Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

Thiết bị sạch?

             Đối với thực phẩm, dược phẩm hay hóa mỹ phẩm, làm một người tiêu dùng thông minh đã khó, với thiết bị tin học, các phương tiện kết nối internet thì khó khăn với người tiêu dùng tăng bội phần.

Công nghệ hiện đại và tin học phát triển như vũ bão đang làm biến đổi thế giới. Ở nước ta hiện nay, việc sử dụng máy tính, điện thoại thông minh kết nối internet đã quá thông dụng. Internet mang đến những lợi ích khổng lồ cho đời sống xã hội, từ các lĩnh vực phức tạp như kinh tế, chính trị, đến các sinh hoạt đơn giản như vui chơi, giải trí. 

Một thuật ngữ quen thuộc trong giới tin học hiện nay là IoT, viết tắt từ “Internet of Things” nghĩa là "Vạn vật kết nối internet". Đây được coi là cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 của thế giới. Nó là một hệ thống các thiết bị công nghệ có liên quan đến nhau, mọi vật được kết nối với nhau dựa trên giao thức chung đó là mạng truyền thông - hay Internet. Hiểu một cách đơn giản, bạn chỉ cần có một thiết bị có kết nối mạng là hoàn toàn có thể điều khiển, kiểm tra toàn bộ các thiết bị ở nhà hay công sở đã kết nối.

Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt, tiện lợi càng nhiều thì ẩn chứa rủi ro cũng càng lớn. Ngoài những phần mềm ẩn chứa việc theo dõi người dùng, ăn cắp thông tin cá nhân thì nguy cơ đang khiến thế giới lo lắng nhất chính là mất an toàn ngay từ thiết bị.

Hiện nay, nền kinh tế toàn cầu gia tăng sự phụ thuộc vào hệ thống thông tin thì nguy cơ thiếu an toàn trên không gian mạng đã trở thành một trong những phương pháp thu thập thông tin thương mại đáng lo ngại.

Những cảnh báo về nguy cơ bị tấn công bằng việc cài đặt các phần mềm độc hại nằm ngay trong các trang thiết bị của người dùng là cần thiết, nếu không muốn nói là cấp báo. Một khi người tiêu dùng sử dụng thiết bị có cài phần mềm độc hại thì các bí mật kinh doanh, dữ liệu kỹ thuật, vị trí đàm phán, những thông tin nội bộ… không còn là bí mật nữa. Đây thật sự là mối đe dọa nghiêm trọng đối với khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, của nền kinh tế và các lĩnh vực khác.

Nếu như trước đây một vụ tấn công làm gián đoạn dịch vụ cần nhiều thời gian để huy động số lượng lớn thiết bị tham gia, thì ngày nay do IoT, cách thức tấn công diện rộng rất dễ dàng.

Do đó, lựa chọn thiết bị sạch, không chứa những chip có thể lấy cắp thông tin của người sử dụng là một yêu cầu vô cùng quan trọng hiện nay. Vấn đề trở ngại đặt ra là tự người tiêu dùng chỉ có thể lựa chọn thiết bị của những hãng có uy tín, không có tai tiếng về phần mềm độc hại, còn thực chất thiết bị đó có “sạch” hay không thì không thể chắc chắn.

Để bảo vệ an ninh thông tin, Nhà nước có những giải pháp đồng bộ để giảm thiểu rủi ro. Có hệ thống giám sát quốc gia để nhận biết các cuộc tấn công sử dụng các thiết bị IoT một cách nhanh nhất, sau đó tiến hành vô hiệu hóa máy chủ điều khiển để ngăn chặn hành vi tấn công. Hệ thống giám sát an toàn mạng cho phép thu thập, chuẩn hóa, lưu trữ và phân tích tương quan toàn bộ các sự kiện an toàn mạng được sinh ra trong hệ thống công nghệ thông tin của cơ quan, tổ chức.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh, nguyên tắc này cũng rất đúng đối với ngăn chặn nguy cơ tấn công bằng phần mềm độc hại. Phải có các giải pháp đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp và Nhà nước trong việc giám sát,  kiểm soát chặt chẽ hơn với các thiết bị có nguy cơ không an toàn./.

Chiêu trò lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

 

Chiêu trò lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước

*****

Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta. Do vậy, chúng ta cần nhận diện rõ âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch:

Trước hết, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.

Thứ hai, xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.

