn và giá trị trường tồn của Đại thắng mùa Xuân 1975. Điều đó đã chứng minh rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là chính nghĩa, hoàn toàn đúng đắn và đã mang lại những thành tựu vĩ đại:

Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc vẻ vang sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài liên tục 21 năm; chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài 117 năm của thực dân, đế quốc xâm lược trên đất nước ta, làm cho Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập, thống nhất. Nếu không có thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, Việt Nam có thể đã bị chia cắt hai miền, thậm chí vẫn còn cảnh bị đô hộ của chủ nghĩa thực dân mới. Việc thống nhất đất nước đã giúp nhân dân ta được sống trong hòa bình, cùng nhau xây dựng và phát triển, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Mở đường cho sự phát triển của Việt Nam. Sau chiến tranh, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng nhờ có độc lập, chủ quyền và sự đoàn kết toàn dân, Việt Nam đã từng bước phục hồi, cải cách và phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế. Qua gần 40 năm đổi mới, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như hiện nay”, nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc; tạo tiền đề vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, phồn vinh, thịnh vượng.

Khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Phát huy tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cùng với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đã tăng cường đoàn kết hữu nghị quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ vật chất và tinh thần của nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa anh em và ngay cả nhân dân Mỹ. Cuộc kháng chiến của Việt Nam toàn thắng đã khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; là biểu tượng của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới. Nhiều nước từng chịu ách thuộc địa đã lấy Việt Nam làm hình mẫu trong cuộc đấu tranh giành độc lập của họ.

Quan hệ Việt Nam - Mỹ ngày nay. Sau Đại thắng mùa Xuân 1975, trải qua hành trình dài nỗ lực của cả hai phía Việt Nam và Mỹ, tháng 7/1995, Tổng thống Mỹ Bill Clinton chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, làm tiền đề cho bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ hai nước. Các chuyến thăm sau đó của lãnh đạo cấp cao hai nước tới Việt Nam và Mỹ thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Mỹ phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, ngày 10/9/2023, nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden, Việt Nam và Mỹ tuyên bố nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện, một lần nữa ghi dấu mốc quan trọng trong quan hệ hai nước. Việc Việt Nam và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao, trở thành đối tác chiến lược toàn diện cho thấy rằng, cuộc chiến không xuất phát từ lòng thù hận dân tộc, mà từ khát vọng độc lập, tự do và tự chủ. Thử hỏi, nếu như cuộc kháng chiến của Việt Nam là “sai lầm”, liệu Mỹ có thể tôn trọng và hợp tác với Việt Nam như hiện nay?

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam là hoàn toàn chính nghĩa, nhằm bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước, không phải là cuộc “nồi da nấu thịt” hay “huynh đệ tương tàn” như các thế lực thù địch từng xuyên tạc. Thành quả mà cuộc kháng chiến mang lại là không thể phủ nhận, giúp Việt Nam có được vị thế vững chắc như ngày hôm nay. Do đó, mọi âm mưu bóp méo lịch sử nhằm phủ nhận công lao của nhân dân ta, gây chia rẽ dân tộc và làm lung lạc nhận thức của thế hệ trẻ cần phải bị vạch trần, đấu tranh bác bỏ. Chúng ta cần nhìn nhận lịch sử một cách khách quan và khoa học, tỉnh táo trước các thông tin sai lệch. Việc hiểu đúng về quá khứ không phải để khơi gợi hận thù, mà để trân trọng hơn những giá trị của hòa bình và độc lập ngày hôm nay. Để chúng ta đoàn kết hơn, quyết tâm hơn, tiếp tục phát huy tinh thần Đại thắng mùa Xuân 1975 vào xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Bác Hồ hằng mong muốn.

Sưu tầm