Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

NHẬN DIỆN LỢI ÍCH NHÓM HIỆN NAY



“Lợi ích nhóm” đã và đang tạo nên những hệ lụy, hậu quả nặng nề cản trở sự phát triển đất nước, là vấn đề được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng và được dư luận xã hội quan tâm, lên án những năm gần đây. Việc nhận diện “lợi ích nhóm” trở lên cấp thiết và là đòi hỏi khách quan, tạo cơ sở để có những biện pháp phòng, chống tác hại của nó.
Theo nguyên nghĩa, Lợi ích nhóm" là lợi ích của một nhóm người gắn kết với nhau, hỗ trợ, móc ngoặc với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau có lợi ích và bảo vệ lợi ích đó. Xét về mục đích và tính chất, lợi ích nhóm có thể phân chia thành hai loại: lợi ích nhóm tích cực và lợi ích nhóm tiêu cực. Lợi ích nhóm tích cực là lợi ích chính đáng, hợp pháp của một nhóm người. Trong xã hội tồn tại nhiều giai cấp, tầng lớp, nhóm người có đặc điểm, hoàn cảnh khác nhau, việc hình thành lợi ích nhóm tích cực là một nhu cầu khách quan, chính đáng, tự nhiên. Khi hình thành, những nhóm lợi ích đó lại thúc đẩy sự cạnh tranh, tạo động lực phát triển. Lợi ích của các thành viên trong tổ chức công đoàn, phụ nữ, thanh niên, người khuyết tật v.v… cũng là lợi ích nhóm tích cực. Như vậy, lợi ích nhóm tích cực là lợi ích chính đáng, hợp pháp, phù hợp, không mâu thuẫn với lợi ích của dân tộc, quốc gia, hướng tới và hài hòa với lợi ích xã hội, lợi ích dân tộc và quốc gia. Lợi ích nhóm tiêu cực là lợi ích cục bộ của những đơn vị, địa phương, của những nhóm người xác định, xung đột, mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân dân, của xã hội và thậm chí với quốc gia, dân tộc. Lâu nay chúng ta thường nói đến lợi ích cục bộ của ngành, địa phương, đơn vị, thực chất đây cũng là một loại lợi ích tiêu cực.
Phạm vi, quy mô của loại lợi ích nhóm tiêu cực rất rộng, nên mức độ nguy hiểm, tác hại của các loại lợi ích nhóm tiêu cực cũng khác nhau. Đó có thể là lợi ích cục bộ của một tổ, đội, phòng, ban cho đến lợi ích cục bộ của một phường, xã, huyện, tỉnh. Loại lợi ích này phục vụ cho một tập hợp người, địa phương, đơn vị. Về bản chất, là giành được nhiều lợi ích hơn cho địa phương, đơn vị mình, không tính đến lợi ích của toàn cục, của các địa phương, đơn vị khác. Trong thực tế, biểu hiện của loại lợi ích này là tranh thủ cấp trên “chạy dự án, công trình”, như dân gian thường nói xã, phường “chạy” trên huyện, huyện “chạy” trên tỉnh, tỉnh “chạy” trên các Bộ, ngành ở Trung ương. Mặc dù lợi ích loại này có xung đột với lợi ích toàn cục nhưng chưa đến mức đối kháng, lũng đoạn, chi phối lợi ích toàn cục, tuy nhiên, nếu không kiểm soát, ngăn chặn lợi ích cục bộ thì dễ biến tướng, phát triển thành lợi ích nhóm tiêu cực cao hơn. Lợi ích nhóm tiêu cực ở mức độ cao thường là lợi ích của một nhóm người ít hơn, chỉ phục vụ cho một nhóm người nhất định, tính cố kết, liên thông, móc ngoặc chặt chẽ, khép kín và tinh vi hơn; xung đột, mâu thuẫn có tính chất đối kháng, gây thiệt hại cho lợi ích chung của nhân dân, của xã hội và quốc gia, dân tộc, cản trở quá trình phát triển kinh tế, xã hội, làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước v.v…
Lợi ích nhóm tiêu cực, lúc đầu là lợi ích cục bộ của đơn vị, địa phương không được kiểm soát ngăn chặn phát triển thành lợi ích nhóm tiêu cực của những nhóm ít hơn cấu kết với nhau để cùng hưởng lợi ích bất chính. Sự cấu kết của một bộ phận cán bộ, công chức có chức, có quyền, thoái hóa, biến chất với các đơn vị kinh tế, các thành phần ngoài xã hội hỗ trợ nhau nhằm trục lợi, thu vén lợi ích cá nhân. Lợi ích nhóm tiêu cực luôn gắn với hành vi tham nhũng của những người có chức, có quyền; nghĩa là gắn với quyền lực nhà nước tạo nên nhóm lợi ích tiêu cực ở cấp độ cao hơn, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn, chi phối các cá nhân có thẩm quyền, ảnh hưởng đến cả các chủ trương, chính sách, quyết định của chính quyền, tính chất nguy hiểm đối với xã hội càng cao hơn. Đồng thời, nó cấu kết, lôi kéo những người có chức, có quyền bằng vật chất ngày càng chặt chẽ, khép kín, đủ sức lũng đoạn từ tập thể nhỏ đến tập thể lớn từ kinh tế đến chính trị. Mặt khác, lợi ích nhóm tiêu cực lợi dụng chính sách, pháp luật; nhân danh lợi ích xã hội, nhân danh quy định của pháp luật để trục lợi; Dưới danh nghĩa lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia để giành giật, chiếm đoạt lợi ích vật chất, danh tiếng, quyền lực cho bản thân và gia đình mà không thèm đếm xỉa đến lợi ích của nhân dân, của quốc gia, dân tộc; được tổ chức chặt chẽ, thủ tục hợp pháp, rất khó phát hiện.
“Lợi ích nhóm” tiêu cực mà Đảng, Nhà nước dư luận xã hội quan tâm, lên án đã và đang là trở lực lớn trong quá trình thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, làm méo mó chính sách, ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước và xã hội; làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên và làm đảo lộn những chuẩn mực, giá trị đạo đức xã hội; gây bất bình trong quần chúng nhân dân, tạo cơ hội để các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta. Nếu không nhận diện và có những biện pháp phòng, chống kịp thời, “lợi ích nhóm”, “nhóm lợi ích” tiêu cực sẽ trở thành nguy cơ gây mất ổn định chính trị, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Đảng, Nhà nước, nhân dân đã sớm nhận rõ mặt tích cực và tiêu cực, nêu cao quyết tâm chính trị trong khuyến khích mặt tích cực, đấu tranh chống tiêu cực trong "lợi ích nhóm", "nhóm lợi ích" ở Việt Nam. Đảng, Nhà nước luôn nhất quán phải “chặt đứt nhóm lợi ích thao túng hưởng lợi trên tài sản công quốc gia”[1], đó cũng là mong muốn, trách nhiệm của các tầng lớp nhân nhân nhằm xóa bỏ đi lực cản lớn trong xây dựng, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa hiện nay.
            Trung Dũng




