Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2025

100 NĂM BÁO CHÍ CÁCH MẠNG - VŨ KHÍ SẮC BÉN TRONG ĐẤU TRANH VÀ XÂY DỰNG DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG!

         Với điểm mốc đầu tiên là Báo Thanh Niên - Cơ quan ngôn luận của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - Tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc sáng lập, xuất bản bằng chữ Quốc ngữ, ra số đầu tiên ngày 21-6-1925, báo chí cách mạng ra đời như một tất yếu lịch sử, đáp ứng nhu cầu bức thiết của quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ một tờ báo được tổ chức nội dung và in ấn ở nước ngoài rồi bí mật chuyển về nước, báo chí cách mạng đã không ngừng lớn lên, phát triển cùng với phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành một hệ thống báo chí đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung, ngày càng hiện đại về công nghệ, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu trong nước, sức ảnh hưởng ngày càng mở rộng, nâng lên trên phạm vi quốc tế. Báo chí cách mạng Việt Nam đã để lại những dấu son sáng chói trong lịch sử 100 năm xây dựng và phát triển.

1. Ngay trong số 1 của Báo Thanh Niên đã chỉ ra rằng: “Để dẫn dắt nhân dân làm một sự nghiệp vĩ đại, cần phải có một sức lãnh đạo. Sức lãnh đạo đó không phải của một vài người thôi, mà sinh ra từ sự hiệp lực của hàng ngàn, hàng vạn người... Muốn cho hàng ngàn, hàng vạn người ấy đoàn kết chặt chẽ với nhau, thì họ phải cùng một ý chí như nhau, họ phải theo đuổi cùng một mục đích như nhau, có vậy mới có đoàn kết".

Sự ra đời của Báo Thanh Niên và cả nền báo chí cách mạng được khai sinh từ đó, chính là nhằm góp phần tạo nên “sự hiệp lực của hàng ngàn, hàng vạn người", làm cho “hàng ngàn, hàng vạn" người dân Việt Nam có “cùng một ý chí như nhau”, “theo đuổi cùng một mục đích như nhau”. Ý chí đó là niềm tự hào dân tộc, quyết không chịu mất nước, quyết không cam chịu làm thân nô lệ cho giặc ngoại bang, mục đích đó là đánh đuổi thực dân, đế quốc xâm lăng, đánh đổ phong kiến phản động, giành độc lập, tự do cho dân tộc, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong quá trình phát triển suốt 100 năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã trung thành với tôn chỉ mục đích đặt ra từ ban đầu, trở thành vũ khí sắc bén, đồng hành với dân tộc từ trong cuộc đấu tranh gian khổ, hy sinh, lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp, đánh đuổi các đội quân xâm lược hùng mạnh của đế quốc Nhật, đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước vì hạnh phúc của nhân dân, làm nên những trang sử vẻ vang, rất đỗi tự hào.

Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, khắc nghiệt dưới sự cai trị của bộ máy cảnh sát, mật vụ thực dân Pháp câu kết với phong kiến phản động, hay trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, chống thực dân Pháp xâm lược, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, báo chí cách mạng trở thành vũ khí chiến đấu, “công cụ tuyên truyền, cổ động, tổ chức và lãnh đạo" cách mạng của Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Đó là những năm tháng sự nghiệp cách mạng còn trong trứng nước, Báo Thanh Niên, Tạp chí Đỏ do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập và xuất bản từ nước ngoài, bí mật chuyển về trong nước. Mỗi tờ báo, tạp chí thô sơ, ít ỏi, vượt qua được hàng rào mật thám, cảnh sát Pháp và cả những tên tay sai chỉ điểm để về được đất nước, đến được với những người yêu nước, cán bộ, đảng viên, thực sự là một tờ hịch cách mạng có ý nghĩa vô cùng quý báu.

Chính Giám đốc Sở Mật thám Đông Dương Louis Marty đã nhận xét trong một bản báo cáo gửi Bộ Thuộc địa Pháp, qua đó cho thấy chính quyền thực dân Pháp hiểu rõ và đánh giá rất cao sức mạnh tư tưởng của Báo Thanh Niên: “Những tờ Thanh Niên đầu tiên nhấn mạnh về sự đoàn kết nội bộ, nhờ đó mà đoàn thể có sức mạnh và những cá nhân trong đoàn thể làm việc có kết quả hơn. Đồng thời, báo cũng cổ vũ tinh thần độc lập dân tộc và lòng yêu nước mà người Việt Nam lúc bấy giờ đang háo hức chờ dịp để thi thố. Sau đó, tờ báo giúp bạn đọc nhận định về tình hình thế giới, đặc biệt là những biến chuyển vừa xảy ra trong lịch sử các cường quốc... Tờ báo hướng dẫn từ từ cho mọi người hiểu rằng hiện nay trên thế giới đã có nước Nga theo chế độ Xô viết, dân ở nước Xô viết ấy sống tự do, hạnh phúc. Nguyễn Ái Quốc, người chủ biên Báo Thanh Niên tỏ ra kiên nhẫn suốt trong 60 số báo đầu để cho bạn đọc chuẩn bị tinh thần và tình cảm, rồi sau cùng mới bày tỏ công khai chủ trương của mình: Chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể đem lại hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam”.

Trong thời kỳ từ 1925 đến trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhiều tờ báo đã bí mật xuất bản trong nước như: Búa liềm, Cờ Cộng sản, Nhân loại; các báo ở các địa phương: Sao đỏ ở Hải Phòng, Mỏ than ở Hồng Quảng, Tia sáng ở Nam Định, Bôn sơ vích ở Trung Kỳ... và một số tờ báo khác xuất bản ở nước ngoài như Công Nông, Lính cách mệnh, Đồng thanh, Thân ái... Cùng với Báo Thanh Niên, các ấn phẩm, các tờ báo cách mạng trong thời kỳ này đã góp phần quan trọng trong truyền bá tư tưởng cách mạng, giáo dục tinh thần yêu nước, huấn luyện đội ngũ cán bộ, chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong giai đoạn 1930-1939, nhất là từ năm 1936 khi Mặt trận Bình dân thắng cử cầm quyền ở Pháp đến năm 1939, các báo của các tổ chức của Đảng được xuất bản khắp các địa phương, khu vực trong cả nước, trong đó, Le Travail, Notre voix, Tin tức, Đời nay... ở Bắc kỳ; La Lutte, L'Anvant garde, Dân chúng... ở Nam kỳ và Nhành lúa, Dân... ở Trung kỳ. Đây là thời kỳ báo chí cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng hoạt động công khai kết hợp bán công khai, mở rộng tầm ảnh hưởng trong xã hội, phát động nhiều hình thức đấu tranh phong phú, chuẩn bị lực lượng cho cao trào cách mạng 1941-1945 tiến tới giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Trong giai đoạn từ năm 1941 đến 1945, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, đã chỉ đạo xuất bản tờ Việt Nam độc lập. Cùng với Việt Nam độc lập, nhiều tờ báo khác như: Giải phóng, Cứu quốc, Cờ Giải phóng, Tạp chí Cộng sản, Lao động, Bẻ xiềng... được xuất bản, đáp ứng yêu cầu chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Các cơ quan báo chí như: Sự thật, Nhân Dân, Tiên phong, Văn nghệ, Sao vàng, Lao động, Quân đội nhân dân, Nhân dân miền Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Tiếng nói Nam Bộ... trở thành một hệ thống các phương tiện phục vụ công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Báo Quân đội nhân dân được tổ chức biên tập xuất bản ngay tại sở chỉ huy chiến dịch ở Mường Phăng. 33 số báo, từ số 116 đến số 148, xuất bản từ ngày 28-12-1953 đến 16-5-1954 được phát đến từng trung đội, trở thành báu vật giữa chiến trường đỏ lửa, truyền đi quyết tâm chính trị, sự động viên kịp thời của Bác Hồ, Trung ương Đảng, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch, cổ vũ, biểu dương tinh thần chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ các đơn vị bộ đội ngay trong các chiến hào.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dòng báo chí “giải phóng" như: Quân Giải phóng, Văn nghệ Giải phóng, Phụ nữ Giải phóng, Đài Phát thanh Giải phóng... là nguồn thông tin chính yếu, quan trọng, công cụ tuyên truyền, vận động và lãnh đạo của cách mạng miền Nam.

Sau Hiệp định Geneva 1954, miền Bắc giải phóng, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hệ thống báo chí phát triển nhanh chóng. Đến năm 1962, ở miền Bắc đã có hơn 1.500 nhà báo làm việc trong khoảng 120 cơ quan báo chí các loại. Sau ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ phát động cuộc chiến tranh phá hoại, trên thực tế báo chí miền Bắc cũng trải qua những thử thách khắc nghiệt để giữ vững vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, phục vụ nhiệm vụ vừa chiến đấu, vừa sản xuất, vừa là tiền tuyến chống chiến tranh bắn phá, vừa là hậu phương cho mặt trận miền Nam. Nhiều phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân được phát động, đóng góp to lớn vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị theo chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng. Đó là các phong trào: Thanh niên ba sẵn sàng; Phụ nữ ba đảm đang; Sóng Duyên Hải; Gió Đại Phong; Cờ Ba nhất; Kế hoạch nhỏ; Xe chưa qua, nhà không tiếc; Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người... Nhiều tấm gương người tốt, việc tốt tiêu biểu, trở thành những điển hình xuất sắc, cổ vũ động viên cán bộ, chiến sĩ, các tầng lớp nhân dân trong lao động, chiến đấu. Đó là Nguyễn Viết Xuân - “Nhằm thẳng quân thù mà bắn"; Lê Mã Lương - “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù!"; rất nhiều tấm gương anh hùng, dũng sĩ được khắc họa và tôn vinh, trở thành những bông hoa đẹp trong vườn hoa đất nước, tấm gương cho mọi người noi theo.

