Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ: SỰ SO SÁNH, ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH!

     “Hồi chiến tranh Việt Nam cũng nhờ viện trợ TQ, Liên Xô, Cuba. Nguyễn Ánh cũng nhờ viện trợ phương Tây. 
Sao cái này thì gọi là ‘giao lưu’, cái kia thì bảo là ‘cõng rắn cắn gà nhà’? Tiêu chuẩn kép à?”

Nghe qua thì có vẻ “logic”, nhưng thật ra là một cú đánh tráo khái niệm rất tinh vi.
Muốn hiểu cho đúng, phải hỏi lại một câu duy nhất:

Anh nhờ viện trợ để làm gì? Để giữ nước hay để giành ghế?


1. Viện trợ cho một quốc gia độc lập, khác hẳn việc rước quân xâm lược vào nhà

Thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Việt Nam đã là một chủ thể độc lập, có chính quyền, lãnh thổ, mục tiêu rõ ràng: Độc Lập – Thống Nhất – Chủ Quyền Dân Tộc.

Viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc, Cuba… là:

- Giúp một dân tộc đang chống xâm lược.
- Không ký hiệp ước nhượng đất, không cho lập thuộc địa, không đặt ách thống trị lên đầu dân Việt.
- Chiến tranh kết thúc, họ rút về nước họ, Việt Nam vẫn là Việt Nam, không biến thành “tỉnh lỵ” của ai.

Còn Nguyễn Ánh thì sao?

- Thông qua Bá Đa Lộc, mở cửa cho thế lực Pháp can dự sâu vào nội bộ Đại Việt.
- Đánh đổi lợi ích dân tộc để đổi lấy quyền lực cho riêng mình.
- Tạo điều kiện cho thực dân sau này bám rễ, nắm kinh tế – quân sự – chính trị, mở đường cho việc xâm lược và đô hộ.

Một bên là nhận viện trợ để bảo vệ một quốc gia độc lập khỏi kẻ xâm lược.

Một bên là rước ngoại bang vào đánh đồng bào mình để giành lại ngai vàng.

Hai chuyện đó mà bảo “giống nhau” thì hoặc là không hiểu lịch sử, hoặc là đang làm trò ngụy biện chính trị.


2. Mục tiêu: Giải phóng dân tộc hay cướp lại chính quyền?

Lực lượng cách mạng hiện đại:

- Mục tiêu gốc: Độc Lập – Thống Nhất – Tự Chủ Dân Tộc.
- Viện trợ chỉ là phương tiện, không phải chủ đích.
- Dù có hay không, nhân dân Việt Nam vẫn tự đứng lên trên đất của mình để chiến đấu.

Còn Nguyễn Ánh:

- Mục tiêu không phải “giải phóng dân tộc khỏi ngoại xâm”.
- Mục tiêu là: giành lại quyền lực, bằng mọi giá.
- “Bằng mọi giá” ở đây bao gồm cả việc kéo ngoại bang vào cuộc chiến trong nước, chấp nhận để họ có chỗ đứng, có lợi ích, có cái cớ can thiệp ngày càng sâu.

Vậy nên câu hỏi cốt lõi phải là:

Anh xin giúp đỡ để giữ nước, hay xin giúp đỡ để giành lại cái ghế cho riêng anh?

Nếu vì Nước, đó là chuyện khác.
Nếu vì Ngai Vàng, đó là chuyện khác.


3. Giao lưu, liên minh, hay lệ thuộc – đừng trộn làm một

Có ba cấp độ rất cần phân biệt:

   1. Giao lưu – hợp tác
 • Buôn bán, trao đổi, giao lưu văn hóa, quân sự, nhưng không đánh mất chủ quyền.
 2. Liên minh – viện trợ
 • Cùng chung lợi ích ở một giai đoạn, hỗ trợ nhau trước kẻ thù chung.
 • Mỗi nước vẫn là một quốc gia độc lập.
 3. Lệ thuộc – bán nước
 • Đổi đất, đổi quyền kiểm soát, chấp nhận ngoại bang chi phối nội trị, quân sự, kinh tế.
 • Mở đường cho kẻ khác đặt ách thống trị lên dân tộc mình.

Việt Nam nhận viện trợ thời kháng chiến là ở mức liên minh – hỗ trợ, không phải ký giao kèo dâng nước, không biến mình thành thuộc địa của Liên Xô, Trung Quốc hay Cuba.

Còn con đường mà Nguyễn Ánh mở ra là từ cầu viện trượt dần sang lệ thuộc, và lịch sử cho thấy sau đó thực dân Pháp đã bám vào đúng những “cửa” ấy để tiến vào.


4. “Cõng rắn cắn gà nhà” là ở chỗ quay súng vào đồng bào mình

Đừng quên:

- Nghĩa quân Tây Sơn là người Việt Nam.
- Nguyễn Ánh cũng là người Việt Nam.

Khi Nguyễn Ánh nhờ ngoại bang can thiệp, quân ngoại bang không hề sang để “giải phóng dân tộc Việt Nam” khỏi kẻ xâm lược bên ngoài.

Họ sang để giúp một phe trong nội chiến đánh lại một phe khác, rồi đổi lại lợi ích, đặc quyền, ảnh hưởng.

Nói thẳng cho dễ hiểu:

Anh rước quân ngoài vào đánh dân và quân trong nước, để lấy lại quyền lực cho mình.

Đó mới chính là nghĩa đen của câu “cõng rắn cắn gà nhà”.

Còn viện trợ cho Việt Nam thời kháng chiến là:

- Ngoại bang không sang đánh dân Việt để lập thuộc địa.

- Họ hỗ trợ nhân dân Việt Nam đánh lại quân xâm lược ngoại quốc.

Bản chất khác nhau hoàn toàn.


5. Không có “tiêu chuẩn kép”, chỉ có một tiêu chuẩn rất rõ: Độc Lập và Chính Nghĩa

Tiêu chuẩn để phân biệt rất đơn giản:

- Có bảo vệ Độc Lập Dân Tộc hay không?
- Có giữ được Chủ Quyền hay không?
- Có quay súng vào đồng bào mình để đổi lấy ngai vàng hay không?

Nếu nhờ viện trợ mà:

- Đất nước vẫn là của dân tộc mình.
- Chủ quyền vẫn nằm trong tay người Việt.
- Không biến thành thuộc địa của bất kỳ ai.

Thì đó là liên minh, hợp tác, viện trợ.

Nhưng nếu nhờ viện trợ mà:

- Mở đường cho ngoại bang can thiệp sâu,
- Đem quân ngoài về đánh quân trong nước,
- Và sau đó đất nước rơi vào ách thống trị của chính thế lực đó,

Thì gọi đúng tên nó là: bán nước - cõng rắn cắn gà nhà, chứ không phải “giao lưu quốc tế”./.
Khuyết danh ST.

HỌ ĐẾM MẠNG ĐỒNG BÀO!

     Trong khi lực lượng cứu hộ đang vật vã kéo từng người khỏi dòng nước xiết, chuyển từng thùng mì, từng chai nước đến vùng cô lập… thì trên mạng, có những người ngồi khô ráo và đòi:
“Sao chưa công bố số người thiệt mạng?”
“Sao không minh bạch thương vong?”...

Cứ như công bố sớm 6 tiếng thì nước rút nhanh hơn. Hay công bố chậm 1 ngày thì người thiệt mạng sẽ sống lại.

Ưu tiên giữa bão rất rõ ràng:
– Cứu người đang còn sống
– Giữ người đang mắc kẹt
– Tiếp tế lương thực thuốc men
– Đảm bảo nơi trú an toàn
Nhưng họ nào quan tâm!

Nước vừa rút, người dân còn đang nhặt lại từng mảnh đồ đạc sót lại… thì bỗng xuất hiện con số lạnh người: 2.257 người qua đời/mất tích. Chỉ gắn cái mác “tin nội bộ” từ cuộc họp Quân uỷ Trung ương hôm qua và thế là đủ để gây hỗn loạn.

Đáng nói hơn: cái nguồn “nội bộ” ấy lại đang vướng kiện vì tung tin giả từ Đức. Nhưng lại tự khoác vai “người nhìn thấu tất cả”, như thể xã hội này đang mê ngủ còn họ là kẻ duy nhất tỉnh táo.
Tuy nhiên, điều nực cười nhất là: cả cái “họp Quân uỷ Trung ương hôm qua” mà họ viện dẫn… không hề tồn tại.

Ngày 25/11, Quân uỷ Trung ương không họp. Lần gần nhất họp là ngày 19/6. Còn 24/11 chỉ là phiên của Thường vụ Quân uỷ, thuộc Bộ Quốc phòng.

Một cuộc họp Quân uỷ thì Tổng bí thư phải chủ trì. Trong khi đó toàn bộ nhân sự chủ chốt đều có lịch công tác kín suốt cả ngày: Tổng bí thư Tô Lâm làm việc ở Quốc hội; Bộ trưởng Phan Văn Giang làm việc với đoàn ĐBQH Thái Nguyên; Chủ tịch nước Lương Cường tiếp Thống đốc Nga rồi họp về bão lũ; Thủ tướng Phạm Minh Chính sáng ở Quảng Ninh, chiều ở TP.HCM.

2.257 người qua đời/mất tích là tin giả độc ác nhưng không bất ngờ. 
Bởi việc đầu tiên họ làm, mỗi khi thiên tai ập đến, là lục tìm một ai đó để đổ lỗi. Lỗi của chính quyền, lỗi của khí tượng, lỗi của bất kỳ ai miễn sao họ được đứng trên cao mà chỉ tay xuống.
Và họ chọn đúng thời điểm: bão tiếp theo sắp vào, tinh thần người dân thấp nhất, tin đồn lan nhanh nhất, mạng xã hội khát bi kịch nhất.

Tung đúng lúc = bùng nổ.
Con số càng lớn = càng lan xa.
Mác “nội bộ” = càng dễ tin.

Đó là thao túng được tính toán. Bão lũ, dưới tay họ, không phải thiên tai. Nó là sân khấu.

Và khi một ai đó xem sinh mạng đồng bào như đạo cụ để dựng kịch bản, thì từ khoảnh khắc đó, họ đã đứng ngoài nhân tính.

