Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

Căn cốt trong bảo vệ nên tảng tư tưởng của Đảng

 


Căn cốt đó chính là công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Thời gian qua, công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Trong bối cảnh mới, cần nâng cao hơn nữa vai trò của công tác bảo vệ chính trị nội bộ với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần thực hiện tốt Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ là các hoạt động phòng ngừa, phát hiện, xử lý, giải quyết các vụ, việc, hiện tượng, hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến nền tảng tư tưởng, mục đích, lý tưởng, uy tín, vị thế chính trị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, sự đoàn kết, thống nhất, trong sạch về chính trị trong nội bộ của Đảng, của hệ thống chính trị”(1). Nói cách khác, công tác bảo vệ chính trị nội bộ là tổng thể các hoạt động nhằm bảo vệ lý tưởng, nền tảng tư tưởng, vị thế chính trị, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vững sự trong sạch về chính trị của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với âm mưu, hoạt động chống phá Đảng của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử chống đối, cơ hội chính trị. Thông qua đó, duy trì mối quan hệ ổn định trong Đảng, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân với Đảng.

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” xác định rõ một trong những giải pháp quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là phải tiếp tục tăng cường và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Điều đó cho thấy công tác bảo vệ chính trị nội bộ có vai trò quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc nên tảng tư tưởng của Đảng.

Vai trò đó thể hiện trên một số khía cạnh như góp phần xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện các thế lực thù địch có thể lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước và xã hội. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị tăng cường tấn công vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong nội bộ ta. Họ tập trung tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, vai trò lãnh đạo của của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật và vai trò quản lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính quyền các cấp, với những thủ đoạn rất tinh vi, nguy hiểm. Triệt để tấn công vào nội bộ ta một cách toàn diện cả về tổ chức, con người và hoạt động; lợi dụng một số vụ việc phức tạp, nhạy cảm, sai phạm, khuyết điểm của một số cán bộ, đảng viên để kích động, chia rẽ nội bộ, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao. Nếu cán bộ, đảng viên không có bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ rất dễ bị tác động dẫn tới hoang mang, dao động, không phân biệt được đúng - sai, dẫn tới thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thậm chí có hành động trái với Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây chính là những mầm mống bên trong rất nguy hiểm, đe dọa sự vững mạnh của nội bộ Đảng.

Do vậy, với ý nghĩa tự bảo vệ, chủ động bảo vệ và bảo vệ từ bên trong là chính, công tác bảo vệ chính trị nội bộ chính là “tấm khiên”, “bộ lọc” để triệt tiêu các ngoại lực phá hoại cũng như loại bỏ những mầm mống nguy hại từ bên trong. Các quy chế, quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên chính là những căn cứ quan trọng để cán bộ, đảng viên nhận thức rõ những việc được làm, không được làm, từ đó tự giác điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi của bản thân, đồng thời cũng là cơ sở để xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Nội bộ đoàn kết, thống nhất; đội ngũ cán bộ đảng viên thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng và đạo đức, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì dù các thế lực thù địch, phản động có chống phá quyết liệt đến mấy cũng không thể làm suy yếu nội bộ ta.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ cung cấp chất liệu thực tiễn cho việc xây dựng nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Một trong những yêu cầu quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ là phải làm tốt công tác nắm tình hình, kịp thời phát hiện, tham mưu cho các cấp uỷ Đảng chỉ đạo việc phòng ngừa, giải quyết những vụ, việc mới phát sinh liên quan tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; nắm diễn biến về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên có biểu hiện phức tạp về chính trị, phát ngôn trái Cương lĩnh, điều lệ, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời phát hiện những khuynh hướng tiêu cực về tư tưởng trong nội bộ từ khi mới manh nha, không để lan rộng gây tác động tiêu cực trong nội bộ và ngoài xã hội; nắm những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động, phần tử chống đối, cơ hội chính trị tấn công vào các tổ chức Đảng và đảng viên cũng như hoạt động lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo, điều hành của Nhà nước. Đây chính là những chất liệu thực tiễn phong phú cho hoạt động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cũng chính là những vấn đề cần tập trung bảo vệ, đấu tranh phản bác trong từng thời điểm cụ thể.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Bên cạnh những yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ này phải có bản lĩnh chính trị thật sự vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt để không bị tác động bởi những luận điệu sai trái mà họ phải tiếp xúc thường xuyên. Đồng thời, đội ngũ cán bộ nòng cốt phải có ý thức tuân thủ kế hoạch, chỉ huy, chỉ đạo của cấp trên, ý thức giữ bí mật công tác, bí mật nội bộ để không bị các đối tượng xấu tấn công trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Để đáp ứng các yêu cầu trên, cần thông qua công tác tổ chức cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ để lựa chọn cán bộ phù hợp cũng như bồi dưỡng những kỹ năng cần thiết để đảm bảo an toàn cho cán bộ.

Thời gian qua, công tác bảo vệ chính trị nội bộ đã phát huy được vai trò quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đánh giá: Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được quan tâm hơn, đã góp phần quan trọng bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đã thường xuyên quan tâm tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên nâng cao nhận thức, khả năng “tự đề kháng” trước âm mưu, thủ đoạn, luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, phần tử chống đối, cơ hội chính trị. Đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ; phát hiện, xử lý một số trường hợp lợi dụng các phương tiện thông tin, mạng xã hội, “thư ngỏ”, “góp ý”, “kiến nghị” để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ, chống phá Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, dự thảo Văn kiện Đại hội XIII. Kịp thời phát hiện, vô hiệu hiệu hóa nhiều ý đồ, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động móc nối, mua chuộc, lôi kéo, kích động cán bộ, đảng viên tham gia hội, nhóm, diễn đàn phức tạp về chính trị trên không gian mạng. Lực lượng chuyên trách bảo vệ chính trị nội bộ đã trao đổi thông tin và phối hợp với lực lượng chuyên trách thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng triển khai các biện pháp công tác và xử lý các vụ việc, tình huống cụ thể.

Tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ vẫn còn một số hạn chế, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Nhận thức, trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu về yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới chưa đầy đủ, sâu sắc, toàn diện; vai trò định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên trước những thông tin trái chiều trên mạng xã hội chưa rõ nét. Công tác nắm và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay có nơi, có lúc còn hạn chế, một bộ phận cán bộ, đảng viên có dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị nhưng chậm được phát hiện, giáo dục, đến khi công khai quan điểm phức tạp thì cấp ủy mới biết. Một số trường hợp cá biệt có hoạt động phát tán tài liệu phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhưng việc đấu tranh, xử lý còn chưa kịp thời, kiên quyết. Công tác phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, nhất là hoạt động lợi dụng internet, mạng xã hội để tấn công vào tổ chức và cán bộ ta còn thiếu chủ động. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông có lúc chưa đáp ứng yêu cầu, còn tình trạng phóng viên lợi dụng hoạt động nghề nghiệp đưa tin sai sự thật, sử dụng facebook cá nhân để phát ngôn, bình luận vô nguyên tắc, tác động xấu đến dư luận. Hệ thống quy định quản lý cán bộ, đảng viên trên không gian mạng chưa đầy đủ. Đây chính là những vấn đề cần tập trung khắc phục thời gian tới.

Thành công rất tốt đẹp của đại hội đảng các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội Khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 cho thấy sự đồng thuận trong nội bộ, niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân vào Cương lĩnh, đường lối, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ngày càng được nâng cao. Đây là thuận lợi mang tính căn bản đối với công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thời gian tới. Tuy nhiên, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tiếp tục đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chống phá nội bộ ta với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” còn diễn biến phức tạp, tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên, niềm tin của nhân dân với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định rõ phương hướng trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ thời gian tới là: Bảo vệ Cương lĩnh, điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ cán bộ, đảng viên về mặt chính trị; bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm, lợi dụng các phương tiên truyền thông đại chúng, internet, mạng xã hội… để xuyên tạc, kích động, gây mất đoàn kết nội bộ. Đây là vấn đề rất quan trọng bởi cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương chịu trách nhiệm chính trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tại đơn vị, địa phương mình. Trong xác định nội dung, biện pháp thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ, cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương cần bám sát Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng, Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 18/8/2014 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới”, Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30/10/2016 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, hướng tới mục tiêu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động phát hiện, vô hiệu hóa những nhân tố xâm hại hoặc đe dọa xâm hại sự ổn định, an toàn của nội bộ, nền tảng tư tưởng của Đảng; phát hiện, khắc phục những sơ hở, thiết sót trong công tác cán bộ, những vụ việc phức tạp, nhạy cảm phát sinh trong nội bộ, không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, kích động chống phá.