Có thể khẳng định rằng, ở mọi thời kỳ đấu tranh cách mạng, trong mọi điều kiện, môi trường xã hội, báo chí cách mạng đều có mặt trên hàng đầu của trận tuyến tư tưởng của Đảng, truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin, thức tỉnh quần chúng nhân dân trong đấu tranh, hay tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Chính phủ, vận động nhân dân thực hiện nhiệm vụ chính trị, mang tới những thắng lợi vĩ đại trong đấu tranh cách mạng vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

2. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi đất nước thống nhất năm 1975, nền báo chí cách mạng thực sự đóng vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; là công cụ lãnh đạo, tổ chức thực hiện các mục tiêu, chiến lược; là vũ khí đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; là vũ khí đấu tranh chính trị, tư tưởng, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ. Trong bất cứ lĩnh vực nào, nhiệm vụ chiến lược nào, báo chí cũng có những đóng góp to lớn, để lại những dấu ấn không thể phai mờ.

Trong suốt quá trình mày mò tìm tòi con đường, phương thức tổ chức sản xuất phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc suốt 30 năm, còn ngổn ngang với vô vàn những di hại hậu quả chiến tranh, báo chí trở thành tiếng nói đầy trách nhiệm, theo dõi phản ánh kịp thời từng sáng kiến, cách làm sáng tạo của nhân dân các địa phương, cung cấp kịp thời cho Trung ương Đảng bức tranh toàn cảnh của cả nước, những tâm tư, nguyện vọng và những ý kiến của nhân dân về chủ trương, chính sách cần thiết để khôi phục, phát triển sản xuất, ổn định đời sống nhân dân.

Có thể nói, hai cuộc vận động đổi mới quản lý thị trường “giá - lương - tiền” và cải tiến quản lý sản xuất nông nghiệp là hai cuộc vận động trong đó thể hiện rõ nhất, đặc sắc nhất vai trò của báo chí là cầu nối giữa ý Đảng với lòng dân, là nguồn cung cấp cơ sở thực tiễn vô cùng quý báu cho những chủ trương sáng tạo trong phát triển kinh tế của Đảng. Hàng loạt bài báo, chương trình phát thanh, truyền hình trong chủ đề chung: Xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đã hằng ngày, hằng giờ cho thấy những chuyển động trong thực tiễn theo hướng đổi mới. Những điểm sáng trong sản xuất, kinh doanh, quản lý thị trường từ các địa phương cũng đang dần hội tụ trong một véc-tơ chuyển động chung theo hướng đổi mới.

Đặc biệt, trong thông tin, tuyên truyền về khoán trong sản xuất nông nghiệp ghi đậm dấu ấn đóng góp của hệ thống báo chí nước nhà. Từ phương thức khoán trong Chỉ thị 100 năm 1981 của Ban Bí thư đến khoán trong Nghị quyết 10 năm 1988 của Bộ Chính trị đã mở ra sự phát triển thần kỳ của nông nghiệp Việt Nam trong gần 40 năm qua. Nói đến thành tựu phát triển nông nghiệp Việt Nam, không thể không nói đến những tác phẩm, sản phẩm báo chí phản ánh những phát hiện về phương thức tổ chức sản xuất khoán sản phẩm, khoán hộ của một số địa phương mang lại hiệu quả tích cực trên thực tế; phản ánh tấm lòng của người dân mong muốn phát triển sản xuất nông nghiệp để cải thiện cuộc sống của chính mình và góp phần giải quyết những khó khăn chung của xã hội về tình trạng thiếu lương thực trầm trọng.

Đó là những mô hình "khoán chui” ở Đồ Sơn, Hải Phòng; khoán hộ ở huyện Vĩnh Lạc, Lâm Thao của Vĩnh Phú. Với sự ra quân đồng loạt của nhiều cơ quan báo chí, thể hiện bản lĩnh, sự say mê nghề nghiệp và cả sự trung thực, dám nghĩ, dám làm, chấp nhận khó khăn, phức tạp của một lớp nhà báo “mắt sáng, lòng trong, bút sắc”, báo chí đã góp phần to lớn tạo nên những chuyển biến kinh tế tích cực, đóng góp vào sự hình thành một phương pháp tư duy mới trong đời sống kinh tế - xã hội “nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật”, và cũng từ đó ra đời một khái niệm mới trong chính trị của nước ta, khái niệm “Đổi mới”.

Quá trình không ngừng đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế - xã hội trong 40 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng không tách rời vai trò của hệ thống báo chí Việt Nam với vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, vai trò tham gia hoạch định, phản biện và tổ chức thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Vai trò đó thể hiện qua những chiến dịch truyền thông chính sách của báo chí, giải thích, phân tích cơ sở khoa học, thực tiễn, tạo sự đồng thuận, đồng lòng ủng hộ và quyết tâm thực hiện của đông đảo nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội. Vai trò đó thể hiện qua việc phản ánh kịp thời các mô hình tiên tiến, các kinh nghiệm tốt, bài học hay của các cá nhân, đơn vị, địa phương, mở ra khả năng truyền bá, phổ biến, hiện thực hóa các kinh nghiệm, bài học để phát triển kinh tế, xã hội trên phạm vi cả nước.

Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ hòa bình, báo chí là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc ra thế giới; đồng thời giao lưu và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của dân tộc trên thế giới. Với sự phát triển nhanh chóng của hệ thống báo chí truyền thống, nhất là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và việc nước ta khai thông kết nối mạng internet từ năm 1997, báo chí, truyền thông nước ta hội nhập toàn cầu rất nhanh chóng, trở thành một bộ phận gắn bó chặt chẽ với mạng truyền thông toàn cầu. Từ chỗ người dân Việt Nam phải chờ đợi cả vài ngày, rồi vài giờ mới biết được các sự kiện lớn trên thế giới, chúng ta đã rút xuống chỉ mấy giây.

Nhờ báo chí, truyền thông, người dân nước ta được tiếp nhận các giá trị văn hóa của thế giới, qua đó chọn lọc tiếp thu những điều tốt đẹp, phù hợp với văn hóa dân tộc. Cũng qua báo chí, truyền thông, cả thế giới biết đến những thành tựu to lớn của công cuộc Đổi mới, những giá trị văn hóa nhân văn, thân thiện, văn minh của dân tộc ta, biết đến những cổ thành Thăng Long, cố đô Huế, hang động Sơn Đoòng, vịnh Hạ Long, văn hóa Tràng An, văn hóa sông nước miền Tây... tăng cường sức mạnh mềm, tạo điều kiện hỗ trợ phát triển quan hệ ngoại giao và kinh tế với các quốc gia trên thế giới.

Trong môi trường chính trị thế giới vô cùng phức tạp sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ và định hướng xã hội chủ nghĩa trở nên vô cùng phức tạp. Các thế lực thù địch lợi dụng sự thất bại của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực Xô viết để tấn công Chủ nghĩa Mác - Lênin, xuyên tạc và phê phán tính quy luật của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, tấn công các nước theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội. Báo chí trở thành vũ khí đấu tranh chính trị, tư tưởng vô cùng quan trọng, có sức mạnh to lớn trong vạch mặt, chỉ tên những âm mưu thâm độc, vu khống xuyên tạc vô lý, phi thực tế của các thế lực phản động đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội, đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Ở trong nước, báo chí, truyền thông là vũ khí sắc bén, mạnh mẽ đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Theo nhiều tài liệu được công bố, có khoảng hơn 70% các vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được hệ thống báo chí phát hiện, đưa ra các chứng cứ thuyết phục, làm manh mối cho các cơ quan có trách nhiệm của Nhà nước vào cuộc, điều tra, xử lý. Có những vụ việc chỉ xuất phát từ một bản tin nhỏ về việc một cán bộ lãnh đạo địa phương sử dụng xe ô tô không đúng tiêu chuẩn quy định dẫn đến một vụ tiêu cực lớn, ảnh hưởng đến nhiều cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến các địa phương. Trong phát hiện dấu hiệu, manh mối các vụ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, có vai trò trực tiếp của nhân dân cung cấp thông tin cho báo chí. Tuy nhiên, các cơ quan báo chí phải điều tra, tìm hiểu và chịu trách nhiệm về tính chính xác của những thông tin, vì thế, đóng góp của báo chí là rất lớn.

Không chỉ phát hiện phần lớn các vụ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, báo chí còn theo đuổi suốt quá trình xử các vụ việc, thông tin kịp thời tình hình về mức độ, cách thức xử lý, tạo dư luận xã hội rộng rãi, góp phần thúc đẩy giải quyết đến cùng các vụ việc. Với hoạt động này, báo chí trở thành công cụ giám sát, cảnh báo, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tình yêu và ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với chế độ, với dân tộc.

3. Trong lịch sử 100 năm Báo chí cách mạng Việt Nam, đội ngũ nhà báo thực sự là những “chiến sĩ cách mạng" sử dụng “cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén” để “phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng" như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Bác Hồ là người đã khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam, Người xem hoạt động báo chí như một “duyên nợ, trực tiếp tổ chức hoạt động hàng chục tờ báo và đã viết báo trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình với “chỉ có một “đề tài” là: Chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Chính Người là nhà báo cách mạng số 1 của nền báo chí Việt Nam, một cây bút tài hoa, nghiêm cẩn, sáng tạo không mệt mỏi. Cũng chính Người là nhà lãnh đạo báo chí thực thụ, người thầy của nhiều nhà báo cách mạng. Người để lại một di sản báo chí to lớn, vô giá về các tờ báo, tác phẩm báo chí và tư tưởng về báo chí cách mạng.

Cùng với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, nhiều chiến sĩ cách mạng, nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước là những nhà báo, người tổ chức hoạt động báo chí phục vụ cho cách mạng kiên cường và sáng tạo trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ như: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Văn Tạo, Phan Đăng Lưu, Xuân Thủy, Dương Bạch Mai, Huỳnh Tấn Phát, Hải Triều, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu...

