Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

XÂY DỰNG LÝ LUẬN SẮC BÉN ĐỂ ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÓ HIỆU QUẢ VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 

   Đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng của Đảng.


   1. Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những thuận lợi, thời cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước… đã xuất hiện và phát triển những quan điểm sai trái, thù địch với nhiều cấp độ, trình độ và hình thức biểu hiện từ nhiều đối tượng khác nhau.

   Những quan điểm này của các thế lực thù địch, các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn và có cả những người trong nội bộ chúng ta do trình độ lý luận, trình độ nhận thức chính trị yếu kém mà nảy sinh những quan điểm sai trái đang tấn công toàn diện, vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào những vấn đề về tư tưởng, chính trị đến các vấn đề xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh: từ những vấn đề về đối nội đến các vấn đề đối ngoại; từ những vấn đề về chủ trương, chính sách đến các vấn đề thuộc tổ chức thực hiện; từ con người đến tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng; từ quá khứ, lịch sử đến hiện tại và cả tương lai phát triển của dân tộc; từ cả những thành tựu, ưu điểm đến những hạn chế, nhược điểm, khó khăn, thách thức của chúng ta… Điều đó đã và đang gây nên nhiều nguy hại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

   Nhiều người trong số họ còn có trình độ học vấn, trình độ lý luận khá cao. Đây thực sự là một khó khăn, một thách thức đối với chúng ta trong việc làm thế nào để đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

   2. Muốn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được hệ thống lý luận thật sự sắc bén. Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải có đủ sức, đủ khả năng vạch rõ được âm mưu, thủ đoạn, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các quan điểm sai trái, thù địch, phải đấu tranh, phản bác thật sự thuyết phục.

   Nhìn nhận thực tế, lý luận đấu tranh, phản bác của chúng ta hiện còn thiếu độ sắc bén, tính thuyết phục còn nhiều hạn chế. Nhiều bài viết đấu tranh mới chủ yếu nhấn mạnh tính chất phản động, chống Đảng, chống chế độ mà chưa vạch rõ được tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch. Ở không ít bài, việc luận giải tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch còn có biểu hiện “gượng ép”, phê phán, phản bác lấy được, theo kiểu “hàng tôm hàng cá”. Một số công trình khoa học, tác phẩm, bài viết đấu tranh còn thoát ly, xa rời thực tiễn xã hội và thực tế đấu tranh; đưa ra quan điểm ở dạng mô phỏng, minh họa đường lối, quan điểm của Đảng, thậm chí mô phỏng còn hời hợt, nông cạn và cả lệch lạc, chưa cắt nghĩa được đủ độ sâu các vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Không ít công trình nghiên cứu sử dụng các luận điểm kinh điển chỉ để minh họa mà không phân tích sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện tượng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xơ cứng, thiếu tính sáng tạo, sống động, nên đấu tranh, phản bác kém hiệu quả.

   3. Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một vấn đề tất yếu, cấp thiết và đặc biệt quan trọng hiện nay. Đó không phải là hoạt động tức thì mà là một quá trình: xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác gắn chặt với quá trình đấu tranh, gắn với thực tiễn đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác cũng đồng thời phải là quá trình vận dụng, đưa lý luận vào thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận chặt chẽ, đảm bảo cho nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

   Trong quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính. Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Đồng thời, cần phải thực hiện hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện; trong đó, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm sau:

   Trước hết, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Yêu cầu cơ bản là phải nắm chắc hơn, sâu sắc hơn những nguyên lý lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn đấu tranh, phản bác. Trong đó, cần làm rõ những giá trị bền vững; những luận điểm lý luận đã bị lịch sử vượt qua, hoặc từng bị hiểu sai; những luận điểm lý luận không còn phù hợp với thực tế hiện nay trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

   Thời gian qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác lý luận, việc tổ chức, triển khai nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn trong thời kỳ đổi mới đã có những bước phát triển, “góp phần quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng cũng đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém, bất cập của công tác lý luận nói chung; trong đó, có công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Hệ thống, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị còn nhiều bất hợp lý. Phương pháp giảng dạy, học tập lý luận chính trị còn lạc hậu”. Biểu hiện cụ thể là chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của cách mạng; chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là một số vấn đề về đảng cầm quyền, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Nhìn chung, lý luận còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn.