Chú trọng nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về phương thức, thủ đoạn của các đối tượng lợi dụng internet, mạng xã hội để phát tán thông tin sai trái, thù địch; chỉ rõ tính chất phản khoa học, phản cách mạng, cơ hội chính trị, mục đích sâu xa của những quan điểm sai trái, thù địch vốn được che đậy dưới những danh nghĩa có vẻ rất tiến bộ. Tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên ý thức bảo vệ bí mật nhà nước trên không gian mạng; kỹ năng nhận diện, “ứng xử” với thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch; huy động cán bộ, đảng viên tích cực tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng. Tăng cường trao đổi thông tin hai chiều để kịp thời nắm bắt những vấn đề cán bộ, đảng viên còn băn khoăn, chưa nắm vững để giải thích, cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đúng định hướng, phù hợp với từng diện đối tượng.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp là nòng cốt của hệ thống chính trị, có khả năng tác động, ảnh hưởng đến cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị. Đội ngũ này phải thật sự vững vàng, kiên định về tư tưởng chính trị, có đủ tri thức và khả năng lập luận sắc bén để lan tỏa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, lý giải các vấn đề thực tiễn đặt ra, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Muốn đạt được yêu cầu trên, bên cạnh các biện pháp thẩm định tiêu chuẩn chính trị theo Quy định số 126-QĐ/TW ngày 28/2/2018 của Bộ Chính trị “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng”, cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo hướng chú trọng hơn nữa việc tích hợp các nội dung bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch vào chương trình, giáo trình và trong từng bài giảng cụ thể. Thông qua đó, từng cán bộ lãnh đạo, quản lý xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm cá nhân trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tăng cường nắm diễn biến về tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhất là ở những cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương có đơn, thư tố cáo, khiếu kiện kéo dài, mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, những sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện chính sách, pháp luật để tham mưu khắc phục, giải quyết dứt điểm, có lý, có tình, tạo được sự đồng thuận cao trong nội bộ và ngoài xã hội, không để phát sinh vấn đề phức tạp mới, không tạo cớ cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Kịp thời phát hiện, đấu tranh phê phán các biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ ở cấp chi bộ; chấn chỉnh tình trạng suy giảm sức chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ cần tham mưu cấp ủy, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị hoàn thiện và tổ chức quán triệt, triển khai các quy chế, quy định quản lý cán bộ, đảng viên như: kỷ luật phát ngôn, quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của cơ quan, đơn vị, quy chế trao đổi, cung cấp thông tin; quy chế sử dụng mạng xã hội. Thông qua đó, cán bộ, đảng viên nhận thức rõ những điều được làm, những điều không được làm để tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp. Nghiên cứu hoàn thiện quy định về việc cán bộ, đảng viên tham gia góp ý, kiến nghị chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo hướng hoan nghênh, tiếp thu những ý kiến tâm huyết, mang tính xây dựng kể cả ý kiến khác, đồng thời kiên quyết đấu tranh xử lý các trường hợp lợi dụng góp ý với Đảng, Nhà nước để gây rối nội bộ, tuyên truyền quan điểm sai trái, thù địch. Sớm xây dựng quy chế quản lý hoạt động của cán bộ, đảng viên trên không gian mạng theo hướng cá thể hóa trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên gắn với trách nhiệm của tổ chức quản lý cán bộ, đảng viên đó.

Đảm bảo các cơ quan báo chí, thông tin truyền thông phải thực sự là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, là diễn đàn của nhân dân, cung cấp kịp thời, đầy đủ các thông tin chính thống để định hướng dư luận; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Báo chí, Luật Xuất bản, quy định về đạo đức nghề nghiệp, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đội ngũ cán bộ nòng cốt tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phải được lựa chọn kỹ, thật sự vững vàng, kiên định về tư tưởng chính trị để không dao động trước bất kỳ tình huống nào, được tổ chức và hoạt động theo những quy định, quy ước chặt chẽ, thống nhất để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao.

Bảo vệ chính trị nội bộ là bảo vệ lý tưởng, uy tín, vị thế chính trị của Đảng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân với Đảng. Thực tiễn đặt ra cho công tác bảo vệ chính trị nội bộ những yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao, đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức, đơn vị phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, góp phần phát huy tốt vai trò quan trọng để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo đồng thuận trong nội bộ và ngoài xã hội để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đấu tranh với sự phủ nhận Nhà nước pháp quyền

 


Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, dù là nước lớn hay bé, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển, đều xây dựng cho mình những chủ thuyết, bao gồm hệ thống các quan điểm, nhận thức, tư tưởng mang tính lý thuyết nhằm định hướng cho sự phát triển của quốc gia. Ở nước ta, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tiến hành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giành độc lập cho dân tộc, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Những tư tưởng cơ bản của nhà nước pháp quyền đã được V.I.Lênin đề cập và vận dụng vào thực tiễn xây dựng và củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên trên thế giới-nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bao gồm các vấn đề cơ bản như: Xây dựng một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, dân chủ; nhà nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ và pháp luật được thực hiện nghiêm minh, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nhà nước là công cụ của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc và vận dụng sáng tạo tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới vào thực tiễn xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) thông qua tại Đại hội XI của Đảng, đã xác định: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Thực tiễn 35 năm đổi mới đã khẳng định yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan, tất yếu mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền dân chủ chân chính của nhân dân, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nguyên tắc hiến định mang tính giai cấp sâu sắc, bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở các khía cạnh: Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành hiến pháp, pháp luật, chính sách cụ thể và lãnh đạo tổ chức nhân dân thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách; Đảng lãnh đạo Nhà nước tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra việc quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước làm tham mưu cho Đảng; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân trong việc tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước và bảo vệ Nhà nước.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu hòng bác bỏ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội, họ rêu rao rằng, ở Việt Nam không có “pháp trị”, chỉ có “đảng trị”. Đây là thủ đoạn nham hiểm của các lực lượng chống đối Đảng Cộng sản lãnh đạo các nước XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu thập niên 80 của thế kỷ trước. Hiện nay, một số đối tượng vẫn cổ xúy cho thủ đoạn trên mà nếu không đấu tranh thì có thể để lại những hậu quả khôn lường đối với đất nước, đối với xã hội, đối với người dân khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị đặt ngoài Hiến pháp. Những người có lương tri trên thế giới không thể không nhớ đến sự kiện Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã năm 1991, khi mà những người dân chủ cấp tiến hả hê vì vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã bị đặt ngoài hiến pháp, khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 1988) bị phá bỏ. Trên đất nước đó, sau những biến cố thăng trầm, chính Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin trong cuộc gặp các đảng phái chính trị của Nga tại Điện Kremlin ngày 23-9-2016, cho rằng sự kiện Liên Xô sụp đổ không chỉ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ 20 mà rất có thể là cả trong lịch sử chính trị thế giới, để lại những hậu quả có tính toàn cầu về tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh.

Đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng trong từng nước, khi giải quyết các vấn đề tổ chức quyền lực của nhà nước thì xuất phát từ đặc điểm thực tiễn riêng của mỗi nhà nước. Ở một số nhà nước trên thế giới, do xuất phát từ thể chế chính trị, đặc điểm lịch sử hình thành, có nhà nước theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”, tức là phân lập các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với những hình thức và mức độ khác nhau. Về bản chất, dưới khoa học chính trị học, đây thực chất là sự phân chia quyền lực giữa các đảng phái. Tuy vậy, trên thực tế cũng chưa có một nước tư bản nào thực hiện đúng nguyên tắc tam quyền phân lập, mà vẫn phải áp dụng linh hoạt, phù hợp với tình hình của mỗi nước.

Trước đây, khi thảo luận vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước ở nước ta, từng có ý kiến cho rằng cần phải xây dựng nhà nước pháp quyền trên cơ sở nguyên tắc tam quyền phân lập dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, Đại hội IX của Đảng đã dứt khoát khẳng định: Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục khẳng định vấn đề trên. Như vậy, điểm khác nhau cơ bản trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với các nhà nước tư sản, đó là: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất”, không thể phân quyền theo lối phân chia, cắt khúc, đối chọi lẫn nhau giữa các quyền, mà chỉ có sự phân công trên cơ sở thống nhất và tập trung quyền lực cao nhất ở Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Mô hình xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền ở nước ta chưa khi nào và không bao giờ bị coi là bản sao mô hình bộ máy nhà nước pháp quyền giống như một quốc gia nào đó. Các nhà tư tưởng chính trị-pháp lý như Aristoteles đã từng chỉ ra rằng, cần phải làm ra các đạo luật để áp dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia chứ không thể đem các quốc gia vào cho phù hợp với pháp luật đã có sẵn. Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc mà vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này. Và chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng được với dân tộc khác. Mô hình nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quan điểm của Đảng về việc vận dụng một cách sáng tạo và có chọn lọc những kinh nghiệm khác nhau của các dân tộc về cách thức tổ chức nhà nước pháp quyền, ưu tiên những giá trị có tính phổ biến, kết hợp hài hòa với các giá trị truyền thống, những đặc điểm phát triển và lịch sử phát triển đất nước. Do đó, mọi yêu cầu, đòi hỏi hay kiến nghị Việt Nam phải thực hiện mô hình “tam quyền phân lập” là không phù hợp, thậm chí tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta. 

Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng không kém phần phức tạp. Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại lợi ích cho nhân dân, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình nắm giữ, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ như tham nhũng, lãng phí, lạm quyền... Vì vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ cấp bách, quan trọng trong quản lý nhà nước trên thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng. Ở nước ta, thuật ngữ “kiểm soát” được ghi trong văn kiện của Đảng và thể chế hóa quan điểm đó, tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 hiến định: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta không cần phải áp dụng cơ chế tam quyền phân lập, bởi các nhánh quyền lực của Nhà nước ta không phải nhánh quyền lực của phe nhóm này chống lại phe nhóm kia, vốn là gốc rễ của cơ chế tam quyền phân lập. Sức mạnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong những năm qua là minh chứng sinh động về Nhà nước ta đã, đang thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân; do nhân dân xây dựng; hoạt động vì mục tiêu ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Thực tế này sẽ phủ nhận những ý đồ đen tối muốn thay đổi thể chế nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam bằng mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” mà thực chất là muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, tách rời Nhà nước với chính trị rồi làm suy yếu, tan rã Nhà nước. 