Nhiều nhà báo đã ngã xuống trong chiến tranh cách mạng, cống hiến cuộc đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Đó là các nhà báo: Trần Kim Xuyến, Nguyễn Văn Nguyễn, Dương Tử Giang, Trần Đăng, Nam Cao, Trần Mai Ninh, Thâm Tâm, Thôi Hữu, Lê Anh Xuân, Lê Đoan, Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong... Đó còn là gần 500 nhà báo liệt sĩ, những người làm báo trên những cương vị khác nhau, hy sinh trong nhà tù thực dân, đế quốc, trên chiến hào hay trong khi đang làm nhiệm vụ trên các mặt trận thầm lặng.

Ngay trong điều kiện hòa bình, nhiều nhà báo cũng đã chấp nhận thách thức, đối mặt với những nguy hiểm cả về tính mạng để điều tra, phát hiện những sai trái, ung nhọt trong đời sống xã hội, bảo vệ sự trong sáng của cuộc sống xã hội, nghiêm minh của luật pháp, kỷ cương, bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của hệ thống chính trị, của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhiều người làm báo đã có những cống hiến xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, đã trở thành những Anh hùng lao động, Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Sự lao động sáng tạo, cống hiến hết mình vì tình yêu nghề nghiệp, sự đấu tranh không mệt mỏi, chấp nhận cả hy sinh vì lý tưởng cách mạng của các nhà báo trong 100 năm lịch sử báo chí cách mạng vừa qua đã trở thành một dấu son sáng chói trong những trang lịch sử chung của dân tộc, trở thành tấm gương sáng cho các thế hệ người hoạt động báo chí, truyền thông học tập và noi theo.

100 năm đồng hành với dân tộc, trải qua nhiều khó khăn, thử thách khắc nghiệt, báo chí cách mạng không chỉ là chứng nhân lịch sử, mà thực sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân; là vũ khí sắc bén trong đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc; là công cụ hữu hiệu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; là một bộ phận tạo thành, không thể tách rời của toàn bộ sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng lớp lớp các thế hệ người làm báo cách mạng đã dày công lao động sáng tạo, bằng mồ hôi, công sức và cả máu xương của mình để viết nên lịch sử vẻ vang của nền báo chí cách mạng, một nền báo chí chiến đấu, đầy chất nhân văn và bản sắc Việt Nam; để lại cho chúng ta những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu. Đó chính là vốn liếng, hành trang vô cùng quý giá để báo chí Việt Nam bước tiếp cùng dân tộc, cùng đất nước, viết tiếp những thành công trong kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2025

CUỘC CHIẾN TRÊN MẶT TRẬN BÁO CHÍ VÀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ “VŨ KHÍ TƯ TƯỞNG” CỦA ĐẢNG

BÀI 3: KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ CỦA NỀN BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!
(Tiếp theo và hết)
     Các thế lực thù địch không chỉ xuyên tạc, bôi nhọ mà còn công kích, phủ nhận sạch trơn vai trò của báo chí cách mạng và làm nao núng tinh thần công chúng của nền báo chí cách mạng. Dĩ nhiên, đó chỉ là những tiếng kêu lạc lõng, sự bịa đặt trắng trợn, vô căn cứ. Thành quả cách mạng có dấu ấn đặc biệt của báo chí cách mạng là minh chứng rõ nét, không thế lực nào có thể phủ nhận!

Khẳng định sức mạnh “binh chủng báo chí”

Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn xác định báo chí là “vũ khí sắc bén” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, có nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ, tập hợp quần chúng, tổ chức và vận động nhân dân, đồng thời là diễn đàn của nhân dân. Thực tiễn đã minh chứng, báo chí là phương tiện quan trọng, công cụ đắc lực giúp Đảng, Nhà nước trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; là binh chủng chiến đấu cả trong thời chiến và thời bình, là lực lượng trên tuyến đầu trực tiếp đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Nhìn lại lịch sử 100 năm nền báo chí cách mạng Việt Nam, đội ngũ những người làm báo trong cả nước rất tự hào vì luôn được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đồng hành, đề cao vị trí, khẳng định vai trò của báo chí trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người sáng lập, rèn luyện nền báo chí cách mạng Việt Nam là một nhà báo lớn, mang tầm quốc tế và thời đại. Các nhà cách mạng tiền bối của Việt Nam cũng là những người rất coi trọng báo chí và tích cực tham gia các hoạt động báo chí để phục vụ cách mạng. Nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước đã trưởng thành từ làm báo, thường xuyên viết báo và chỉ đạo qua báo chí.

Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đội ngũ những người làm báo cách mạng sẵn sàng xông pha nơi chiến trường ác liệt, dũng cảm đối mặt với kẻ thù. Có những tờ báo được xuất bản ngay tại tiền tuyến và sánh ngang như một binh chủng trực tiếp chiến đấu với kẻ thù như 33 số báo Quân đội nhân dân tại Mặt trận Điện Biên Phủ và trở thành “báu vật” của làng báo cách mạng hôm nay. 

Để có những bài viết, thước phim, bức ảnh đi vào lịch sử, nhiều nhà báo đã anh dũng hy sinh và trở thành một phần của lịch sử. Theo thống kê chưa đầy đủ của Hội Nhà báo Việt Nam, hơn 500 nhà báo đã mãi mãi hòa mình vào đất mẹ và rất nhiều người đã để lại một phần xương máu trên các chiến trường. Tinh thần sẵn sàng cống hiến và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của những người làm báo tiếp tục được phát huy trong giai đoạn hiện nay, nhất là trong thiên tai, bão lũ, dịch bệnh, tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả...

Khi đại dịch Covid-19 xuất hiện và bùng phát trên diện rộng, các vùng dịch luôn có sự đồng hành của nhà báo. Không nao núng trước SARS-CoV-2, đội ngũ nhà báo luôn sẵn sàng dấn thân và đối mặt để truyền tải sớm nhất, nhanh nhất, chính xác nhất, sinh động nhất thông tin thời sự và lan tỏa tinh thần đoàn kết, quyết tâm “chống dịch như chống giặc” của cấp ủy, chính quyền địa phương và cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cùng các tầng lớp nhân dân.

Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, đội ngũ nhà báo là một trong những lực lượng đi đầu và dũng cảm đối mặt trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, chống buôn lậu, hàng giả... Đây là cuộc đấu tranh đầy khó khăn, phức tạp và rất nguy hiểm vì liên quan đến những lĩnh vực nhạy cảm, đụng chạm đến những người có chức, có quyền. Bằng những tác phẩm mang đầy sức chiến đấu, các nhà báo đã lên án mạnh mẽ, “điểm mặt chỉ tên” từng đối tượng, vụ việc cụ thể.

Cũng thông qua báo chí, hàng vạn điển hình, nhân tố mới được phát hiện, tuyên truyền, nhân rộng, tạo nên các phong trào hành động cách mạng sôi nổi trên mọi lĩnh vực. Đồng thời, báo chí phát huy tốt vai trò là cầu nối quan trọng trong thông tin đối ngoại, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị hợp tác với nhân dân các nước, góp phần nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Báo chí còn là diễn đàn tin cậy, thể hiện ý chí, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân, tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước...

Mài sắc “vũ khí tư tưởng” trong thời kỳ mới

Báo chí dù trực tiếp hay gián tiếp, luôn là phương tiện và phương thức đi đầu trong cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng. Từ những vấn đề đã đặt ra trong toàn bộ loạt bài viết, chúng ta càng thấy rõ yêu cầu phải mài sắc “vũ khí tư tưởng” của Đảng, phải xây dựng nền báo chí cách mạng, chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại trong kỷ nguyên mới. Đây là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách không chỉ của riêng các cơ quan báo chí mà là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Thực tiễn cho thấy, mặt trái kinh tế thị trường đã và đang tác động mạnh mẽ đến báo chí cách mạng cũng như những người làm báo cách mạng. Một số cơ quan báo chí có những thời điểm mơ hồ, xa rời tôn chỉ, mục đích; một số nhà báo gục ngã trước những “viên đạn bọc đường”, bị các thế lực thù địch dụ dỗ, lôi kéo, khiến ngòi bút “bị bẻ cong” là điều trăn trở của làng báo cách mạng. Để khắc phục yếu điểm này, các cơ quan báo chí và những người làm báo cách mạng phải nhận thức sâu sắc và đề cao tính đảng; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, bồi đắp bản lĩnh, giữ vững niềm tin, kiên định, vững vàng trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của Đảng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Trước yêu cầu mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc sắp xếp lại hệ thống các cơ quan báo chí bảo đảm “tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” là yêu cầu khách quan, mang tính cấp bách đặt ra đối với nền báo chí cách mạng trong kỷ nguyên mới; bảo đảm cho “vũ khí tư tưởng” thêm không gian phát triển, phát triển đúng hướng và phát triển lành mạnh. Để làm tốt phần việc này, cần có sự thống nhất ngay trong nhận thức của các cơ quan lãnh đạo quản lý, cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí và bản thân người làm báo. Nhận thức đúng về ý nghĩa, tầm quan trọng của việc sắp xếp, tinh gọn, có cách thức và bước đi phù hợp, quan tâm thiết thực đến quyền lợi chính đáng của người làm báo, chúng ta sẽ có những cơ quan báo chí tinh gọn về bộ máy, tinh nhuệ về con người.

Nhiệm vụ mới, bối cảnh mới đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với những người làm báo. Để làm tốt công tác tuyên truyền, định hướng tư tưởng, tổ chức và lãnh đạo quần chúng, đòi hỏi mỗi nhà báo phải thấm nhuần chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhà báo cách mạng trong kỷ nguyên mới, hơn ai hết phải nhạy bén trước những chuyển biến của thời đại. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham vấn cho Đảng, Nhà nước những vấn đề mới trong xây dựng, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển để đưa ra những quyết sách kịp thời, hiệu quả./.
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: GIẢI THỂ BAN CHQS CẤP HUYỆN, THÀNH LẬP BAN CHỈ HUY PHÒNG THỦ KHU VỰC “LÀM TỐT THỜI BÌNH NHƯNG PHẢI TÍNH ĐẾN KHI CÓ TÌNH HUỐNG”!