Thứ ba, các tôn giáo ở Việt Nam đều có mối quan hệ quốc tế sâu sắc. Đây chính là “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp.

Thứ tư, lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.

Thứ năm, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc song phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa thành thị với nông thôn, miền xuôi với miền núi, vùng có đạo và không có đạo còn có sự chênh lệch. Các dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, địa bàn có vị trí chiến lược nhưng điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch đã lợi dụng để hình thành, phát triển những tôn giáo cực đoan, dị dạng trái với các giá trị văn hóa của tôn giáo, đi ngược lại thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó thúc đẩy kết hợp chống phá sự nghiệp cách mạng cả về vấn đề dân tộc và tôn giáo.

Trước những vấn đề trên chúng ta cần nhìn nhận về tôn giáo như sau:

Một là, cần thấy rằng, trong lịch sử xã hội loài người, tôn giáo có vị trí, vai trò lớn, có những đóng góp quan trọng vào giá trị văn hóa nhân loại và ở Việt Nam cũng vậy. Trong tiến trình đi lên CNXH, tôn giáo luôn được thừa nhận và bảo vệ theo đúng quan điểm của Đảng, Nhà nước ta. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến tôn giáo, Người khẳng định mỗi tôn giáo đều có những ý nghĩa tốt đẹp, trong đó: Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa. Đồng bào các tôn giáo từ xưa đến nay là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Năm 1952, trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, khi đề cập đến Tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến. Hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc. Các tổ chức tôn giáo tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp, như: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội của Phật giáo; Sống phúc âm giữa lòng dân tộc của Công giáo; Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc của đạo Tin lành; Nước vinh, đạo sáng của đạo Cao Đài; Vì đạo pháp, vì dân tộc của Phật giáo Hòa Hảo...

Hai là, kế thừa tư tưởng đó của Người, trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa quan tâm, chăm lo, bảo đảm quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo, vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện rõ trong quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước ta.

Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một chính sách nhất quán của Đảng ta kể từ khi thành lập đến nay, là một nội dung cốt lõi trong quan điểm, chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong các giai đoạn cách mạng, quan điểm, nhận thức của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo luôn có sự bổ sung, phát triển cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thực tiễn cách mạng Việt Nam, cũng như thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước.

Điều 24 Hiến pháp 2013 ghi rõ: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được nhìn nhận là quyền tự nhiên của con người - tức đã là con người, ai cũng được thụ hưởng, đó là quyền bẩm sinh của con người, con người sinh ra đã có quyền đó. Một điểm nữa để khẳng định rõ hơn chính sách tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là việc có nhiều hơn những người theo tôn giáo được kết nạp Đảng.

Văn kiện Đại hội XII chỉ rõ: Số đảng viên mới kết nạp là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, nữ, trí thức, học sinh, sinh viên, dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, người lao động trong các thành phần kinh tế và chủ doanh nghiệp tư nhân tăng hơn so với khóa trước.

Ba là, tính tới nay (theo Cục An ninh Nội địa, Bộ Công an), Việt Nam đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 60 cơ sở đào tạo với 55.000 chức sắc, 145.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự. Khoảng 95% dân số Việt Nam có đời sống tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; có hơn 8 ngàn lễ hội tín ngưỡng tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân. Tính đến năm 2018, có 12 báo, tạp chí liên quan tôn giáo. Phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Việc ra đời các tổ chức tôn giáo phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Trong hơn 5 năm qua, hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam như Đại lễ Phật đản Vesak, 500 năm cải chính đạo Tin lành…Điều đáng nói, tự do tôn giáo các dân tộc thiểu số luôn được bảo đảm: Năm 2017, Giáo hội Phật giáo Việt Nam triển khai xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ; ở Bình Phước và Tây Nguyên có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành đang sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm; ở Tây Bắc có 693 điểm nhóm Tin lành, 8 Hội thánh cơ sở được thành lập; nhiều điểm nhóm của người dân tộc thiểu số theo Hội thánh Lutheran, Hội Liên hữu Baptist Việt Nam đã đăng ký sinh hoạt tập trung...

Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội, được Nhà nước tạo điều kiện phát triển các quan hệ giao lưu quốc tế…Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc.

Phủ nhận quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước cũng như những kết quả đạt được trong công tác tôn giáo - điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của họ, mà trước hết là các nước XHCN bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ.

Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGÀNH Y TẾ VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG “TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI”


          Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ hiện nay là sớm đưa cuộc sống trở lại bình thường theo phương án thích ứng an toàn với dịch bệnh. Theo đó, ngành Y tế có trách nhiệm tham mưu và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ: Tăng cường nguồn lực vaccine, thuốc chữa bệnh COVID-19 (nhập khẩu, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy tiến độ nghiên cứu, sản xuất vaccine, thuốc trong nước); tiêm vaccine miễn phí cho nhân dân; Đẩy mạnh tiến độ tiêm cho những người chưa tiêm và bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho những người đã được tiêm; Từng bước mở cửa an toàn trường học; Tăng cường xét nghiệm và vận động nhân dân tuân thủ các biện pháp phòng dịch.

          Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, nhất là trong việc ứng phó kịp thời, chính xác, sự đồng thuận và đủ mạnh; cấu trúc của hệ thống y tế có những bất cập. Tăng cường tốc độ nghiên cứu, sản xuất trang thiết bị vật tư y tế nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu rất cao trong việc ứng phó với dịch COVID-19 luôn có diễn biến phức tạp. Tăng cường thực hiện khám chữa bệnh từ xa, nhất là cho nhóm khách hàng mắc bệnh mãn tính. Thúc đẩy việc ứng dụng trí tuệ nhân tạotrong y tế, nhất là trong hoạt động nghiên cứu sản xuất vaccine và thuốc điều trị COVID-19. Tăng cường bảo vệ và phát triển nguồnnhân lực trong lĩnh vực y tế. Việc bảo vệ nhân viên y tế là một trong ưu tiên hàng đầu trong trạng thái “trạng thái bình thường mới” của ngành y tế.

Chiến lược tiêm chủng cần “thần tốc hơn nữa”, nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu được tiêm vaccine của các giai tầng xã hội. Các chuyên gia y tế cho rằng, quy trình tiêm vaccine hiện nay có thể được rút ngắn để tăng công suất mà vẫn đảm bảo an toàn. Cần dựa vào dữ liệu tiêm chủng thời gian qua để cải tiến quy trình tiêm hiệu quả và nhanh chóng hơn.

          Phương án “thẻ xanh COVID-19” cần được thúc đẩy nhanh chóng, trong đó lấy công nghệ và dữ liệu làm nền tảng. Cần thúc đẩy việc triển khai có hiệu quả gom tất cả ứng dụng trước đây vào chung một ứng dụng có thể tích hợp chức năng, giúp người dân: 1) Khai báo y tế tại các điểm đến nơi công cộng; 2) Khai báo y tế khi nhiễm bệnh/nghi nhiễm để kích hoạt việc truy vết, thông báo cho cơ quan y tế và các F1; 3) Khai báo khi qua chốt kiểm dịch; 4) Cập nhật vấn đề tiêm chủng hoặc chữa trị… Đây là một ứng dụng “gối đầu giường”, có giá trị trong mọi hoạt động đời sống của người dân khi “trạng thái bình thường mới”. Giúp cơ quan chức năng có thể theo dõi dịch tễ, kích hoạt hệ thống truy vết, khoanh vùng, cảnh báo khi xuất hiện các ca dịch trong cộng đồng.

          Để thích ứng với “trạng thái bình thường mới”, cần tập trung tuyên truyền về phương thức sống chung với COVID-19. Sống chung với COVID-19 hoàn toàn không có nghĩa là sống chung với đại dịch. Sống chung với COVID-19 chỉ có nghĩa là giảm thiểu tác hại của dịch bệnh và dần biến nó trở thành loại cúm mùa thông thường. Để sống chung với COVID-19, thì cũng cần phải trang bị cho người dân sự hiểu biết chính xác, khách quan và khoa học về COVID-19 và cách thức phòng chống nó. Chính sự hiểu biết sẽ làm gia tăng sức đề kháng bệnh dịch của toàn bộ hệ thống xã hội.