Thiên tai không phân biệt ai. Nỗi đau không chừa ai. Không cần tranh luận thiện ác. Sự vô cảm của họ đã trả lời thay. Việc của chúng ta chỉ có một: giữ trái tim biết thương người và cái đầu đủ tỉnh táo để không bị thao túng./.

Khuyết danh ST.

VẠCH TRẦN BỘ MẶT KẺ PHẢN ĐỘNG Y CHUÂN MLÔ!

     Sau khi mãn hạn tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, Y Chuân Mlô không chịu tu chí làm ăn mà tiếp tục tìm cách phá hoại buôn làng. Năm 2019, Y Chuân Mlô bỏ lại vợ con rồi vượt biên trái phép sang Thái Lan để theo những đối tượng phản động chống phá lại đất nước.

Theo tài liệu của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Y Chuân Mlô (SN 1985, trú tại buôn Kõ Đung, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk) với bản tính lười lao động, thích ăn chơi lêu lổng nên từ nhỏ, y đã thường xuyên tụ tập nhóm đối tượng xấu, tổ chức ăn nhậu, quậy phá buôn làng. Do đó, vào năm 2008, Y Chuân Mlô bị bắt, xử phạt hơn 4 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Với bản án phạt tù, tưởng rằng Y Chuân Mlô sẽ lấy đó là bài học thì y lại “chứng nào tật nấy”. Sau khi mãn hạn tù, Y Chuân Mlô tiếp tục tìm cách quậy phá, gây mất an ninh trật tự trong buôn. Sau khi lấy vợ, sinh con, Y Chuân Mlô không những không chịu tu chí làm ăn mà thường xuyên tìm cách phá hoại, gây mất đoàn kết người dân trong buôn. Đến năm 2019, tin theo lời dụ dỗ, lừa phỉnh của nhóm phản động nước ngoài, Y Chuân Mlô bỏ lại vợ con rồi vượt biên trái phép sang Thái Lan.

Tại Thái Lan, Y Chuân Mlô cùng với các đối tượng phản động như: Y Quynh Bdap, Y Arôn Êban, Y Pher Hdruễ, Y Bihông Hdruễ, Y Phướk Niê… tham gia vào tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ” để chống phá Việt Nam. Tháng 6/2023, đối tượng cầm đầu tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ” là Y Quynh Bdap bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ vì “Cư trú quá hạn” và liên quan đến vụ khủng bố ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk; đối tượng Nguyễn Đình Thắng, kẻ cầm đầu tổ chức phản động “Ủy ban cứu người vượt biển – BPSOS” đã giao nhiệm vụ lại cho Y Chuân Mlô quản lý tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ”.

Dưới sự chỉ đạo, giật dây của đối tượng Nguyễn Đình Thắng, Y Chuân Mlô đã có nhiều hoạt động chống phá nhằm phô trương thanh thế như: Tuyên truyền, lừa phỉnh trên không gian mạng (chủ yếu sử dụng công nghệ AI cắt ghép hình ảnh, bài viết ) nhằm lôi kéo, phát triển lực lượng trong nội địa, kích động vượt biên, dụ dỗ người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tham gia các tổ chức phản động dưới “vỏ bọc” tôn giáo như: “Hội thánh Tin Lành đấng Christ Tây Nguyên – CHPC”, “Tin Lành tư gia độc lập”… để gây mất an ninh trật tự tại các buôn làng, hòng đòi thành lập nhà nước ảo vọng “Đề ga”.

Qua đây cho thấy, Y Chuân Mlô và tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý- MSFJ” luôn có âm mưu lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của bà con nhân dân để kích động chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết giữa các dân tộc anh em. Vì thế, khuyến cáo người dân hãy chăm lo lao động sản xuất, nêu cao tinh thần cảnh giác trước “bóng ma” của tổ chức này cũng như những lời dụ dỗ, lôi kéo của đối tượng Y Chuân Mlô, tránh vi phạm pháp luật không đáng có./.
Khuyết danh ST.

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: STALIN HÓM RA PHẾT!

    Một trong những điều mình đánh giá cao ở bất kỳ ai, đó là óc hài hước. Cũng là bởi tính mình nó nhí nhố sẵn từ bé.

Stalin ngoài là một lãnh tụ nghiêm khắc, nhiều khi khắc nghiệt, lại là một con người khá hóm hỉnh. Nhiều bút phê của ông đã khiến nhiều người phải...bật ngửa vì bất ngờ.

Bức ảnh đăng kèm cho thấy phòng làm việc của Stalin tại nhà nghỉ ở Sochi. Ông có chiếc bàn nhỏ, thường làm việc muộn và ngủ luôn tại chiếc giường khá đơn sơ bên cạnh. Ít ai tưởng tượng được vị lãnh đạo một cường quốc lại có thể giản dị như vậy.

******

Lần nọ, Stalin được Anh hùng LX, nhà thám hiểm Bắc Cực Ivan Papanin mời đến chơi, thăm nhà nghỉ cuối tuần mà ông này mới xây. Trước đó Ivan đã mời nhiều lãnh đạo khách quý đến, ai nấy đều trầm trồ khen ngợi, viết những lời có cánh vào sổ lưu niệm của chủ nhà.

Sau khi được Ivan Papanin giới thiệu nào là chỗ này lát đá cẩm thạch Italia, chỗ kia lát đá cẩm thạch Hy Lạp.. Stalin được chủ nhà đưa cho cuốn sổ để ghi lưu niệm. 

Stalin lật mấy trang chăm chú đọc. Rồi ông cầm bút viết: “ Gửi đồng chí Vlasik (giám đốc cơ quan cảnh vệ Chính phủ). Đây là một nhà trẻ khá tốt. I. Stalin”

***

Một lần Stalin được báo cáo là nguyên soái Rokossovsky mới có bồ là nữ diễn viên nổi tiếng xinh đẹp Valentina Serova. Phải làm gì bây giờ?

Stalin nghe xong liền rút tẩu ra khỏi miệng, nghĩ chút rồi nói:

-Chúng ta sẽ làm gì...làm gì...nhỉ? À, chúng ta sẽ ghen tỵ...🙂

***

Lần nọ, Stalin được mời xem phim”Đoàn tàu về hướng Đông”. Phim khá nhàm chán, tàu đi, rồi dừng, rồi đi, lại dừng...

Sốt ruột quá, Stalin hỏi:

- Cái ga này tên là gì thế?

- Thưa, ga Demyanovka ạ.

- Đúng đây là ga tôi phải xuống.

Nói rồi ông bước ra khỏi phòng chiếu phim.

***

Một vị thượng tướng đến báo cáo công việc với Stalin. Tổng tư lệnh tối cao có vẻ hài lòng, gật đầu mấy lần.

Thấy vị tướng báo cáo xong vẫn có vẻ chần chừ, Stalin hỏi: “Anh định nói thêm gì nữa không?”.

“Thưa, tôi có chút việc riêng. Ở bên Đức tôi có nhặt nhạnh được một số chiến lợi phẩm, nhưng bên kiểm soát họ giữ lại. Tôi có thể lấy lại những thứ đó được không?”

“Được chứ. Anh cứ viết đơn, tôi sẽ có ý kiến”.

Viên thượng tướng móc túi lấy ra cái đơn đã soạn sẵn, Stalin cầm bút viết luôn mấy chữ.

Viên tướng liền cảm ơn rối rít. Stalin đáp:” Có gì đâu mà phải cảm ơn”.

Khi đọc thấy dòng chữ “Trả lại cho đại tá đồ đạc. I.Stalin”, vị tướng nói: ”Thưa, tôi không phải là đại tá, mà là thượng tướng”.

“Không, tôi viết đúng đấy, đồng chí đại tá ạ”.

(Stalin đã bỏ từ генерал (tướng) trong từ генерал полковник (thượng tướng) thành mỗi полковник ( đại tá) )

Qua các câu chuyện có thật mà mình chọn dịch ở trên, có thể thấy rằng Tổng tư lệnh tối cao Stalin rất ghét thói phô trương hình thức, xa hoa, tư lợi cá nhân...Cũng cần nói thêm, khi mất, vị lãnh đạo LX này chỉ để lại mấy bộ quần áo và một sổ tiết kiệm 900 rúp./.

Môi trường ST.

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: MỘT SUY NGHĨ “NÔNG CẠN”, THƯA ÔNG ĐẠI BIỂU?

     Nhìn nhận thực tế, cho dù thế nào thì trên mỗi năm, học sinh của chúng ta cũng chỉ học duy nhất một bộ sách Giáo Khoa trên lớp học mà thôi!

Sáng tạo không phải là cần ở nhiều bộ sách Giáo Khoa với những thứ kiến thức trà trộn, sạn lỗi và đi trên những trục kiến thức khác nhau... giữa các bộ sách Giáo Khoa khác biệt như bao lâu nay. 

Sự sáng tạo của học trò không phải nhìn nhận trên mặt bằng chung, truyền thụ kiến thức trên nhiều SGK như vậy ? 

Mỗi năm học, các em dù thế nào cũng chỉ mới tiếp thu được kiến thức tầm phổ thông ở duy nhất một bộ sách. 

Không có khái niệm sáng tạo nhìn chung một cách thiếu phân định, và đánh giá kiểu tù mù như vậy.

Sự thiếu thống nhất, đồng bộ về nội dung trong giảng dạy (do nhiều bộ SGK) mới là nguy hiểm. 

Nhiều vùng miền học sinh học các bộ sách khác nhau, sẽ hình thành một hệ quả tiến triển theo những chiều hướng mâu thuẫn về mặt nhận thức, các trục tư tưởng nền tảng về tri thức, nhất là về kiến thức khoa học xã hội. Ta có thể nói đại khái là trên các phạm trù nội dung, hình thái diễn dịch, tư duy cảm xúc, ý nghĩa lớn lao...vì bài học trên sách là hoàn toàn khác nhau.