   Những hạn chế đó đã được lý giải là do công cuộc đổi mới đất nước càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều vấn đề mới, phức tạp, rất “hóc búa” về lý luận và thực tiễn, không có sẵn trong hệ thống kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin; tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chúng ta có nhiều thuận lợi song phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức… Song, có lẽ là do chúng ta chưa thực sự coi trọng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; ở nhiều nơi, công tác nghiên cứu lý luận còn hình thức, hời hợt, sao chép, thiếu tính chiến lược; tổng kết thực tiễn qua loa, chiếu lệ.

   Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, chúng ta cần thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương pháp thực sự khoa học. Nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ thực tiễn của đời sống xã hội phong phú, sinh động, không ngừng biến động và để phát triển lý luận. Đồng thời, cần quan tâm nghiên cứu các trào lưu tư tưởng, các lý thuyết mới trên quan điểm khách quan biện chứng và tiếp thu những giá trị tiến bộ.

   Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trong sự vận động của thế giới đương đại với nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Nhiều vấn đề thực tiễn bức thiết đòi hỏi phải được làm sáng tỏ; nhiều vấn đề lý luận cần được bổ sung, phát triển và hoàn thiện đặt ra yêu cầu phải thực hiện tốt công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với phương pháp thực sự khoa học. Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi các chủ thể nghiên cứu vừa phải đứng vững trên lập trường cách mạng, lập trường của giai cấp công nhân vừa phải thực hiện việc nghiên cứu với một tinh thần và phương pháp khoa học nghiêm túc, đúng đắn. Phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn; lấy thực tiễn làm điểm xuất phát và điểm đến của nghiên cứu lý luận; nghiên cứu lý luận, vận dụng và phát triển lý luận phải dựa chắc trên cơ sở hiện thực. Kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện của bệnh chủ quan duy ý chí, cực đoan, phiến diện, bảo thủ, trì trệ, hời hợt, đại khái trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.

   Thứ hai, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao là cốt “vật chất” và là yêu cầu cơ bản trong xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. Nhìn chung, hiện nay chúng ta đã có được đội ngũ cán bộ lý luận có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, được đào tạo về chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp. Tuy nhiên, có một thực tế là: đội ngũ cán bộ lý luận còn nhiều hạn chế, bất cập, hẫng hụt, số cán bộ trẻ chưa thay thế được cán bộ nhiều tuổi; số cán bộ có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, học hàm phó giáo sư, giáo sư tăng lên, nhưng chất lượng khoa học chưa tăng nhiều, trình độ lý luận chưa thể nói là đã cao. Không ít cán bộ lý luận có học hàm, học vị, nhưng chưa tương xứng với học hàm, học vị đó, rất khó khăn khi viết một bài đấu tranh lý luận.

   Trong khi đó, sự hiểu biết về lý luận của nhiều cán bộ, đảng viên, của không ít cán bộ nghiên cứu lý luận còn hạn chế; nhiều ấn phẩm, công trình của các nhà nghiên cứu khoa học, của giới lý luận không rõ cái mới, thiếu những điểm nhấn thể hiện tính sáng tạo, còn nặng về “tổ hợp” những vấn đề lý luận đã được nói nhiều, thiếu thực tiễn nên sức thuyết phục và giá trị chưa cao. Việc bố trí đội ngũ cán bộ lý luận còn nhiều bất cập, số giảng viên lý luận chính trị có học hàm, học vị tập trung chủ yếu ở các học viện, viện nghiên cứu, các trường đại học lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ở một số trường, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị mỏng và hạn chế về trình độ lý luận; việc bổ sung lực lượng rất khó khăn.

   Thực tế cho thấy, chỉ khi có được đội ngũ cán bộ lý luận vững mạnh cả về phẩm chất chính trị, cả về trình độ lý luận, thực sự xứng tầm thì công tác nghiên cứu lý luận và đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch mới có sự “đột phá” mạnh mẽ. Vấn đề cấp thiết là phải chú trọng xây dựng, bồi dưỡng những cán bộ nghiên cứu lý luận giỏi, có trình độ cao; nâng cao tinh thần trách nhiệm và tạo điều kiện để đội ngũ này tự học, tự bồi dưỡng lý luận, gắn nghiên cứu lý luận với thực tiễn, để có thể tạo ra được đội ngũ cán bộ lý luận xứng tầm.

   Đảng ta xác định: “Đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là những chuyên gia đầu ngành”.

