Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2025
100 NĂM BÁO CHÍ CÁCH MẠNG - VŨ KHÍ SẮC BÉN TRONG ĐẤU TRANH VÀ XÂY DỰNG DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG!
Thứ Tư, 18 tháng 6, 2025
CUỘC CHIẾN TRÊN MẶT TRẬN BÁO CHÍ VÀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ “VŨ KHÍ TƯ TƯỞNG” CỦA ĐẢNG
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIẢI THỂ BAN CHQS CẤP HUYỆN, THÀNH LẬP BAN CHỈ HUY PHÒNG THỦ KHU VỰC “LÀM TỐT THỜI BÌNH NHƯNG PHẢI TÍNH ĐẾN KHI CÓ TÌNH HUỐNG”!
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: GIẢI MÃ “QUYỀN TỰ VỆ CỦA ISRAEL” THEO TUYÊN BỐ CHUNG CỦA G-7!
Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025
ÂM MƯU XÓA BỎ LỊCH SỬ!
CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: ISRAEL - IRAN “CUỘC ĐẤU TRÍ TRÊN LỬA ĐẠN VÀ NHỮNG LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC CÒN GIẤU KÍN”!
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÊ BÁ KHÁNH TRÌNH - HUYỀN THOẠI THẦM LẶNG CỦA TOÁN HỌC VIỆT NAM 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG THÔNG TIN ĐƯỢC BIẾT VỀ CUỘC TẤN CÔNG TRẢ ĐŨA CỦA IRAN VÀO ISRAEL!
Giúp nhân dân biên giới sớm ổn định cuộc sống sau mưa lũ
Trong đợt mưa lớn diễn ra tại tỉnh Quảng Trị, địa bàn huyện Hướng Hóa bị ảnh hưởng rất nặng nề như ngập lụt ở một số địa bàn thị trấn Lao Bảo, xã Thuận, giao thông trên các tuyến đường bị gián đoạn do sạt lở đất. Trước tình hình thực tế, các đơn vị lực lượng vũ trang đã điều động cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ di dời 217 hộ dân/1.007 nhân khẩu, cùng nhiều tài sản đến nơi an toàn. Bộ đội, dân quân tổ chức chốt chặn tại các tuyến đường giao thông bị ngập úng, sạt lở đất không để người dân qua lại. Nhờ sự chủ động của các lực lượng, cùng biện pháp kịp thời, huyện Hướng Hóa không để thiệt hại về tính mạng nhân dân. Ngày 14-6, khi mưa ngớt, nước trên sông, suối rút xuống, Ban chỉ huy phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn huyện Hướng Hóa đã huy động tối đa lực lượng khẩn trương bám địa bàn khắc phục hậu quả.
![]() |
Hỗ trợ các gia đình dọn dẹp nhà cửa, sắp xếp lại đồ dùng sinh hoạt ổn định cuộc sống. |
![]() |
| Nỗ lực vệ sinh làm sạch các trục đường giao thông bị ngập úng sau khi lũ rút. |
Trên tinh thần nước rút đến đâu khắc phục đến đó, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị: Ban CHQS huyện; đồn Biên phòng trên tuyến biên giới và lực lượng dân quân tự vệ các xã khẩn trương giúp dân vệ sinh nhà cửa, công trình dân sinh, đường giao thông, tổng dọn môi trường.
Kiên định vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam
Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng, phát triển sáng tạo để đề ra đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cách mạng. Dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với hai nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập cho dân tộc và quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, đến cách mạng xã hội chủ nghĩa với hai nhiệm vụ cơ bản là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và sau đó, đến công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Vì vậy, trong các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta và với xu thế của thời đại. Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gần 40 năm qua đã khẳng định sức sống bền vững, giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó khẳng định đường lối đổi mới là đúng đắn, sáng tạo, hợp lòng dân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ đó mà đất nước ta, như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nhận định, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”
Bản chất, mục tiêu chính trị của Quân đội luôn gắn với bản chất giai cấp và nội dung của Nhà nước
Từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn lịch sử ra đời, phát triển của quân đội đã chỉ rõ, quân đội nào cũng đều do giai cấp thống trị xã hội đó tổ chức ra, là công cụ chuyên chính bảo vệ lợi ích, địa vị thống trị của giai cấp ấy. “Bản chất giai cấp và nội dung của nhà nước như thế nào thì quân đội - người bảo vệ lợi ích của nó như thế ấy”. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, ra đời trước khi nhân dân ta giành được chính quyền, thành lập nhà nước. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng trở thành nguyên tắc trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất, có mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời.
Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp, mục đích chính trị của nhà nước tổ chức ra và nuôi dưỡng nó, không có quân đội trung lập về chính trị, quân đội đứng ngoài giai cấp và nhà nước. Trong xã hội có giai cấp, không bao giờ có quân đội đứng ngoài chính trị, không mang bản chất chính trị của giai cấp, nhà nước nào. V. I. Lê-nin khẳng định: “Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được”. Thực tiễn lịch sử nhân loại chứng minh rằng, sự nghiệp cách mạng và con đường phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc lãnh đạo. Lực lượng chính trị ấy sẽ tổ chức, lãnh đạo quân đội, bảo đảm cho nó thực sự là công cụ bạo lực vũ trang của lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc đang lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc đó phát triển. Điều này cho thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của cái gọi là “quân đội phi giai cấp”. Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, mang lại quyền tự do, dân chủ, hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, Đảng lãnh đạo Quân đội là tất yếu và Quân đội mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội về chính trị, củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, chú trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Thực tiễn đó là không thể phủ nhận, hơn thế còn là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điểm xuyên tạc, kích động đòi tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Tầm quan trọng của việc phòng, chống chủ nghĩa cơ hội
V.I. Lê-nin khẳng định: “Khi nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không bao giờ được quên đặc điểm của tất cả chủ nghĩa cơ hội hiện đại trong mọi lĩnh vực là: nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể nào hiểu nổi được. Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát; bao giờ cũng tìm con đường trung dung, quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thoả thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia,...”. Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, khi nói về những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là “bọn hoạt đầu” và Người đã đề cập tác hại của nó trong Quốc tế Cộng sản II: “Vì bọn hoạt đầu trong Đệ nhị quốc tế đã phản mục đích hội mà hoá ra chó săn cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa, hoá ra phản cách mệnh”, chính vì để cho chủ nghĩa cơ hội nảy sinh, lũng đoạn và chi phối nên Quốc tế Cộng sản từ một tổ chức cách mạng mà bị chuyển hóa thành phản cách mạng, “Đệ nhị quốc tế trước vẫn là cách mệnh, nhưng vì kỷ luật không nghiêm, tổ chức không khéo, để tụi hoạt đầu xen vào nhiều quá; sau hoá ra phản cách mệnh”. Do đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cần phải chống chủ nghĩa cơ hội một cách quyết liệt, triệt để, bởi lẽ, “Không chống chủ nghĩa cơ hội thì không lãnh đạo được”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì việc chống chủ nghĩa cơ hội là yêu cầu tất yếu, phải tiến hành thường xuyên, liên tục vì chủ nghĩa cơ hội có thể nảy sinh và phát triển mọi lúc mọi nơi. Người khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam luôn luôn đấu tranh mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng. Trong khi kiên quyết tập trung mũi nhọn chống bọn đế quốc xâm lược và bọn tay sai của chúng, Đảng không hề lơ là việc đấu tranh chống những tư tưởng phản động, tư tưởng tư sản cải lương đầu hàng và thỏa hiệp với đế quốc; chống tư tưởng tiểu tư sản bấp bênh dao động, chống những biểu hiện chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tả khuynh; ra sức đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng, giữa chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa cá nhân có mối quan hệ gần gũi, đều theo đuổi lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ, bất chấp lợi ích tập thể, cộng đồng, xã hội. Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội là tận dụng, khai thác triệt để tình hình để theo đuổi lợi ích cục bộ, trước mắt, bất chấp lợi ích toàn thể, lợi ích lâu dài, lợi ích cộng đồng, xã hội; còn chủ nghĩa cá nhân luôn luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên, lên trước lợi ích tập thể, lợi ích chung. Chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân của nhiều căn bệnh trong đó có bệnh cơ hội chủ nghĩa, do đó, đồng thời với phòng, chống chủ nghĩa cơ hội, phải kiên trì, kiên quyết phòng, chống chủ nghĩa cá nhân
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc
Trong các bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Đồng thời, bằng chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập trong phong trào thi đua yêu nước.