Điều quan trọng lớn hơn là sự hấp thu kiến thức trên các nhìn nhận về tính cốt lõi giá trị của các loại hình văn học, tính cách văn học tiêu biểu, óc tiếp cận, cảm thụ về nghệ thuật văn chương..., hoặc tiếp thu kiến thức về góc nhìn và lĩnh hội của các em về văn hóa - lịch sử, do nội dung lịch sử được học khác nhau về bài học tiêu biểu..., hoặc nội dung thiết kế riêng của mỗi bộ sách, có tính chủ định về mặt lôgic phát triển tư duy - tính liên thông dựa trên tư duy lứa tuổi và sự lĩnh hội có dụng ý khác nhau (cả KHTN và KHXH)

Do đó, với kiến trúc sư phạm "nhiều bộ SGK" thì ta kết luận rằng, tất yếu sẽ là dẫn đến sự chia rẽ tư tưởng các em từ lúc còn đi học phổ thông, nguyên nhân với những nội dung bài học khác nhau.

 Đôi khi những hạt mầm sơ khởi này có sự khác biệt sâu sắc, sau này các em có "kiến thức đủ lớn" vẫn sẽ mang theo, sẽ tạo nên những mô típ - mảng xã hội con người xung đột và bất đồng quan điểm. "Kiến thức đủ lớn" đôi khi cũng không thể hóa giải sự khác biệt do các trục tư duy được thụ hưởng, thấm nhuần tạo ra tính ưu thế từ thuở học trò này.

Chính vì vậy, tập trung học duy nhất một bộ sách Giáo Khoa là tốt nhất. Các em cần phải có chung những kiến thức nền tảng thật tốt, những thiết kế nội dung khai mở trí tuệ như nhau. 

Nói nôm na rằng học giáo khoa là học câu chữ thánh hiền học những bài học tiêu biểu của những nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ lớn.v.v, tri thức căn bản dựa trên chính những khuôn vàng thước ngọc của chính nền học vấn nước nhà và kho tàng tri thức của nhân loại nói chung.

Khi ấy Khoa học sư phạm sẽ xây dựng một lộ trình phát triển để tạo ra những tri thức lớn, tài giỏi có ích cho sự nghiệp phát triển thịnh vượng và kiến thiết hùng mạnh nước nhà.

Nền tảng kiến thức trên mỗi con người phải kiện toàn vững chắc, thì lúc này mới mở ra tầm tri thức đủ uyên rộng và mới có thể tự tin đi vào những phương hướng giáo dục và đào tạo khác... Từ đó không gian cho Tự do sáng tạo sẽ mở ra vô bờ bến, mang lại những giá trị và bổ ích cho đời sống văn hóa, tri thức cũng như phát minh nhiều khoa học ứng dụng, để phát triển không ngừng, góp phần cho nhân loại từng ngày./.
Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐẢNG, TÔN GIÁO VÀ “ĐỨC TIN CHÍNH TRỊ”!

     Nhân chuyện có vị đại biểu Quốc hội lên tiếng “phản pháo” Nghị quyết 71 của Đảng về một bộ sách giáo khoa, tôi lại suy ngẫm thêm về Đảng Cộng sản, về bản chất của một người cộng sản - và rộng hơn, về cái gọi là “đức tin chính trị”!

Có lần tôi ví von rằng Đảng Cộng sản cũng giống như một tôn giáo. Nói vậy có người phản đối liền: “tôn giáo là mê tín, còn Đảng là đường hướng chính trị, sao ví được?”. Tôi không phản đối họ, vì nếu đem định nghĩa ra đối chiếu thì họ đúng. Nhưng cái tôi nói là "ví von", không phải định nghĩa lại.

Và nếu chịu khó nhìn sâu thêm một chút, ta sẽ thấy có những điểm tương đồng rất thú vị.

Tôn giáo có kinh, có luật, thì Đảng có Cương lĩnh – Điều lệ. Tôn giáo có đấng tối thượng thì Đảng có Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôn giáo coi trọng giác ngộ thì Đảng đặt nặng lý tưởng, niềm tin, sự kiên định. Tôn giáo lo tín đồ hiểu sai giáo lý thì Đảng lo đảng viên suy thoái, lệch lạc, xa rời đường lối.

Đạo nào cũng nhắc “đức tin không có thực hành là đức tin chết”. Đảng cũng nói “Đảng viên mà không còn lý tưởng thì còn lại gì ngoài cái danh xưng?”

Cho nên, khi tôi nói Đảng có nét giống một tôn giáo, tôi muốn nói đến chuyện này: Cái giữ người ta lại không phải cái thẻ đảng, mà là cái gốc bên trong - niềm tin, sự giác ngộ và "sự sống của lý tưởng".

Một dân tộc mất văn hóa là dân tộc chết. Một tôn giáo mất giáo lý là tín đồ hoang mang. Một đảng viên xa rời đường lối Đảng thì, dù còn tên trong danh sách, bản chất đã không còn là đảng viên.

Tôi vẫn tin rằng, một xã hội vận hành theo nguyên tắc công bằng, nhân văn, lấy dân làm gốc - thì dù mang tên gì - nó vẫn mang tinh thần cộng sản dù có thừa nhận hay không. Cũng như một người sống tử tế - dù theo Phật, theo Chúa hay không theo ai - thì họ vẫn chung một thứ đạo: đạo làm người.

Cái quyết định ở đây không phải chiếc áo thầy tu, hay chiếc thẻ đảng. Mà chính là tư tưởng trong đầu, đạo đức trong lòng, và hành vi trong cuộc sống.

Và tôi nghĩ đến những đảng viên đang… “mất dần tiếng nói” trên mạng xã hội... Giờ xã hội mình có một hiện tượng rất lạ là người ngoài Đảng lại đi bảo vệ Đảng trên mạng xã hội; còn không ít đảng viên - tay cầm thẻ đỏ - thì lại im thin thít.

Facebook của họ toàn ăn uống, du lịch, cà phê… trong khi ngoài kia, xã hội đang tranh luận về xét lại lịch sử, chống xuyên tạc Đại hội 14, phản bác bẻ lái tư tưởng của Đảng.

• Nếu không viết được - thì chia sẻ.

• Nếu không phân tích được - thì like, share báo chí chính thống.

Còn đảng viên mà đứng nhìn mạng xã hội thành chiến trường, mà mình thì đứng ngoài như khách qua đường… thì xin lỗi, đó chính là kiểu đảng viên mà Trung ương gọi là “thờ ơ chính trị”.

Và đảng viên thờ ơ chính trị thì vô ích cho Đảng, vô dụng cho xã hội, và vô tình với nhân dân.

Đảng không cần “đảng viên danh nghĩa”, Đảng cần những người có đức tin chính trị thật sự.

Một người khoe thẻ đảng nhưng không hiểu đường lối Đảng, không bảo vệ quan điểm của Đảng, không sống theo đạo đức của Đảng - thì khác gì một người mặc áo thầy tu mà không biết kinh - không hiểu kinh, không giữ giới?

Cái áo không làm nên thầy tu. Cái thẻ không làm nên đảng viên. Cái làm nên con người là niềm tin, hiểu biết và hành động.

Cũng như thế, cái làm nên người cộng sản không phải là thẻ, mà là tư tưởng Mác - Lênin, đạo đức Hồ Chí Minh, và sự gắn bó với nhân dân.

Khi một đại biểu Quốc hội đứng lên phát biểu trái với Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, tôi không trách họ vì họ nói khác tôi, mà tôi chỉ buồn vì ở đâu đó, cái gốc - cái lý tưởng - cái giác ngộ chính trị của họ có vẻ không còn đứng ở đúng vị trí của người cộng sản nữa.

Một người cộng sản thật sự không đứng lệch hướng. Một người cộng sản thật sự càng không “đối lập” lại chính Đảng của mình. Và một đảng viên thật sự - khi xã hội cần tiếng nói - thì không thể im lặng./.
Yêu nước ST.

SỰ THẬT LỊCH SỬ: HUGH THOMPSON / VỤ THẢM SÁT MỸ LAI

     Ngày 16 tháng 3 năm 1968, Hugh Thompson nâng chiếc trực thăng quan sát nhỏ bé của mình bay qua một ngôi làng Việt Nam trong một chuyến trinh sát thường lệ.

Những gì anh nhìn thấy bên dưới khiến anh thót tim.

Xác chết khắp nơi. Nhưng không phải xác lính địch. Những người đàn ông già nằm la liệt trên ruộng lúa. Phụ nữ gục ngã bên cạnh nhà cửa. Những đứa trẻ sẽ không bao giờ lớn lên.

Và những người lính Mỹ đi lại giữa họ. Vẫn đang bắn.

Thompson mới hai mươi bốn tuổi. Một sĩ quan chuẩn úy với giọng nói miền Nam lè nhè và không có thẩm quyền đối với bộ binh. Anh lượn vòng xuống thấp hơn, cố gắng hiểu những điều vô lý.

Anh gọi điện thoại yêu cầu sơ tán y tế. Đánh dấu những thường dân bị thương bằng khói xanh để y tế có thể tìm thấy họ.

Rồi anh nhìn thấy lính Mỹ đi thẳng đến chỗ đánh dấu khói của anh và giết chết những người mà anh vừa cố gắng cứu.

Xạ thủ Lawrence Colburn của anh nhìn chằm chằm xuống hiện trường. Chỉ huy phi hành đoàn Glenn Andreotta nắm chặt vũ khí hơn. Tất cả họ đều nhận ra cùng một điều bất khả thi cùng một lúc.

Chính binh lính của họ đang sát hại cả gia đình.

Thompson nhìn thấy một nhóm thường dân co cụm trong boongke. Kinh hoàng. Bị mắc kẹt. Lính Mỹ đang tiến về phía họ với súng trường giương cao.

Anh chỉ có vài giây để quyết định.

Hạ cánh và không làm gì cả? Bay đi và giả vờ như không thấy gì? Tuân thủ quy định quân sự và để cuộc thảm sát tiếp diễn?

Hay đưa ra lựa chọn có thể khiến anh bị chính đồng đội bắn chết?

Thompson thả trực thăng xuống giữa những người lính Mỹ và boongke. Bụi bay mù mịt. Cánh quạt quạt cắt ngang không khí. Anh nhảy ra ngoài và tiến về phía Trung úy William Calley, người đang chỉ huy cuộc thảm sát.

"Tôi sẽ đưa những người này ra ngoài," Thompson nói.