   Theo đó, mỗi cơ quan khoa học, cơ sở nghiên cứu cần chủ động hơn trong việc xây dựng, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu lý luận; khắc phục tình trạng thụ động, ngồi chờ theo kiểu “ăn sẵn”, thiếu sự đầu tư thỏa đáng. Bồi dưỡng toàn diện, đặc biệt chú ý bồi dưỡng cho cán bộ lý luận trình độ, khả năng nắm chắc “ta” và “địch”; phải nắm chắc các quan điểm sai trái, thù địch - đối tượng đấu tranh trực tiếp. Trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, mỗi bài viết cần có nội dung đấu tranh cụ thể, dùng đủ lý luận, luận cứ và đúng bút pháp đấu tranh để “đánh đúng” và “đánh trúng” vấn đề; để phản bác, phê phán một cách có hiệu quả, làm suy giảm và mất hiệu lực, làm giảm ảnh hưởng và tác động xấu của quan điểm sai trái, thù địch.

   Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận phương pháp khoa học trong nghiên cứu lý luận chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn. Tăng cường đưa các nhà khoa học, lý luận ra nước ngoài học tập, bồi dưỡng, tham gia các hội thảo quốc tế, trao đổi chuyên gia, học thuật, tiếp cận thông tin, hợp tác nghiên cứu với các cơ quan khoa học nước ngoài; trong đó, cần chuẩn bị tốt về nhận thức chính trị, chuyên môn, phong cách, ngoại ngữ cho cán bộ lý luận trong hợp tác quốc tế về lý luận.

   Thứ ba, xây dựng các cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh. Xây dựng cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh có nhiều việc phải làm, song quan trọng là phải giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa cơ quan nghiên cứu lý luận với đội ngũ cán bộ lý luận. Có cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh mới có cán bộ lý luận mạnh; cán bộ lý luận mạnh lại là “cốt vật chất” bảo đảm cho cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh. Không thể có cơ quan nghiên cứu lý luận mạnh, nếu không có được đội ngũ cán bộ lý luận mạnh; đội ngũ cán bộ lý luận mạnh chỉ có thể phát huy tốt sức mạnh và trình độ lý luận của mình trong một môi trường làm việc thuận lợi của cơ quan nghiên cứu lý luận thực sự vững mạnh.

   Trong tình hình hiện nay, cần kiện toàn hệ thống các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; nghiên cứu rà soát, sắp xếp các cơ quan khoa học (các học viện, viện nghiên cứu, trường đại học...) theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đảm bảo phù hợp, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chú ý đặc thù khoa học của từng cơ quan.

   Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động lý luận, thực hiện tốt dân chủ trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học chính trị, trong công tác lý luận; tiếp tục “đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng”. Xây dựng cơ chế gắn kết giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, giữa công tác nghiên cứu lý luận và công tác đào tạo, giảng dạy lý luận, giữa cán bộ lý luận và cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn; phối hợp giữa các cơ quan lý luận với nhau; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan chỉ đạo đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; giữa các cơ quan lý luận với các cơ quan tư vấn, hoạch định chính sách, cơ quan tham mưu, cơ quan chỉ đạo thực tiễn./.

Cán bộ, đảng viên làm điểm tựa vững chắc cho nhân dân trong lúc khó khăn, dịch bệnh

 

     

   Trước đây, trong xã hội nông nghiệp cổ truyền và cộng đồng làng xã, con người ít dịch chuyển, giao lưu và thường sống trong một phạm vi nhỏ hẹp, thì ngày nay, trong thế giới hội nhập và xã hội thông tin, khoảng cách con người hầu như không có giới hạn. Toàn cầu hóa đã mang đến nhiều điều kiện sống thuận lợi, văn minh cho nhân loại, nhưng cũng kéo theo nhiều hệ lụy không thể xem thường, nhất là vấn nạn dịch bệnh, sự cố xã hội xảy ra ngoài mong muốn của con người. Trước những tình huống đó đòi hỏi mọi người dân, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải hết sức bình tĩnh, giữ gìn thái độ tỉnh táo, đề cao trách nhiệm và nâng tầm bản lĩnh ứng phó trước các sự cố phát sinh trong đời sống xã hội.

   Sống trong thể chế xã hội nào cũng vậy, đội ngũ quan chức, công chức nhà nước phải luôn lấy kỷ cương phép nước làm trọng, thượng tôn pháp luật, ứng xử đúng mực, công tâm trước các sự cố, biến cố, thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Được nhân dân ủy thác quyền lực nhà nước để quản lý, điều hành mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên ở nước ta cũng không đứng ngoài thông lệ đó. Khi xã hội, đất nước phải đối mặt với những tình huống, sự cố ngoài ý muốn xảy ra đối với cộng đồng, không chỉ lãnh đạo cấp cao, mà mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trên từng cương vị, chức trách cũng phải nhận thức thấu đáo bổn phận “công bộc”, “đầy tớ” trung thành của nhân dân và đề cao trách nhiệm chính trị để làm điểm tựa vững vàng, chắc chắn cho đồng bào, chiến sĩ trong những lúc khó khăn, hoạn nạn.

   Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Cán bộ, đảng viên cần bày tỏ thái độ bình tĩnh, ý chí kiên định, không hề nao núng, dao động trước những tình huống phức tạp, sự cố phát sinh như dịch bệnh, thiên tai… không may xảy ra trong xã hội; đồng thời chung tay, góp sức để cùng cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp kiên quyết đẩy lùi nguy cơ, giảm thiểu thiệt hại, góp phần ổn định tình hình theo chiều hướng tích cực. Đó vừa là bổn phận, trách nhiệm công dân, vừa là đạo đức, lương tâm của người cộng sản./.

Tung tin thất thiệt, gây nhiễu dư luận, làm hoang mang cộng đồng

 

      Trong khi toàn xã hội đang dốc lòng, chung sức phòng, chống dịch COVID-19 gây ra, thì vẫn có một số người, trong đó có cả đảng viên, công chức, viên chức sử dụng mạng xã hội đưa những thông tin trái chiều, thật-giả lẫn lộn, gây nhiễu dư luận, thậm chí có những phản ứng không đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ. Chẳng hạn, có ý kiến nóng vội phê phán việc chậm ra quyết định cho học sinh nghỉ học; nhưng sau khi có ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, nhiều địa phương quyết định cho học sinh nghỉ học ở trường, thì có người lại đưa ra ý kiến cực đoan là để học sinh nghỉ ở nhà làm xáo trộn cuộc sống gia đình, vì cha mẹ đi làm thì không ai trông nom con cái (!).

   Sau khi báo chí phê phán nhiều cơ sở kinh doanh bất chấp đạo lý, pháp luật, tự ý đội giá bán khẩu trang y tế gấp nhiều lần nên đã bị lực lượng chức năng xử phạt hành chính, thế là một số người lại sử dụng mạng xã hội “kêu gọi” đóng cửa hàng, không nhập và bán khẩu trang y tế nữa. Đấy là chưa kể, có một số tung tin thất thiệt về nơi này có dịch, nơi kia có người mắc bệnh, nơi khác sắp có người tử vong do dịch bệnh… Những thông tin cẩu thả, võ đoán đó không những làm hoang mang dư luận, mà còn gây khó cho các cơ quan chức năng trong thực thi công vụ, giải quyết công việc chuyên môn.

   Không chỉ bày tỏ thái độ bàng quan, thiếu trách nhiệm trong thời điểm xảy ra dịch bệnh hiện nay, mà trước đó, vào những lúc xã hội xảy ra những vụ việc “nóng” liên quan đến giải phóng đất đai, thực hiện chính sách đền bù cho người dân như ở Thủ Thiêm, Đồng Tâm… hay một vài “sự cố” liên quan đến an ninh trật tự xã hội ở Bình Dương, Bình Thuận…, một số cán bộ, đảng viên, văn nghệ sĩ, trí thức, nhà báo đã đưa ra những thông tin chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội không có lợi cho sự nghiệp chung, thậm chí đưa ra những ý kiến phản biện theo lối quy chụp, đổ lỗi cho chính quyền, cố ý lèo lái dư luận nghĩ theo hướng khác. Hành vi này vô hình trung tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị có thêm nguồn tin sai lệch để ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

   Trong kỷ nguyên công nghệ số lên ngôi, khi mạng xã hội trở thành “diễn đàn tự do” toàn cầu thì không ít người tự cho mình cái quyền ảo tưởng là “nhà báo công dân”, “diễn giả”, “nhà bình luận”, thậm chí cả cái gọi là “nhà đấu tranh dân chủ”, “nhà hoạt động vì nhân quyền”... Nếu lợi dụng tự do ngôn luận để gặp đâu nói đấy, nói cho hả dạ, nói cho sướng mồm, nói để câu view, câu lile nhằm mục đích nhiều người biết đến để bán hàng online, hoặc muốn “nổi tiếng” theo kiểu “đốt đền” thì tự mình gánh chịu hậu quả. Thực tế cho thấy, thời gian qua có một số sự cố phát sinh, dịch bệnh, điểm nóng xảy ra trong đời sống xã hội, một số người hoặc là do thiếu thông tin, hoặc do ý đồ thiếu lành mạnh đã có những lời nói, phát ngôn, bình luận, chia sẻ sai trái, lệch lạc, thất thiệt trên mạng xã hội, vì thế đã bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính, thậm chí bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự theo luật định./.