          Cần tập trung thông tin một cách toàn diện và cân bằng về các nội dung như sau: sự nỗ lực, quyết tâm của các địa phương đang thực hiện giãn cách và tăng cường giãn cách xã hội; công tác phòng, chống dịch đang đi đúng hướng, phù hợp với diễn biến tình hình và điều kiện thực tế của nước ta; các giải pháp đồng bộ về giãn cách xã hội, điều trị, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh trật tự được người dân đồng tình; lấy xã, phường, thị trấn làm “pháo đài”, đảm bảo mọi người dân được tiếp cận dịch vụ y tế từ sớm, từ xa ngay tại xã, phường, thị trấn, công tác điều trị đã có những kết quả tích cực trong việc hạn chế các trường hợp tử vong; các lực lượng tuyến đầu, các tình nguyện viên; sự hưởng ứng, đồng tình, vào cuộc, chia sẻ, thông cảm của nhân dân để thực hiện mục tiêu chống dịch và phát triển kinh tế, xã hội; từng bước khôi phục và đẩy mạnh sản xuất tại các địa phương kết thúc giãn cách xã hội, đảm bảo an toàn và thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống dịch tại khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh; về chấp hành các quy định về phòng, chống dịch, các quy định về giãn cách, cách ly, “ai ở đâu ở đó”, không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác với diễn biến của dịch bệnh và sự nguy hiểm của dịch; hướng dẫn thêm các kỹ năng cụ thể bảo vệ bản thân trước dịch bệnh; thiết lập kịch bản thích ứng an toàn: Giao thông an toàn, đi lại an toàn, sản xuất an toàn, dịch vụ an toàn; về ứng dụng công nghệ phục vụ phòng chống dịch, kiểm soát dịch, kiểm soát cuộc sống trong khi chuyển trạng thái và phục vụ điều hành kinh tế... Đặc biệt, cần kịp thời và hiệu quả hơn trong việc phản bác các tin giả, tin sai sự thật trong phòng, chống dịch COVID-19.

          Tăng cường truyền thông điệp phù hợp với các nhóm xã hội khác nhau về việc cầu thị lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, chú trọng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân. Tập trung vào việc tuyên truyền kế hoạch phục hồi kinh tế “thích ứng an toàn” với dịch bệnh trên tinh thần sản xuất phải an toàn, an toàn để sản xuất. Góp phần thay đổi thói quen, nâng cao ý thức phòng dịch để tiếp tục sống đối với người dân, doanh nghiệp, cụ thể: Mỗi cá nhân, nhóm xã hội và cộng đồng phải tự điều chỉnh và giảm bớt nhiều nhu cầu hành vi và quan hệ xã hội có “nguy cơ lây nhiễm cao”…

          Tăng cường việc tuyên truyền phản ánh thực tế điều hành, chỉ đạo chống dịch tại các cấp chính quyền địa phương trên nhiều nền tảng truyền thông khác nhau. Trong đó, chú trọng việc kiểm tra qua hệ thống trực tuyến ở những nơi đã triển khai xuống tận cấp phường, xã; ủng hộ phương châm “giao đầu kiểm tra đáy” để tăng cường hiệu quả giám sát, tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở.

          Thông điệp “trạng thái bình thường mới” cần được lan tỏa rộng khắp trên tất cả các loại hình truyền thông khác nhau: truyền thông đại chúng, truyền thông xã hội và truyền thông trực tiếp theo phương châm thống nhất, minh bạch, dựa trên bằng chứng, dễ hiểu dễ thực hiện, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau.

         

 

         

 

ĐẢNG LÃNH ĐẠO LÀ SỰ LỰA CHỌN KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ


          Cần khẳng định lại rằng, những “lý lẽ” mà các đối tượng, thế lực chống phá luôn rêu rao, đòi hỏi đối với Đảng và chế độ ta là những điều hoàn toàn không có gì mới, nhất là vấn đề “đa nguyên đa đảng”.

          Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

          Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh: “tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”.

          Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

          Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN.

          Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng.

          Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng. Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./.

 

 

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ THÍCH ỨNG, THÍCH NGHI CỦA NGƯỜI DÂN VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG “TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI”


          Thực tiễn cho thấy, ngoài sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền, ngành y tế trong việc truy vết, cách ly, xét nghiệm, điều trị, thì sự đồng lòng ủng hộ của người dân thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong cộng đồng là điều kiện quan trọng hàng đầu để kịp thời khống chế dịch bệnh. Trong “trạng thái bình thường mới”, một số hoạt động đang dần trở lại bình thường, nhưng đại dịch COVID-19 vẫn tiếp tục đòi hỏi các giải pháp kiểm soát chặt chẽ. Trong một vài thời điểm, có thể cần có những hoạt động giãn cách xã hội, thậm chí phong tỏa từng bộ phận để chống dịch COVID-19.