[1]  Nguyễn Xuân Phúc, Bài phát biểu  Hội nghị tổng kết công tác tài chính - ngân sách năm 2017, triển khai nhiệm vụ năm 2018”, http://baochinhphu.vn/, ngày 8-1-2018.

CÔNG TÁC CÁN BỘ CỦA ĐẢNG TA HIỆN NAY

Công tác cán bộ của ĐẢNG ta hôm nay vẫn theo những định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, nỗ lực nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ từ khâu lựa chọn, tuyển dụng đến việc huấn luyện đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ.
Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã nêu 27 biểu hiện cụ thể của những suy thoái như những tiêu chí đối chiếu để mỗi cán bộ đảng viên, mỗi tổ chức Đảng tự kiểm tra, tự đánh giá và từ đó đề ra cách sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng của từng cán bộ và cả tổ chức.
Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ nhiệm kỳ mới (7-2016), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đặc biệt lưu ý việc cần phải chấn chỉnh công tác cán bộ, yêu cầu “phải đổi mới công tác cán bộ” ở tất cả các khâu, từ tuyển chọn, sử dụng, bổ nhiệm: “Chúng ta thi tuyển để tìm người tài chứ không phải để tìm người nhà. Đừng để nhiệm kỳ này tai tiếng về cán bộ”. Để khắc phục tình trạng bất xứng kỳ đức - đạo đức, phẩm chất không tương xứng với trách nhiệm được giao - trong việc bổ nhiệm cán bộ, cả hệ thống của chúng ta cần. VNĐ

RÈN LUYỆN CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ, điều rất quan trọng là phải thường xuyên và kiên quyết đấu tranh làm trong sạch bộ máy, loại bỏ những cán bộ không còn đủ phẩm chất. Ngay từ những ngày đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ quyết tâm đấu tranh chống những căn bệnh dễ mắc trong bộ máy Nhà nước. Người kịch liệt phê phán những khuyết điểm của các cán bộ: làm trái, cậy thế, chia rẽ, kiêu ngạo, hách dịch, ăn hối lộ, hủ hóa.
Tháng 11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời trước kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I về những thành viên của Chính phủ không trong sạch: “Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết” (4). Theo Người: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Vì vậy, cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước để làm kiểu mẫu cho dân” .
Một nền pháp quyền chân chính, tiến bộ phải bảo đảm được tính công bằng, khách quan, bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Thi hành được điều này không phải dễ dàng bởi vì từ xưa rồi, tội của quan vẫn được xử theo lễ còn tội của dân được xử theo luật (!). Những kẻ bất liêm vẫn tồn tại trong xã hội, thậm chí ở tại ngay những cơ quan được giao trọng trách duy trì sự nghiêm minh của pháp luật. Tình trạng này một phần do hệ thống luật pháp của chúng ta còn nhiều kẽ hở để những kẻ bất liêm lợi dụng, phần khác do việc thi hành pháp luật chưa nghiêm minh, luật pháp chưa đảm bảo tác dụng giáo dục và răn đe khiến lòng dân chưa yên.
Trong bối cảnh đó, việc thực hiện lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ đó giữ địa vị nào, làm nghề gì” đang đặt ra như một yêu cầu bức xúc.VNĐ

CĂN CỨ ĐỂ ĐÀO TẠO CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH



“Độ bền của chuỗi xích phụ thuộc vào độ bền của mắt xích yếu nhất”. Từng chi tiết hoạt động tốt là điều kiện quan trọng bảo đảm cho cả hệ thống bộ máy hoạt động tốt. Tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để có và sử dụng tốt đội ngũ cán bộ có chất lượng cao là điều kiện cơ bản bảo đảm cho bộ máy tổ chức Đảng và các cơ quan công quyền vận hành tốt, có hiệu quả và ít “bệnh tật”.