     

Giữ vững tâm thế, bản lĩnh ứng phó trước các sự cố phát sinh trong xã hội

             Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Cán bộ, đảng viên cần bày tỏ thái độ bình tĩnh, ý chí kiên định, không nao núng, dao động trước những tình huống phức tạp, sự cố phát sinh như dịch bệnh, thiên tai… không may xảy ra trong xã hội; đồng thời chung tay góp sức để cùng cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp kiên quyết đẩy lùi nguy cơ, giảm thiểu thiệt hại, góp phần ổn định tình hình theo chiều hướng tích cực.

        Hiếm thời nào mà con người lại có điều kiện hưởng thụ cuộc sống tiện ích, sung sướng như thời nay. Nhưng cũng hiếm thời nào mà con người cũng phải đương đầu, đối phó với nhiều vấn đề xã hội như thời nay. Đó là vấn nạn ô nhiễm môi trường và nguy cơ biến đổi khí hậu; tin tức giả, tin đồn tràn lan trên mạng xã hội; nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm mới phát sinh… Trong đó, đáng quan ngại hơn là nguy cơ bệnh dịch lan truyền một cách nhanh chóng, rộng rãi, làm ảnh hưởng, đảo lộn sinh hoạt, cuộc sống, lao động sản xuất của người dân nhiều quốc gia trên thế giới. Những năm qua, nhiều loại dịch bệnh, như: Sars, cúm gà, dịch tả lợn châu Phi… và những năm gần đây là dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (COVID-19) gây ra đang hoành hành tại Trung Quốc và lây lan ra toan thế giới, trong đó có Việt Nam.

       Chấp hành, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương đã và đang tập trung sức lực, thực hiện các biện pháp đồng bộ, ráo riết, quyết liệt nhằm phòng, chống dịch bệnh này hiệu quả nhất, góp phần bảo đảm ổn định cuộc sống, lao động sản xuất của nhân dân và giữ vững an ninh chính trị, an toàn xã hội. Nhiều cán bộ lãnh đạo đã không ngại đường sá xa xôi đích thân đến thị sát ở những cửa khẩu, địa bàn có nguy cơ cao về phát sinh dịch bệnh; trực tiếp chỉ đạo các lực lượng chức năng, chuyên ngành làm tốt công tác vận động, tuyên truyền, khuyến nghị, khuyến cáo các tầng lớp nhân dân nâng cao ý thức, nhận thức, trách nhiệm trong việc phòng dịch, thực hiện nếp sống vệ sinh, văn minh, khoa học. Nhiều cán bộ, đảng viên ở cơ sở đã có những việc làm thiết thực như hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp phòng dịch tại nơi cư trú, nơi làm việc; phát miễn phí khẩu trang y tế phòng, chống lây nhiễm; chia sẻ, lan tỏa thông tin tích cực trên mạng xã hội để giúp người dân đề cao trách nhiệm trong công tác phòng dịch…Không ai mong muốn dịch bệnh phát sinh, lây lan trong cộng đồng. Nhưng chúng ta cũng khó có thể giải quyết tận gốc vấn đề dịch bệnh, mà phải tìm mọi cách để phòng, chống, giảm tối đa thiệt hại mà nó gây ra. Tiên lượng trước những diễn biến phức tạp khôn lường của dịch nCoV từ Vũ Hán (Trung Quốc) ảnh hưởng đến nước ta, cả thời điểm trước, trong và sau khi dịch bệnh bùng phát trở lại, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các chỉ thị chỉ đạo, yêu cầu các cấp, các ngành và toàn xã hội phải nỗ lực bằng mọi giá để phòng, chống dịch bệnh nguy hiểm này, coi việc phòng, chống dịch có tính cấp bách, khẩn trương, quyết liệt như phòng, chống giặc./.