          Mỗi người dân cần tự ý thức, hết sức cân nhắc để tự hạn chế và kiểm soát nhu cầu nhu cầu đi lại, nhu cầu giao tiếp, tụ tập nơi đông người… của bản thân. Đồng thời, tăng thời gian làm việc tại nhà, nhận hàng hóa tại nhà; cân bằng nhu cầu sống và làm việc trong một không gian hạn chế.

Khi thực hiện “trạng thái bình thường mới”, người dân cần phải tuân thủ nguyên tắc 5K; sử dụng mã khai báo

          QR tại các chốt kiểm soát và cài đặt các ứng dụng về COVID-19. Khi có thông báo tiêm vaccine trên địa bàn, người dân cần đăng ký và chủ động tiêm chủng. Nếu người dân có các triệu chứng về bệnh COVID-19, phải liên hệ với y tế tại địa phương ngay lập tức, không được tự ý di chuyển đến bệnh viện.Nâng lực cao tự chăm sóc khi không may bị nhiễm bệnh. Khi đã được tiêm vaccine, người dân nếu nhiễm bệnh phải khai báo y tế; tự cách ly, chăm sóc, điều trị tại nhà theo hướng dẫn của ngành Y tế.

          Mỗi người dân cần tự tạo thói quen với “trạng thái bình thường mới”. Ví dụ, việc hạn chế người vào thăm động viên bệnh nhân trong bệnh viện là rất cần thiết trên nhiều khía cạnh về đảm bảo trên các khía cạnh y tế, vệ sinh dịch tễ, văn hóa và quan hệ xã hội. Tại những nơi tập trung đông người tiếp xúc gần, có nguy cơ cao lây nhiễm COVID-19, thay vì thường xuyên diễn ra trong không gian khép kín và đông đúc như trước đây, các hoạt động này cần hướng đến xu hướng được tổ chức trong không gian mở, ngoài trời nhằm thích ứng “trạng thái bình thường mới”.

          Để thích ứng với “trạng thái bình thường mới”, mỗi doanh nghiệp tùy vào quy mô hoạt động, cần thành lập một hoặc nhiều tổ tự quản về phòng chống dịch để ứng phó với những kịch bản có thể xảy ra. Tổ tự quản giúp mọi người giám sát, hỗ trợ, nhắc nhở nhau trong sinh hoạt, làm việc để vừa đảm bảo hiệu quả công việc vừa đảm bảo an toàn phòng chống dịch, nhất là khi trong nội bộ xuất hiện ca nhiễm hoặc nghi nhiễm. Các doanh nghiệp cần thúc đẩy thanh toán bằng điện tử, giảm thiểu tiền mặt; đẩy mạnh mô hình thương mại điện tử, bán mang về... Các doanh nghiệp phải đảm bảo người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất phải đảm bảo các quy định về 5K + vaccine.

          Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa thiết yếu, lương thực, thực phẩm, trang thiết bị y tế, thương mại - dịch vụ, sản xuất hàng hóa và các cảng là những nhóm doanh nghiệp cần sớm thích nghi với môi trường làm việc có dịch COVID-19 hoạt động lâu dài và bền vững. Doanh nghiệp cần hướng đến năng lực hấp thụ tốt các chính sách trong “trạng thái bình thường mới”: miễn thuế, cho vay vốn, gia hạn nợ, kết nối hệ thống doanh nghiệp cùng ngành, xúc tiến thương mại, giảm giá thuê mặt bằng, các gói tài chính kích cầu hay các chương trình hỗ trợ xây dựng hệ thống phòng chống dịch COVID-19.

          Những người tham gia hoạt động kinh doanh, gồm cả chủ hộ kinh doanh và người lao động đều phải xét nghiệm khi làm việc và được tiêm vaccine đầy đủ. Bên cạnh đó, thường xuyên xét nghiệm theo quy định của ngành Y tế và không tiếp tục làm việc khi có biểu hiện bệnh COVID-19. Tự giác chấp hành việc bố trí, sắp xếp và tổ chức không gian, hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của cơ quan có thẩm quyền. Tích cực và trong điều kiện có thể đẩy mạnh các hình thức mua online - giao tận nhà hoặc bán mang về; thanh toán điện tử, chuyển khoản bằng nhiều hình thức khác nhau; các nhóm hộ kinh doanh cần chủ động lập ra các tổ tự quản trong phòng, chống COVID-19.

 

 

 

Nguy hại từ những câu chuyện làm quà

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.

Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm.

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan "chẳng đẹp đẽ" gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định... nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng "câu like", "câu view" hoặc “nói cho bõ tức”...

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc... nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức... Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.

Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng "nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng"... Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Mai Năm Mới

TRUYỀN THÔNG TRONG “TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI”

Để thích ứng với “trạng thái bình thường mới”, cần tập trung tuyên truyền về phương thức sống chung với COVID-19. Sống chung với COVID-19 hoàn toàn không có nghĩa là sống chung với đại dịch. Sống chung với COVID-19 chỉ có nghĩa là giảm thiểu tác hại của dịch bệnh và dần biến nó trở thành loại cúm mùa thông thường. Để sống chung với COVID-19, thì cũng cần phải trang bị cho người dân sự hiểu biết chính xác, khách quan và khoa học về COVID-19 và cách thức phòng chống nó. Chính sự hiểu biết sẽ làm gia tăng sức đề kháng bệnh dịch của toàn bộ hệ thống xã hội.

Cần tập trung thông tin một cách toàn diện và cân bằng về các nội dung như sau: sự nỗ lực, quyết tâm của các địa phương đang thực hiện giãn cách và tăng cường giãn cách xã hội; công tác phòng, chống dịch đang đi đúng hướng, phù hợp với diễn biến tình hình và điều kiện thực tế của nước ta; các giải pháp đồng bộ về giãn cách xã hội, điều trị, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh trật tự được người dân đồng tình; lấy xã, phường, thị trấn làm “pháo đài”, đảm bảo mọi người dân được tiếp cận dịch vụ y tế từ sớm, từ xa ngay tại xã, phường, thị trấn, công tác điều trị đã có những kết quả tích cực trong việc hạn chế các trường hợp tử vong; các lực lượng tuyến đầu, các tình nguyện viên; sự hưởng ứng, đồng tình, vào cuộc, chia sẻ, thông cảm của nhân dân để thực hiện mục tiêu chống dịch và phát triển kinh tế, xã hội; từng bước khôi phục và đẩy mạnh sản xuất tại các địa phương kết thúc giãn cách xã hội, đảm bảo an toàn và thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống dịch tại khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh; về chấp hành các quy định về phòng, chống dịch, các quy định về giãn cách, cách ly, “ai ở đâu ở đó”, không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác với diễn biến của dịch bệnh và sự nguy hiểm của dịch; hướng dẫn thêm các kỹ năng cụ thể bảo vệ bản thân trước dịch bệnh; thiết lập kịch bản thích ứng an toàn: Giao thông an toàn, đi lại an toàn, sản xuất an toàn, dịch vụ an toàn; về ứng dụng công nghệ phục vụ phòng chống dịch, kiểm soát dịch, kiểm soát cuộc sống trong khi chuyển trạng thái và phục vụ điều hành kinh tế... Đặc biệt, cần kịp thời và hiệu quả hơn trong việc phản bác các tin giả, tin sai sự thật trong phòng, chống dịch COVID-19.

Tăng cường truyền thông điệp phù hợp với các nhóm xã hội khác nhau về việc cầu thị lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, chú trọng tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân. Tập trung vào việc tuyên truyền kế hoạch phục hồi kinh tế “thích ứng an toàn” với dịch bệnh trên tinh thần sản xuất phải an toàn, an toàn để sản xuất. Góp phần thay đổi thói quen, nâng cao ý thức phòng dịch để tiếp tục sống đối với người dân, doanh nghiệp, cụ thể: Mỗi cá nhân, nhóm xã hội và cộng đồng phải tự điều chỉnh và giảm bớt nhiều nhu cầu  hành vi và quan hệ xã hội có “nguy cơ lây nhiễm cao”…

Tăng cường việc tuyên truyền phản ánh thực tế điều hành, chỉ đạo chống dịch tại các cấp chính quyền địa phương trên nhiều nền tảng truyền thông khác nhau. Trong đó, chú trọng việc kiểm tra qua hệ thống trực tuyến ở những nơi đã triển khai xuống tận cấp phường, xã; ủng hộ phương châm “giao đầu kiểm tra đáy” để tăng cường hiệu quả giám sát, tổ chức thực hiện ở cấp cơ sở.  