Dư luận Mỹ đánh giá cao vai trò của Việt Nam

 


Tờ The Washington Times của Mỹ vừa đăng bài viết đánh giá cao vai trò của Việt Nam đối với các vấn đề mang tính toàn cầu, nhất là trên cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (HĐBA LHQ) nhiệm kỳ 2020 - 2021. Bài viết nêu rõ bất chấp sự bùng phát trở lại của dịch Covid-19, nhất là sự xuất hiện của biến thể Delta, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao thông qua việc đảm nhiệm vai trò tại HĐBA LHQ, điều phối các vấn đề quan trọng, cũng như nỗ lực gìn giữ hòa bình. Bài viết nhấn mạnh vị thế của Việt Nam trong an ninh quốc tế đã được ghi nhận khi đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) 2017, Hội nghị cấp cao Mỹ - Triều Tiên năm 2019. Việt Nam đã thể hiện vai trò kiến tạo hòa bình ngày một lớn, cùng vai trò hòa giải quan trọng trong ASEAN về các vấn đề an ninh khu vực. Với việc áp dụng thành công thể chế thị trường đúng đắn, kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm qua đã thu được những kết quả ấn tượng. Các quốc gia thành viên LHQ đã hoan nghênh vai trò tích cực của Việt Nam trong việc thúc đẩy các cuộc đấu tranh vì độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết của dân tộc. Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, từ quốc gia có thu nhập thấp lên trung bình, với hơn 40 triệu người thoát nghèo trong giai đoạn 1993 - 2014.

Bên cạnh đó, Việt Nam tích cực tham gia các nỗ lực gìn giữ hòa bình của LHQ. Trong 30 năm qua, Việt Nam được công nhận là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, luôn ủng hộ các sáng kiến về biến đổi khí hậu của LHQ cùng các mục tiêu phát triển bền vững. Việt Nam luôn thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ. Bài viết dẫn tuyên bố của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng trong thông điệp gửi tới Đại hội đồng LHQ năm 2020, trong đó khẳng định Việt Nam có trách nhiệm tiếp tục củng cố và tăng cường sức sống cho tổ chức đa phương lớn nhất thế giới này trước các thách thức và cơ hội trong thế kỷ 21.

Với những kết quả tích cực trong phòng, chống dịch Covid-19, nhiều địa phương đã từng bước nới lỏng các biện pháp giãn cách. Để giữ vững thành quả này, rất cần "vắc xin ý thức" từ chính người dân. Ngày 23/9, Văn phòng Chính phủ có công điện truyền đạt chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính tới Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Y tế và lãnh đạo một số địa phương về việc chấn chỉnh, tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19. Công điện nêu rõ, trong mấy ngày vừa qua, sau khi thực hiện nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội, tại một số địa phương đã có hiện tượng chủ quan, lơ là, mất cảnh giác trong phòng, chống dịch, một số nơi xuất hiện các ổ dịch mới. Cùng với đó, Thủ tướng phân công trách nhiệm cụ thể cho lãnh đạo các Bộ, ngành, các địa phương trong việc tiếp tục thực hiện nghiêm các quy định, biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, giữ vững thành quả chống dịch. Thời gian qua mặc dù hết sức gian khó nhưng chúng ta đang dần kiểm soát được các ổ dịch và từng bước đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới. Có được kết quả đó là trách nhiệm, tâm huyết, thậm chí là tính mạng và sức khỏe của các lực lượng tuyến đầu. Đặc biệt không thể không nhắc tới sự đồng lòng, phối hợp, ủng hộ của người dân đối với các biện pháp phòng, chống dịch.

Sau thời gian dài thực hiện các biện pháp mạnh để chống dịch, các địa phương tùy vào tình hình thực tế đã từng bước nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội một cách thận trọng. Chúng ta có thể hiểu được niềm vui của người dân ở các khu vực cách ly, phong tỏa dài ngày khi bước sang trạng thái "bình thường mới". Họ như chiếc lò xo bị nén lâu ngày, nay được bung ra, hay bởi quá vui mừng với thành quả chống dịch mà trở nên chủ quan?. Chứng kiến những con đường chật kín dòng người và xe cộ trong đêm Trung thu ở Hà Nội ngay ngày đầu tiên nới lỏng giãn cách, nhiều người không khỏi lo lắng.

Nếu xuất hiện tình huống không mong muốn xảy ra, sự nỗ lực, cố gắng nhiều ngày qua, thậm chí nhiều tháng qua của lãnh đạo thành phố, của ngành y tế, của hàng nghìn con người sẽ hóa tro bụi. Cuộc chiến chống dịch có thể lại phải bước vào giai đoạn mới, khó khăn và tốn kém hơn trước gấp bội. Thực tế tại Đà Nẵng, Hà Nam hay Kiên Giang những ngày vừa qua cho chúng ta thấy cuộc chiến với kẻ thù giấu mặt này vẫn luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Bởi vậy, chỉ một phút mất cảnh giác, lơ là, chúng ta sẽ phải trả cái giá rất đắt.

Chúng ta đang bước vào giai đoạn "sống chung với dịch" bằng biện pháp phong tỏa diện hẹp, bằng bao phủ vắc xin phòng Covid-19 cho người dân cả nước, từng bước khôi phục lại các hoạt động sản xuất kinh doanh đã và đang bị ngưng trệ do dịch bệnh. Cùng với đó, chúng ta phải giữ vững thành quả chống dịch đã đạt được trong suốt thời gian dài vừa qua. Nới lỏng giãn cách để thực hiện "mục tiêu kép" là cần thiết nhưng chúng ta không được phép nới lỏng sự cảnh giác trước dịch bệnh. Công tác phòng dịch một cách nghiêm túc cần thiết phải tiếp tục duy trì trong tình hình mới.

Lúc này hơn hết, mỗi người dân phải tự tiêm cho mình một liều "vắc xin ý thức" phòng dịch, bởi cuộc chiến này không phải của riêng ai và mối nguy cơ dịch bệnh này cũng không loại trừ bất kỳ một ai.

Đấu tranh với sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật hiện nay

 


Gần đây, lĩnh vực văn học, nghệ thuật có sự phát triển rất phong phú, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của xã hội trong thời kỳ mới song cũng xuất hiện những biểu hiện lệch lạc, sai trái nên bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng. Do đó, cần phải nhận diện những biểu hiện sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật để có cách thức đấu tranh phù hợp, góp phần bảo về nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật.

Trong thời gian gần đây, trước những biến chuyển lớn lao trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, lĩnh vực văn học, nghệ thuật nước nhà cũng có những thay đổi đáng kể. Về cơ bản, văn học, nghệ thuật đã phản ánh được cuộc sống muôn màu, góp phần đáng kể trong việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân và mang đến cho con người những giá trị sống tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh đó, lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng có những biểu hiện tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến dư luận xã hội. Những biểu hiện đó thể hiện trên những phương diện cơ bản như sau:

Do ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường nên nhiều văn nghệ sĩ đã tuyên truyền lối sống thực dụng, vị kỷ, thích hưởng thụ, coi trọng giá trị vật chất vào đối tượng thanh niên, sinh viên thông qua các hoạt động văn hóa, nghệ thuật giải trí, làm cho cái xấu, cái ác, phi nhân tính có dấu hiệu tăng lên rõ rệt. Môi trường đạo đức và văn hóa lành mạnh bị đe dọa nghiêm trọng dẫn tới không ít thanh niên, sinh viên khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn các giá trị, chuẩn mực sống và niềm tin của mình vào những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Một số văn nghệ sĩ dễ dàng “chiều” theo thị hiếu của một bộ phận công chúng, tìm cách quảng bá những tác phẩm chống chế độ, xuyên tạc nhằm hạ uy tín lãnh đạo Đảng, Nhà nước, của một số lãnh tụ cách mạng tiền bối; cố tình tôn vinh những kẻ đã và đang chống lại, đi ngược đường lối cách mạng của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”. Một số văn nghệ sĩ bất mãn với chế độ, thậm chí có những người trước đây vốn là những nhà văn cách mạng, đã từng có nhiều đóng góp tích cực cho nền văn học, nghệ thuật nước nhà nhưng bị các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lôi kéo, kích động nên quay sang bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành quả cách mạng của dân tộc. Có một số văn nghệ sĩ lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, hạ bệ những giá trị thiêng liêng của dân tộc, phủ nhận quan điểm Mác - Lênin về văn hóa - văn nghệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, miêu tả cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc của nhân dân ta như một cuộc nội chiến; chỉ đề cao một chiều các lý thuyết bắt nguồn từ thực tiễn văn học, nghệ thuật phương Tây, gây ra sự lệch chuẩn trong sáng tác cũng như nghiên cứu lý luận, phê bình văn nghệ.

Nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện lệch lạc, sai trái trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật trong thời gian qua không chỉ xuất phát từ nhận thức sai lầm và sự cố chấp của một số văn nghệ sĩ bất mãn với chế độ mà còn do sự móc nối, lôi kéo của các thế lực thù địch trong và ngoài nước đối với một số văn nghệ sĩ. Đối tượng văn nghệ sĩ mà các thế lực thù địch thường chú ý lôi kéo gồm: số văn nghệ sĩ do chế độ cũ đào tạo; những văn nghệ sĩ đã từng có vi phạm pháp luật, có quá khứ tham gia nhóm “Nhân văn - Giai phẩm”; nhóm văn nghệ sĩ tuy đã tham gia kháng chiến cứu nước, nhưng hiện nay bất mãn, cực đoan, có sai phạm, lệch lạc trong sáng tác văn học, nghệ thuật; những văn nghệ sĩ trẻ, lập trường không vững vàng, chạy theo cơ chế thị trường trong các sáng tác văn học, nghệ thuật... Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hiện nay ở nước ngoài có khoảng hơn 50 đài phát thanh và truyền hình có chương trình Việt ngữ, 429 báo, tạp chí, trên 40 nhà xuất bản tập trung tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta. Hằng năm, có hơn 3.000 tài liệu chiến tranh tâm lý phá hoại tư tưởng được đưa vào Việt Nam bằng nhiều con đường khác nhau. Một số văn nghệ sĩ, trí thức bị lợi dụng, lôi kéo vào hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa, phản bội Tổ quốc, chạy trốn ra nước ngoài để truyên truyền chống Đảng, Nhà nước ta; hay có những nhà văn, trí thức đã “tự diễn biến, tự chuyển hóa” thành những kẻ có quan điểm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Gần đây, một số văn nghệ sĩ, trí thức có uy tín, từng công tác, đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật muốn vận động, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập”. Tổ chức này đã mạo danh chấn hưng nền văn học để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối thông qua các hoạt động bất hợp pháp, chống phá Đảng và chế độ ta. Điều này cho thấy rõ biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật. 