PHẢI SỬA CĂN BỆNH “CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN” CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN




Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng: “Bệnh chủ nghĩa cá nhân” là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”, “là thứ gian giảo, xảo quyệt”, “là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư, nết xấu”, “kéo người ta xuống dốc không phanh..”, cho nên Người luôn căn dặn cán bộ, đảng viên kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước phải tu tâm, tích đức, phải vứt bỏ cái ba lô chủ nghĩa cá nhân trong con người mình.
Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Người chỉ rõ: “Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”. Sự phê phán đó của Người cho tới ngày nay vẫn giữ nguyên giá trị, mang tính thời sự cao và có ý nghĩa giáo dục đạo đức, lối sống sâu sắc cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân ta, đặc biệt trong thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Từ sự chỉ bảo trên của Bác Hồ, mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ rõ. Trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, lần đầu tiên Đảng ta chỉ rõ “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”1. Xuất phát từ động cơ , lợi ích kinh tế và chính trị, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay kể cả cán bộ cao cấp đang tự biến mình thành một “diễn viên có hạng”. Họ không trung thực với chính bản thân mình, vứt bỏ danh dự, phẩm chát, nhân cách của bản thân. Những lệch lạc về đạo đức, lối sống trong xã hội đã và đang diễn ra trước hết và nguy hiểm hơn ở những kẻ có chức có quyền, những kẻ mang danh “đầy tớ của Nhân dân” nhưng đã thoái hóa, biến chất. Cho nên, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc đấu tranh nội tại giữa cái “thiện” và cái “ác”; giữa cái “đúng” và cái “sai”; giữa cái “tiến bộ” và cái “thoái bộ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo rằng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân... Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải làm cho phẩm chất tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng...”. Nên khi cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đồng nghĩa với việc họ làm biến chất, suy thoái Đảng. Do đó, thực hiện những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, chính là giữ vững bản chất, sinh mệnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính.
Để đấu tranh phòng, chống chủ nghĩa cá nhân hiện nay mang lại hiệu quả cao trước hết mỗi cán bộ, đảng viên phải tự tu dưỡng, tự rèn luyện, trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm và ý thức trách nhiệm của mỗi người.
Thứ nhất là: thường xuyên đấu tranh tự phê bình và phê bình, nhất là những mặt còn yếu kém, không nể nang, né tránh. Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đây là vũ khí sắc bén và rất cần thiết để chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng.
Thứ hai là: tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, chủ trì, đứng đầu các cơ quan Đảng, Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh; đồng thời xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên, góp phần đấu tranh, phòng ngừa những hành vi suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Thứ ba là: tăng cường vai trò của nhân dân trong việc giám sát cán bộ, đảng viên thực hiện nhiệm vụ rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước.
Đấu tranh phòng, chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân có hiệu quả trong toàn Đảng nói chung và đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng hiện nay là một tất yếu, nó diễn ra hết sức gay go, phức tạp, quyết liệt, đòi hỏi cán bộ, đảng viên trong Đảng phải thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, gắn với thực hiện thắng lợi mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.


NHỮNG NÉT MỚI TRONG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG



Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, các thế lực thù địch xác định phá hoại tư tưởng là mũi nhọn, là con đường gần nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng ở đủ mọi đối tượng, từ cán bộ cấp cao cho đến những người dân thường. Thủ đoạn mới chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch được biểu hiện ở những nét cơ bản sau:
Thứ nhất: Chúng thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chính là tìm cách tác động vào tư duy của con người, về những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực; giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến mọi cán bộ, đảng viên. Chúng đánh vào tư tưởng bằng những việc đơn giản, mang tính thực tế với người dân như các chế độ, chính sách, việc làm cụ thể liên quan đến đời sống của nhân dân ta để “so sánh” với các nước phương Tây; vấn đề tự do, dân chủ làm cho người dân thấy “xã hội Việt Nam đang có vấn đề”, dẫn đến hoài nghi, mơ tưởng một “xã hội khác tốt đẹp hơn”. Từ đó, nếu cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng dễ rơi vào bẫy “trò chơi dân chủ” của các thế lực thù địch dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong từng cán bộ, đảng viên. Tình trạng đó, nếu không kịp thời phát hiện, khắc phục sẽ nhanh chóng biến đổi về chất, dẫn đến thay đổi quan điểm, tư tưởng, đạo đức, lối sống chuyển hóa sang lập trường tư tưởng phương Tây.
Thứ hai: Chuyển hướng từ công kích trực diện, cứng nhắc sang tác động phân hóa từ nội bộ. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch thường cứng nhắc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, trắng trợn xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi bỏ điều 4 hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… Kết quả chúng không thực hiện được là bao; từ đó, buộc các thế lực thù địch phải điều chỉnh thủ đoạn chống phá cho phù hợp. Vì lẽ đó, một mặt chúng công nhận thể chế chính trị, tăng cường mối quan hệ với Đảng và Nhà nước ta, mặt khác chúng tiếp tục kích động làm mâu thuẫn, phân hóa nội bộ đảng, tác động làm tha hóa từng người cán bộ, đảng viên, từng bộ phận người dân, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”, nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại từ bên trong của chúng.
Thứ ba: Cách thức tác động vào các đối tượng rất tinh vi, xảo quyệt, rất nguy hiểm.     
Đối với cán bộ, đảng viên, thường là thổi phồng khuyết điểm, yếu kém của một số cán bộ, đảng viên; chúng khai thác có hiệu quả những phần tử cơ hội, quan liêu, tham nhũng nhằm mục đích đánh đồng với cán bộ, đảng viên tốt làm cho có sự lẫn lộn, không phân biệt được giữa người tốt và người xấu.
Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, chúng móc nối, lôi kéo số sinh viên học tập, công tác ở nước ngoài để tập trung tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng một lớp người có tư tưởng phủ định với Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; biện pháp của chúng là đẩy mạnh việc tăng học bổng, liên kết đào tạo nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này sẽ làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong thời gian không xa.
Đối với các nhà văn, nhà báo, thủ đoạn chủ yếu của chúng là làm thay đổi nhận thức, quan điểm thông qua các hình thức hợp tác, đào tạo, hội thảo khoa học, triển lãm, tham quan tiếp cận lôi kéo những nhà báo, nhà văn trẻ có tư tưởng tự do, phóng khoáng, dễ giao lưu. Lợi dụng luật quốc tế tự do báo chí, xúc tiến thành lập cái gọi là “Hội nhà báo tự do”, kích động văn nghệ sỹ đòi tự do sáng tác, tự do công bố các tác phẩm văn hóa nghệ thuật, phản đối sự kiểm duyệt của các cơ quan quản lý Nhà nước; mua giấy phép xuất bản, mua các công trình phát sóng, hợp tác sản xuất các chương trình, ban đầu chỉ là về kỹ thuật chuyên ngành … nhằm thay đổi nhận thức, cơ sở hóa quan điểm theo tiêu chí tự do dân chủ kiểu phương Tây.
Đối với các tầng lớp nhân dân, lợi dụng khả năng nhận thức của người dân có hạn, điều kiện cập nhật, tiếp cận những thông tin hạn chế chúng tác động về tư tưởng theo kiểu “Mưa dầm thấm lâu”. Tạo ra “khoảng trống” trong tư tưởng người dân, dẫn tới hoài nghi về chế độ với Đảng, Nhà nước; kích động, gây rối, biểu tình nhất là vào các thời điểm như đất nước gặp khó khăn, thiên tai, lũ lụt, tham nhũng, tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc. Chúng tăng cường xuyên tạc, thổi phồng, cường điệu hóa, bóp méo sự thật, đưa ra những lời bình luận chỉ trích chính sách của Đảng và Nhà nước, đổi lỗi cho chính quyền, tập trung vào cán bộ, đảng viên tạo bức xúc, gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, gây bè phái, cục bộ.
Trước những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch chống phá nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường sẽ còn tác động không nhỏ đến tư tưởng của một số bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, song về thực lực của chúng chưa đủ khả năng làm chuyển hóa hệ tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta theo ý đồ của chúng. Nhưng, nếu chúng ta mất cảnh giác, không thấu hiểu hết sự việc, nhận thức chưa đầy đủ, xem nhẹ cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng thì sẽ dẫn đến hậu quả không thể nào lường trước được./.