Thông điệp “trạng thái bình thường mới” cần được lan tỏa rộng khắp trên tất cả các loại hình truyền thông khác nhau: truyền thông đại chúng, truyền thông xã hội và truyền thông trực tiếp theo phương châm thống nhất, minh bạch, dựa trên bằng chứng, dễ hiểu dễ thực hiện, phù hợp với từng nhóm đối tượng khác nhau. 

Mai Năm Mới

HIỂU VỀ “TRẠNG THÁI BÌNH THƯỜNG MỚI”

Từ đầu năm 2020, đại dịch COVID-19 xảy ra trên toàn cầu, tạo nên cuộc khủng hoảng đa chiều, tác động đến nhiều ngành nghề khác nhau, cuộc sống vật chất lẫn tinh thần của con người. “Trạng thái bình thường mới” được dùng để đề cập tới sự thay đổi về các hoạt động, quan hệ xã hội và hành vi con người sau đại dịch COVID-19. Dịch COVID-19 đã và đang làm thay đổi toàn diện cấu trúc xã hội mang tính lâu dài. “Trạng thái bình thường mới” hiểu đơn giản là những điều khác với những cái cũ. Có thể là những điểm mà trước đây được cho là bất bình thường thì sẽ trở nên bình thường. Hoặc cũng có thể là những điều mà trước đây chúng ta đang phấn đấu để thực hiện thì nay, trong điều kiện mới bắt buộc chúng ta phải thực hiện nó nhanh hơn, nhằm thích ứng với tình hình mới.

“Trạng thái bình thường mới” COVID-19 là trạng thái mà tại đó đất nước vừa tập trung chống dịch, vừa khôi phục và phát triển lại nền kinh tế như lúc ban đầu. Có 4 điểm đặc trưng để nhận diện “trạng thái bình thường mới”, đó là: 1) Khi làm bất kỳ việc gì, phải vừa đảm bảo tính hiệu quả vừa đảm bảo mục tiêu; 2) Dịch bệnh là vấn đề diễn ra trên quy mô toàn cầu, tình huống bất thường không ai đoán trước được, tác động đến mọi giai tầng xã hội, không phụ thuộc vào trình độ phát triển hay thể chế chính trị; 3) Tác động của dịch bệnh đòi hỏi mỗi con người, tổ chức và toàn bộ hệ thống xã hội phải năng động và có khả năng chống chịu và thích ứng với bối cảnh mới; 4) Đặt ra nhiều vấn đề phải định hình lại, phải đối mặt với nhiều rủi ro xã hội: dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu...

Mai Năm Mới 

Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng

 

Tránh nhẹ dạ, vô tình bị lợi dụng

***

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam. Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm.

Nguy hại từ những câu chuyện làm quà

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan "chẳng đẹp đẽ" gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định... nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng "câu like", "câu view" hoặc “nói cho bõ tức”...

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc... nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức... Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.

Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng "nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng"... Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.

Bắt bệnh và trị bệnh

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc... nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo...

Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác... vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề...

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ... cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản... cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.

Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy... khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng...

Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh... rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”...

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".

XUYÊN TẠC NHỮNG HÀNH ĐỘNG CỦA BỘ ĐỘI GIÚP DÂN CHÔNG DỊCH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Bộ đội và dân quân địa phương thu hoạch, vận chuyển lúa giúp dân tại huyện Bình Chánh

Thời gian qua trên mạng xã hội xuất hiện rất nhiều bài viết, lời bình luận  về hành động giúp dân chống dịch của các anh bộ đội. Có thể nói, hầu hết người dân đều rất cảm động, đồng cảm và trân quý những tình cảm mà các anh đã đem lại cho họ. Nhân dân đã thực sự cảm nhận được tinh thần vào cuộc “chống dịch như chống giặc” mà các anh mang lại. Tuy nhiên, đâu đó cũng xuất hiện một số bài viết của một số tổ chức, cá nhân đã phản ánh sai sự thật về mục đích, ý nghĩa cũng như hình ảnh giúp dân chống lại Đại dịch Covid-19 của lực lượng bộ đội. Với tư cách là những người được chứng kiến, được đón nhận những tình cảm cũng như sự giúp đỡ từ những hành động cao cả của các chiến sĩ, tôi cảm thấy mình cần phải lên tiếng để bảo vệ cho sự vô tư, trong sáng thông qua hành động của các anh.