Câu trả lời của Calley khiến anh lạnh người. "Chúng tôi sẽ xử lý họ."

Thompson hiểu rõ điều đó nghĩa là gì.

Anh quay lại phía phi hành đoàn và ra một mệnh lệnh làm thay đổi mọi thứ.

Nếu những người lính Mỹ đó cố gắng giết hại thường dân mà anh đang bảo vệ, phi hành đoàn của anh được phép bắn người Mỹ.

Đồng bào của anh. Đồng đội của anh.

Colburn và Andreotta chuyển vũ khí để yểm trợ cho bộ binh. Mọi người đều hiểu rõ khoảnh khắc đó. Thompson vừa chọn phe. Và không phải với quân phục.

Rồi anh ấy làm một điều còn dũng cảm hơn.

Anh ấy đi bộ đến boongke nơi những gia đình Việt Nam co rúm lại vì kinh hoàng. Những người này có đủ lý do để nghĩ rằng anh ấy cũng ở đó để giết họ. Trực thăng Mỹ đồng nghĩa với cái chết ngày hôm đó.

Nhưng Thompson đã quỳ xuống. Bò vào boongke. Dụ dỗ ông bà và trẻ em ra ngoài bằng những lời lẽ nhẹ nhàng mà họ không hiểu nhưng bằng cách nào đó vẫn tin tưởng.

Trực thăng quan sát của anh ấy rất nhỏ. Chỉ được chế tạo cho hai người. Anh ấy đã thực hiện hết chuyến này đến chuyến khác, đưa những thường dân hoảng loạn lên máy bay và đưa họ đến nơi an toàn trong khi lính Mỹ chỉ đứng nhìn mà không làm gì cả.

Bởi vì họ biết điều gì sẽ xảy ra nếu họ cố gắng.

Sau đó, phi hành đoàn trưởng Andreotta đã tìm thấy điều gì đó khiến tất cả phải suy sụp. Một cậu bé nhỏ đang di chuyển trong một con mương đầy xác chết. Vẫn còn sống giữa một đống xác chết.

Andreotta trèo xuống cơn ác mộng đó và kéo đứa trẻ ra.

Họ cũng đã đưa cậu bé đến nơi an toàn.

Khi Thompson trở về căn cứ, anh ta hành quân thẳng đến gặp sĩ quan chỉ huy. Báo cáo mọi thứ. Nêu đích danh. Mong đợi hành động ngay lập tức.

Nhưng thay vào đó, Quân đội đã chôn vùi báo cáo của anh ta.

Bảo anh ta im lặng. Quên những gì anh ta thấy đi. Những người lính đã giết người ư? Họ được tặng thưởng huân chương cho "hành động chiến đấu" của mình ngày hôm đó.

Trong một năm, không có gì xảy ra. Vụ thảm sát Mỹ Lai vẫn được giữ kín.

Sau đó, nhà báo Seymour Hersh đã đưa tin vào tháng 11 năm 1969. Sự thật bùng nổ trên khắp các tiêu đề báo chí trên toàn thế giới. Các phiên điều trần của Quốc hội. Sự phẫn nộ của quốc tế. Vụ thảm sát Mỹ Lai trở thành biểu tượng cho mọi điều sai trái ở Việt Nam.

Và Hugh Thompson trở thành kiểu anh hùng phức tạp nhất.

Đối với một số người, anh ta đã cứu mạng người và vạch trần cái ác. Đối với những người khác, anh ta là một kẻ phản bội, đã phản bội đồng đội.

Những lời đe dọa giết người bắt đầu ngay lập tức.

Người ta để lại những con vật bị cắt xẻo trước cửa nhà anh ta. Phá hoại nhà anh ta. Tại các sự kiện quân sự, các cựu chiến binh đã bỏ đi khi anh ta cố gắng nói về Mỹ Lai.

Chính phủ của ông đã đối xử với ông với sự nghi ngờ trong nhiều chục năm.

Trung úy Calley bị đưa ra tòa án quân sự vì tội giết hại 22 thường dân. Con số thực tế bị giết hôm đó lên tới gần 500 người. Calley bị quản thúc tại gia ba năm rưỡi trước khi Tổng thống Nixon trả tự do.

Hầu hết những người lính khác không phải chịu bất kỳ hình phạt nào.

Thompson đã trải qua ba mươi năm sống trong những gì ông đã chứng kiến. Những khuôn mặt mà ông không thể cứu. Những âm thanh không ngừng vang vọng. Tội lỗi của những người sống sót và sự tức giận khi chứng kiến công lý bị thất bại.

Nhưng ông chưa bao giờ xin lỗi vì đã hạ cánh chiếc trực thăng đó.

Năm 1998, ba mươi năm sau, Quân đội cuối cùng đã trao tặng Thompson sự công nhận mà ông xứng đáng. Huân chương Chiến sĩ cho lòng anh hùng phi thường.

Tại buổi lễ, ông nói rằng ông nhận huân chương này thay cho tất cả những ai đã cố gắng làm điều đúng đắn ở Việt Nam. Tất cả những người đã đứng lên khi lẽ ra có thể dễ dàng ngoảnh mặt làm ngơ.

Ông qua đời năm 2006 ở tuổi sáu mươi hai. Khi đó, hầu hết mọi người đều gọi ông là anh hùng.

Nhưng những thập kỷ bị đe dọa giết người và cô lập đó không thể nào xóa bỏ được.

Lựa chọn của Thompson ngày hôm đó đặt ra những câu hỏi mà nước Mỹ vẫn đang vật lộn. Bạn sẽ làm gì khi phe mình trở thành kẻ thù? Khi ngăn chặn tội giết người đồng nghĩa với việc đe dọa những kẻ giết người? Khi làm điều đúng đắn đồng nghĩa với việc bạn trở thành kẻ phản bội?

Anh ấy hai mươi bốn tuổi, không có thẩm quyền và anh ấy đã đưa ra một quyết định cứu sống nhiều người nhưng lại đánh mất sự bình yên trong suốt quãng đời còn lại.

Anh ấy không muốn trở thành một biểu tượng. Anh ấy chỉ thấy điều gì đó sai trái và từ chối bay đi.

Đó không phải là chủ nghĩa anh hùng dễ chịu. Đó là kiểu anh hùng để lại sẹo. Khi bạn cứu được một số người nhưng không thể cứu tất cả. Khi nói sự thật không đảm bảo công lý.

Hugh Thompson hạ cánh trực thăng và nói không. Không phải trong ca trực của tôi. Không phải trong khi tôi có thể làm gì đó.

Và anh ấy đã sống với hậu quả của lòng dũng cảm đó mỗi ngày sau đó./.
Khuyết danh ST.

THEO DÒNG THỜI GIAN: VN OK NÓI GÌ MÀ CHỈ VẬN DỤNG TRÍ THÔNG MINH ĐỂ RÚT NGẮN ĐƯỜNG RA ĐẢO VÀ CẢNG HÀ TIÊN THÔI!

     Cái t.ội ngăn dòng chảy sông MeCong để nước sông ko thể vào được đồng bằng Nam bộ gây ngập mặn…

Kênh phù mỏ (phù Nam bị vô hiệu) chịu khó đi vòng nha anh bạn CAM ăn cháo đá bát. ☆ 