Bên cạnh đó, còn có hiện tượng không ít văn nghệ sĩ tận dụng những lợi thế của những trang mạng cá nhân, các blog, tài khoản zalo, trang mạng xã hội facebook để bình luận những vấn đề thời sự, chính trị của đất nước bằng ngôn ngữ của văn chương, nghệ thuật với cái nhìn một chiều, cực đoan. Trên trang facebook cá nhân, một số văn nghệ sĩ, trí thức cũng đã đăng tải những trạng thái, những bài thơ, đoạn trích văn xuôi, bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân trước một số vụ việc trong nước theo hướng phê phán, lên án chính quyền, tạo cớ để các thế lực thù địch có dịp chống phá Đảng và chế độ ta.

Những biểu hiện sai trái, lệch lạc trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật có tác động không nhỏ đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận nhân dân trong thời gian qua, trong đó có giới trẻ. Có không ít người đã hoang mang, hoài nghi về lịch sử của dân tộc cũng như những thành quả cách mạng của nhân dân. Thậm chí có những người có tâm lý bi quan, chán nản, mất niềm tin vào những giá trị chân - thiện - mỹ. Vì vậy, cần phải có những cách thức phù hợp để đấu tranh với những biểu hiện sai trái, lệch lạc đó nhằm bảo vệ giá trị đích thực của văn học, nghệ thuật như văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.

Có một thực tế làkhông phải ai làm trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật cũng có hiểu biết đầy đủ, thấu đáo về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về văn học, nghệ thuật. Do đódễ có những biểu hiện lệch lạc, đi ngược lại những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Do đó, các cơ quan quản lý truyền thông, báo chí, hội văn học, nghệ thuật các cấp cần đẩy mạnh tuyên truyền cả cho những văn nghệ sĩ và những người làm công tác quản lý hoạt động sáng tác, xuất bản văn học nghệ thuật. Nội dung và hình thức tuyên truyền cần phong phú, đa dạng, phù hợp với đối tượng văn nghệ sĩ. 

Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước là điều kiện tiên quyết đảm bảo hoạt động văn học, nghệ thuật đi đúng hướng. 

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2030, để khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực văn hóa nói chung, Đảng ta đã khẳng định: Tiếp tục đổi mới toàn diện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về văn hóa. Đây cũng chính là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục những biểu hiện sai trái, lệch lạc về văn học, nghệ thuật ở nước ta thời gian qua. Cần phát huy vai trò của các đảng bộ, chi bộ ở các hội văn học, nghệ thuật trong việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của các hội viên. Các cơ quan quản lý như Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch hay Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch các tỉnh, các hội, chi hội cần tăng cường quản lý hoạt động sáng tác, biểu diễn, xuất bản một cách chặt chẽ, tránh tình trạng buông lỏng quản lý để các hội viên tự do thái quá, có quy định, chế tài cụ thể để gắn các văn nghệ sĩ với trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, cần sớm hoàn thiện và ban hành bộ Quy tắc ứng xử của văn nghệ sĩ trên không gian mạng để kiểm tra, giám sát hoạt động của các văn nghệ sĩ trên mạng xã hội.

Đầu tư các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã rà quét, phát hiện và xử lý những thông tin xấu độc trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật trên mạng xã hội. Sở dĩ những thông tin xấu độc về văn học, nghệ thuật lan tràn trên mạng xã hội trong thời gian qua là do chưa có cách thức để kiểm soát, xử lý. Những hoạt động chống phá trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật được thực hiện trên mạng xã hội thời gian qua diễn ra rất tinh vi nên các cơ quan chức năng và các cơ quan quản lý về văn học, nghệ thuật cần áp dụng những giải pháp kỹ thuật, công nghệ cao để rà quét, phát hiện, bóc gỡ, xử lý những thông tin có nội dung xấu độc nhằm làm trong sạch môi trường văn hóa mạng. Điều này không chỉ góp phần kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các văn nghệ sĩ trên không gian mạng mà còn ngăn chặn các hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch trên không gian mạng. Phát huy vai trò, trách nhiệm của các văn nghệ sĩ trong việc đấu tranh chống lại những biểu hiện sai trái, lệch lạc trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Các văn nghệ sĩ là người của công chúng, thường có lượng độc giả, khán giả lớn. Họ là những người có tầm ảnh hưởng với xã hội. Do đó, những biểu hiện lệch lạc của họ dễ gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, có khi kéo theo nhiều người làm theo hoặc có khi bản thân họ bị mất uy tín. Vì thế, những người làm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật cần hiểu rõ được vai trò, vị thế của mình, song cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, sự gương mẫu trong việc đấu tranh chống lại những biểu hiện sai trái, lệch lạc; có chính kiến cá nhân đúng đắn, tránh để các phần tử cơ hội lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc. Ngoài ra, các văn nghệ sĩ cần phải tích cực tuyên truyền, định hướng cho độc giả, khán giả những thông tin có nội dung đúng đắn, tích cực; tránh lợi dung uy tín của bản thân để lôi kéo độc giả, khán giả vào những hoạt động sai trái, vi phạm pháp luật.

Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị

 


Văn học, nghệ thuật chính thống của một chế độ xã hội bao giờ cũng phục tùng, phục vụ việc xây dựng và củng cố chế độ xã hội ấy. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rõ ràng: Văn học, nghệ thuật không thể đứng ngoài chính trị, không thể tách khỏi sự lãnh đạo của giai cấp cầm quyền. Đó là quy luật. Ấy vậy mà, một số người, nhóm người vẫn cố tình đi ngược lại quy luật khách quan đó.

Thời gian qua, một số người biến chất hoạt động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật nước nhà được sự hà hơi, tiếp sức, kích động của các thế lực bên ngoài đã lớn tiếng kêu gọi và đòi văn học, nghệ thuật không phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng, đứng ngoài chế độ chính trị hiện hành (cho dù chính chế độ này đã mang lại cho họ những giá trị đích thực và họ đã, đang được hưởng). Vì thế, họ ra sức truyền bá các tác phẩm văn học, hội họa, những chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung chống chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), phủ nhận thành quả của cách mạng, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ đề cao, cổ súy một số tác phẩm của những văn nghệ sĩ cực đoan, quá khích. Thậm chí, họ còn cho rằng, những tác phẩm này đã tạo nên "luồng gió mới" trong lĩnh vực báo chí, văn học, nghệ thuật nước ta và đã "tiên phong" thoát ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện đúng tinh thần "văn nghệ mở".

Bên cạnh đó, một số kẻ đã cố tình bôi nhọ, đả kích các nhân vật, các nhà phê bình văn học có quan điểm chính thống; xuyên tạc cho rằng họ là những "bồi bút” cho Đảng, "con rối" trên diễn đàn văn chương... Điển hình trong đó có nhóm tự xưng “Ban vận động Văn đoàn Việt Nam độc lập”, phiến diện cho rằng: Văn học, nghệ thuật do Đảng lãnh đạo là thứ văn học, nghệ thuật minh họa nghị quyết, tô hồng thực tế theo chỉ đạo của Đảng. Thật đáng buồn hơn, khi có nhà văn, nhà thơ trưởng thành trong nền văn chương cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng đã “mắc bệnh nặng” nên “mờ mắt”, phủ nhận chính những đứa con tinh thần của mình khi "loạn ngôn" cho rằng: Các tác phẩm văn học viết trong chiến tranh là những kiểu viết minh họa đầy chất “đặt hàng” của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn. Do đó, những tác phẩm đó không có giá trị và phải có nhận thức mới để thoát khỏi sự can dự của Đảng. Chắc chắn các “nhà văn nghệ mở” đều đã biết, sự tồn tại của chính trị trong một xã hội thường được thể hiện trên hai phương diện là học thuyết chính trị và nhà nước. Trong đó, học thuyết chính trị giữ vai trò chủ đạo trong ý thức xã hội để giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc, các tầng lớp trong xã hội và xây dựng nên một nhà nước nhằm tổ chức, quản lý, điều chỉnh và định hướng xã hội phát triển theo lý luận, quan điểm của học thuyết chính trị đó.