         Quốc hội khóa XV đang xem xét thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng (QS, QP). Trong đó, để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, Bộ Quốc phòng và Chính phủ đề xuất giải thể ban CHQS cấp huyện, thành lập “Ban chỉ huy Phòng thủ khu vực” (BCHPTKV) với tinh thần "làm tốt cho thời bình nhưng phải tính đến khi có tình huống xảy ra...”. Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng đã trao đổi với Báo Quân đội nhân dân xoay quanh nội dung này.

Phóng viên (PV): Đề nghị đồng chí cho biết, vì sao khi giải thể ban CHQS cấp huyện thì việc tổ chức BCHPTKV là hết sức cần thiết và phù hợp?

Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa: Thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy chính quyền, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã nghiên cứu kỹ lưỡng việc sắp xếp, tổ chức lại hệ thống cơ quan quân sự địa phương và thấy rằng, khi giải thể ban CHQS cấp huyện thì cần thiết phải tổ chức BCHPTKV. Như đồng chí Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã khẳng định: Khi không còn cấp huyện thì các nhiệm vụ của ban CHQS cấp huyện phải chia cho ban CHQS cấp xã và bộ CHQS cấp tỉnh. BCHPTKV không phải là một cấp hành chính mà chỉ là một đơn vị trực thuộc bộ CHQS cấp tỉnh, thực hiện nhiệm vụ QS, QP, đặc biệt khi có tình huống xảy ra. Chúng ta phải làm tốt cho thời bình nhưng phải tính khi có tình huống... Nếu không chuẩn bị, không tính trước thì sẽ bị bất ngờ ngay, mà liên quan đến QS, QP thì càng phải chuẩn bị thật kỹ, thật chắc.

Phòng thủ khu vực là một nội dung trọng yếu trong chiến lược quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Khi không còn ban CHQS cấp huyện, đồng thời cấp tỉnh, xã sáp nhập có địa bàn, dân số lớn hơn trước nhiều thì rất cần một cơ quan đầu mối để phối hợp, chỉ huy LLVT và tổ chức tác chiến phòng thủ khu vực; tránh bỏ trống địa bàn, không để lỗ hổng trong quản lý LLVT địa phương.

BCHPTKV sẽ đảm nhiệm các chức năng quan trọng như: Tham mưu cho bộ CHQS cấp tỉnh và cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác QS, QP; phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng trong phòng thủ khu vực (công an, quân sự, dân quân, biên phòng...); tổ chức luyện tập, huy động, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) khi cần thiết.

Dự kiến, mỗi tỉnh, thành phố sau sáp nhập, tổ chức lại sẽ bố trí từ 3 đến 6 BCHPTKV (phù hợp với từng địa bàn, diện tích, dân số và yêu cầu QS, QP...); cả nước sau khi giải thể 696 ban CHQS cấp huyện sẽ thành lập 145 BCHPTKV. Như vậy là phù hợp với chủ trương tinh gọn, nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu SSCĐ, bảo vệ địa bàn, giữ được vai trò tham mưu, chỉ huy khi có tình huống quốc phòng, an ninh (QPAN); bảo đảm kết nối giữa cấp tỉnh với cấp xã trong tổ chức lực lượng và thực hiện nhiệm vụ phòng thủ.

Có thể khẳng định, việc tổ chức BCHPTKV khi giải thể ban CHQS cấp huyện là một bước đi chiến lược, giúp tiếp tục duy trì thế trận quốc phòng toàn dân và phòng thủ khu vực vững chắc; không làm gián đoạn công tác lãnh đạo, chỉ đạo về QS, QP ở cấp địa phương; phù hợp với điều kiện tổ chức hành chính mới và yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.

PV: Vì sao chúng ta có thể bỏ đơn vị hành chính cấp huyện nhưng không thể bỏ tác chiến phòng thủ khu vực, thưa đồng chí?

Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa: Đơn vị hành chính cấp huyện là tổ chức của chính quyền để quản lý hành chính, dân cư, kinh tế, xã hội... Nhưng tác chiến phòng thủ khu vực là nhiệm vụ QPAN chiến lược, không phụ thuộc hoàn toàn vào ranh giới hành chính (dù có thay đổi địa giới hành chính thì địa bàn, con người, cơ sở hạ tầng, vị trí chiến lược vẫn tồn tại và phải được tổ chức lực lượng chặt chẽ để bảo vệ).

Chiến tranh hiện đại có thể xảy ra nhanh, bất ngờ, phi truyền thống (như chiến tranh mạng, khủng bố, bạo loạn lật đổ...); vì vậy, mọi khu vực đều cần có phương án phòng thủ sẵn sàng, chỉ huy thống nhất các lực lượng ứng phó được ngay, không thể chờ khi có chiến tranh mới lập lại cơ cấu. Nếu bỏ tổ chức chỉ huy phòng thủ khu vực khi bỏ cấp huyện, sẽ gây lỗ hổng chiến lược, không có lực lượng sẵn sàng chỉ huy và hiệp đồng tác chiến bảo vệ địa bàn.

Dù không còn cấp huyện thì các lực lượng như: Dân quân tự vệ; Dự bị động viên; Công an, bộ đội địa phương và hệ thống cơ sở vật chất quân sự (kho, trạm, công trình quốc phòng) vẫn cần một cơ quan tổ chức chỉ huy, phối hợp và điều hành trong khu vực. BCHPTKV chính là bộ phận duy trì chỉ huy tác chiến, không thể bỏ.

Việc tinh gọn tổ chức hành chính là để hiệu quả quản lý cao hơn, tiết kiệm ngân sách; nhưng quốc phòng thì không thể "tiết kiệm" nếu gây ra mất kiểm soát địa bàn, hoặc mất thế trận SSCĐ. Tác chiến phòng thủ khu vực bảo đảm thế trận phòng thủ: “Liên hoàn-vững chắc-rộng khắp” nên dù không còn đơn vị hành chính cấp huyện, vẫn phải có lực lượng và cơ chế tác chiến phòng thủ, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ SSCĐ bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi ngày càng cao.

PV: Theo đồng chí, những vấn đề cần quan tâm giải quyết trong tổ chức và hoạt động của BCHPTKV là gì?

Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa: Việc thành lập BCHPTKV là một bước đi chiến lược trong củng cố thế trận quốc phòng toàn dân. Tuy nhiên, để mô hình này phát huy hiệu quả, cần giải quyết một số vấn đề trọng tâm trong tổ chức và hoạt động.

Trước hết, BCHPTKV là mô hình mới, do đó, cần khẩn trương xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về tổ chức, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, chế độ, chính sách; làm rõ trách nhiệm, phạm vi hoạt động, xác định rõ thẩm quyền chỉ huy và mối quan hệ công tác với bộ CHQS cấp tỉnh, ban CHQS cấp xã và cấp ủy, chính quyền địa phương..., bảo đảm sự chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ; tránh sự chồng chéo, bị động, nhất là trong chỉ đạo tác chiến.

Hai là, lựa chọn, bố trí cán bộ, sĩ quan có đủ năng lực, trình độ, đặc biệt là cán bộ chủ trì, chủ chốt của BCHPTKV (nên ưu tiên sĩ quan đã qua cán bộ quân sự cấp huyện), bảo đảm “quân tinh, cán mạnh”. Tổ chức ngay các lớp bồi dưỡng, tập huấn, thống nhất các nội dung công việc; đồng thời, nghiên cứu bổ sung nội dung, chương trình đào tạo cán bộ BCHPTKV, đưa vào chương trình đào tạo của các nhà trường Quân đội.

Ba là, có kế hoạch đầu tư từng bước cho BCHPTKV, như bảo đảm trụ sở, doanh trại, trang bị, ngân sách quốc phòng kết hợp ngân sách địa phương theo lộ trình rõ ràng; ưu tiên khu vực trọng điểm về chiến lược. Có chính sách hỗ trợ nhà ở công vụ cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, nhất là ở địa bàn khó khăn, để "an cư lạc nghiệp", yên tâm công tác. 

Bốn là, tác chiến phòng thủ khu vực đòi hỏi hiệp đồng giữa nhiều lực lượng: Quân đội, công an, dân quân, y tế...; nếu thiếu sự phối hợp nhuần nhuyễn sẽ không đáp ứng được yêu cầu "phòng thủ liên hoàn, vững chắc". Do đó, phải xây dựng quy chế phối hợp liên ngành cụ thể; xây dựng kế hoạch tác chiến phòng thủ, hiệp đồng chặt chẽ và thường xuyên tổ chức diễn tập để thuần thục cơ chế chỉ huy-hiệp đồng. Mục tiêu là xây dựng BCHPTKV trở thành hạt nhân thực sự trong tổ chức thế trận khu vực phòng thủ liên hoàn. 

Năm là, tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của các cơ quan chức năng đối với BCHPTKV, kịp thời khen thưởng các đơn vị làm tốt, đồng thời rút kinh nghiệm, khắc phục những hạn chế; xây dựng mô hình điểm để nhân rộng.

Như vậy, để BCHPTKV hoạt động hiệu quả, chúng ta phải "tổ chức đúng-bố trí đúng-hỗ trợ đúng-phối hợp đúng-đánh giá đúng". Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cả hệ thống chính trị và nhân dân hiểu, đồng thuận với hoạt động của BCHPTKV.

PV: Khi các xã, phường, đặc khu có những nhiệm vụ quan trọng về QS, QP thì BCHPTKV sẽ trợ giúp ban CHQS cấp xã như thế nào, thưa đồng chí?

Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa: BCHPTKV là cấp chỉ huy trực tiếp và gần nhất với lực lượng quân sự cấp xã. Khi xã, phường, đặc khu có nhiệm vụ quan trọng về QS, QP như xây dựng hệ thống văn kiện, kế hoạch huấn luyện và tác chiến, phương án SSCĐ, diễn tập, xử lý tình huống QPAN..., BCHPTKV sẽ trực tiếp chỉ huy hoặc cử cán bộ xuống hỗ trợ chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ quân sự, đặc biệt là đối với cán bộ quân sự cấp xã chưa đủ kinh nghiệm.

Theo tôi, trong điều kiện bình thường, BCHPTKV hỗ trợ cấp xã xây dựng kế hoạch QS, QP hằng năm; lập kế hoạch huấn luyện, diễn tập, kiểm tra chiến đấu, bồi dưỡng cán bộ; phê duyệt kế hoạch SSCĐ, diễn tập của xã, phường, đặc khu.

Khi xảy ra tình huống khẩn cấp, như bạo loạn, gây rối, thảm họa thiên tai..., BCHPTKV cử bộ phận chỉ huy xuống nắm tình hình và chỉ đạo, hướng dẫn điều chỉnh kế hoạch, phương án; tham mưu với cấp ủy, chính quyền cấp xã phân công lực lượng, bố trí đội hình...; phối hợp điều động dân quân tự vệ, hiệp đồng với các lực lượng... để xử trí hiệu quả. Trong tình huống phức tạp, liên quan đến nhiều xã, phường, đặc khu trong khu vực, BCHPTKV sẽ trực tiếp điều động lực lượng theo phương án đã duyệt; chỉ huy ứng cứu, chiến đấu bảo vệ địa bàn; phối hợp với cơ quan cấp trên xử lý tình huống; làm đầu mối hiệp đồng toàn khu vực, bảo đảm đồng bộ, tránh chồng chéo. BCHPTKV có thể điều động lực lượng từ các xã, phường, đặc khu khác trong khu vực đến chi viện cho địa phương bị ảnh hưởng.

BCHPTKV còn có vai trò kiểm tra, giám sát, đôn đốc ban CHQS cấp xã trong việc tổ chức huấn luyện, trực SSCĐ; quản lý vũ khí, trang bị, quân số dân quân tự vệ; triển khai thực hiện các chỉ thị của cấp trên. 

Tóm lại, BCHPTKV là “cánh tay nối dài” của bộ CHQS cấp tỉnh trong quản lý, chỉ đạo, hỗ trợ xã, phường, đặc khu thực hiện nhiệm vụ QS, QP. BCHPTKV không thay thế vai trò của ban CHQS cấp xã, mà bảo đảm xã, phường, đặc khu được hướng dẫn, chi viện, chỉ huy hiệu quả, nhất là khi có tình huống phức tạp, khẩn cấp về QS, QP./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: GIẢI MÃ “QUYỀN TỰ VỆ CỦA ISRAEL” THEO TUYÊN BỐ CHUNG CỦA G-7!

     Tuyên bố chung của Nhóm G-7 họp tại Canada ngày 16/06/2025 khẳng định hành động của Tel-Aviv bất ngờ tấn công Iran ngày 13/06/2025 thể hiện “quyền tự vệ của Israel”. Trước đó, Israel giải thích hành động tấn công Iran dựa trên cơ sở tuyên bố của IAEA khẳng định rằng Teheran đã sở hữu 408,6kg urani được làm giàu tới 60% và như vậy họ đã vi phạm Thoả thuận giữa Iran với Nhóm P5+1 gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc và Đức. Theo thỏa thuận này, Iran sẽ hạn chế các hoạt động làm giàu uranium để đối lấy việc dỡ bỏ các lệnh cấm vận của phương Tây.

Thỏa thuận đạt giữa Iran với Nhóm P5+1 đồng nghĩa với việc Iran sẽ được dỡ bỏ các lệnh cấm vận kinh tế, giúp quốc gia dầu mỏ này đẩy mạnh được xuất khẩu năng lượng, mở cửa đón đầu tư nước ngoài và gia nhập các tổ chức tài chính quốc tế. Bản thỏa thuận đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quan hệ giữa Tehran và các nước phương Tây. Chính vì thế, từ năm 2015, Iran nghiêm túc thực hiện Thoả thuận lịch sử này. 

Do đó, có thể khẳng định tuyên bố của IAEA không được kiểm chứng và không dựa vào kết quả thanh sát thực tế các cơ sở làm giàu urani của Iran. Ngoài ra, chính Mỹ là bên vi phạm Thoả thuận giữa Iran với Nhóm P5+1 vào năm 2018 khi Tổng thống Donald Trump đơn phương đưa Mỹ rút khỏi thoả thuận này và tiếp tục bao vây, cấm vận Iran. Như vây, Israel không có bất cứ cơ sở pháp lý quốc tế nào để tấn công Iran. Do đó, Tuyên bố chung của G-7 khẳng định rằng “Israel có quyền tự vệ” cũng vi phạm Thoả thuận giữa Iran với Nhóm P5+1. Mục đích của Tel Aviv tấn công Iran đã được chính Thủ tướng Israel tuyên bố công khai là “loại bỏ chính thể của Iran” núp dưới chiêu bài “ngăn chặn Teheran sở hữu vũ khí hạt nhân”. 

Tuy nhiên, Iran không phải là Iraq!

Nhân sự kiện Israel tấn công Iran, giới phân tích nhớ lại kịch bản tương tự vào năm 2003, khi Ngoại trưởng Mỹ Collin Powell dơ cao ống thủy tinh đựng chất bột trắng tại cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và khẳng định đó là “vũ khí hóa học của Iraq”. Mượn cớ “trừng phạt Iraq tàng trữ vũ khí hóa học”, ngày 20/03/2003, Mỹ và Anh phát động chiến tranh huỷ diệt chính thể của Tổng thống Iraq Saddam Hussein. Về sau, chính Ngoại trưởng Mỹ Collin Powell thừa nhận thông tin “Iraq sở hữu vũ khí hóa học” là tin giả do Cục tình báo trung ương Mỹ cung cấp!?
Khuyết danh ST.

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025

ÂM MƯU XÓA BỎ LỊCH SỬ!

     Không phải Mỹ và Phương Tây mới sử dụng gần đây mà sự thật họ đã tiến hành từ lúc nhà nước Xô Viết vừa mới hình thành. Phương Tây đã ra sức tuyên truyền đề cao công lao của họ trong 2 cuộc chiến tranh thế giới đồng thời chối bỏ công sức của Nga và Hồng quân Liên Xô!
    Trước tình hình đó Lênin đã ký sắc lệnh “quốc hữu hóa" bộ phim nhiều tập đó là bộ phim “Chiến tranh và hòa bình” (5 tập), quy mô của bộ phim lớn tới mức Liên Xô phải huy động hơn 20 xí nghiệp chuyên chế tạo ra quần áo công cụ chiến tranh thời đệ Nhất thế chiến, có tới 2.000 diễn viên vai phụ, riêng vai công chúa Louis thứ XVI rất hồn nhiên ở tuổi 16 không một diễn viên nào đóng đạt, đạo diễn phải nhờ một học sinh đóng thay. Thứ 2 là bộ phim do nhà nước Liên Xô quốc hữu hóa “Giải phóng Châu Âu” (5 tập) nói về công lao của Hồng quân Liên Xô trong chiến tranh đệ II, trong đó quy mô nhất là trận đánh ngoại ô Moskva với 20 sư đoàn tăng và 100.000 khẩu pháo… ngày giờ diễn ra từng sự kiện được tái hiện một cách chính xác trung thực khách quan. Hai bộ phim đó đã làm cho Mỹ “tắt lửa”.
     Để trả đũa Liên Xô, Hollywood (điện ảnh Mỹ) năm 1970 được lệnh khẩn trương cho ra đời bộ phim dài nhiều tập “Combat” để quảng bá quân đội Mỹ, bộ phim nói về 1 tiểu đội đặc nhiệm của Mỹ trong chiến tranh đệ nhị, với vai chính là Vismoro tiểu đội trưởng và Viszasol tiểu đội phó, bộ phim đã được công chiếu miễn phí ở rất nhiều nước trong đó có miền Nam Việt Nam.
     Ngày nay người Mỹ đã thành công trong việc xóa bỏ kiến thức lịch sử ở giới trẻ Châu Âu, cụ thể nhất là Ukcraine. Giới trẻ Ukcraine đã hiểu sai lịch sử, họ cho rằng Liên Xô trước kia chẳng có công cán gì trong trong vấn đề thành lập ra nhà nước Ukcraine, thậm chí ngược lại là cản trở và phá hoại đất nước họ, gieo vào đầu giới trẻ lòng căm thù Cộng sản Liên Xô, căm thù người Nga, đập phá những tượng đài anh hùng dân tộc có công tạo dựng bảo vệ đất nước. Sửa đổi sách giáo khoa xóa bỏ những chiến công của cha ông họ, hình sự hóa và phạt tù những ai đề cao Cộng sản hoặc Nga, bỏ trợ cấp đối với những cựu chiến binh thời Liên Xô cũ, ngược đãi với người Ukcraine gốc Nga… trong lần bỏ phiếu LHQ về việc lên án cũng như cấm tuyên truyền ủng hộ chủ nghĩa phát xít thì Mỹ và Ukcraine là 2 quốc gia duy nhất bỏ phiếu trống, họ công khai xăm lên người, treo cờ phát xít có huy hiệu chữ thập ngoặc.
     Hitle từng nói “lời nói dối được lặp lại nhiều lần sẽ trở thành lời nói thật”. Cố tổng thống Nelson Mandela cũng đã nói “Không cần đem quân xâm lược một quốc gia, chỉ cần xóa bỏ lịch sử quốc gia đó là thành công”.
     Bác Hồ có nói: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Ngay những ngày đầu thành lập nước Việt Nam DCCH năm 1946, Bác đã phát biểu: “Việt Nam đã nhiều lần mất nước nhưng chưa bao giờ bị mất làng, bởi mỗi làng xã Việt Nam đều có một truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa lâu đời. Một quốc gia mà mất đi nền văn hóa lịch sử của mình sớm muộn gì cũng bị quốc gia khác đồng hóa, thế giới có quá nhiều quốc gia bị đồng hóa rồi sát nhập vào một quốc gia khác. Bản sắc văn hóa và lịch sử của một dân tộc là tấm thẻ bài chứng nhận với thế giới rằng dân tộc đó còn tồn tại”
     Thực trạng ở Việt Nam chúng ta qua nhiều năm không coi trọng môn học lịch sử, cách giảng dạy thiếu khoa học, quá khô khan làm cho học sinh không hứng thú khi học lịch sử. Đã có vài thăm dò xã hội cho thấy đa số lớp trẻ rất thiếu kiến thức về lịch sử, chúng trả lời rằng “Quang Trung là bạn của Nguyễn Huệ!”. Hoặc trong ngày kỷ niệm 30/4 vừa qua, trên mạng xã hội có một số bạn trẻ nói rằng “Việt Nam cách điệu làm lá cờ xanh đỏ sao vàng không đẹp!”. Quá nguy hiểm cho an ninh quốc gia !
     Âm mưu xóa bỏ lịch sử Việt Nam đã có từ đời Nhà Minh năm 1428, khi chúng xâm lược nước ta rồi cho đốt hết sách sử Việt Nam, bắt người Việt sống ăn mặc theo phong cách Hán, khuyến khích phụ nữ Việt lấy chồng Hán, bỏ tiếng Nôm bắt viết chữ Hán… tội ác đó đã bị Nguyễn Trãi vạch trần trong “Bình ngô đại cáo”.
     Ngày nay lại nổi lên cái ý tưởng tồi tệ đề nghị lịch sử là môn học tự chọn, còn tiếng Anh thì bắt buộc! Gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ của người Việt Nam là nội chiến, là huynh đệ thương tàn là "chiến tranh Việt Nam";...
     Vậy hơn 650.000 quân Mỹ cộng với 100.000 quân chư hầu tới Việt Nam để du lịch chắc? họ lái cả ngàn máy bay với cả B52 bay khắp đất nước Việt Nam để tham quan???
Khuyết danh ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: ISRAEL - IRAN “CUỘC ĐẤU TRÍ TRÊN LỬA ĐẠN VÀ NHỮNG LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC CÒN GIẤU KÍN”!