Mấy ngày gần đây mạng xã hội Campuchia bùng nổ, lo lắng, run rẩy, kêu la Trung Quốc cứu, Việt Nam đang chặn đường ra biển của Campuchia rồi, Lục thum ơi! 
Đó là khi họ thấy siêu dự án Việt Nam lấn biển Hà Tiên, làm đường bộ 4 làn xe vượt biển, từ tp Hà Tiên ra Cụm cảng tổng hợp Tiên Hải (4,7 km) và sẽ phát triển ra quần đảo Hải Tặc thêm 7 km , rồi sẽ làm tiếp 27 km cầu vượt ra đảo Ngọc Phú Quốc, đảo lớn 700km2 Chỉ cách đất CPC 14 km, án ngữ trước cảng Rem, thì biển CPC chỉ còn là cái ao tù, mà cây cầu của Việt Nam lại là cánh cửa thép. Khi đó Hòn Khoai là tiền đồn giám sát khu vực 24/7, CPC muốn qua thì phải "đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên " với VN...
Cũng Đồng thời ở phía đông, cầu vượt biển 18km nối đất mũi Cà Mau ra đảo Hòn Khoai, xây dựng thành siêu cảng lưỡng dụng. Công trình do Bộ Quốc phòng VN đảm nhiệm đã hoàn thành hàng trăm cọc móng trụ cầu và đã lắp dầm cầu cả ngàn mét. Mỗi cọc móng là một cột chủ quyền vững chắc của Tổ quốc. 
CĐM CPC tròn mắt: ôi giàng ơi, mới 2/9 khởi công l, sao nhanh dữ zậy(?)
Hôm rồi 20.11, ông Tô xếp công việc bộn bề bay qua miền trung lũ lụt đang gào thét l... ra thăm Công trình, đã cho thấy tầm cỡ chiến lược an ninh Quốc phòng, đang gây chú ý với cả khu vực. Đây là sự kết hợp phát triển kinh tế với QP, là cụm siêu cảng trung tâm Asian, giáp đường vận tải Quốc tế rất hợp lý và vô cùng giá trị về hậu cần biển (maritime logistics), nó là cảng chiến lược quan trọng của Việt Nam. Là chốt chặn, đặt đài radar nhìn vòng cảnh giới quốc gia, là cánh cửa thép giám sát toàn bộ vịnh Thái Lan, đông nam biển Đông, vốn đang bình yên bao nhiêu năm nay bỗng dưng CPC rước ông bạn Trung Quốc vào sau lưng VN, đưa dao vào bụng Asian thì ai mà chịu nổi...
Thế giới cho rằng VN triển khai những dự án chiến lược này là vô cùng cao tay. Làm rất to nhưng nói rất nhỏ. Chả như cha con Hun khởi công cái kênh PhùNam Techo, coi đó là công trình thế kỷ, là "thở bằng lỗ mũi của mình", thoát khỏi cái bóng VN, không lệ thuộc kênh rạch, không qua Việt Nam nữa!", (cho miền tây VN khô hạn chơi). Thế mà Khởi công xong đắp chiếu (?). 
Chúng ta đã hỏi về tác hại của kênh PhùNam với đồng bằng sông Cửu Long, yêu cầu CPC cung cấp tài liệu báo cáo với ủy hội sông Mekong... thì họ nói đó là vấn đề của CPC, chả phải báo cáo ai!
Dự án của Cam mà không có kỹ thuật Cam, tiền không có, khởi công ầm ỹ...rồi im hơi lặng tiếng 1 năm nay (05.8.2024) không đào thêm được mét kênh nào?!
Tốt thôi, VN không hỏi thêm nữa, không phản đối ngoại giao, không nói thêm... mà về triển khai 2 siêu dự án vươn ra biển lớn. OK, biển trời đó là của VN, cũng như cha con chú, việc nhà anh anh làm, có gì không nhỉ?!.
  Oao ! Xem ra dự án hoàn thành, biển CPC chỉ còn là cái ao tù bé xíu, lọt thỏm trong hóc bò tó. CPC có trộm dẫn Anh Ba Tàu mò vô cũng phải qua cánh cửa Hòn Khoai, bốt canh Phú Quốc, Hải Tặc, Nam Du, là đi trước họng pháo đối hải và tầm tên lửa bờ diệt hạm VN mới sản xuất?! 
Ấy là chưa nói biết đâu có con KiLo đen sì đang ở đâu quanh chỗ đó à nha. 
Dân mạng Campuchia la thất thanh, gọi cha nuôi:
- Trung Quốc đâu, Việt Nam bít biển rồi còn đâu, sao không cho làm nhanh cái kênh PhùNam là sao...sao để CPC bơ vơ thế này!
Dân mạng TQ cũng chả vừa:
 - Ô, việc của nhà các ông với hàng xóm thì tự mà lo chứ, cái gì cũng gọi các anh là làm sao, các anh còn phải phát triển, còn đang lo vụ con mẹ Nhật, đang tính thu phục ĐàiLoan? 
Việt Nam họ làm trên đất của họ, mắc mớ gì mà om sòm, ngu thì chết. Hở ra là gọi là kêu, phải tự đứng trên đôi chân của mình chớ, dựa mãi vào ai đó thì đến khi nào mới lớn lên được l.
- Ngợp hơi à, tại bọn tui mải múa lăm thon, uống thốt nốt chu và mừng ảo cái kênh PhùNam Techo... Ủa, dưng mà sao họ làm nhanh thế chứ , chả thấy hô hoán ầm ỹ gì. Họ giỏi thật, chả nhờ kỹ thuật của ai, chả mượn vốn của ai, chả mất quyền khai thác 50 năm như kênh PhùNam?
Thái Lan thì đứng ngó ngang cười:
- Tưởng kênh Phù nam xong sớm thoát cái bóng Việt Nam, ai ngờ lại tới kỳ chui qua háng cầu Việt Nam rồi.  
Mà tới đây, Thái Lan đục thông kênh Kra kết nối Biển Andaman với Vịnh Thái Lan, rút ngắn đường vận tải biển và tránh phải đi vòng qua mũi Malay, đến thẳng siêu cảng Hòn Khoai VN, lúc đó CPC muốn "ra biển nhớn" không qua háng cầu VN thì lại phải xin qua biển Thái Lan, vòng lên Trường Sa... úi , xa lắm đó nha, tốn phí đóng cho TQ qua kênh Phù Nam, tốn thêm tiền dầu, mất thêm thời gian đi vòng Hòn Khoai lên phía bắc...
Giá mà khôn ra đừng nghe dại Tàu đào Phù Nam thì tốt biết mấy. Cứ qua cửa Tiền của VN lên với ông anh Ba Tàu cho lành, gần cả ngàn hải lý chứ bộ! 
Đúng là dân Thái, không bao giờ giữ mồm giữ miệng. Họ khoái VN xây cầu, làm cảng lưỡng dụng, góp phần cùng nhau canh ông bạn đểu mò vào. Ấm lưng, no bụng là tốt rồi. 
Cả đất Kam đang nhốn nháo y như kiến bò miệng chảo, la hét nhau trách nhau, kêu cứu cứ như bị ai bóp cổ . 
Là người có học, chỉ hé ra là phải hiểu tại sao VN cho cảng, mở biển cho Lào, lại rào cửa, đóng biển với Kam, chứ nhỉ(?)
Việt Nam vẫn chả nói gì, vẫn vừa làm vừa huýt sáo, hát vang...
"Ta lại đào... công sự, cho trận chiến đấu ngày mai, nào bên gái với bên trai...ta làm nhanh, ấy ta làm nhanh !..."




Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÔNG TRÌNH CẦU, ĐƯỜNG RA ĐẢO HÒN KHOAI!

     Công trình đường vượt biển dài 4,7 km từ trung tâm Hà Tiên ra xã đảo Tiên Hải, hướng tới cảng tổng hợp có khả năng tiếp nhận tàu 5.000 DWT, đang định hình một cấu trúc hạ tầng chiến lược mới cho khu vực biên giới Tây Nam Việt Nam. Những dãy đá hộc đổ dài giữa biển, tuyến đường đắp nổi vượt mặt nước như các hình ảnh được ghi lại tại thực địa cho thấy dự án này không đơn thuần là một công trình giao thông - mà là một bước đi thể hiện tầm nhìn dài hạn của Việt Nam trong thế trận kinh tế - hàng hải - quốc phòng ở Vịnh Thái Lan.

Các bức ảnh vệ tinh Google Maps cho thấy tuyến đường biển nằm đối diện trực tiếp với vùng biển Kep (Campuchia) và cách cửa ra biển dự kiến của kênh đào Phù Nam Techo chỉ 15-17km. Nếu nối theo trục hướng về phía tây nam, Hà Tiên nằm trên trục giao thương tự nhiên dẫn tới Phú Quốc - hòn đảo có vị trí chiến lược nhất của Việt Nam trên Vịnh Thái Lan. Từ đó hình thành cụm không gian kinh tế - quốc phòng gồm Hà Tiên, Kiên Lương và Phú Quốc, tạo thành tam giác có năng lực kiểm soát, tiếp nhận và cung ứng hàng hóa, thương mại, du lịch và dịch vụ cảng biển.

Theo UBND tỉnh Kiên Giang (2024), cảng Hà Tiên sau khi hoàn thành vào năm 2027 sẽ tiếp nhận tàu hàng đến 5.000 DWT, phục vụ vùng Tứ giác Long Xuyên, Kiên Lương - Hòn Chông (vùng xi măng, clinker lớn nhất Việt Nam) và kết nối trực tiếp ra biển mà không cần đưa hàng lên Cái Mép - Thị Vải hay TP.HCM. Điều này rút ngắn chi phí logistics, giảm áp lực lên các tuyến sông nội địa, nâng cao năng lực xuất khẩu cho cả khu vực Tây Nam Bộ.

Trên bình diện cạnh tranh khu vực, cảng Hà Tiên trở thành một lựa chọn mới cho hàng hóa từ miền Nam Campuchia. Dù báo chí Campuchia thời gian qua tập trung ca ngợi kênh đào Phù Nam như một “biểu tượng độc lập hàng hải” (Phnom Penh Post, Khmer Times), chưa có bình luận gọi Hà Tiên là “mối đe dọa”, nhưng giới phân tích Campuchia thừa nhận rằng tuyến đường bộ sang Việt Nam và dịch vụ cảng biển giá rẻ hơn có thể làm giảm hiệu suất kinh tế của kênh đào mới (Khmer Times, 6/2024). Như vậy, sự cạnh tranh là có thật, nhưng diễn ra trong không gian bình đẳng, không mang tính đối đầu, mà là cạnh tranh hiệu quả dịch vụ logistics.

Từ góc nhìn kinh tế hàng hải, tuyến Hà Tiên - Tiên Hải đang tạo ra một trục tiếp cận biển chủ động hơn cho Việt Nam ở phía Tây Nam. Điều này giảm phụ thuộc vào luồng hàng hải trên sông Đồng Nai - Sài Gòn - Cát Lái vốn thường ùn tắc, đồng thời giúp hàng xuất nhập khẩu cho Campuchia có thêm lựa chọn thay vì chỉ đi qua Việt Nam bằng đường thủy như trước đây. Một khi cạnh tranh dịch vụ diễn ra, hàng hóa từ Campuchia có thể tìm tới Hà Tiên nếu chi phí, thời gian thông quan, bảo quản và kết nối đường bộ hiệu quả hơn.

Nhìn từ thực địa, những dãy trụ sắt lớn cắm trên biển trong ảnh không chỉ phục vụ tuyến đường, mà còn là các kết cấu bảo vệ bờ, giảm sóng, giữ ổn định nền móng cho cảng và tuyến vận tải nặng. Đây là dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang tính toán đến việc duy trì hoạt động lâu dài của cảng trong điều kiện thủy văn phức tạp tại Vịnh Thái Lan, nơi sóng xiên và dòng chảy ven bờ mạnh vào mùa gió Tây Nam.

Không thể bỏ qua yếu tố an ninh - quốc phòng. Hà Tiên có biên giới đất liền và biển với Campuchia, nằm cạnh lối ra biển của một tuyến giao thương chiến lược mà Campuchia kỳ vọng sẽ giảm phụ thuộc vào Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam tăng năng lực hạ tầng cảng biển là một cách củng cố chủ quyền kinh tế, đồng thời tạo điểm tựa cho lực lượng cảnh sát biển, hải quân và biên phòng trong bảo vệ vùng biển biên giới.

Cụm cảng Hà Tiên - Kiên Lương - Phú Quốc tạo thành một vành đai hậu cần hỗ trợ tác chiến biển - đảo, tương tự mô hình “cảng dân sự kiêm quân sự” mà nhiều quốc gia áp dụng. Phú Quốc hiện là nơi đóng quân của các lực lượng hải quân và cảnh sát biển chủ lực tại miền Tây Nam. Khi Hà Tiên trở thành cảng lớn, hậu cần quân sự sẽ được cung cấp nhanh hơn, giảm phụ thuộc vận tải từ đất liền xa hơn. Trong chiến lược lâu dài, điều này tạo ra sức răn đe mềm: phát triển kinh tế nhưng đồng thời củng cố khả năng phòng thủ biển đảo mà không cần quân sự hóa quan hệ với nước láng giềng.