PHẢI THƯỜNG XUYÊN NÊU CAO Ý THỨC RÈN LUYỆN, TU DƯỠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN

 

       Trong bối cảnh hiện nay, có rất nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng đến bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đáng chú ý là từ mặt trái của cơ chế thị trường, tác động xấu từ các quan điểm sai trái, từ sự kích động, lôi kéo, móc nối của các thế lực thù địch. Đúng như nhận định của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII: “Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ xúy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa”. Đồng thời, chúng còn “cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn”. Đặc biệt, chúng tìm mọi phương kế tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; gieo rắc vào cán bộ, đảng viên tư tưởng hoài nghi về mục tiêu lý tưởng, con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

   Bài học đắt giá rút ra từ thực trạng như đã nêu trên là mọi cán bộ, đảng viên dù đảm nhiệm công việc gì, trên cương vị nào, trọng trách gì cũng phải thường xuyên nêu cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng. Chỉ có thông qua tự rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu mỗi cán bộ, đảng viên mới không ngừng bồi đắp nâng cao bản lĩnh chính trị, tăng cường “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” cho bản thân trước mọi tác động tiêu cực từ bên ngoài.

   Để không thoái hóa, biến chất, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính trị thật sự kiên định, vững vàng. Dưới góc nhìn chính trị tư tưởng, sự vững vàng về bản lĩnh, ý chí, niềm tin có vai trò rất quan trọng quyết định “sức đề kháng”, khả năng “miễn dịch” của mỗi cán bộ, đảng viên. Bản lĩnh chính trị vững vàng là một phẩm chất quyết định sự sống còn và thành công của mỗi cán bộ, đảng viên cũng như của toàn Đảng. Bản lĩnh chính trị không phải tự nhiên mà có, không phải có được trong một sớm một chiều, mà đó là sản phẩm của quá trình giáo dục, bồi dưỡng, học tập, nghiên cứu, rèn luyện thường xuyên, kiên trì và bền bỉ. Những tác động xấu từ mặt trái của xã hội, từ các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng là không hề nhỏ. Hằng ngày, hằng giờ những tư tưởng, quan điểm sai trái, những yếu tố tiêu cực len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, tác động đến mọi đối tượng. Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến bản lĩnh chính trị đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ta phải có những giải pháp đồng bộ, thống nhất và quyết liệt.

   Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu đó là phải coi trọng đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài nhằm củng cố và tăng cường bản lĩnh chính trị trong Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, củng cố niềm tin khoa học, tạo sự thống nhất cao cả về ý chí và hành động trong toàn Đảng để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của đất nước trong từng giai đoạn. Quan trọng là vậy nhưng trên thực tế thời gian qua không ít cấp ủy, cán bộ lãnh đạo các cấp nhận thức chưa đúng, chưa thống nhất, nên chưa thấy hết trách nhiệm của mình với công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Do đó, muốn đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng thì trước tiên phải đổi mới nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về vai trò, vị trí của công tác này. Trên cơ sở thống nhất nhận thức, mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên cần xác định đây là trách nhiệm chính trị của mình.

   Mặt khác, việc tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng, duy trì chế độ học tập, sinh hoạt chính trị ở không ít địa phương, cơ sở lâu nay vẫn nặng về hình thức. Vấn đề đặt ra đối với mỗi tổ chức Đảng hiện nay là phải đổi mới mạnh mẽ về phương pháp tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng theo hướng phù hợp với từng đối tượng, phù hợp môi trường, điều kiện công tác của cán bộ, đảng viên, có chiều sâu, khoa học và hiệu quả thiết thực. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác tuyên truyền phải tập trung làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp hiểu rõ bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta.

   Hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng được thể hiện tập trung ở chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Đảng phải tập trung cao độ vào xây dựng ý thức, niềm tin và cổ vũ, khích lệ ý chí, quyết tâm của cán bộ, đảng viên và nhân dân để đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống. Hiệu quả thực hiện nghị quyết của Đảng trên thực tế đó chính là thước đo bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn Đảng. Cơ sở nền tảng cho sự vững vàng bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên là sự kết hợp giữa trình độ lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ với kinh nghiệm rút ra từ hoạt động thực tiễn. Để có bản lĩnh chính trị thực sự vững vàng, từng cán bộ, đảng viên vừa phải tích cực học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, vừa phải lăn lộn vào phong trào hành động cách mạng để thử lửa, tôi luyện, tu dưỡng, phấn đấu. Không chỉ có khả năng và “sức đề kháng” tốt, trên cơ sở bản lĩnh chính trị vững vàng, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải chủ động, tích cực tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới./.

BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ PHẢI THỰC SỰ VỮNG VÀNG

 

   Thực tế đã chứng minh bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của mỗi Đảng nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng.