     Sau bốn ngày giao tranh căng thẳng giữa Israel và Iran, điều hiện ra rõ rệt không phải là một cuộc tổng phản công ồ ạt từ hai phía, mà là một màn so găng chiến lược cực kỳ thận trọng, nơi mỗi bên vẫn đang giữ lại những “con bài tẩy” của mình, chưa ai muốn hoặc dám là người tung toàn lực trước.

ISRAEL ĐÁNH NHANH - KHÔNG PHẢI ĐỂ KẾT THÚC, MÀ ĐỂ THĂM DÒ

Israel, vốn nổi tiếng với chiến lược quân sự chính xác và chủ động, đã lựa chọn cách đánh phủ đầu bằng các phương tiện công nghệ cao: UAV cảm tử, bom dẫn đường GBU-39 SDB, và các cuộc không kích vào mục tiêu lộ thiên. Hàng loạt kho tên lửa, sân bay quân sự, cơ sở chỉ huy của Iran bị tấn công chính xác.

Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là Israel vẫn chưa tung ra bom xuyên phá hạng nặng – vốn được thiết kế để phá hủy các cơ sở ngầm liên quan đến hạt nhân. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy Tel Aviv đang đánh từng bước, ưu tiên vô hiệu hóa lực lượng phòng thủ cấp chiến thuật và thu thập thông tin tình báo, hơn là tìm kiếm sự hủy diệt toàn diện ngay lập tức.

IRAN “ẨN MÌNH CHỜ THỜI” - CHIẾN LƯỢC GIỮ LẠI ĐÒN PHẢN KÍCH CHỦ LỰC

Một điểm đặc biệt gây chú ý là mạng lưới phòng không hiện đại của Iran, bao gồm S-300PMU-2 nhập khẩu từ Nga cùng các tổ hợp nội địa như Bavar-373, Khordad-15, gần như chưa xuất hiện trên chiến trường. Điều này không phải là sự thiếu năng lực, mà có thể là một quyết định mang tính chiến lược: tránh để lộ vị trí, giữ lại hệ thống phòng không chủ lực để đối phó với các tình huống nghiêm trọng hơn, như khi Mỹ hoặc liên quân can dự trực tiếp.

Tương tự, số lượng tên lửa đạn đạo được Iran phóng đi có dấu hiệu giảm trong những ngày gần đây. Đây rất có thể là dấu hiệu bảo toàn lực lượng, chuẩn bị cho khả năng mở rộng chiến sự sang các mục tiêu quan trọng hơn như căn cứ Mỹ tại Iraq, Syria hoặc vùng Vịnh.

CUỘC CHIẾN CÒN LÀ ĐÒN TÂM LÝ VÀ CHIẾN LƯỢC DÀI HƠI

Cả Iran và Israel đều hiểu rằng, một cuộc chiến tổng lực sẽ gây thiệt hại khôn lường – không chỉ về quân sự mà còn về ngoại giao, kinh tế và chính trị nội bộ. Bởi vậy, mỗi bên đều thăm dò – phòng thủ – tấn công chọn lọc, chờ đợi đối phương mắc sai lầm hoặc buộc phải ra bài trước.

Thực tế, hai quốc gia này không chỉ đánh nhau bằng vũ khí, mà còn bằng tính toán chiến lược, dư luận quốc tế và sự can dự của các cường quốc. Việc Israel hạn chế dùng vũ khí hủy diệt cho thấy họ vẫn để ngỏ cửa ngoại giao. Trong khi đó, Iran đang kiên trì với thế trận giấu mình, sẵn sàng phản đòn khi tình hình vượt qua “lằn ranh đỏ”.

CHỜ AI RA BÀI TRƯỚC - VÀ KỊCH BẢN CHIẾN TRANH KHU VỰC

Hiện nay, xung đột giữa Israel và Iran vẫn đang nằm trong giới hạn “kiểm soát được”. Nhưng điều này có thể chuyển sang cấp độ hoàn toàn mới nếu một trong hai bên buộc phải phản ứng toàn diện – hoặc nếu có bên thứ ba (Mỹ, Nga, hoặc liên minh Ả Rập) tham chiến.

Nếu Iran phóng tên lửa vào các mục tiêu Mỹ - hoặc nếu Israel tấn công vào cơ sở hạt nhân ngầm - chiến sự sẽ vượt khỏi khuôn khổ song phương, có nguy cơ gây ra bất ổn toàn Trung Đông, kéo theo khủng hoảng dầu mỏ, tị nạn và xung đột khu vực kéo dài./.


Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÊ BÁ KHÁNH TRÌNH - HUYỀN THOẠI THẦM LẶNG CỦA TOÁN HỌC VIỆT NAM 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

     Nếu bạn từng nghe đến danh xưng “cậu bé vàng của Toán học Việt Nam”, thì đó chính là ông - Tiến sĩ Lê Bá Khánh Trình, người đã viết nên một phần rực rỡ của lịch sử toán học nước nhà bằng chính trí tuệ và sự tận tụy suốt cả cuộc đời mình!

Năm 1979, giữa trời Luân Đôn lạnh giá, một học sinh Việt Nam đã khiến cả thế giới ngạc nhiên khi giành giải nhất kỳ thi Olympic Toán quốc tế với số điểm tuyệt đối 40/40, và đặc biệt hơn, còn được trao thêm giải dành cho lời giải độc đáo nhất điều không phải ai cũng từng có được. Từ đó, cái tên Lê Bá Khánh Trình đi vào lịch sử như một niềm tự hào, một huyền thoại sống của ngành giáo dục và khoa học Việt Nam.

Nhưng có lẽ, điều khiến tớ cảm phục nhất ở ông không chỉ là trí tuệ xuất chúng, mà là cuộc đời bình dị, khiêm nhường và tận tụy. Suốt 32 năm giữ chức Tổ trưởng Tổ Toán Trường Phổ thông Năng khiếu (ĐHQG TPHCM), ông không ngừng truyền lửa cho biết bao thế hệ học sinh những người sau này đã vươn ra thế giới với chính ánh sáng từ ngọn đuốc mà ông từng thắp.

Và rồi tháng 2/2025, ông lặng lẽ rời vị trí ấy, như cách một người làm vườn âm thầm gieo trồng, rồi lùi về phía sau khi mùa hoa đã nở rộ.

Ngày nay, giữa thời đại TikTok, AI, mạng xã hội và vô vàn tên tuổi “triệu view”, rất nhiều bạn trẻ chưa từng nghe tên Lê Bá Khánh Trình nếu không chủ động tìm hiểu. Nhưng điều đó không làm giảm đi giá trị của ông một “vĩ nhân thầm lặng”, một trong những trí tuệ rực rỡ nhất của Việt Nam người luôn tin rằng: “Giáo dục là gieo hạt, không phải để thu hoạch tức thì, mà để nuôi dưỡng những cánh rừng tri thức của tương lai.”

Có những người sống không ồn ào, không hào nhoáng, nhưng để lại những dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn biết bao thế hệ học trò. Và Tiến sĩ Lê Bá Khánh Trình chính là một người như thế.

Có thể chúng ta không ai trở thành thiên tài Toán học, nhưng mong rằng từ những con người như ông, mỗi bạn trẻ sẽ học được một điều: sống có trách nhiệm, học tập nghiêm túc, và biết ơn những người thầy đã âm thầm chắp cánh cho mình bay./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG THÔNG TIN ĐƯỢC BIẾT VỀ CUỘC TẤN CÔNG TRẢ ĐŨA CỦA IRAN VÀO ISRAEL!