Những tuyến đường vượt biển đang hình thành không chỉ nối hai điểm trên bản đồ địa lý, mà kết nối ý chí tự cường kinh tế với khả năng bảo vệ không gian biển của Việt Nam. Trong một khu vực mà cạnh tranh cảng biển đang gia tăng, điều Việt Nam lựa chọn không phải là đối đầu, mà là nâng cao chất lượng hạ tầng, dịch vụ và khả năng kiểm soát tài nguyên biển theo cách chủ động, văn minh.

Chính sự chủ động này mới là lợi thế chiến lược bền vững của Hà Tiên trong tương lai. Một cảng biển hiện đại, một tuyến đường hướng ra thế giới, và một thế trận quốc phòng mềm nằm trong lòng dân - đó chính là tầm nhìn dài hạn mà tuyến đường vượt biển Hà Tiên đang được xây dựng để hiện thực hóa./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 👑 THIÊN THÀNH CÔNG CHÚA - NGƯỜI PHỤ NỮ QUYỀN CỰC Ở HẬU PHƯƠNG CỦA HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG!

     Thiên Thành Công chúa (1235 - 1288), được tôn hiệu là Nguyên Từ Quốc Mẫu, là một nhân vật lịch sử quan trọng thời nhà Trần, được biết đến với vai trò là phu nhân của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn.

Thân thế của Thiên Thành Công chúa được ghi chép trong sử sách với hai luồng ý kiến:
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT), việc bà được gọi là Trưởng công chúa trong đoạn "Gả Thiên Thành Trưởng công chúa cho Trung Thành vương", cho thấy bà là chị em gái của Hoàng đế đương nhiệm (Trần Thái Tông), tức là con gái của Thượng hoàng Trần Thái Tổ (Trần Thừa).

Một số nguồn khác căn cứ vào độ tuổi có thể suy luận bà là con gái Trần Thái Tông, vì Thái Tổ Trần Thừa mất vào năm 1234, trong khi đó Thụy Bà cũng được gọi là trưởng công chúa thì Thiên Thành phải là út công chúa.

Dù ở vai vế nào, bà là người sinh ra và lớn lên với thân thế cao quý, được giáo dục đầy đủ để trở thành một phụ nữ nhân từ, tài hoa, mẫu mực.

Sự kiện kết hôn của Thiên Thành Công chúa là một trong những chi tiết gây chú ý nhất trong sử nhà Trần:
ĐVSKTT ghi rõ: Vào đầu năm Nguyên Phong thứ nhất (1251), Trần Thái Tông ban đầu định gả bà cho Trung Thành vương (con trai Nhân Đạo vương).

Tuy nhiên, hôn nhân này bị thay đổi đột ngột. Trần Quốc Tuấn đã liều lĩnh cướp dâu. Bà cuối cùng đã kết duyên với Trần Quốc Tuấn (sau này là Hưng Đạo Đại vương). Sự việc đã gây ra một sự xáo trộn lớn đến mức triều đình phải đền bù thỏa đáng. Mẹ nuôi của Trần Quốc Tuấn là Thụy Bà Công chúa phải dâng 10 mâm vàng sống để tạ lỗi. Thái Tông cũng phải đem 2000 mẫu ruộng ở phủ Ứng Thiên để đền sính vật cho Trung Thành vương.

Từ đó, bà rời chốn hoàng cung hoa lệ, cùng phu quân lo việc nước, việc nhà.

Vai trò của Thiên Thành Công chúa thực sự tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược (lần 2 năm 1285 và lần 3 năm 1288). Bà được vua Trần tin tưởng giao nhiệm vụ Tổng quản quân lương - một vị trí tối quan trọng, quyết định sức mạnh chiến đấu lâu dài của quân đội.

Vượt qua thân phận "cành vàng lá ngọc," bà trực tiếp phụ trách hậu phương, chỉ huy tổ chức sản xuất, chăn nuôi, trồng cấy (dẫn đến các tên gọi còn lại như Hố Thóc, Hố Lợn ở vùng Kiếp Bạc). Bà cũng là người hướng dẫn, vận động các gia đình quý tộc và nhân dân thực hiện triệt để kế "Thanh dã" (vườn không, nhà trống) để tiêu hao sinh lực địch.

Dưới sự quản lý của bà, khu vực Vạn Kiếp (thuộc Hải Phòng ngày nay) trở thành căn cứ hậu cần chiến lược, nơi tích trữ lương thảo khổng lồ, được phòng bố và vận chuyển theo địa thế núi, rừng, sông ngòi hiểm yếu.

Thời ấy, cả vùng rộng lớn Kiếp Bạc, làng Bến, Thanh Tân, Thanh Tảo, Trung Quê, Đa Cốc, Bãi Thảo, núi Huyền Đinh... đều là căn cứ hậu cần đặc biệt quan trọng của phòng tuyến Vạn Kiếp.

Những đóng góp này đảm bảo cho quân đội nhà Trần có đủ nguồn lực để tiến hành chiến tranh du kích và phản công, góp phần không nhỏ vào đại thắng cuối cùng.

Sau khi đất nước hoàn toàn thái bình, vào mùa thu năm 1288, Thiên Thành Công chúa qua đời. Nhân dân và triều đình vô cùng tiếc thương, vua sắc phong tước hiệu “Nguyên Từ Quốc Mẫu, Thiên Thành Thái trưởng công chúa” và cho phép tạc tượng phụng thờ. Hiện tại, bà được thờ tại đền Kiếp Bạc (Hải Dương) bên cạnh Hưng Đạo Đại vương và tại Đền Dím (xã Lê Lợi, Chí Linh) - vốn là một trong những kho chứa quân lương thời chiến.

Trong lịch sử dân tộc, Nguyên Từ Quốc Mẫu là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam vừa có phẩm hạnh cao quý, vừa có tài năng quản lý xuất sắc, đóng góp trực tiếp vào công cuộc cứu nước, được người đời sau ca tụng:
“Quốc sắc khuynh thành thiên hạ hữu
Anh linh liệt nữ thế gian vô”
Tạm dịch: (Người phụ nữ sắc đẹp nghiêng thành thiên hạ từng có
Nhưng người có công đức như thánh nữ thì không)./.
Yêu nước ST.

ÔNG CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRẦN BÌNH TRỌNG “THÀ LÀM QUỶ NƯỚC NAM, CHỚ KHÔNG THÈM LÀM VƯƠNG ĐẤT BẮC”!

     Trần Bình Trọng (1259 - 1285) vốn thuộc dòng dõi vua Lê Đại Hành (họ Lê), sau được vua Trần Thánh Tông quý trọng, gả Công chúa Thụy Bảo (con gái vua Trần Thái Tông) và được phong tước Bảo Nghĩa vương, trở thành danh tướng chủ chốt của nhà Trần. Ông nổi tiếng là người dũng cảm, mưu lược và có võ nghệ hơn người.

Sự nghiệp vinh quang nhất của ông gắn liền với cuộc Kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai vào năm 1285. Khi quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy ồ ạt tiến đánh Đại Việt, thế trận ban đầu gặp nhiều khó khăn, triều đình phải rút lui để bảo toàn lực lượng.

Trần Bình Trọng được giao nhiệm vụ vô cùng quan trọng: hộ giá bảo vệ an toàn cho hai vị vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông cùng triều đình rút lui chiến lược. Ông đã dũng cảm chỉ huy quân đội chặn đánh quyết liệt quân Nguyên tại khu vực bãi Thiên Mạc (còn gọi là Đà Mạc, nay thuộc Hải Dương và Hưng Yên).

Trong trận chiến ác liệt tại Thiên Mạc vào tháng 2 năm 1285, dù lực lượng chênh lệch và chiến đấu vô cùng dũng cảm, Trần Bình Trọng chẳng may bị quân Nguyên bắt giữ. Việc ông anh dũng chặn địch đã giúp cho đoàn xe hộ giá rút lui an toàn, bảo toàn được bộ chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến - một thắng lợi chiến lược cực kỳ quan trọng đối với Đại Việt.

Sau khi bắt được ông, tướng giặc tìm mọi cách dụ dỗ, mua chuộc với lời hứa phong chức "Vương đất Bắc" (tức làm vua chư hầu ở phương Bắc). Tuy nhiên, với tấm lòng kiên trung, sắt đá, Trần Bình Trọng đã thét lên câu nói bất hủ, thể hiện khí phách anh hùng và tinh thần quật cường của cả dân tộc:
"Ta thà làm quỷ nước Nam, chớ không thèm làm Vương đất Bắc!"
("Ninh vi Nam quỷ, bất vi Bắc vương")

Không thể khuất phục được ông, quân Nguyên đã buộc phải giết Trần Bình Trọng vào ngày 26 tháng 2 năm 1285. Năm đó, ông mới 26 tuổi.

Sau khi kháng chiến thắng lợi, nhà Trần đã truy phong ông tước Đại Vương (phẩm tước cao nhất trong hàng Vương hầu chỉ phong cho người trong hoàng tộc) và tặng hai chữ "Trung Nghĩa" - xứng đáng với sự hy sinh oanh liệt và lòng trung quân ái quốc của ông.

Tên tuổi của Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng cùng câu nói bất hủ của ông đã trở thành biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và ý chí độc lập dân tộc Việt Nam, được ghi nhớ và tôn vinh qua nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật, cũng như được đặt tên cho nhiều địa danh, trường học trên khắp đất nước.

PS: Theo sách Những danh tướng chống ngoại xâm thời Trần, Trần Bình Trọng là con của Lê Phụ Trần và Chiêu Thánh công chúa (Lý Chiêu Hoàng). Vì lập nhiều công lớn nên được vua ban quốc Tính họ Trần. Tuy nhiên, điều này chỉ là phỏng đoán của dã sử. Sử sách chỉ ghi Trần Bình Trọng vốn họ Lê, dòng dõi vua Lê Đại Hành./.
Yêu nước ST.