                                   

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VỀ CHÍNH TRỊ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH



Vận dụng sáng tạo những nguyên lý xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới của chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa những kinh nghiệm quý báu về xây dựng lực lượng vũ trang trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị, xây dựng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho lực lượng vũ trang ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân.

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VÈ CHÍNH TRỊ THEO QUAN ĐIỂM MÁC- LÊNIN


 Cũng như giai cấp và nhà nước, chiến tranh và quân đội là những hiện tượng chính trị xã hội. Sự xuất hiện của chiến tranh và lực lượng vũ trang gắn chặt với  sự xuất hiện của giai cấp và nhà nước. C. Mác, Ph. Ăng ghen và V.I Lênin đã nghiên cứu lý luận về chiến tranh và lực lượng vũ trang trong mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó với lý luận về giai cấp và nhà nước.
Lực lượng vũ trang là một hiện tượng lịch sử. Lực lượng vũ trang ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người, khi xuất hiện chế độ tư hữu và loài người bị phân chia thành các giai cấp. Đi đôi với việc phân chia xã hội thành giai cấp, sự bất bình đẳng về sở hữu tài sản càng trở nên sâu sắc, lực lượng vũ trang được tăng cường và có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn. Khi xuất hiện bộ máy cưỡng bức đặc biệt là nhà nước, thì cũng  đẻ ra thiết chế xã hội mới về chất là lực lượng vũ trang
Khi đã xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và nhà nước, nảy sinh mâu thuẫn đối kháng thì chiến tranh cũng xuất hiện trong đời sống xã hội. đối với bọn bóc lột thì chiến tranh đã trở thành phương tiện và công cụ quan trọng để nô dịch các dân tộc khác, để củng cố địa vị thống trị của chúng ở trong nước. Ăng ghen đã viết: “ Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng ngự”

RẤT CẦN THIẾT CHO DƯ LUẬN XÃ HỘI

Chánh án TAND tối cao trả lời trước Quốc hội câu hỏi: Hồ Duy Hải có oan sai hay không? Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình đã chỉ ra nhiều chứng cứ để chứng minh Hải phạm tội trong vụ giết người ở bưu điện Cầu Voi năm 2008. Sáng 15/6, trước nhiều ý kiến tranh luận về công tác tư pháp và một số vấn đề của vụ án Hồ Duy Hải được nhiều đại biểu và cử tri quan tâm, Chánh án tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình đã làm rõ thêm về những "điểm mờ" của vụ án này. Ông Nguyễn Hòa Bình đánh giá, đây là một vụ án đã xảy ra từ 2008, trải qua quá trình tố tụng nhiều cấp đã được liên ngành thẩm định và đoàn giám sát oan sai của Quốc hội năm 2015 cũng đã xem xét về vụ này. Qua sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và đã đến Chủ tịch nước quyết định. Vì vậy, đám "dân chủ" cũng đừng xúi dại mẹ của tử tù nữa, để bà dưỡng sức tuổi già. Hải Đăng

Nếu ngày mai đất nước có chiến tranh


Hãy tưởng tượng, bạn đang chìm sâu vào giấc ngủ sau một ngày dài làm việc và sáng mai chợt thức dậy... đất nước xảy ra chiến tranh... Bạn thấy cảnh bom đạn dày xéo quê hương mình, nơi mình đã sinh ra và lớn lên nay chỉ còn đống đổ nát, đường xá, trường học, bệnh viện, nơi bạn làm việc, thậm chí là ngôi nhà của bạn cũng có thể bị san phẳng bất cứ lúc nào.

NHÂN LOẠI ĐÃ NHẬN RA NƠI THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI TỐT NHẤT THẾ GIỚI

Ta thấy nhiều quốc gia khác trên thế giới, khi dịch bệnh Covid-19 xảy ra, rất nhiều bệnh nhân đã gọi điện thoại xin cứu chữa, nhưng không được đáp ứng. Chỉ khi nào bệnh gần chết, xe cấp cứu mới tới. Vài tiếng đồng hồ sau, người đó được đem vào nhà xác vì đã quá muộn. Lẽ ra họ phải được cứu chữa ngay từ đầu. Quyền con người ở những quốc gia đó đã không được thực thi một cách nghiêm túc trong việc bảo vệ quyền được sống và an toàn của người dân..