Như vậy, trong một xã hội, nói đến chính trị là nói đến vai trò chủ đạo cả trong ý thức xã hội lẫn hệ thống thiết chế mang tính chất nhà nước để bảo đảm cho sự hiện thực hóa tư tưởng chính trị. Khi đã hiển nhiên giữ vai trò chủ đạo trong một xã hội, thì chính trị không chỉ ảnh hưởng và tác động tới các hình thái ý thức xã hội khác cùng trong một kiến trúc thượng tầng, mà còn giữ vai trò lãnh đạo và chi phối mọi hoạt động trong lĩnh vực vật chất, tinh thần của xã hội. Bằng cách tiếp cận thực sự khách quan, toàn diện, khoa học, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra, văn học, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội nhưng là hình thái ý thức xã hội đặc thù; biểu hiện tập trung, đầy đủ, sâu sắc nhất quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực và luôn nhấn mạnh văn học, nghệ thuật phải thấm nhuần tư tưởng cách mạng, có tính giai cấp, tính đảng, tính định hướng...
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, văn học, nghệ thuật vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Ý thức chính trị và ý thức văn học là những người bạn đồng hành trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tiếng nói chính trị và tiếng nói nghệ thuật bổ sung cho nhau, làm thăng bằng đời sống tinh thần của xã hội.

Thực hiện sứ mệnh mà dân tộc, nhân dân giao cho, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo văn học, nghệ thuật nhằm phát huy cao nhất tính “chân, thiện, mỹ” của nó, vì khát vọng cao đẹp của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Điều đó cũng có nghĩa, Đảng lãnh đạo văn học, nghệ thuật không phải là sự áp đặt, mà trở thành nhu cầu khách quan, không chỉ cho việc thực hiện mục tiêu, lý tưởng của dân tộc, mà còn vì chính sự tồn tại, phát triển của văn học, nghệ thuật; bảo đảm cho “hình thái ý thức xã hội đặc thù” này phát triển đúng hướng, toàn diện, có ích và đáp ứng khát vọng tốt đẹp, phong phú, lành mạnh của nhân dân, của dân tộc. Vì vậy, ngay từ năm 1943, Ðề cương văn hóa-chiến lược đầu tiên về văn hóa (trong đó có văn học, nghệ thuật) của Ðảng đã đặt văn hóa là một cuộc cách mạng được tiến hành đồng thời với cách mạng chính trị và cách mạng kinh tế. Quan điểm đúng đắn đó, được khẳng định lại trong nhiều nghị quyết của Ðảng. Quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao văn hóa, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, là sự bảo đảm cho phát triển bền vững: Không có hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người.

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng không can thiệp sâu vào những vấn đề cụ thể như cá tính sáng tạo, cảm hứng sáng tác, các tác nghiệp, kỹ năng thực hành văn hóa... Đảng chủ trương đổi mới phương thức lãnh đạo đối với văn học, nghệ thuật theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học, nghệ thuật phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn. Trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam (25-7-2018), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Để tạo điều kiện cho văn học, nghệ thuật phát triển, Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích mọi tìm tòi, tôn trọng tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù đối với văn học, nghệ thuật và văn nghệ sĩ phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh, đường lối văn học, nghệ thuật của Ðảng là một bộ phận trong đường lối phát triển con người, phát triển đất nước, được xây dựng trên những căn cứ khoa học xác đáng, hướng tới những mục tiêu cao đẹp mà văn học, nghệ thuật cũng nhằm hướng tới. Do đó, văn học, nghệ thuật Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chuyển hóa lập trường cho nhiều trí thức tiểu tư sản sang người trí thức cách mạng giàu lòng yêu nước.

Đơn cử như, bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu (năm 1938) là một mốc son đánh dấu sự chuyển biến, đi theo lý tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ. Nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm ơn Đảng: Người thay đổi đời tôi, Người thay đổi thơ tôi. Nhà văn Nguyễn Công Hoan cũng đã khẳng định: Chính Cách mạng Tháng Tám đã cứu sống đời ông, giải phóng cho gia đình ông và giải phóng cho ngòi bút viết tiểu thuyết của ông... Trong giai đoạn cách mạng từ 1930 đến 1945, văn học, nghệ thuật đã có vai trò quan trọng trong vận động cách mạng, cổ vũ đồng bào cả nước làm nên thắng lợi lịch sử Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, các tên tuổi, như: Nguyễn Đình Thi, Phạm Tiến Duật, Xuân Hồng, Phạm Tuyên, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân... đã vừa cầm súng, vừa cầm bút; vừa chiến đấu, vừa sáng tác, góp phần làm nên hình ảnh cao đẹp, đáng tự hào-“Người nghệ sĩ-chiến sĩ”. Họ đã có những tác phẩm đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật; tạo ra những hình tượng đậm chất lý tưởng, thực sự mang tầm văn hóa lớn trong đấu tranh cách mạng, hướng bạn đọc đi đến những cái cao thượng anh hùng... Từ khi đất nước thống nhất, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới, văn học, nghệ thuật tiếp tục đạt được những thành tựu đáng trân trọng; đại đa số các văn nghệ sĩ phát huy trách nhiệm công dân, trách nhiệm nghệ sĩ-chiến sĩ, sáng tác ra nhiều tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa nước nhà, xứng đáng đại diện cho những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng.

Thực tế là vậy! Thử hỏi các “nhà văn nghệ mở”, các ngòi bút “tiên phong” rằng, đó có phải là bóp nghẹt tự do, dân chủ, áp đặt tư tưởng, quan điểm trong sáng tạo văn học, nghệ thuật; hay trấn áp những văn nghệ sĩ, đấu tranh cho tự do tư tưởng, tự do sáng tạo không? Và, nếu các tác phẩm được viết theo kiểu “minh họa”, hay viết theo “đặt hàng mà không phải do cảm xúc” thì liệu có đạt tới tầm cao về tư tưởng, văn học, nghệ thuật như vậy không? Phải chăng, từ ý thức chính trị kết hợp với tài năng và tấm lòng trong sáng đã đem tới các thế hệ văn nghệ sĩ cách mạng Việt Nam ý chí, tình yêu vô bờ bến với sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc. Từ ý thức đó, các văn nghệ sĩ được tự do sáng tác và vững bước cùng dân tộc, góp phần cùng dân tộc làm nên những kỳ tích mà lịch sử sẽ còn lưu giữ mãi.

Thời gian qua, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã cấm phát hành và quyết định thu hồi một số tác phẩm, ấn phẩm văn học đã phát hành là do vi phạm Luật Xuất bản; thậm chí có tác phẩm có những quan điểm, nhận định, đánh giá thiếu căn cứ khoa học, mơ hồ về chính trị, hoặc có nội dung xuyên tạc lịch sử, thông tin tư liệu sai lệch, tuyên truyền chủ nghĩa xét lại một cách cực đoan, kích động thù hằn dân tộc, tạo tâm lý oán trách... Việc làm đó là hoàn toàn chính xác, đúng đắn để tạo điều kiện cho nền văn học, nghệ thuật chân chính phát triển, góp phần tích cực vào xây dựng chế độ XHCN mà nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã lựa chọn, chứ không như một số người rêu rao: Trừng trị, triệt tiêu những đóng góp của giới tinh hoa, trí thức! Có chăng, đó chỉ là việc làm ngăn chặn những tác phẩm bôi đen, trút bức xúc và hằn học cá nhân, lấy cái tôi để làm thước đo phẩm chất cộng đồng...; những tác phẩm đó bao giờ cũng mang tới sự “phản giá trị” đối với tác phẩm và chính chủ nhân của nó. Đó là sự thật không thể chối cãi được. Cho nên, khi người ta đòi hỏi tách văn học, nghệ thuật khỏi chính trị, thì nếu đó không nhằm tiếp tay, thực hiện ý đồ đen tối cho các thế lực phản động, thì cũng là biểu hiện của sự ấu trĩ, mất phương hướng trong nhận thức mà thôi.

Không lợi dụng dịch bệnh để thực hiện mưu đồ chính trị

 


Khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát tại Việt Nam thì trên một số trang mạng xã hội cũng bùng phát một loại “virus” nguy hiểm không kém biến thể Delta, đó là việc xuyên tạc công tác phòng, chống dịch (PCD) tại Việt Nam. Đằng sau sự xuyên tạc này là những mưu đồ chính trị, “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Tung tin giả để phá hoại thật là một trong những chiêu trò của các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn thường áp dụng để xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Trong đại dịch Covid-19, ngay từ đầu năm 2020, khi dịch mới xuất hiện, tin giả đã “ăn theo” virus khiến cho dư luận hoang mang. Gần đây, khi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát với biến thể Delta vô cùng nguy hiểm, khiến nhiều địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì tin giả cũng “tái bùng phát” trên mạng xã hội, thậm chí chúng còn đăng tải trên một số phương tiện thông tin đại chúng ở nước ngoài xuyên tạc công tác PCD ở Việt Nam.

Khi một số địa phương triển khai giãn cách xã hội, chúng vu cáo Việt Nam vi phạm về quyền tự do đi lại, cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam thực hiện “ngăn sông cấm chợ” gây khó khăn cho cuộc sống của người dân”. Nguy hiểm hơn khi chúng phỏng vấn một số trường hợp người lao động tự do, cắt ghép, rồi “củng cố” cho những luận điệu xuyên tạc của mình. Khi Chính phủ Việt Nam quyết định lập ra “Quỹ vaccine phòng, chống Covid-19” với mục đích vô cùng tốt đẹp là tiêm vaccine miễn phí cho người dân thì chúng lại bóp méo sự thật rằng chính quyền không chủ động trong ứng phó dịch bệnh. Sử dụng video, clip bị cắt xén, lồng ghép những hình ảnh, âm thanh xuyên tạc về dịch Covid-19 gây hoang mang dư luận; đăng bài viết có tiêu đề giật tít, nhưng nội dung thì “không có gì” chỉ để tăng tỷ lệ tương tác, lượt like nhằm mục đích câu “view”, “đánh bóng tên tuổi” và sâu xa hơn là lợi dụng điều đó để nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ của chúng ta.

Lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các đối tượng chống phá đã soạn thảo, tán phát hàng chục nghìn bài viết, bình luận sai sự thật chống Đảng, Nhà nước, gây rối an ninh trật tự trên hàng trăm website và hàng nghìn nhóm, tài khoản mạng xã hội. Nội dung tập trung vào các nhóm vấn đề: Xuyên tạc về diễn biến dịch, nguồn lây nhiễm, số người nhiễm bệnh, số ca tử vong, công dụng của thuốc và vật tư y tế PCD, kêu gọi tự điều trị, chẩn đoán tại nhà, không theo chỉ dẫn của Bộ Y tế; kích động, gây chia rẽ quan hệ ngoại giao Việt Nam với một số quốc gia; công kích, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền các địa phương trong PCD, xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhân viên y tế, người mắc bệnh và người có nguy cơ lây nhiễm. Chúng còn kêu gọi biểu tình, tẩy chay, phản đối việc cài đặt phần mềm Bluezone, kích động công nhân đình công tập thể tại các công ty, khu công nghiệp có yếu tố nước ngoài; kêu gọi tích trữ lương thực, thực phẩm, gây hoảng loạn trong quần chúng nhân dân; trục lợi kinh tế thông qua buôn bán, làm giả vật tư, thiết bị PCD... Điển hình của việc “tung tin giả, phá hoại thật” là bức ảnh chụp nhiều thi thể nạn nhân trong bệnh viện. Ảnh được chụp ở một nước khác thì lại bị các đối tượng gán là “chụp ở Bệnh viện Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh”.
Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, số người nhiễm bệnh và tử vong ở Việt Nam tăng cao, một số phần tử phản động người Việt bèn nêu ra quan điểm thoạt đầu nghe rất êm tai rằng “phản biện giải pháp phòng, chống Covid-19 tại Việt Nam”. Thế nhưng bản chất của chúng lại là phản bội lại Tổ quốc, phản bội lại nhân dân. Chúng “phán” rằng: “Dịch bệnh lan rộng ở Việt Nam có nguyên nhân sâu xa là do thể chế, do một đảng lãnh đạo, là vì chống dịch theo mô hình xã hội chủ nghĩa"... Đó là những cái nhìn phiến diện, đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc sự thật nhằm chia rẽ nội bộ nhân dân, chia rẽ giữa Đảng, chính quyền Nhà nước với nhân dân. Thủ đoạn nham hiểm của chúng là biến không thành có, biến ít thành nhiều, biến hiện tượng cá biệt thành bản chất.

Lợi dụng dịch bệnh, các đối tượng chống đối còn tổ chức tuyên truyền, huấn luyện, lôi kéo người vào tổ chức, phát triển lực lượng chống đối trong nước. Đáng chú ý, tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã tài trợ in hơn 1 triệu khẩu trang có hình lưỡi bò tán phát trong nước nhằm khuếch trương thanh thế; tán phát “Thư kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam thả tù nhân trong đại dịch Covid-19”... Tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” lợi dụng giãn cách xã hội để móc nối, lôi kéo tham gia tổ chức, nhất là những người trẻ tuổi có nhận thức chính trị hạn chế, người có hoàn cảnh khó khăn, bất mãn xã hội, ảo tưởng chính trị để kích động, khoét sâu bất mãn với chính quyền, hứa hẹn “cấp phát nhà miễn phí”. Có lẽ chúng không biết hoặc cố tình không biết rằng, không phải ở Việt Nam mà ngay tại các nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới cũng đều phải gặp khó khăn khi đối phó với đại dịch Covid-19. Một số người còn cho rằng, Việt Nam gặp khó trong PCD là do thể chế, do chế độ, do một đảng lãnh đạo. Họ không hiểu thực tế là nếu không có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu nền kinh tế của chúng ta không vận hành theo thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chắc chắn việc phòng, chống dịch bệnh của chúng ta còn gặp khó khăn gấp rất nhiều lần, số người bị bệnh, số người tử vong chắc chắn sẽ rất lớn. Nhiều tổ chức quốc tế đã đánh giá như vậy.
Cũng cần phải nói thêm là Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã có chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân từ rất sớm và là một trong số không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine ngừa Covid-19 đại trà cho toàn dân, coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Điều này thể hiện tinh thần nhất quán “lo cho dân” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn.

Việt Nam là nước nằm trong khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao và là nước có tiềm lực kinh tế còn hạn hẹp, thế nhưng với phương châm: “Tất cả vì sức khỏe của nhân dân”, ngay sau khi phát hiện những trường hợp dương tính đầu tiên ở trong nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định, có thể hy sinh một số lợi ích kinh tế nhưng quyết tâm phải bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong gần hai năm qua. Cùng đó, chúng ta cũng đã nhanh chóng thành lập Ban chỉ đạo quốc gia PCD Covid-19; phát động toàn dân, toàn quân “chống dịch như chống giặc”. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội chỉ đạo thường xuyên, kiên quyết và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ “ngoại giao vaccine”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, chúng ta đã tổ chức khoanh vùng, dập dịch thành công ba đợt lớn và đang khống chế thành công đợt dịch thứ tư.

Nhìn lại kết quả công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua ở Việt Nam có thể thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh để đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn dân. Điều này không chỉ được chúng ta khẳng định mà bạn bè quốc tế cũng đã ghi nhận.
Thực tế, sau thời gian nỗ lực phòng, chống, đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư đã từng bước được kiểm soát. Trên cơ sở phân tích công tác PCD Covid-19 trong thời gian qua, người đứng đầu Chính phủ đã chỉ ra một số bài học kinh nghiệm cần thấm nhuần như: Không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, nhất là khi dịch chưa đến hoặc đã kiểm soát được tình hình, đồng thời tránh hoảng hốt, mất bình tĩnh khi dịch bùng phát, lây lan. Phải nhất quán, kiên trì trong lãnh đạo, chỉ đạo, song áp dụng linh hoạt vừa tập trung, vừa phân tán căn cứ đặc thù của từng địa phương, thời điểm. Việc phân cấp thực hiện phòng, chống dịch phải xuống tận cơ sở, lấy xã, phường, thị trấn là “pháo đài”, người dân là “chiến sĩ”, người dân vừa là trung tâm, vừa là chủ thể trong phòng, chống dịch. Tổ chức xét nghiệm tầm soát theo hướng dẫn của Bộ Y tế để phòng dịch tốt, nhất là tại địa bàn, đối tượng có nguy cơ cao; thấm nhuần phương châm “một đồng phòng dịch hiệu quả thì không mất hàng triệu đồng chống dịch, chưa kể đến sức khỏe, tính mạng và nhiều mất mát khác”. Như vậy, thực tế đã trả lời về hiệu quả công tác PCD Covid-19 của chúng ta.

Sự thật đã được sáng tỏ. Thế nhưng các thế lực thù địch chắc chắn sẽ tiếp tục có những âm mưu, thủ đoạn mới, sẽ tiếp tục đăng đàn xuyên tạc, kích động nhằm tạo ra sự hoang mang trong xã hội. Mục đích nguy hiểm của chúng nhằm đánh lạc hướng, làm lung lạc niềm tin của nhân dân đối với công tác PCD Covid-19 ở nước ta. Sâu xa hơn là chúng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ định thành quả của cả hệ thống chính trị cùng tinh thần đoàn kết của dân tộc ta, muốn chúng ta đi chệch hướng. Thế nhưng dẫu có bôi nhọ và xuyên tạc đến đâu thì các thế lực phản động, cơ hội chính trị cũng không thể bẻ cong được sự thật, khi mà nhiều quốc gia, tổ chức uy tín trên thế giới đã và đang đánh giá cao Việt Nam trong xử lý đại dịch Covid-19. Điều đó khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn đoàn kết một lòng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, PCD Covid-19 nói riêng.

Những đánh giá phiến diện, thiếu khách quan

 


Ngày 21/9/2021, trong báo cáo hằng năm mang tựa đề “Tự do trên mạng 2021: Nỗ lực toàn cầu nhằm kiểm soát các đại công ty công nghệ”, tổ chức Freedom House (FH) đã đưa ra các cáo buộc vô căn cứ về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Ðây không phải lần đầu tiên FH đưa ra những đánh giá mang tính phiến diện, vô căn cứ dựa trên thông tin sai sự thật như vậy, nên cũng không có gì lạ sau khi công bố, bản báo cáo đã lập tức bị phản đối mạnh mẽ.

Trong báo cáo vừa được công bố, FH “chấm điểm” Việt Nam ở mức 19/100 điểm, thuộc nhóm các quốc gia theo đánh giá của FH là “không có nhân quyền, không có tự do Internet, không có tự do tôn giáo, không được tự do bầu cử, bị hạn chế đi lại, phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số”. Về tổng thể, báo cáo của FH đánh giá nhân quyền, dân chủ của Việt Nam “kém về mọi mặt” so với năm 2020. Việc lặp lại các luận điệu áp đặt quen thuộc, không dựa trên tình hình thực tế, bỏ qua mọi thành tựu mà chính quyền và nhân dân Việt Nam đã đạt được, được dư luận quốc tế ghi nhận và đánh giá cao,... càng bộc lộ rõ hơn thái độ thiên kiến, thiếu thiện chí của FH. Chính vì thế, đề cập vấn đề này, tại buổi họp báo thường kỳ tổ chức theo hình thức trực tuyến vào ngày 23/9, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: Ðây không phải là lần đầu tiên FH đưa ra những đánh giá thiếu khách quan, định kiến dựa trên những thông tin sai sự thật về Việt Nam. Thực tế, những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) qua các chu kỳ. Do đó, báo cáo của FH là vô giá trị và không cần thiết phải bình luận thêm.