ĐƯỢC TIÊM VACCINE COVID-19 SỚM, XIN HÃY ĐỪNG KHOE LÊN MẠNG XÃ HỘI



 Trong thời gian vừa qua, nếu bạn sớm được tiêm vaccine COVID-19, thay vì khoe lên mạng khiến người khác chạnh lòng, hãy thầm cảm ơn những người chưa được tiêm. Tôi có đọc được trên mạng xã hội câu rất hay: “Nếu bạn được tiêm vaccine trước, hãy thầm cảm ơn những người chưa được tiêm”.

Cuộc chiến chống COVID-19 vẫn đang rất nóng. Chính phủ đang đẩy mạnh việc tiêm vaccine cho người dân, ưu tiên tiêm sớm cho những vùng dịch đang căng thẳng như TP.HCM - Bình Dương - Đồng Nai.

Trong những ngày này, TP.HCM vẫn là nơi phát sinh nhiều ca nhiễm COVID-19 nhất cả nước, những kỷ lục đáng buồn liên tục bị xô đổ. Không chỉ người dân thành phố mà người dân cả nước đều theo dõi chặt chẽ những thông báo từ phía Bộ Y tế. Ai nấy đều hướng về TP.HCM, đều cầu mong nơi đây nhanh chóng dập được dịch. Trong nỗ lực lớn dồn lực cho cuộc chiến chống COVID-19 tại TP.HCM, Chính phủ ưu tiên phân bổ số lượng lớn vaccine COVID-19 cho địa phương này. Những liều vaccine còn ít ỏi so với nhu cầu hiện tại ngay khi nhập về lập tức được chuyển vào TP.HCM.

Chỉ trong ít ngày, đã có hàng trăm nghìn người dân được tiêm chủng phòng COVID-19. Trên mạng xã hội ngập tràn hình ảnh mà người được tiêm nhờ chụp rồi đăng tải. Hành động này khá dễ hiểu. Khi sống trong dịch bệnh, được tiêm vaccine chính là sự bảo vệ tốt nhất mà ai cũng mong sớm có được khi chưa thể biết bao giờ dịch bệnh mới kết thúc. Được tiêm sớm là điều may mắn nên cảm thấy vui mừng là đương nhiên.

CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC: LÀM TRONG SẠCH ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Thời gian qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến", “tự chuyển hóa” trong nội bộ, mặc dù đã được lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện quyết liệt, có chuyển biến rõ nét, nhưng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn diễn ra phức tạp, tinh vi, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.

Trong giai đoạn “nước sôi lửa bỏng” do tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, vẫn có những cán bộ, đảng viên không gương mẫu, không phát huy vai trò xung kích đi đầu trong công tác phòng, chống dịch bệnh, thậm chí còn lợi dụng chức trách, nhiệm vụ được giao, vi phạm các quy định phòng, chống dịch, cố ý trục lợi trong sử dụng, mua sắm công, nâng khống giá trị thiết bị y tế, làm thất thoát ngân sách nhà nước, đồng thời đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng, gây bức xúc trong nhân dân.

Do đó, cùng với việc chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng hoặc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, Ban Chỉ đạo sẽ trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tiêu cực khác ngoài tham nhũng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, phẩm chất đạo đức, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Trọng tâm là ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhấn mạnh không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế mà quan trọng hơn phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống. Bởi hai cái này nó có liên quan đến nhau, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến tiêu cực, tham nhũng. Lợi ích kinh tế thường gắn liền với quyền lợi chính trị, chức quyền, với sự hư hỏng về đạo đức, lối sống...

Nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, Đảng ta luôn đề cao vai trò “nêu gương” của cán bộ, đảng viên. Trong mọi hoàn cảnh, cán bộ, đảng viên phải tự giác làm gương, không chỉ về tư tưởng chính trị mà còn về đạo đức, lối sống; không chỉ trong lời nói mà trong cả việc làm, thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Sự tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên luôn là chuẩn mực đạo đức để quần chúng soi rọi, noi theo. Nếu đảng viên không gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống, thì sẽ làm giảm niềm tin của nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự trong sạch, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn vững vàng, thật sự "cần, kiệm, liêm, chính", "chí công vô tư"; thật sự tâm huyết vì nước, vì dân.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là công tác cán bộ, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, học dân, lắng nghe dân, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, đồng thời thường xuyên giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp để "không thể, không dám, không muốn, không cần tham nhũng", kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống", trong đó "xây" là cơ bản, chiến lược, “chống” là quan trọng, cấp bách.