Thi đua yêu nước do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trong chế độ cũ, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, nai lưng làm việc cho chủ để mình và gia đình mình không bị chết đói, “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”. Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”.
Nội dung cốt lõi, cũng như bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc cách mạng, thực hiện tốt hơn công việc hằng ngày. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nêu trên xuất phát và biểu hiện trên vấn đề cơ bản là: Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và tầm quan trọng của thi đua yêu nước; Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc yêu nước mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày.
Người khởi xướng, dẫn dắt Phong trào thi đua “Ba nhất”
Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã vận dụng một cách sáng tạo vào chỉ đạo tổ chức công tác thi đua thành hành động cách mạng của hàng triệu quần chúng, bộ đội. Ngay sau khi được Đảng, Chính phủ điều động vào Quân đội và giao trọng trách Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tại Hội nghị cán bộ chính trị chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới năm 1950, đồng chí đã căn dặn cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chính trị các đơn vị tham gia chiến dịch phải làm thật tốt các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; đặc biệt, cần phải phát động một cuộc vận động lập công.
Trong những năm 1954-1958, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cùng với Tổng Quân ủy, Tổng cục Chính trị đề ra chủ trương và chỉ đạo toàn quân đẩy mạnh các phong trào thi đua nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại, góp phần củng cố, bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Quán triệt chủ trương này, Lữ đoàn 364 pháo binh mở phong trào học tập, rèn luyện trở thành “Pháo thủ toàn năng”. Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 305 bộ binh phát động phong trào “Vượt lên hàng đầu”. Quân khu Tả Ngạn phát động và lãnh đạo phong trào rèn luyện thể lực mang tên “Đại đội gió”, bắt đầu từ Đại đội 2, Trung đoàn 50... Trước những diễn biến này, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thường xuyên theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ các đơn vị, tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đưa phong trào thi đua vào chiều sâu, có chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tháng 11-1958, Tổng Quân ủy phát động Phong trào thi đua “Tiến nhanh hoàn thành vượt mức kế hoạch xây dựng Quân đội”.
Để phong trào thi đua đạt được hiệu quả, thiết thực, cần phải tìm ra các nhân tố mới, phát hiện các điển hình tiên tiến; đồng thời, chú trọng công tác tổng kết kinh nghiệm để phát huy. Thấu triệt quan điểm đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn dành thời gian đến với các đơn vị cơ sở để phát hiện và tạo dựng phong trào. Ngay khi đến Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đoàn Vinh Quang (Sư đoàn 304), đồng chí đi sâu tìm hiểu tình hình và phát hiện, đơn vị đã dựa vào chi bộ, chi đoàn để phát động quần chúng và đề ra khẩu hiệu “Tiến công vào khoa học-kỹ thuật, làm chủ vũ khí, trang bị mới”. Với sự lan tỏa mạnh mẽ của phong trào và ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, ở hội thi bắn đạn thật toàn quân (tháng 6-1960), Sư đoàn 304 đạt đơn vị bắn giỏi nhất, đoàn có nhiều phân đội tham gia nhất, thành tích đều nhất. Tại lễ trao Huân chương tặng Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã khái quát những thành tích của đơn vị là “Ba nhất”. Nội dung của “Ba nhất” (nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; nhất về mặt gương mẫu, kỷ luật; nhất về lao động và sản xuất) đã lôi cuốn các đơn vị trong toàn quân, mở rộng ra cả những đơn vị dân quân, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa bộ đội thường trực và lực lượng hậu bị, củng cố khối đoàn kết công-nông-binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
“Ba nhất” được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phát động thành phong trào thi đua trong toàn quân. Đó là một phong trào thi đua, một hình tượng thi đua điển hình vừa cụ thể vừa sinh động, lấy huấn luyện chiến đấu, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu làm trung tâm, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình làm mục tiêu thi đua cụ thể. Với ý nghĩa đó, “Ba nhất” được nêu lên như một khẩu hiệu hành động có sức hấp dẫn mạnh mẽ, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ toàn quân hăng say thi đua sáng tạo, lập công.