ÔNG CHA TA GIỮ NƯỚC: 🇻🇳 LÝ BÍ (LÝ NAM ĐẾ) - VỊ HOÀNG ĐẾ ĐẦU TIÊN CỦA NƯỚC VIỆT NAM!

     Lý Bí (hay Lý Bôn), sinh năm 503, là người đã đứng lên khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Lương và lập ra nhà nước Vạn Xuân (544-602), trở thành vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Việt Nam với danh xưng Lý Nam Đế.

Ông xuất thân là một hào trưởng địa phương, có tài văn võ. Ban đầu, ông từng ra làm quan chức Giám quân ở Đức Châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh ngày nay) cho chính quyền đô hộ nhà Lương, nhưng vì bất bình với sự tàn ác của quan lại đô hộ, ông đã từ bỏ chức vụ và quyết tâm mưu tính việc khởi nghĩa.

Năm 542, Lý Bí phất cờ khởi nghĩa ở Thái Bình (vùng Sơn Tây, Hà Nội ngày nay). Hào kiệt và nhân dân khắp nơi hưởng ứng mạnh mẽ. Chỉ trong vòng gần 3 tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận, huyện. Thứ sử Giao Châu là Tiêu Tư phải hoảng sợ bỏ chạy về Trung Quốc.

Nghĩa quân tiếp tục đánh bại hai lần phản công lớn của nhà Lương.
Mùa Xuân năm 544, sau khi đánh đuổi quân Lương và làm chủ đất nước, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Lý Nam Đế. Ông đặt tên nước là Vạn Xuân, với ý nghĩa mong muốn đất nước độc lập và trường tồn.

Lần đầu tiên sau hơn 500 năm liên tục đấu tranh giành độc lập dân tộc kể từ khi Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa (40-43), một quốc gia Việt Nam độc lập, tự chủ đã ra đời và đó là sự khởi đầu của một cơ cấu nhà nước dựa theo chế độ phong kiến trung ương tập quyền, tuy còn sơ sài và chủ yếu mô phỏng theo hình ảnh của nhà nước phong kiến Trung Hoa lúc bấy giờ. Triều đình được thành lập, có hai ban văn (đứng đầu là Tính Thiều), và võ (đứng đầu là Phạm Tu), cùng với Triệu Túc (cha Triệu Quang Phục) cai quản mọi việc. Ông đặt niên hiệu là Thiên Đức, dựng kinh đô ở vùng cửa sông Tô Lịch. 

Nhà Lương không cam chịu mất Giao Châu. Tháng 5 năm 545, vua Lương Vũ Đế cử tướng Trần Bá Tiên (một danh tướng sau này lập nên nhà Trần ở Trung Quốc) và Dương Phiêu đem quân lớn sang xâm lược.

Quân Vạn Xuân do Lý Nam Đế trực tiếp chỉ huy đã chiến đấu anh dũng nhưng cuối cùng bị đánh bại ở hồ Điển Triệt (Vĩnh Phúc). Thành Gia Ninh (Phú Thọ) bị thất thủ. Lý Nam Đế phải lui vào động Khuất Lão (Tam Nông, Phú Thọ).

Trong thời gian rút lui và kháng chiến du kích, Lý Nam Đế lâm bệnh nặng và giao quyền chỉ huy lại cho tướng Triệu Quang Phục. Tháng 4 năm 548, Lý Nam Đế qua đời, hưởng thọ 45 tuổi.

Sau khi Lý Nam Đế mất, cuộc kháng chiến chống quân Lương được Triệu Quang Phục (tức Triệu Việt Vương) tiếp tục với chiến thuật đánh du kích ở đầm Dạ Trạch (Hưng Yên). Triệu Quang Phục sau đó đã đánh tan quân Lương và duy trì nhà nước Vạn Xuân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Lý Bí cùng với sự ra đời của Nhà nước Vạn Xuân đã góp phần khẳng định sự trưởng thành của ý thức dân tộc, lòng tự tin vào năng lực quản lí và làm chủ đất nước của tầng lớp quý tộc bản địa, đánh dấu bước phát triển của phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam thời Bắc thuộc./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRUNG TƯỚNG LÊ HỮU ĐỨC VÀ LẦN "TO GAN" BÀN NHÂN SỰ!

     Trung tướng, PGS Lê Hữu Đức (1925-2018) là vị dũng tướng từng trải trận mạc. Ông trưởng thành từ người chiến sĩ, đánh hàng trăm trận với biệt danh “Hổ cụt Tây Nguyên”, bị thương 17 lần. Trải qua nhiều vị trí chỉ huy chiến đấu cấp cao như Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên, Cục trưởng Cục Tác chiến, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 4, ông nổi tiếng là người can trường, mưu trí trên chiến trường nhưng chỉ nhận một lần “to gan” duy nhất, đó là lần ông bàn “nhân sự quốc gia” với Thủ tướng Phạm Văn Đồng...

Kỷ niệm về lần “to gan” đó, ông kể: Tháng 8-1972, từ chiến trường Tây Nguyên, Lê Hữu Đức được điều về Bộ Tổng Tham mưu, giữ chức Phó cục trưởng Cục Tác chiến, phụ trách chiến trường Miền Nam. Ở vị trí công tác mới, ông được phép dự các hội nghị của Bộ Chính trị và Thường vụ Quân ủy Trung ương thông qua các kế hoạch tác chiến và chỉ đạo tác chiến.

Vì phụ trách Chiến trường Miền Nam, ông có nhiệm vụ định kỳ hằng tuần, hằng tháng đến báo cáo tình hình chiến trường với 4 đồng chí trong Bộ Chính trị: Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ. Khi có các chiến dịch lớn, công việc báo cáo diễn ra hằng ngày. Thường thì, Phó cục trưởng Lê Hữu Đức tổng hợp tình hình chiến trường trong ngày xong sẽ thông qua Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đại tướng Võ Nguyên Giáp bổ sung những vấn đề cần xin ý kiến các đồng chí lãnh đạo cấp cao rồi cử Lê Hữu Đức đến báo cáo từng đồng chí một. Riêng Thủ tướng Phạm Văn Đồng vì lịch công tác dày đặc nên thi thoảng yêu cầu Lê Hữu Đức đến báo cáo ngoài giờ hành chính tại nhà riêng, thường vào lúc 18 giờ.

Vì nghe báo cáo lúc chiều muộn nên Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường mời Phó cục trưởng Lê Hữu Đức cùng ăn cơm tối, vừa ăn, vừa nghe báo cáo. Báo cáo xong, Thủ tướng còn tâm sự nhiều chuyện ngoài tác chiến. Có lần, nghe tin vui sau một chiến thắng lớn của ta, anh Tô (tên thường gọi của Thủ tướng Phạm Văn Đồng) thân mật hỏi Lê Hữu Đức: “Anh em Cục Tác chiến làm việc vất vả, có lo lắng và suy nghĩ gì không?”

Được Thủ tướng khuyến khích, trong câu chuyện thân tình, Lê Hữu Đức có dịp bày tỏ những suy nghĩ, trăn trở của mình về tình hình đất nước. Anh điểm lại từng nấc tiến bộ, trưởng thành của quân dân ta ở miền Nam, từ chỗ chỉ tiêu diệt trung đội, đại đội địch, dần dần đã đánh thiệt hại nặng cấp lữ đoàn của chúng. Nhưng cán bộ cấp sư đoàn trở lên không phải là không lo lắng, băn khoăn. Chúng ta nhất định thắng Mỹ, nhưng bao giờ mới đến ngày toàn thắng? Cứ đánh mãi thế này thì bao giờ đất nước mới thống nhất? “Mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh, nay mẹ đã phơ phơ đầu tóc bạc” mà vẫn phải đào hầm!

Có thể nói, một sĩ quan cao cấp, đang giữ chức Phó cục trưởng Cục Tác chiến phụ trách chiến trường Miền Nam mà dám tâm sự “cởi hết tấm lòng” với Thủ tướng, lại không ngần ngại bộc lộ sự lo lắng vì không biết bao giờ mới đến ngày toàn thắng là một sự táo bạo. Thủ tướng Phạm Văn Đồng không mảy may đánh giá đó là vấn đề tư tưởng, quan điểm. Trái lại, ông vẫn “cậu - tớ”, “Đức và tôi” rất thân tình. Được đà, Lê Hữu Đức còn bộc bạch một niềm tâm sự giấu kín bấy lâu: “Nhưng có một điều tôi và anh Vũ Lăng thường trao đổi và rất lo, không dám nói rộng ra. Đó là đội ngũ cán bộ kế cận của đất nước chưa thấy rõ. Cụ thể thì ai sẽ thay các anh. Anh Ba (đồng chí Lê Duẩn), anh Thận (đồng chí Trường Chinh) và anh (đồng chí Phạm Văn Đồng) đều đã gần 70. Các anh khác đều đã trên 60 rồi".

Nói ra suy nghĩ trên, trong lòng Lê Hữu Đức dấy lên sự hồi hộp, không biết thái độ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng sẽ thế nào? Không ngờ, anh Tô rất vui vẻ, nói ngay: “Hay, hay quá, các đồng chí đang có suy nghĩ như thế à? Đúng là suy nghĩ của một cơ quan phục vụ chiến lược. Đúng lắm, đúng là phải suy nghĩ và lo lắm. Hay, hay lắm. Đức nói tiếp đi”.

“Thưa anh, anh Trường Chinh làm Tổng Bí thư khi mới 34 tuổi. Các đồng chí Tổng Bí thư trước đó cũng rất trẻ như đồng chí Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ. Giữa năm 1949 ở Nam Trung Bộ, anh đã được cử giữ chức Phó thủ tướng kiêm Phó chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao cũng chỉ ở tuổi 43. Anh Văn được phong Đại tướng lúc 37 tuổi. Thưa anh, phải có thời gian bồi dưỡng...”.