Trên thực tế, những thành tựu mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước là những bằng chứng không thể phủ nhận cho các nỗ lực của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm thực thi quyền con người. Việc bảo đảm và thúc đẩy quyền con người luôn được Ðảng, Nhà nước ta thể chế hóa cũng như thực thi nghiêm túc trong thực tiễn. Người dân luôn được đặt vào vị trí trung tâm của mọi quyết sách, với mục tiêu quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân ngày càng được phát huy và bảo đảm tốt hơn, thực chất hơn. Việc thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được tuân thủ nghiêm túc theo những cam kết, nghĩa vụ trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cũng như các cơ chế nhân quyền quốc tế. Chính vì vậy, Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia điển hình trong tiến trình thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ, tiếp tục triển khai hiệu quả các Mục tiêu phát triển bền vững. Nhiều năm qua với tư cách là thành viên của cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người của LHQ, Việt Nam đã chủ động thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ và cam kết, duy trì chính sách nhất quán về bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền. Trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, Nghị quyết Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng xác định: phát triển con người toàn diện; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước; không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; có chính sách cụ thể phát triển văn hóa đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam. Một biểu hiện cụ thể và sinh động về vấn đề này là từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện, nhất quán với phương châm “Không để ai bị bỏ lại phía sau”, Ðảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của người dân, kịp thời ban hành nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ, giúp đỡ người gặp khó khăn, bất kể đó là công dân Việt Nam hay người nước ngoài cư trú ở Việt Nam...

Tại Hội thảo quốc tế về xây dựng Báo cáo giữa kỳ tự nguyện thực hiện các khuyến nghị Việt Nam chấp thuận theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát về quyền con người (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền LHQ do Bộ Ngoại giao phối hợp Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) tổ chức ngày 14/7/2021 với sự tham dự của hơn 150 đại biểu trong nước và quốc tế, thành tựu của Việt Nam về công tác nhân quyền tiếp tục được ghi nhận. Ðại diện LHQ, ông Kamal Malhotra - Ðiều phối viên thường trú LHQ tại Việt Nam, hoan nghênh Việt Nam cam kết mạnh mẽ đối với chủ nghĩa đa phương và bảo vệ quyền con người mà minh chứng là quyết định thực hiện Báo cáo giữa kỳ tự nguyện. LHQ đánh giá cao Việt Nam đã chủ động đương đầu với các thách thức trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, sẵn sàng chấp thuận, có hành động triển khai các khuyến nghị trong những lĩnh vực còn khó khăn. Trước đó, Việt Nam đã bảo vệ thành công các báo cáo UPR chu kỳ I, II, đã được Hội đồng Nhân quyền LHQ đánh giá cao trong việc xây dựng kế hoạch tổng thể thực hiện các khuyến nghị về bảo đảm an sinh xã hội, đời sống tôn giáo, tín ngưỡng, quyền của các nhóm yếu thế, tăng cường giáo dục quyền con người... Trong năm 2020, theo báo cáo của UNDP, Việt Nam được xếp vào nhóm các nước có Chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức cao trên thế giới, xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ năm 1990 đến năm 2019, HDI của Việt Nam tăng gần 46%, thuộc các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất trên thế giới.

Bất chấp thực tế đó, chỉ dựa trên tin tức bịa đặt, một chiều, FH cố tình đưa ra đánh giá sai trái về tình hình nhân quyền tại Việt Nam, dựng đứng chuyện Việt Nam “không có tự do internet”, người dân “gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội”. Nếu đó là sự thật, thì sẽ không có con số trên 68 triệu người Việt Nam (tương đương 70% dân số) đang dùng internet. Việt Nam càng không thể được xếp vào nhóm 20 quốc gia có tỷ lệ sử dụng internet cao nhất thế giới với 94% số người thường xuyên vào mạng, thời gian trung bình trên 6 giờ/ngày. Việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, quy định trách nhiệm của đơn vị cung cấp dịch vụ mạng, trách nhiệm của các nền tảng xuyên biên giới,... của các cơ quan chức năng là hoàn toàn nằm trong thẩm quyền cũng như phù hợp với luật pháp quốc tế. Thực tế, không chỉ Việt Nam mà rất nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang tiến hành công việc này để tạo một môi trường internet an toàn, lành mạnh, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng. Nếu thật sự quan tâm đến con người, FH cần xác định rõ một nguyên tắc cơ bản là mọi sự tự do, dù trên không gian mạng, đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật. Ðó cũng chính là cơ sở mà Ủy ban châu Âu (EC) yêu cầu Facebook, Google, Twitter phải điều chỉnh các điều khoản sử dụng dịch vụ, truy quét thông tin xấu, gồm cả tin xuyên tạc, sai sự thật, nếu không sẽ phải chịu chế tài xử lý nghiêm khắc. Và ở các quốc gia, mọi hành vi lừa đảo, đưa tin giả, vi phạm sở hữu trí tuệ, kỳ thị sắc tộc, kích động bạo lực, khủng bố,... trên internet đều bị xử lý nghiêm khắc.

Tương tự, khi vu cáo Việt Nam “không có tự do bầu cử”, FH đã làm ngơ trước thực tế tại Việt Nam, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HÐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 tổ chức ngày 23/5/2021 đã có 99,60% cử tri cả nước tham gia bỏ phiếu. Trong số 868 ứng cử viên đại biểu Quốc hội có 74 người ngoài Ðảng, 9 người tự ứng cử. Cuộc bầu cử được tổ chức trên nguyên tắc dân chủ, đúng pháp luật, bình đẳng, an toàn, tiết kiệm. Người dân cả nước được tự bầu chọn người đại diện xứng đáng cho mình để tham gia vào cơ quan quyền lực của Nhà nước và địa phương. Bên cạnh việc bầu đúng, bầu đủ theo số lượng, điểm đáng chú ý của kỳ bầu cử lần này là tỷ lệ đại biểu Quốc hội, đại biểu HÐND các cấp là người dân tộc ít người và phụ nữ trúng cử đạt cao hơn so với nhiệm kỳ trước. Chưa kể, mặt bằng về trình độ chuyên môn của người trúng cử cũng cao hơn.

Liên quan lĩnh vực tôn giáo, bằng thủ đoạn đổi trắng thay đen, FH cố tình biến việc các cơ quan chức năng của Việt Nam xử lý một số hoạt động đội lốt tôn giáo để vi phạm pháp luật, hoặc các hoạt động tôn giáo vi phạm quy định phòng, chống dịch bệnh,... thành chuyện “quyền tự do tôn giáo Việt Nam bị hạn chế và căng thẳng”. Ðó là sự bịa đặt và xuyên tạc trắng trợn. Ở Việt Nam, việc bảo đảm, thực hiện quyền tự do tôn giáo được khẳng định qua Ðiều 24 của Hiến pháp: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Ðó cũng là nguyên tắc của một xã hội văn minh: mọi công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng phải tuân thủ pháp luật. Các hoạt động tôn giáo thuần túy, chấp hành tốt các quy định của pháp luật luôn được tạo điều kiện thuận lợi để duy trì và phát triển. Và để bảo đảm mục tiêu này, việc xử lý theo pháp luật một số tổ chức đội lốt tôn giáo, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, tuyên truyền trái pháp luật, chính sách của Nhà nước, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh, thực hiện hành vi xâm phạm an ninh quốc gia,... là cần thiết.

Chính vì vậy, không có gì lạ khi những đánh giá của FH về tình hình nhân quyền tại Việt Nam đã nhanh chóng bị bác bỏ cả trên bình diện quốc tế. Trước những đánh giá vô căn cứ được FH thể hiện trong các báo cáo, GS. TSKH. Vladimir Kolotov - Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh (Saint-Peterburg - LB Nga) cho rằng: Năm nào họ cũng công bố bảng danh sách mang tính chủ quan, không có gì thay đổi, không phản ánh tình hình thực tiễn về các khía cạnh nhân quyền của các nước trên thế giới. Họ không dựa trên cơ sở thực tế. Họ tự cho mình cái quyền cáo buộc nước khác vi phạm nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng,... và dựa vào đó để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Từ các trải nghiệm của bản thân tại Việt Nam, ông Yerlan Baizhanov - Ðại sứ Kazakhstan tại Việt Nam, bình luận: Có những tổ chức nhân quyền có tư tưởng rất cứng nhắc, phiến diện. Họ bị chi phối bởi tham vọng chính trị. Họ không chú ý đến sự khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa. Khi lập báo cáo, họ thường bị yếu tố chính trị và định kiến chi phối. Chúng ta sống và làm việc không phải để làm hài lòng những tổ chức như FH, mà Nhà nước của chúng ta hoạt động để người dân có cuộc sống tốt lên trên thực tế. Ðó mới là điều quan trọng nhất.

Thực tế, nhiều năm qua, trong tiến trình nỗ lực xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Ðảng, Nhà nước Việt Nam luôn lắng nghe các ý kiến góp ý chân thành, thiện chí để điều chỉnh sao cho nhân quyền ở Việt Nam ngày càng hoàn chỉnh. Tuy nhiên, đối với những ý kiến sai trái, vô căn cứ, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam như FH đã công bố thì chỉ càng làm lộ hơn bản chất của tổ chức này, cũng như không thể nào ngăn cản được Việt Nam trên con đường tiến lên phía trước.