Chủ nghĩa cơ hội và những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội
Chủ nghĩa cơ hội là không theo một đường lối rõ rệt, không có chính kiến rõ ràng, ngả nghiêng nhằm mưu lợi trước mắt. Chủ nghĩa cơ hội ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lúc đầu, chủ nghĩa cơ hội chỉ có một vài xu hướng, bè phái cơ hội, như Pierre Joseph Proudhon, Mikhail Alexandrovich Bakunin, nhưng sau đã phát triển thành một lực lượng chính trị đáng kể trong các đảng chủ chốt của Quốc tế Cộng sản II, dẫn tới sự phân liệt sâu sắc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
V.I. Lê-nin cho rằng, những người theo chủ nghĩa cơ hội là những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc, không triệt để, dứt khoát, sẵn sàng thỏa hiệp chính trị để theo đuổi lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt; sẵn sàng chà đạp lên cái toàn cục, lợi ích cơ bản, lâu dài. Chính vì vậy, những người theo chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù của phong trào cách mạng, trong khi cách mạng là nhằm giải phóng triệt để giai cấp công nhân, xây dựng chủ nghĩa xã hội để đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do, dân chủ thực sự cho nhân dân, thì những người theo chủ nghĩa cơ hội chủ trương thỏa hiệp, cải lương nên không cùng chí hướng với giai cấp công nhân cách mạng, “bọn này dĩ nhiên là kẻ thù chính của chủ nghĩa Bôn-sê-vích trong nội bộ phong trào công nhân. Nó lại còn là kẻ thù chính trên phạm vi quốc tế nữa”.
Nhìn chung, biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội rất đa dạng, như: Không có chính kiến, không có quan điểm rạch ròi, hoang mang dao động, dễ thỏa hiệp, sẵn sàng thay đổi; lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội để thỏa mãn nhu cầu và lợi ích cá nhân, bất chấp các hậu quả đối với cộng đồng, xã hội; không tin và không biết dựa vào nhân dân để thực hiện nhiệm vụ nhằm đem lại lợi ích cho cho tập thể; thiếu năng lực khắc phục khó khăn trong công việc chung,...
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước sự khó khăn, những người phạm chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa cơ hội thiếu đầu óc sáng suốt và thiếu năng lực khắc phục khó khăn, vì họ không biết dựa vào quần chúng và dựa vào Đảng, hoặc là họ không tin vào quần chúng, và không tin vào Đảng”. Người còn cho rằng, thiếu nguyên tắc, thiếu kiên trì, thiếu triệt để trong công tác và chủ nghĩa cơ hội có mối liên quan đến nhau. Những người theo chủ nghĩa cơ hội thường thiếu nguyên tắc, không kiên trì, kiên nhẫn, triệt để trong công tác, và ngược lại, nếu không kiên trì, kiên nhẫn, triệt để thì cũng sẽ dẫn đến chủ nghĩa cơ hội.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng phải gan dạ, có kinh nghiệm, khôn khéo, kiên quyết mới lãnh đạo được kháng chiến. Đảng viên đều phải có gan hy sinh hết cho quyền lợi của quần chúng. Gan dạ mà không có kinh nghiệm thì dễ làm ẩu; cần có kinh nghiệm để làm cho đúng, đã gan dạ có kinh nghiệm rồi lại phải khôn khéo. Khôn khéo nghĩa là khi Đảng ra chính sách nào đó phải giải thích thế nào cho hợp với địa phương, đưa quần chúng ra tranh đấu... chứ không phải là khôn vặt. Đã khôn rồi lại phải kiên quyết, không kiên quyết thì dễ đi đến cơ hội”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cảnh báo, những người lãnh đạo, quản lý rơi vào chủ nghĩa cơ hội thường theo đuổi “vinh thân phì gia” và bị chi phối bởi quan niệm lạc hậu là “một người làm quan cả họ được nhờ”, biểu hiện trong chính trị là “đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”