🇮🇷Lực lượng vũ trang Iran đã phát động một cuộc chiến chống lại Israel để đáp trả các cuộc tấn công vào lãnh thổ Iran;

🇮🇷 Chiến dịch trả đũa của Iran chống lại Israel có mật danh là "True Promise 3";

🇮🇱💥Nhiều vụ nổ dữ dội ở Tel Aviv và Jerusalem;

🇮🇱💥 Dịch vụ xe cứu thương của Israel báo cáo có năm người thương vong ở khu vực Tel Aviv;

🇮🇱💥 Một số tên lửa do Iran bắn trúng tòa nhà Bộ An ninh Quốc gia Israel;

🇮🇷 Lực lượng vũ trang Iran đã tấn công hàng chục mục tiêu ở Israel, căn cứ quân sự và không quân;

🇮🇷 Hàng trăm tên lửa đạn đạo đang tiếp tục tấn công quy mô lớn vào 🇮🇱

Trụ sở Bộ quốc phòng của 🇮🇱 đã dính tên lửa, chưa rõ thương vong

Lãnh đạo 🇮🇱 "đã phát động một cuộc chiến" chống lại Iran, Cộng hòa Hồi giáo sẽ không để nước này yên ổn, Lãnh tụ tối cao 🇮🇷 cho biết.
_______________

Có thể thấy cái giá của tin tưởng "đàm phán hòa bình" với Hoa Kỳ, là cả Nga lẫn Iran đều mắc phải sai lầm này và trả giá đắt.

Việt Nam cũng là một ví dụ khi bị ăn quả Linebacker II vào Hà Nội - may là Bác Hồ đã nghĩ về nó từ lâu và đã lường trước...

Việc ta đàm phán và làm theo công ước quốc tế (trong chừng mực có thể) không phải vì chúng ta tin chúng nó. Việc ta làm là để cho các bên thứ 03 thấy rõ bên nào mới là bên có thiện chí, và khi ta trả đòn sau khi không còn lựa chọn nào khác sẽ thuận lý thành chương.

Năm 1972, Việt Nam cũng phải vừa đánh vừa đàm, bọn bên kia đại dương cũng mồm nói đạo lý nhưng hôm sau thì đòi “đưa Hà Nội về thời kỳ đồ đá”; cuối cùng chúng ta vẫn hoà đàm thành công với chúng nó; rồi sau này còn làm ăn với chúng nó, thậm chí còn làm “đối tác chiến lược toàn diện”; vì sao chúng ta làm được vậy, bởi vì chúng ta luôn ghi nhớ rõ phương châm "Mặt trận ngoại giao luôn gắn liền với mặt trận quân sự và mặt trận chính trị"!!!

Mà Iran thì "mặt trận chính trị" cũng yếu, "mặt trận quân sự" thì cả trong và ngoài thời điểm này kém xa hồi 2016 và nhún nhường quá nên nát như giờ, còn "mặt trận ngoại giao" thì khỏi nói rồi!!!

Riêng Nga tuy bị đánh up nhưng chí ít "mặt trận quân sự" bên ngoài (bên trong thì phản gián như hạch), "mặt trận chính trị" lại thế trên nên vẫn ổn hơn Iran!
Theo tin nước ngoài.
Khuyết danh ST!

Giúp nhân dân biên giới sớm ổn định cuộc sống sau mưa lũ

 Trong đợt mưa lớn diễn ra tại tỉnh Quảng Trị, địa bàn huyện Hướng Hóa bị ảnh hưởng rất nặng nề như ngập lụt ở một số địa bàn thị trấn Lao Bảo, xã Thuận, giao thông trên các tuyến đường bị gián đoạn do sạt lở đất. Trước tình hình thực tế, các đơn vị lực lượng vũ trang đã điều động cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ di dời 217 hộ dân/1.007 nhân khẩu, cùng nhiều tài sản đến nơi an toàn. Bộ đội, dân quân tổ chức chốt chặn tại các tuyến đường giao thông bị ngập úng, sạt lở đất không để người dân qua lại. Nhờ sự chủ động của các lực lượng, cùng biện pháp kịp thời, huyện Hướng Hóa không để thiệt hại về tính mạng nhân dân. Ngày 14-6, khi mưa ngớt, nước trên sông, suối rút xuống, Ban chỉ huy phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn huyện Hướng Hóa đã huy động tối đa lực lượng khẩn trương bám địa bàn khắc phục hậu quả.

Giúp nhân dân biên giới sớm ổn định cuộc sống sau mưa lũ

Hỗ trợ các gia đình dọn dẹp nhà cửa, sắp xếp lại đồ dùng sinh hoạt ổn định cuộc sống.

Giúp nhân dân biên giới sớm ổn định cuộc sống sau mưa lũ
 Nỗ lực vệ sinh làm sạch các trục đường giao thông bị ngập úng sau khi lũ rút.

Trên tinh thần nước rút đến đâu khắc phục đến đó, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ thuộc các đơn vị: Ban CHQS huyện; đồn Biên phòng trên tuyến biên giới và lực lượng dân quân tự vệ các xã khẩn trương giúp dân vệ sinh nhà cửa, công trình dân sinh, đường giao thông, tổng dọn môi trường.

Kiên định vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

 Ở Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và  lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng, phát triển sáng tạo để đề ra đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cách mạng. Dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với hai nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập cho dân tộc và quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc cho nhân dân, đến cách mạng xã hội chủ nghĩa với hai nhiệm vụ cơ bản là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và sau đó, đến công cuộc đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa Mác - Lê-nin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất”. Vì vậy, trong các thời kỳ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin phù hợp với điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta và với xu thế của thời đại. Theo đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gần 40 năm qua đã khẳng định sức sống bền vững, giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đối với cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó khẳng định đường lối đổi mới là đúng đắn, sáng tạo, hợp lòng dân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ đó mà đất nước ta, như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã nhận định, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay

Bản chất, mục tiêu chính trị của Quân đội luôn gắn với bản chất giai cấp và nội dung của Nhà nước


Từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thực tiễn lịch sử ra đời, phát triển của quân đội đã chỉ rõ, quân đội nào cũng đều do giai cấp thống trị xã hội đó tổ chức ra, là công cụ chuyên chính bảo vệ lợi ích, địa vị thống trị của giai cấp ấy. “Bản chất giai cấp và nội dung của nhà nước như thế nào thì quân đội - người bảo vệ lợi ích của nó như thế ấy”. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, ra đời trước khi nhân dân ta giành được chính quyền, thành lập nhà nước. Do đó, sự lãnh đạo của Đảng trở thành nguyên tắc trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất, có mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời.

Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp, mục đích chính trị của nhà nước tổ chức ra và nuôi dưỡng nó, không có quân đội trung lập về chính trị, quân đội đứng ngoài giai cấp và nhà nước. Trong xã hội có giai cấp, không bao giờ có quân đội đứng ngoài chính trị, không mang bản chất chính trị của giai cấp, nhà nước nào. V. I. Lê-nin khẳng định: “Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được”. Thực tiễn lịch sử nhân loại chứng minh rằng, sự nghiệp cách mạng và con đường phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc, bao giờ cũng do một lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc lãnh đạo. Lực lượng chính trị ấy sẽ tổ chức, lãnh đạo quân đội, bảo đảm cho nó thực sự là công cụ bạo lực vũ trang của lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích quốc gia, dân tộc đang lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc đó phát triển. Điều này cho thấy rõ tính chất phi lý, phản khoa học của cái gọi là “quân đội phi giai cấp”. Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, dẫn dắt nhân dân Việt Nam đấu tranh giành độc lập dân tộc, mang lại quyền tự do, dân chủ, hòa bình, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, Đảng lãnh đạo Quân đội là tất yếu và Quân đội mang bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta luôn quan tâm chăm lo xây dựng Quân đội về chính trị, củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, chú trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Thực tiễn đó là không thể phủ nhận, hơn thế còn là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điểm xuyên tạc, kích động đòi tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.


Tầm quan trọng của việc phòng, chống chủ nghĩa cơ hội

 V.I. Lê-nin khẳng định: “Khi nói đến đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội thì không bao giờ được quên đặc điểm của tất cả chủ nghĩa cơ hội hiện đại trong mọi lĩnh vực là: nó mang tính chất không rõ ràng, lờ mờ và không thể nào hiểu nổi được. Do bản chất của mình, phái cơ hội chủ nghĩa bao giờ cũng tránh đặt các vấn đề một cách rõ ràng và dứt khoát; bao giờ cũng tìm con đường trung dung, quanh co uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thoả thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia,...”. Trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, khi nói về những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là “bọn hoạt đầu” và Người đã đề cập tác hại của nó trong Quốc tế Cộng sản II: “Vì bọn hoạt đầu trong Đệ nhị quốc tế đã phản mục đích hội mà hoá ra chó săn cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa, hoá ra phản cách mệnh”, chính vì để cho chủ nghĩa cơ hội nảy sinh, lũng đoạn và chi phối nên Quốc tế Cộng sản từ một tổ chức cách mạng mà bị chuyển hóa thành phản cách mạng, “Đệ nhị quốc tế trước vẫn là cách mệnh, nhưng vì kỷ luật không nghiêm, tổ chức không khéo, để tụi hoạt đầu xen vào nhiều quá; sau hoá ra phản cách mệnh”. Do đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cần phải chống chủ nghĩa cơ hội một cách quyết liệt, triệt để, bởi lẽ, “Không chống chủ nghĩa cơ hội thì không lãnh đạo được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì việc chống chủ nghĩa cơ hội là yêu cầu tất yếu, phải tiến hành thường xuyên, liên tục vì chủ nghĩa cơ hội có thể nảy sinh và phát triển mọi lúc mọi nơi. Người khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam luôn luôn đấu tranh mạnh mẽ trên lĩnh vực tư tưởng. Trong khi kiên quyết tập trung mũi nhọn chống bọn đế quốc xâm lược và bọn tay sai của chúng, Đảng không hề lơ là việc đấu tranh chống những tư tưởng phản động, tư tưởng tư sản cải lương đầu hàng và thỏa hiệp với đế quốc; chống tư tưởng tiểu tư sản bấp bênh dao động, chống những biểu hiện chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh và tả khuynh; ra sức đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng, giữa chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa cá nhân có mối quan hệ gần gũi, đều theo đuổi lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ, bất chấp lợi ích tập thể, cộng đồng, xã hội. Một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội là tận dụng, khai thác triệt để tình hình để theo đuổi lợi ích cục bộ, trước mắt, bất chấp lợi ích toàn thể, lợi ích lâu dài, lợi ích cộng đồng, xã hội; còn chủ nghĩa cá nhân luôn luôn đặt lợi ích cá nhân lên trên, lên trước lợi ích tập thể, lợi ích chung. Chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân của nhiều căn bệnh trong đó có bệnh cơ hội chủ nghĩa, do đó, đồng thời với phòng, chống chủ nghĩa cơ hội, phải kiên trì, kiên quyết phòng, chống chủ nghĩa cá nhân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc

Trong các bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Đồng thời, bằng chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập trong phong trào thi đua yêu nước.