Còn ở Việt Nam, khi chưa biết bản thân đã nhiễm bệnh hay chưa, chỉ cần có nguy cơ (vì hôm qua vô tình tiếp xúc với người nhiễm) là người dân đã được nhân viên y tế tới trước cửa nhà đưa đi cách ly, xét nghiệm. Ngay từ khi dịch bệnh xuất hiện, Nhà nước đã đối phó rất quyết liệt: buộc học sinh phải nghỉ học, mọi người dân phải thực hiện giãn cách xã hội, phải đeo khẩu trang,… Nhưng bù lại, mọi người đều được chữa trị miễn phí. Khi được đưa vào khu cách ly, ai cũng được tôn trọng, được chăm sóc tử tế, phục vụ đồ ăn thức uống ngon miệng, đầy đủ. Và tất cả bao nhiêu nguồn lực khác: bộ đội, công an, nhân viên y tế,… được huy động tối đa để phục vụ tận tình cho người bệnh, làm cho họ cực kỳ yên tâm khi ở trong khu cách ly và được điều trị.

Như vậy, ngay từ đầu, Nhà nước Việt Nam đã vừa quyết liệt ngăn chặn dịch bệnh, vừa tôn trọng con người. Đến lúc thực hiện giãn cách xã hội, điều này càng được thể hiện rõ hơn nữa khi nhiều người buộc phải nghỉ việc, mất thu nhập, và không đủ tài chính để tích trữ lương thực trong thời gian dài thì Nhà nước đã tìm mọi biện pháp giúp cho mọi người không bị thiếu đói.

Rõ ràng, qua dịch bệnh lần này, nếu nói về quyền con người, quyền được sống, quyền được no đủ, thì sự chăm sóc cư xử cực kỳ chu đáo đó đã thể hiện rằng Việt Nam là nước thực thi quyền con người tốt nhất thế giới.

COVID-19 đã làm hiện bày rõ điều đó!

Tính phản khoa học của Pháp luân công


 Tính chất phản khoa học của Pháp luân công
 Pháp luân công lợi dụng các bài tập khí công, khuếch đại về tác dụng của việc rèn luyện khí công đối với sức khỏe, kết họp với hình thức tu tập sử dụng yếu tố tín ngưỡng, tâm linh để dẫn dụ lôi kéo một bộ phận nhân dân nhất là số người đang có vấn đề về sức khỏe tin tưởng tuyệt đối rằng những người luyện tập Pháp luân công có thể tự khỏi được bách bệnh, kể cả những bệnh hiểm nghèo mà không cần dùng thuốc, không cần đến bệnh viện, đưa ra “luận thuyết” nếu luyện tập đông, luyện tập gần nhau sẽ nhanh tạo ra “công lực”. 
Do tác động đến đúng nhu cầu giao tiếp, giải tỏa tâm lý của không ít người, Pháp luân công đã lừa gạt, mê hoặc, lôi kéo được nhiều người tham gia thuộc nhiều thành phần, nghề nghiệp, lứa tuồi, trong đó có những người bệnh, người lớn tuổi, đã nghỉ hưu,... Tuy nhiên, cho đến nay trên thế giới chưa có bất kỳ công bố khoa học nào khẳng định, hoặc công nhận tác dụng của phưong pháp tu tập Pháp luân công như những gì Pháp luân công đang tuyên truyền. Trên thực tế, nhiều người bị bệnh đã cả tin, không dùng thuốc, từ chối điều trị tại bệnh viện, lấy các bài tập Pháp luân công là phương pháp duy nhất để điều trị bệnh dẫn đến bệnh tật không thuyên giảm, một số trường họp đã tử vong. Trong thời đại 4.0 chúng ta hòa toàn có đầy đủ luận cứ để khẳng định tính phản khoa học của Pháp luân công.

Văn hóa tự do ngôn luận và báo chí


Văn hóa tự do ngôn luận và báo chí
Văn hóa tự do ngôn luận là một trong những thước đo quan trọng đánh giá sự phát triển của xã hội, trình độ dân chủ và ý thức trách nhiệm của mỗi công dân trong quốc gia. Những nhà báo cách mạng của Việt Nam là biểu tượng sáng ngời về tự do ngôn luận và báo chí. Những tác phẩm báo chí được Đảng, nhà nước và các tầng lớp nhân dân tôn vinh là minh chứng sống động về văn hóa tự do ngôn luận và báo chí của dân tộc Việt Nam. Văn hóa tự do ngôn luận và báo chí mang giá trị chung nhân loại, đồng thời phản ánh điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, tập quán, phong tục…. của mỗi quốc gia. Tiêu chí cao nhất của tự do ngôn luận và báo chí chính là nằm ở chỗ phản ánh được khát vọng sống, vươn lên và phát triển của con người, dân tộc và tự nó trở thành một động lực để thúc đẩy sự phát triển cảu đất nước hướng tới thịnh vượng, văn minh, tiến bộ và phát triển.
                                                                    Tự Nhiên

VIỆT NAM SẼ LÀ ƯỚC MƠ HÒA BÌNH CỦA NHÂN LOẠI!