      Theo Đại Từ điển tiếng Việt, bản lĩnh là khả năng và ý chí kiên định của con người trước mọi hoàn cảnh. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị là tố chất không thể thiếu, mang tính quyết định tạo nên sự kiên định, khả năng độc lập, tự chủ trong hành động.

   Bản lĩnh chính trị của người cán bộ, đảng viên được cấu thành và chịu tác động bởi nhiều yếu tố, như: trình độ lý luận chính trị; quan điểm, lập trường chính trị; phẩm chất chính trị; năng lực chính trị; dũng khí chính trị… Bởi vậy, để bản lĩnh chính trị thực sự vững vàng, đạt đến trình độ cao, có khả năng tự quyết định một cách độc lập, sáng tạo, làm chủ hành vi chính trị của bản thân, người cán bộ, đảng viên phải trải qua quá trình rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu thường xuyên, kiên trì và bền bỉ.

   Trước những bước ngoặt hay những tình huống nhạy cảm, phức tạp về chính trị, cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng sẽ không nao núng, không chao đảo, ngả nghiêng mà luôn giữ vững lập trường, làm chủ tư duy của bản thân, có những quyết định chính xác để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ được giao. Thực tế đã chứng minh bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của mỗi Đảng nói chung và Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Ý thức rõ về điều đó nên trong nhiều văn kiện, đặc biệt Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ: “Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; không dao động trước bất kỳ tình huống nào”.

   Thực tiễn đã khẳng định, trong suốt hành trình hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định đưa đất nước ta, nhân dân ta tiến lên giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích lịch sử trong thế kỷ XX và 20 năm đầu thế kỷ XXI. 

   Trước những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, mở cửa hội nhập và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, về cơ bản toàn Đảng, toàn dân ta có sức “đề kháng” tốt, bản lĩnh chính trị luôn vững vàng, nhận thức đúng về bản chất cách mạng, khoa học và kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tích cực, chủ động tham gia vào cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, làm thất mọi bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” hòng chống phá cách mạng Việt Nam.

   Tuy nhiên, chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta vấp phải không ít hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là trong công tác xây dựng Đảng… Trước những tác động tiêu cực, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã nao núng, chao đảo, ngả nghiêng, thậm chí thay đổi hẳn về quan điểm, tư tưởng lập trường. Do không làm chủ bản thân nên không ít cán bộ, đảng viên đã có những quyết định, hành động sai trái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

   Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Đảng ta đã thi hành kỷ luật hơn 100 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Số ít cán bộ, đảng viên, trong đó có người từng giữ những chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước, một thời được trọng dụng nay “trở cờ” quay lưng với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.

   Điển hình phải nhắc tới là trường hợp Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cống. Khi còn công tác vị giáo sư này luôn phấn đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng và trở thành Nhà giáo Nhân dân, một chuyên gia đầu ngành đóng góp nhiều công sức cho công tác nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực xây dựng. Nhưng do bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng mà sau khi nghỉ hưu, thay vì đóng góp một phần nào công sức, trí tuệ vào sự nghiệp giáo dục - đào tạo, là tấm gương sáng để con cháu noi theo, chỉ vì những ích kỷ cá nhân, lại thêm bị kẻ xấu kích động, lôi kéo, ông đã lên mạng xã hội tuyên bố rời bỏ Đảng, sau nữa là liên tục viết bài tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước… Tương tự là trường hợp ông Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ. Sau khi nghỉ hưu, ông Chu Hảo chuyển sang công tác ở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam với cương vị là Tổng Biên tập, Giám đốc Nhà xuất bản Tri thức. Là một đảng viên lâu năm, gia đình có truyền thống cách mạng, từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước nhưng ông Chu Hảo đã có những vi phạm rất nghiêm trọng. Ngoài cho xuất bản 5 cuốn sách có nội dung sai phạm về chính trị tư tưởng, trái quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng, cơ quan chức năng đã thẩm định, kết luận và xử lý cấm phát hành, qua báo chí, mạng xã hội và thực tiễn ông Chu Hảo còn nói, viết và làm trái với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước.v.v.

   Tuy tính chất, mức độ ở từng vụ việc, ở từng đối tượng khác nhau nhưng nguyên nhân cơ bản, chủ quan, lớn nhất khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là do bản lĩnh chính trị không vững vàng. Bản thân từng đồng chí thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên đã dẫn đến nói, viết và làm trái quan điểm, đường lối của Đảng. Đứng trước các vấn đề, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp trong đời sống xã hội, họ đã thiếu kiên định, thiếu sáng suốt, lựa chọn sai đường hướng, phương pháp tư duy dẫn tới sai lầm trong hành động và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hay nói một cách khác, thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả tất yếu của bản lĩnh chính trị không vững vàng. Vấn đề này cũng đã được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra là: “Do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài;…” .