“Đúng, đúng thế. Đức ạ”. Nét mặt Thủ tướng Phạm Văn Đồng bỗng phảng phất buồn, mắt nhìn ra xa. Một lúc sau, ông nói: “Nhưng không dễ đâu, Đức ạ. Vì chiến tranh, tôi không có điều kiện hiểu rõ các đồng chí phụ trách ở các tỉnh, thành. Nhưng ở các bộ, các tổng cục, có một số đồng chí thứ trưởng, vụ trưởng trẻ tuổi có thể sớm cất nhắc, giao nhiệm vụ được. Tôi mới trao đổi với một số đồng chí bộ trưởng, một số đồng chí bí thư đảng đoàn bộ, thì chỉ một thời gian sau đã nhận được phản ánh của các đồng chí có trách nhiệm nói rõ các đồng chí được “dự kiến bồi dưỡng” còn trẻ quá, chưa có kinh nghiệm, chưa thể nhận nhiệm vụ nặng hơn”.

“Những thưa anh, phải có thời gian bồi dưỡng công phu, kiên trì, vô tư mới có được một đội ngũ lãnh đạo tốt. Nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị, trong Trung ương, Chính phủ được Bác Hồ hết lòng bồi dưỡng, dìu dắt gần 30 năm mới đủ đức tài, đoàn kết kết nhất trí, xứng đáng gánh vác sự nghiệp mà Bác để lại...”. Anh Tô, lúc này nét mặt đã vui hơn: “Các đồng chí lo như vậy là đúng lắm, tốt lắm, có trách nhiệm cao với Đảng, với dân. Đúng là vấn đề quan điểm và quan niệm đào tạo nhân tài, xây dựng đội ngũ kế cận, xứng đáng gánh vác và bảo vệ chế độ này, đất nước này. Nhất định rồi đây, Bộ Chính trị và Trung ương Đảng phải kiên quyết hơn, đầu tư tâm sức nhiều hơn nữa”.

Kể lại kỷ niệm một lần “to gan” trên, Trung tướng Lê Hữu Đức cho rằng: “Phong cách đặc biệt của anh Tô đã động viên tôi mạnh dạn trình bày với anh những vấn đề lớn trên đây một cách thoải mái, như những tâm sự tự đáy lòng. Anh chăm chú lắng nghe và cũng tâm sự với tôi những suy nghĩ của anh. Tôi thấy giữa anh và tôi không còn khoảng cách về vị trí công tác, mà là tình đồng chí sâu nặng giữa một người cộng sản thế hệ trước với người cộng sản thế hệ sau. Đó là những kỷ niệm sâu sắc tôi không bao giờ quên!"./.
Ảnh: Trung tướng Lê Hữu Đức (ngoài cùng bên trái) trong một lần báo cáo tình hình chiến trường với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Theo QDND
Yêu nước 

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2025

TỪ CHIẾN DỊCH “BÀN TAY ẤM”!

     Chiến dịch “Bàn tay ấm” đã được Mỹ và các thế lực thù địch triển khai tại Việt Nam những năm trước đây thông qua hoạt động “hợp tác, liên kết” đào tạo, cấp học bổng cho sinh viên các trường đại học. Đại học Fulbright 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam ra đời với công nghệ Mỹ, tri thức Mỹ và tư tưởng dân chủ Mỹ. Tên sát thủ Bob Kerrey, kẻ chỉ huy thảm sát dân thường ở Thạnh Phong Bến Tre làm giám đốc.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc hội lên tiếng yêu cầu tên đồ tể Bob kenrrey từ chức.

Họ công khai “Ngoại giao giáo dục” để xâm nhập, mang tư tưởng tư bản vào Việt Nam, đối trọng với chế độ XHCN Việt Nam mối nguy cơ tiềm ẩn. Jonh Kery Ngoại trưởng Hoa Kỳ nói: “Tôi và Ngài Tổng thống vừa dự lễ công bố quyết định thành lập Fulbright ở VN. Trường này được hoàn toàn tự do về học thuật, có nhiệm vụ đào tạo thế hệ kế tiếp xây dựng thành công CNTB không còn Cộng sản ở Việt Nam”.

Suốt mấy chục năm qua, các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính chế độ cộng sản Việt Nam. “Những gì bom đạn không giải quyết được thì đô la trắng sẽ giải quyết”. Tiêu diệt, lật đổ những chế độ cộng sản là mục tiêu số 1 và xuyên suốt trong kế hoạch dài hạn của Mỹ với thủ đoạn đầu tư vào giáo dục nhằm thay đổi một thế hệ tri thức của Việt Nam. Một trường đại học 100% vốn Mỹ, công nghệ Mỹ mang tư tưởng “Khai phóng” sặc mùi Mỹ ở Việt Nam cho ra lò thế hệ sinh viên quên hết cội nguồn, không biết lịch sử dân tộc, không thuộc Quốc ca, không giương cờ Tổ quốc, hét điên cuồng “không sợ hãi” với những lá cờ vớ vẩn trên tay đó chính là “sản phẩm Mỹ” mầm mống cách mạng màu ở Việt Nam. 

Chiến lược “TỰ DO NGHIÊN CỨU, TỰ DO HỌC THUẬT” nằm trong Chiến lược “Diễn biến hoà bình” những năm gần đây được Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và các tổ chức phi chính phủ (NGO) tăng cường các hoạt động tại nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Đối với Việt Nam, thủ đoạn kích động bạo loạn đường phố lật đổ chế độ như Ukraine, Syria, Venezuela, Nepal, Bangladesh khó thực hiện nên chúng sử dụng chiến lược “mềm” bằng cách tài trợ kinh phí cho đào tạo, hội nghị, hội thảo, nghiên cứu khoa học theo tư tưởng “khai phóng”, “tự do học thuật”, “độc lập nghiên cứu” không ràng buộc bởi sự quản lý của chính quyền. Đối tượng tập trung vào thế hệ trẻ, văn nghệ sĩ, trí thức, những phần tử cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ; những thành phần “cấp tiến” theo tư tưởng, văn hoá tây phương để xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, học thuật và sự kiện văn hóa ở Việt Nam. Họ áp đặt quyền tự do học thuật của giáo dục phương Tây, bỏ qua tính đặc thù về quyền khi đánh giá về tự do học thuật ở Việt Nam. Những năm gần đây, cơ quan đại diện ngoại giao và các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoạt động tại Việt Nam đã chi phí, tài trợ rất lớn cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, các dự án xây dựng, phản biện chính sách, pháp luật tại Việt Nam, họ tìm mọi cách phát hiện những thiếu xót, sơ hở để bóp méo sự thật về nhân quyền và các chủ trương, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Họ yêu cầu “tự do học thuật” trong các trường đại học theo tư tưởng “khai phóng”; giảng viên, sinh viên được tự do học tập, nghiên cứu, biểu đạt ý kiến quan điểm của bản thân,Lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí họ phát tài liệu, tuyên truyền, chia sẻ các bài viết, thông tin xấu độc; xuyên tạc, bóp méo lịch sử; phục dựng, ca ngợi, đặt tên đường các kẻ tay sai bán nước bị dân tộc lên án; tiếp tay cho những phần tử phản động.

Hãy cảnh giác, kiên quyết ngăn chặn âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch từ trong trứng nước. “Người Mỹ sẽ trở lại Việt Nam không phải với bom đạn mà bằng đồng đô la”./.


Khuyết danh ST.

NGUY CƠ XÉT LẠI LỊCH SỬ!

     Việc “Xét lại lịch sử, viết lại lịch sử” không chỉ ở Việt Nam mà đang diễn ra nhiều nước trên thế giới. Đó là một phần trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm gây rối loạn xã hội, tiến tới bạo loạn, lật đổ chế độ. Sự tan rã của Nhà nước Liên bang Xô viết và chế độ XHCN ở Đông Âu cũng từ việc “xét lại lịch sử”!

Gần đây những kẻ cơ hội chính trị, dân tộc cực đoan, tân phát xít ở một số nước Đông Âu điên cuồng xuyên tạc lịch sử về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, phủ nhận công lao và sự hi sinh to lớn của Hồng quân Liên Xô đánh bại Đức quốc xã cứu toàn nhân loại khỏi nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa phát xít; chúng đập phá tượng đài Lê Nin và Hồng quân Liên Xô; yêu cầu di dời hài cốt các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô thậm chí coi họ là “tội phạm chiến tranh” đòi đưa ra xét xử. Mầm mống các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” đang có nguy cơ lan rộng từ Châu Âu sang Châu Mỹ La tinh, Châu Á trong đó có Việt Nam.

Những năm gần đây ở Việt Nam, các tổ chức nước ngoài (NGO) tăng cường tài trợ kinh phí cho các cuộc “hội thảo khoa học”, “Nghiên cứu lịch sử”, “Tự do học thuật” với âm mưu thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc nhằm tạo ra trào lưu xét lại lịch sử, xét lại cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; phục dựng, ca ngợi, đặt tên đường cho những kẻ tay sai bán nước một cách rầm rộ, công khai trên các phương tiện truyền thông và không gian mạng; gây hoài nghi về lịch sử dân tộc, tạo rối loạn xã hội từ đó hiện thực hóa mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Dễ dàng nhận thấy mưu đồ “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” gần đây được chúng thực hiện ráo riết thông qua các bài viết trên một số tờ báo, trên mạng xã hội, trên giảng đường đến những hoạt động trắng trợn ngoài xã hội với những chiêu trò, biến tướng khác nhau. Một số tờ báo, tạp chí trong hệ thống chính trị của Đảng vô tình tiếp tay, làm “cái cớ” để những kẻ cơ hội chính trị làm sai lệch một số vấn đề lịch sử; gây bức xúc, căm phẫn trong dư luận xã hội. Chúng mượn danh “khoa học lịch sử” một cách đê hèn, sống sượng, xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa, vai trò của sự kiện hoặc nhân vật lịch sử, phủ nhận lịch sử làm lung lay niềm tin của nhân dân nhất là thế hệ trẻ đối với Đảng, với chế độ; từ đó lôi kéo, xúi giục, cổ súy cho tư tưởng đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến, tự chuyển hoá” tại Việt Nam.

Chúng ta cần tỉnh táo nhận biết đúng sai trước hành vi “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử” của những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị và các đối tượng thù địch. Các cơ quan truyền thông, tuyên giáo, dân vận của Đảng phải làm tốt vai trò trách nhiệm của mình trong việc định hướng dư luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan bảo vệ pháp luật phải kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi lợi dụng “xét lại lịch sử” để kích động hận thù dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội./.
Khuyết danh ST.