Trong các cuộc biểu tình ở Mỹ, nhiều người da màu đã không cầm cờ Trung Quốc mà cầm lá cờ đỏ sao vàng của Việt Nam để phản đối nạn kỳ thị chủng tộc ở Mỹ. Khi hỏi vì sao thì họ trả lời: "Việt Nam là biểu tượng cho tự do và bình đẳng, không phân biệt giai tầng". Người khác nói: "Đơn giản người Việt Nam không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc"... hoặc là họ trả lời: "Việt Nam đã chiến thắng những áp bức, bất công của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc... Người Việt Nam không gọi những người da đen chúng tôi là "mọi rợ"... Nghĩ về những câu trả lời trên làm chúng ta nhớ lại câu nói nổi tiếng của Võ sĩ quyền anh Muhammad Ali đã từng bị chính quyền Houston (Mỹ) kết án 5 năm tù, cấm thi đấu 3 năm vì từ chối lệnh gọi nhập ngũ sang chiến trường Việt Nam năm 1967. Khi đứng trước tòa, Vị chủ tọa phiên tòa hỏi ông: " Vì sao anh chống lại nước Mỹ? Muhammad Ali đã trả lời rất hiên ngang: "Tôi không có gì bất đồng với Việt Cộng... không có người Việt Cộng nào gọi tôi là mọi đen cả. Tại sao tôi phải đi 10 ngàn dặm để thả bom lên đầu những người Việt Nam vô tội trong khi người da đen ở Louisville (Mỹ) đang bị đối xử như những con chó và không có được những quyền cơ bản nhất của một con người". Và cuối cùng, vào ngày 20/06/1967, Bồi thẩm đoàn gồm toàn các thẩm phán da trắng ở Houston đã buộc tội Muhammad Ali 5 năm tù và cấm ông thi đấu 3 năm. Nhiều người Mỹ da màu, nhân dân tiến bộ trên thế giới vẫn hiểu rằng, Cộng sản Việt Nam chỉ hướng tới độc lập dân tộc, hòa bình và bình đẳng chứ không đi xâm lược, không kỳ thị chủng tộc, phân biệt màu da... Đó cũng là biểu tượng và mong ước của người dân các nước khi nhắc đến hai tiếng Việt Nam. Chỉ có điều 45 năm qua, những khúc ruột ngàn dặm kia bị "lỗi" vẫn không chịu ngoảnh đầu nhìn về chân lý Việt Nam. Giàu có như Mỹ, tham và thâm như Tàu sẽ không phải là chân lý nhân loại đâu! Hải Đăng st

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2020

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI MỘT LÒNG MỘT DẠ PHỤC VỤ NHÂN DÂN


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đảng không phải là nơi để thăng quan tiến chức, để phát tài; vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp. Đảng ta là Đảng lãnh đạo cách mạng, ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phải là người đầy tớ hết sức trung thành của nhân dân.

KHÔI HÀI CHUYỆN MỸ LÊN ÁN VIỆT NAM ĐÀN ÁP TÔN GIÁO


Theo tin từ nhà đài RFA thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vừa công bố báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2020, trong đó lại lên án Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.
Có thể nói, đọc tin này mà tôi không nhịn được cười bởi lại thấy tái diễn câu chuyện gái điếm dạy người đời cách giữ chữ trinh và phẩm hạnh.
Nước Mỹ có đủ tư cách phán xét chuyện nhân quyền thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng không???
Nước Mỹ rút khỏi Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc.
Nước Mỹ tồi tệ với tình trạng phân biệt chủng tộc mà câu chuyện cảnh sát da trắng ghì chết người thanh niên da màu kia chỉ là giọt nước tràn ly. Nước Mỹ hiện đang chìm trong bạo loạn vì mâu thuẫn sắc tộc. Cảnh sát Mỹ thì vẫn tiếp tục những câu chuyện vi phạm nhân quyền của mình.
Đến quyền sống là quyền cơ bản của người dân, nước Mỹ còn chưa đảm bảo được giữa mùa Covid khi luôn trong danh sách dẫn đầu những nước có tỷ lệ tử vong cao nhất mùa Covid.
Lý do gì nước Mỹ lên án Việt Nam đàn áp tôn giáo?
Dẫn chứng của nước Mỹ đây, Mỹ cho rằng Việt Nam bắt giữ, bỏ tù những người như Nguyễn Năng Tĩnh, tín đồ Công giáo là đàn áp tôn giáo???
Quá nực cười, Nguyễn Năng Tĩnh bị bắt, bị xử lý đâu phải vì lý do tôn giáo, vì thực hành đức tin. Anh ta bị bắt, xử ù vì hành động chống phá chính quyền, vi phạm pháp luật, đặc biệt là hành vi tuyên truyền chống Nhà nước.
Chưa kể Nguyễn Năng Tĩnh còn là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân. Thế nên nếu lấy Nguyễn Năng Tĩnh làm căn cứ để chứng minh Việt Nam đàn áp tôn giáo, xem ra Bộ Ngoại giao Mỹ đã sai lầm ngay từ đầu trong cách tiếp cận.
Nhân quyền Việt Nam, hiện đang là điểm sáng trên thế giới với công cuộc chống dịch hiệu quả, đảm bảo quyền sống người dân khi chưa có một ai tử vong giữa mùa dịch.
Chưa kể, việc Việt Nam dốc sức cứu sống người phi công người Anh cũng cho thấy Việt Nam nhân văn như thế nào.
Xem ra, nước Mỹ vẫn luôn là nước Mỹ. Luôn tự cho mình cái quyền phán xét chuyện nhân quyền nước khác, trong khi chuyện nước minh thì thối um cả lên.
Thật là bi hài.