Đảng trong sạch, vững mạnh phải có bảo bối

 


Kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (NQTW 4) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần quan trọng tạo bước chuyển biến toàn diện đối với công tác hệ trọng bậc nhất của Đảng. Đó có thể ví như “bảo bối” để giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức và đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng như niềm tin vững bền của nhân dân với Đảng. NQTW 4 về xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ rõ: Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm, còn có biểu hiện nhẹ trên, nặng dưới. Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt chẽ. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm... Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử chưa chặt chẽ, xử lý chưa đủ nghiêm minh.

Trên cơ sở nhận diện rõ, tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, thực tiễn triển khai thực hiện Nghị quyết 5 năm qua đã minh chứng sự quyết tâm, quyết liệt của Đảng ta trong việc chấn chỉnh đội ngũ và làm cho tổ chức đảng thêm trong sạch vững mạnh. Có thể khẳng định, chưa bao giờ có số lượng lớn cán bộ bị xử lý kỷ luật như nhiệm kỳ qua. Hàng loạt cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước như bí thư, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố, thứ trưởng, bộ trưởng, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, đến Ủy viên Bộ Chính trị vi phạm nghiêm trọng kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước đã bị xử lý nghiêm minh. Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng. Cụ thể, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang (trong đó có 18 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự). Có cả những người trước kia được phong danh hiệu anh hùng, nhưng khi vi phạm vẫn bị Đảng ta xử lý nghiêm khắc, đúng như lời răn dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được nhưng vẫn còn những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho các đồng chí đó.

Không chỉ có cán bộ cấp cao đương chức, mà cả những cán bộ lãnh đạo cấp cao đã nghỉ hưu cũng bị truy tố trách nhiệm, xử lý nghiêm khắc khi vi phạm kỷ luật, nguyên tắc Đảng trong thời gian công tác. Chính bởi cách làm nghiêm minh này đã loại bỏ được “tư duy nhiệm kỳ” của một bộ phận cán bộ - một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà nghị quyết chỉ ra: Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

Trong xử lý cán bộ vi phạm, Đảng ta nhất quán và quyết liệt thực hiện phương châm không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào; càng trên cao, càng giữ trọng trách thì càng phải xử lý nghiêm để nêu gương. Kết quả đó đã góp phần dập tan dư luận, cũng như khắc phục tồn tại nhẹ trên, nặng dưới trong xử lý cán bộ vi phạm mà NQTW 4 chỉ rõ. Sự hoài nghi về “một bộ phận không nhỏ” được làm sáng tỏ, là cơ sở vững chắc để toàn Đảng, toàn dân tiếp tục quét sạch chủ nghĩa cá nhân, làm trong sạch đội ngũ, vững mạnh tổ chức.

Tại Phiên họp thứ 20 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (tháng 8/2021), các đại biểu bày tỏ sự đồng thuận rất cao, khẳng định: Công tác xây dựng Đảng và phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua tiếp tục được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả quan trọng. Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế về xây dựng Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được đẩy mạnh, góp phần tạo cơ sở chính trị - pháp lý đồng bộ, khả thi để phòng, chống tiêu cực một cách đồng bộ, hiệu quả.

NQTW 4 đã khẳng định hiệu lực, hiệu quả từ việc hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý nghiêm minh. Nhưng cần khẳng định rằng, Đảng ta không lấy kỷ luật cán bộ là mục tiêu hàng đầu, mà thông qua đó để răn đe, giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, ngăn ngừa sai phạm. Việc kết hợp giữa “xây” và “chống” trên tinh thần lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lấy “chống” là nhiệm vụ thường xuyên thông qua kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện NQTW 4 với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong 5 năm qua tạo ra những thay đổi tích cực trong toàn hệ thống chính trị. Việc xây dựng cam kết, kế hoạch rèn luyện, tu dưỡng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với trách nhiệm nêu gương được triển khai đồng bộ, sâu rộng, ngày càng trở thành việc làm chủ động, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.

Việc thực hiện NQTW 4 không chỉ giúp tầm soát, thanh lọc đội ngũ, mà còn là dấu ấn rõ nét, tạo bước đột phá về nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên, thực hành đạo đức công vụ, từng bước xóa bỏ tình trạng nhũng nhiễu, hành dân, tham nhũng vặt... Về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Cùng với phòng, chống các biểu hiện suy thoái, Đảng ta đặc biệt chú trọng công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực tiễn cho thấy, nhiều nhiệm kỳ, Đảng nhận thức rất rõ vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, nhưng vấn đề cán bộ luôn phức tạp, nhạy cảm, dễ xảy ra tiêu cực và khó phát hiện, xử lý. Công tác cán bộ vẫn là khâu yếu và luôn là một trong những vấn đề bức xúc nhất mà dư luận xã hội quan tâm. Tại nhiều hội nghị, diễn đàn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Phải coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc thường xuyên của Đảng.

Phim "Quân đội Vương Bài" bịa đặt, xuyên tạc của Trung Quốc

 


"Quân đội Vương Bài" là một bộ phim mới của Trung Quốc lấy đề tài về quân đội nước này. Chuyện sẽ chẳng có gì nếu như nội dung của nó không bị cho là đã xuyên tạc lịch sử một cách trắng trợn về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Việt Nam tháng 2 năm 1979.

Bộ phim được tung ra vào cuối tháng 9 vừa qua và lập tức đã tạo nên làn sóng phẫn nộ trong cộng đồng khán giả ở Việt Nam. Theo thông tin giới thiệu từ Baidu (một công cụ tìm kiếm của Trung Quốc, tương tự như Google), bối cảnh bộ phim này vào khoảng đầu những năm 1980, các nhân vật tham gia chiến đấu và rà phá bom mìn tại Quảng Tây - một tỉnh giáp biên giới với Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh của Việt Nam.

Trong trailer phim có phân cảnh quân đội Trung Quốc giáp lá cà với đối phương là những người "ngụy trang trong lớp lá cây, cỏ", "dùng súng tiểu liên AK" còn các diễn viên Trung Quốc mặc trang phục trùng khớp với quân phục giai đoạn nước này tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam năm 1979. Đối chiếu với lịch sử, nhiều người cho rằng bộ phim có những chi tiết liên quan đến cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Việt Nam tháng 2 năm 1979.

Thậm chí, một số blogger của Trung Quốc viết trên mạng xã hội Weibo của nước này rằng, bối cảnh bộ phim diễn ra trong thời kỳ "quân đội Việt Nam ngày càng lớn mạnh, có ý đồ với lãnh thổ Trung Quốc, phát động các cuộc xâm lấn Trung Quốc ở biên giới..." (tài khoản Yundanfengqing). Tóm lại không phải nói nhiều, đây rõ ràng là bộ phim "lèo lái" lại lịch sử, "đổi trắng thay đen" rất trắng trợn.

Chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979 đã trôi qua 42 năm. Với tinh thần yêu chuộng hòa bình, chúng ta có thể gác lại hận thù để hợp tác cùng phát triển. Thế nhưng, việc "tẩy trắng" và bịa đặt lịch sử là hành động không thể nào chấp nhận. Sự bịa đặt và bôi nhọ lịch sử đó một lần nữa khơi gợi lại đau thương, là sự xúc phạm đối với xương máu những người lính và nhân dân Việt Nam đã ngã xuống, xúc phạm cả những nạn nhân trong cuộc chiến năm xưa.

Việc cho lưu hành một bộ phim như vậy chẳng khác nào đã đi ngược lại nỗ lực của hai quốc gia trong việc "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai". Đáng nói, đây không phải là lần đầu tiên các sản phẩm phim ảnh của Trung Quốc có hành động cài cắm các nội dung sai sự thật về lịch sử và địa lý. Bản đồ "đường lưỡi bò" phi pháp rất nhiều lần đã bị khán giả Việt vạch trần và phản đối. Những nhà làm phim Trung Quốc, họ đang có ý đồ gì? Rằng một kiến thức sai lệch nếu nói đi nói lại nhiều lần sẽ nghiễm nhiên được cộng đồng chấp nhận và công nhận là đúng hay sao? Tuy nhiên, khán giả trẻ sẽ không dễ dãi, "mắt nhắm, mắt mở" mà ủng hộ những bộ phim có nội dung lệch lạc như vậy. Nhiều người đã bày tỏ ý kiến ngay trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội của Trung Quốc, kêu gọi tẩy chay bộ phim này bất chấp diễn viên là "thần tượng" của họ. Việc yêu quý một diễn viên, một bộ phim hay văn hóa Trung Quốc không đồng nghĩa với thỏa hiệp, đi ngược lại với tinh thần yêu nước, tôn trọng sự thật lịch sử, bảo vệ lẽ phải. Đó chính là ứng xử văn minh và trưởng thành của thế hệ trẻ.

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều ngày 7/10, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng cho biết, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã chú ý tới bộ phim này. Chủ trương nhất quán của Việt Nam đối với các vấn đề thuộc về lịch sử là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai; nhìn nhận lịch sử một cách đúng đắn và khách quan, có các việc làm thiết thực để tăng cường sự hiểu biết, hữu nghị giữa người dân, đóng góp cho quan hệ hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa các quốc gia trên thế giới. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng nhấn mạnh quan điểm đề nghị phía Trung Quốc thực hiện nghiêm nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước; tăng cường tuyên truyền, hữu nghị, khách quan, củng cố cơ sở xã hội, thuận lợi cho phát triển quan hệ hai nước.

Trước khi phía Trung Quốc có những hành động sửa sai, hi vọng các cơ quan chức năng như Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin và Truyền thông… cũng như đơn vị có thẩm quyền khác hành động kịp thời và cứng rắn. Đối với những hành vi vi phạm chủ quyền và bịa đặt lịch sử thì không thể nào nhân nhượng, đồng thời định hướng dư luận phản bác bịa đặt trên.