Thi đua yêu nước do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trong chế độ cũ, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, nai lưng làm việc cho chủ để mình và gia đình mình không bị chết đói, “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”. Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”.

Nội dung cốt lõi, cũng như bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc cách mạng, thực hiện tốt hơn công việc hằng ngày. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nêu trên xuất phát và biểu hiện trên vấn đề cơ bản là: Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và tầm quan trọng của thi đua yêu nước; Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc yêu nước mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày. 

Người khởi xướng, dẫn dắt Phong trào thi đua “Ba nhất”


Thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã vận dụng một cách sáng tạo vào chỉ đạo tổ chức công tác thi đua thành hành động cách mạng của hàng triệu quần chúng, bộ đội. Ngay sau khi được Đảng, Chính phủ điều động vào Quân đội và giao trọng trách Phó bí thư Tổng Quân ủy, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tại Hội nghị cán bộ chính trị chuẩn bị cho Chiến dịch Biên giới năm 1950, đồng chí đã căn dặn cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chính trị các đơn vị tham gia chiến dịch phải làm thật tốt các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị; đặc biệt, cần phải phát động một cuộc vận động lập công.

Trong những năm 1954-1958, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cùng với Tổng Quân ủy, Tổng cục Chính trị đề ra chủ trương và chỉ đạo toàn quân đẩy mạnh các phong trào thi đua nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, xây dựng Quân đội chính quy, hiện đại, góp phần củng cố, bảo vệ miền Bắc và sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam. Quán triệt chủ trương này, Lữ đoàn 364 pháo binh mở phong trào học tập, rèn luyện trở thành “Pháo thủ toàn năng”. Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 305 bộ binh phát động phong trào “Vượt lên hàng đầu”. Quân khu Tả Ngạn phát động và lãnh đạo phong trào rèn luyện thể lực mang tên “Đại đội gió”, bắt đầu từ Đại đội 2, Trung đoàn 50... Trước những diễn biến này, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã thường xuyên theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ các đơn vị, tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đưa phong trào thi đua vào chiều sâu, có chất lượng và hiệu quả. Trên cơ sở đó, tháng 11-1958, Tổng Quân ủy phát động Phong trào thi đua “Tiến nhanh hoàn thành vượt mức kế hoạch xây dựng Quân đội”.

Để phong trào thi đua đạt được hiệu quả, thiết thực, cần phải tìm ra các nhân tố mới, phát hiện các điển hình tiên tiến; đồng thời, chú trọng công tác tổng kết kinh nghiệm để phát huy. Thấu triệt quan điểm đó, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn dành thời gian đến với các đơn vị cơ sở để phát hiện và tạo dựng phong trào. Ngay khi đến Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đoàn Vinh Quang (Sư đoàn 304), đồng chí đi sâu tìm hiểu tình hình và phát hiện, đơn vị đã dựa vào chi bộ, chi đoàn để phát động quần chúng và đề ra khẩu hiệu “Tiến công vào khoa học-kỹ thuật, làm chủ vũ khí, trang bị mới”. Với sự lan tỏa mạnh mẽ của phong trào và ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, ở hội thi bắn đạn thật toàn quân (tháng 6-1960), Sư đoàn 304 đạt đơn vị bắn giỏi nhất, đoàn có nhiều phân đội tham gia nhất, thành tích đều nhất. Tại lễ trao Huân chương tặng Đại đội 2, Trung đoàn 68 pháo binh, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã khái quát những thành tích của đơn vị là “Ba nhất”. Nội dung của “Ba nhất” (nhất về huấn luyện quân sự, rèn luyện kỹ thuật; nhất về mặt gương mẫu, kỷ luật; nhất về lao động và sản xuất) đã lôi cuốn các đơn vị trong toàn quân, mở rộng ra cả những đơn vị dân quân, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa bộ đội thường trực và lực lượng hậu bị, củng cố khối đoàn kết công-nông-binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

“Ba nhất” được Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng phát động thành phong trào thi đua trong toàn quân. Đó là một phong trào thi đua, một hình tượng thi đua điển hình vừa cụ thể vừa sinh động, lấy huấn luyện chiến đấu, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu làm trung tâm, lấy việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình làm mục tiêu thi đua cụ thể. Với ý nghĩa đó, “Ba nhất” được nêu lên như một khẩu hiệu hành động có sức hấp dẫn mạnh mẽ, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ toàn quân hăng say thi đua sáng tạo, lập công.

Chủ nghĩa cơ hội và những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội

 Chủ nghĩa cơ hội là không theo một đường lối rõ rệt, không có chính kiến rõ ràng, ngả nghiêng nhằm mưu lợi trước mắt. Chủ nghĩa cơ hội ra đời cùng với quá trình hình thành và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Lúc đầu, chủ nghĩa cơ hội chỉ có một vài xu hướng, bè phái cơ hội, như Pierre Joseph Proudhon, Mikhail Alexandrovich Bakunin, nhưng sau đã phát triển thành một lực lượng chính trị đáng kể trong các đảng chủ chốt của Quốc tế Cộng sản II, dẫn tới sự phân liệt sâu sắc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

V.I. Lê-nin cho rằng, những người theo chủ nghĩa cơ hội là những người chủ trương và hành động vô nguyên tắc, không triệt để, dứt khoát, sẵn sàng thỏa hiệp chính trị để theo đuổi lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt; sẵn sàng chà đạp lên cái toàn cục, lợi ích cơ bản, lâu dài. Chính vì vậy, những người theo chủ nghĩa cơ hội là kẻ thù của phong trào cách mạng, trong khi cách mạng là nhằm giải phóng triệt để giai cấp công nhân, xây dựng chủ nghĩa xã hội để đem lại hạnh phúc, ấm no, tự do, dân chủ thực sự cho nhân dân, thì những người theo chủ nghĩa cơ hội chủ trương thỏa hiệp, cải lương nên không cùng chí hướng với giai cấp công nhân cách mạng, “bọn này dĩ nhiên là kẻ thù chính của chủ nghĩa Bôn-sê-vích trong nội bộ phong trào công nhân. Nó lại còn là kẻ thù chính trên phạm vi quốc tế nữa”.

Nhìn chung, biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội rất đa dạng, như: Không có chính kiến, không có quan điểm rạch ròi, hoang mang dao động, dễ thỏa hiệp, sẵn sàng thay đổi; lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội để thỏa mãn nhu cầu và lợi ích cá nhân, bất chấp các hậu quả đối với cộng đồng, xã hội; không tin và không biết dựa vào nhân dân để thực hiện nhiệm vụ nhằm đem lại lợi ích cho cho tập thể; thiếu năng lực khắc phục khó khăn trong công việc chung,...

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trước sự khó khăn, những người phạm chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa cơ hội thiếu đầu óc sáng suốt và thiếu năng lực khắc phục khó khăn, vì họ không biết dựa vào quần chúng và dựa vào Đảng, hoặc là họ không tin vào quần chúng, và không tin vào Đảng”. Người còn cho rằng, thiếu nguyên tắc, thiếu kiên trì, thiếu triệt để trong công tác và chủ nghĩa cơ hội có mối liên quan đến nhau. Những người theo chủ nghĩa cơ hội thường thiếu nguyên tắc, không kiên trì, kiên nhẫn, triệt để trong công tác, và ngược lại, nếu không kiên trì, kiên nhẫn, triệt để thì cũng sẽ dẫn đến chủ nghĩa cơ hội.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng phải gan dạ, có kinh nghiệm, khôn khéo, kiên quyết mới lãnh đạo được kháng chiến. Đảng viên đều phải có gan hy sinh hết cho quyền lợi của quần chúng. Gan dạ mà không có kinh nghiệm thì dễ làm ẩu; cần có kinh nghiệm để làm cho đúng, đã gan dạ có kinh nghiệm rồi lại phải khôn khéo. Khôn khéo nghĩa là khi Đảng ra chính sách nào đó phải giải thích thế nào cho hợp với địa phương, đưa quần chúng ra tranh đấu... chứ không phải là khôn vặt. Đã khôn rồi lại phải kiên quyết, không kiên quyết thì dễ đi đến cơ hội”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cảnh báo, những người lãnh đạo, quản lý rơi vào chủ nghĩa cơ hội thường theo đuổi “vinh thân phì gia” và bị chi phối bởi quan niệm lạc hậu là “một người làm quan cả họ được nhờ”, biểu hiện trong chính trị là “đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc đoàn thể chịu, cốt cho bà con, bạn hữu có địa vị là được”