PHẠM THÀNH - BÀ ĐẦM XOÈ BỊ BẮT: CHUYỆN ĐƯỢC CẢNH BÁO TỪ TRƯỚC


Chuyện Phạm Chí Thành, sinh năm 1952, quê quán: Thanh Hoá, từng được biết đến là nguyên là phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, chủ blog Bà Đầm Xoè bị bắt được khá nhiều trang loan báo và đề cập tới. Thành bị bắt theo tội danh được quy định tại điều 117 – Bộ Luật hình sự năm 2015…
Sau khi Thành bị bắt, ngoài đám đồng đảng của Thành tỏ ra bất ngờ, chúng lu loa lên chuyện bắt Thành có dụng ý này kia và không quên thêm thắt, bôi chuyện để làm cho nó có tính liên quan… thì những người hiểu chuyện không quá bất ngờ về điều này. Thậm chí nhiều người đã từng đặt câu hỏi, tại sao ngay giữa thủ đô, lại có một kẻ ngày ngày, giờ giờ ra rả chửi bới chế độ mà không ai động đến. Và nhắc lại chuyện này, trên nền những diễn biến vừa qua mới hay: Chẳng qua chưa đến lúc họ bắt và khi đến lúc thì họ sẽ chẳng để sót tên nào!
Nói về hành vi chống đối của Thành bấy lâu nay, như những gì chúng ta biết về gã, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, sử dụng trang Bà Đầm Xoè, gã đã đăng tải hàng trăm bài viết mà mục tiêu hướng tới là đả phá Đảng cộng sản và nhà nước. Điều đáng nói, với những bài viết đã được đăng tải và những bài sau này được tuyển tập và in thành sách, gã nhà văn kiêm nhà báo này đã công khai tấn công người đứng đầu Đảng, nhà nước là Tổng bí thư – Chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng trong tập sách có tên: “Nguyễn Phú Trọng: Thế thiên hành đạo hay Đại nghịch bất đạo” với những điều nặng về quy kết, ám thị…
Cũng nói thêm, quyển sách này được lưu hành một thời gian khá dài mà chủ nhân của nó không hề bị xử lý. Điều này đủ để cho thấy: Quyền sách không phải là nguyên nhân khiến Thành bị bắt mà còn nhiều chuyện khác.
Ngoài thường xuyên bày tỏ những quan điểm kiểu như: “"Tôi đã 41 năm theo Đảng và Nhà nước rồi, bây giờ ngoảnh lại thấy dân tộc này cái gì cũng tụt lùi, nguyên nhân tại đâu? Nguyên nhân là chúng ta không có dân chủ, nguyên nhân là Đảng Cộng sản duy trì sự độc tài!..”. Gã đã tấn công gần như trực diện mọi thứ, kể cả chủ trương chính sách, quá trình thực thi đối với một số vấn đề mà nhà nước tiến hành; trong nhiều bài viết, gã đã gần như đổ lỗi cho nhà nước, chế độ và không quên viết ra những dòng có tính chất bôi nhọ, chỉ trích. Thậm chí để thực hiện ý đồ này, trong 1 số vấn đề, Thành đã thêm thắt, tạo dựng thêm một số tình tiết để nó trở nên có vấn đề khiến cho những người đọc hiểu sai, lệch lạc vấn đề được đề cập…. ít nhiều làm cho niềm tin của những người này vào Đảng, nhà nước có chiều hướng suy giảm.
Ngoài sử dụng quyền ngôn luận để chống phá trên không gian mạng thì gã nhà văn này cũng có tham gia một số tổ chức có xu hướng phản động, chống đối như “Cứu lấy dân oan”, “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, “No-U”; bản thân gã thường xuyên có mặt cổ vũ cho các hoạt động tụ tập đông người tại hồ Hoàn Kiếm, nhất là các vụ gây rối liên quan đến vấn đề môi trường biển miền Trung 2014, vụ Hà Nội đốn chặt cây xanh, Dự thảo Luật An ninh mạng, Dự thảo Luật khu vực hành chính kinh tế đặc biệt, Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ Triều lần 2,… Về quan hệ xã hội, gã khá thân thiết với đám Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Lân Thắng, Hà Sĩ Phu, Nguyễn Hoàng Đức, Phạm Chí Dũng…
Với bề dày và nhân thân cực xấu như thế nên dễ dàng hiểu rằng: Tại sao trong thời gian dài như gã từng xác nhận, được Công an quan tâm đặc biệt và đến nay gã chính thức bị bắt bởi một tội danh cụ thể./.

GIÁ TRỊ CAO NHẤT CỦA QUYỀN CON NGƯỜI


Với vị trí là quốc gia nằm kề Trung Quốc (nơi khởi phát dịch Covid-19), Việt Nam từng bị đánh giá là sẽ ảnh hưởng nặng nề. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn khác. Dù phải đối mặt với khủng hoảng y tế có quy mô toàn cầu, Việt Nam vẫn đang là hình mẫu trong phòng, chống dịch Covid-19 theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế uy tín như: LHQ, Tổ chức Y tế thế giới và một số nước trên thế giới.
Lý giải về kết quả khả quan trong công cuộc phòng, chống dịch Covid-19 của Việt Nam có rất nhiều nguyên nhân. Trước hết, đó chính là sự đoàn kết, thống nhất từ Trung ương Đảng, Chính phủ, tới các cấp chính quyền và tới từng người dân. Cùng với đó, Việt Nam tiến hành một chiến dịch truyền thông rộng khắp, liên tục về dịch Covid-19. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân trước mối nguy hiểm mang tên Covid-19 và những chính sách, pháp luật về phòng, chống dịch bệnh. Và trên hết, là niềm tin của xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Niềm tin ấy xuất phát từ việc Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang đặt sức khỏe, tính mạng con người lên vị trí cao nhất trong công cuộc phòng, chống dịch Covid-19. Ngay từ khi dịch Covid-19 khởi phát ở Trung Quốc, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định: Việt Nam sẵn sàng hy sinh lợi ích về kinh tế để phòng, chống dịch, bảo đảm sức khỏe, tính mạng của người dân.
Thực tế diễn biến thời gian qua, không một bệnh nhân Covid-19 nào ở Việt Nam (kể cả người Việt Nam và người nước ngoài) bị “bỏ lại phía sau”. Không một mối nguy hại nào đối với cộng đồng mà không được chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương quan tâm. Điều đặc biệt trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 tại Việt Nam được bạn bè quốc tế đánh giá rất cao là Chính phủ hỗ trợ điều trị miễn phí hoàn toàn cho người nhiễm virus SARS-CoV-2 và miễn phí sinh hoạt đối với người được cách ly. Chưa hết, người được cách ly phòng, chống Covid-19 còn luôn nhận được sự quan tâm hết mực, chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ từ lực lượng làm nhiệm vụ, trong đó nòng cốt là quân đội, công an và y tế.
Trước mối hiểm họa khôn lường của đại dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước Việt Nam đang làm hết sức vì tất cả người dân. Trong đó, mối ưu tiên hàng đầu là bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Điều đó đang được cộng đồng quốc tế công nhận; toàn thể nhân dân ủng hộ. Đây không phải lần đầu tiên Đảng, Nhà nước Việt Nam đặt người dân vào vị trí trung tâm trong các đường lối, chính sách lãnh đạo của mình. Mỗi giai đoạn lịch sử, quyền con người ở Việt Nam luôn được coi trọng. Trong thời kỳ chiến tranh, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân đấu tranh giành lại nền độc lập cho Tổ quốc, sự tự do-giá trị lớn nhất của nhân quyền khi đất nước bị xâm lược-cho nhân dân. Trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, tốc độ xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam vượt xa Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ. Điều đó làm cho Việt Nam trở thành điển hình của thế giới trong công tác này. Với người dân, khi đời sống còn khó khăn, thoát khỏi đói nghèo chính là quyền mang nhiều ý nghĩa nhất trong vấn đề nhân quyền. Nay, khi dịch Covid-19 đang bùng phát, đối với người dân, quyền được bảo vệ sức khỏe trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bảo vệ và phát huy quyền con người luôn là giá trị cốt lõi của chế độ ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản


ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống "tự diễn biến", tự chuyển hóa trong nộị bộ, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành tập trung thống nhất của Nhà n­ước; bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt những vấn đề chủ yếu sau:
Một là: Nhận thức đúng nguy cơ, nhận diện chính xác biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến, “tự chuyển hóa”
Đây là biện pháp cực kỳ quan trọng trong phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Nếu không nhận thức đúng nguy cơ, không nhận diện chính xác biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và không thấy được nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” thì cán bộ, đảng viên sẽ không thể xác định nội dung, biện pháp đấu tranh phòng chống có hiệu quả.
Để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức Đảng có nhận thức đúng về nguy cơ, nhận diện chính xác các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục, làm cho các tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên nhận sâu sắc về tác hại của sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, coi đây là một trong những nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ XHCN, nếu không phòng chống có hiệu quả sẽ dẫn đến mất Đảng, mất chế độ. Đồng thời, làm rõ những biểu hiện cụ thể, từ thấp đến cao của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và nguyên nhân khách quan, chủ quan, nguyên nhân bên trong, bên ngoài dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có biện pháp phòng ngừa, “tăng sức đề kháng”, tự “miễn dịch” với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Hai là: Đánh giá chính xác mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên
Đây là giải pháp quan trọng đối với các tổ chức đảng và toàn Đảng trong đấu tranh phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Chỉ có đánh giá chính xác mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên thì các tổ chức đảng và toàn Đảng mới có thể đưa ra những giải pháp đúng trong việc đấu tranh, ngăn chặn.
  Để đánh giá chính xác mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng cần: Thường xuyên theo dõi, nắm chắc diễn biến tình hình tư tưởng chính trị và phảm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc của Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng; tích cực công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh chống tham nhũng lãng phí, coi công tác kiểm tra, giám sát thực sự là một trong những chức năng quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng; làm tốt công tác đánh giá chất lượng và phân loại cán bộ, đảng viên; tổ chức điều tra xã hội, thăm dò dư luận thí điểm ở một số địa phương, một số tổ chức đảng theo các tiêu chí: tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; băn khoăn lo lắng, hoài nghi, giảm sút lòng tin; mất lòng tin vào sự lónh đạo của Đảng... để có sự đánh giá mang tính khách quan về mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Ba là: Xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức
Đây là giải pháp có ý nghĩa quyết định trong phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Có xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức thì mới đủ khả năng  hạn chế, loại trừ được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Nội dung xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị vững mạnh về chính trị, tư tưởng chính là kiên định lập trường quan điểm chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đối với cán bộ, đảng viên, vững vàng về chính trị, tư tưởng còn biểu hiện ở sự tin tưởng và quyết tâm thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vững mạnh về tổ chức tức là các tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước thường xuyên được kiện toàn, củng cố vững chắc, đảm bảo trong sạch, vững mạnh toàn diện, có đủ khả năng lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ và lãnh đạo xã hội phát triển theo đúng định hướng XHCN.
Bốn là: Lãnh đạo thực hiện tốt việc phát triển kinh tế-xã hội nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên
Thực hiện giải pháp này, các tổ chức đảng và bộ máy Nhà nước cần lãnh đạo chặt chẽ, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Trong phát triển kinh tế- xã hội phải chú trọng xử lý, giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội với BVTQ xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Năm là: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ giữa phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có nguyên nhân do hoạt động “DBHB” của các thế lực thù địch. Vì vậy, để thực hiện có hiệu quả việc phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, cần phát huy sức mạnh toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị và kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống âm mưu “DBHB” của các thế lực thù địch.

QUYỀN TỰ QUYẾT DÂN TỘC


          Bao vây, cấm vận là con bài của Mỹ đối với các nước không cùng đồng hành với các mục tiêu chính trị, không chịu sự chi phối và hành động cùng với Mỹ để bảo vệ lợi ích, giá trị của Mỹ trên thế giới. Thực tế trên thế giới, đến nay vẫn còn nhiều nước bị Mỹ và đồng minh tiến hành bao vây, cấm vận ở các cấp độ khác nhau, như: I Ran, Bắc Triều Tiên, Cu Ba, Vênêduyêna, Syria…