ĐỪNG BIẾN MÌNH THÀNH THỨ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ!

Mấy năm gần đây lợi dụng chính sách của Đảng và Nhà nước với việc hòa hợp dân tộc, một số kẻ cơ hội nhân danh là nhà KH, giáo sư TS, nhà nghiên cứu lịch sử đã lợi dụng việc này để công khai thay đổi bản chất lịch sử của 2 cuộc kháng chiến chống đế quốc và thực dân xâm lược. Họ đưa ra nhiều lý lẽ như phải công nhận VNCH là một quốc gia để khẳng định tính pháp lý liên tục thì mới có cơ hội đòi lại quần đảo Hoàng Sa. Rồi thì bỏ cụm từ "ngụy quân, ngụy quyền" để tránh miệt thị đối với "phía bên kia" v.v...Mặc dù những việc làm này đã vấp phải sự phản ứng dữ dội từ phía nhân dân, trong đó có các CCB và một số tướng lĩnh trong quân đội. Song thực tế với vỏ bọc kín kẽ bên ngoài của họ, một số địa phương, đơn vị, nhà xuất bản đã dễ dãi trở thành công cụ tuyên truyền cho những luận điệu sai trái của họ. Coi những điều họ làm là thiết thực, đúng đắn, mà bỏ qua những giá trị truyền thống tốt đẹp "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của dân tộc ta. 

Điển hình như cái gọi là "hải chiến Hoàng Sa" năm 1974 đã được báo chí, truyền thông nhà nước lăng xê rầm rộ. Một số nơi còn dựng bia tưởng niệm đánh đồng trong cái gọi là nghĩa sĩ Hoàng Sa, đau lòng hơn nữa một số tướng lĩnh, cán bộ cao cấp có tư tưởng, quan điểm chính trị lệch lạc cũng ra sức cổ súy và hùng hồn tuyên bố cần phải tôn vinh số lính ngụy chết trong trận chiến này . 

Mới đây nhất là tờ báo CAĐN - một tờ báo chính thống đại diện cho lực lượng vũ trang nhân dân thành phố ĐN, một trong số những thanh bảo kiếm sắc bén của Đảng, lá chắn thép vững vàng trong phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc - không hiểu vì sao cũng hùa theo viết bài PR cho việc này, trong khi vấn đề này vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi và đi ngược lại hoàn toàn mong muốn của đại bộ phận người dân trong nước. Đây là một việc làm hết sức tùy tiện thể hiện sự yếu kém về tư tưởng, đạo đức chính trị của đội ngũ những người làm báo trong tòa soạn này và cho thấy sự nhìn nhận lệch lạc về lịch sử của họ là rất rõ nét. Phải chăng, họ không định nghĩa được thế nào là lòng dân, ý Đảng để rồi quên đi 6 điều mà Bác Hồ đã dạy CAND. "Làm công an không phải làm quan cách mạng” mà là làm đầy tớ cho nhân dân, phục vụ nhân dân. Không được làm những việc trái với lợi ích của nhân dân, trái với đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Việc gì có lợi cho Đảng, Nhà nước và nhân dân thì làm, việc gì sai trái làm hại Tổ quốc, ảnh hưởng đến Đảng, lợi ích của nhân dân thì phải hết sức tránh. 

Điều mà người ta vẫn luôn luôn thấy ở những người chiến sĩ CAND là dũng khí đấu tranh bảo vệ chân lý, kỷ cương phép nước; lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và với nhân dân giờ đây dường như không còn nữa đối với tập thể tờ báo này. Thay vào đó là sự đồng lõa, cổ xúy cho những điều giả dối; sai trái, mù quáng trong nhận thức chính trị của những kẻ cơ hội. Đáng nhẽ, thay vì tìm hiểu những trăn trở, bức xúc, nguyện vọng của nhân dân, từng bước giúp họ đấu tranh với những quan điểm sai trái, vạch mặt những phần thử cơ hội trong bộ máy nhà nước, thì họ lại sẵn sàng bầy đàn, tiếp tay thỏa hiệp với chúng khi viết bài lên tiếng ủng hộ cuốn sách lịch sử méo mó này. 

Cần phải thấy rõ rằng sự kiện Hoàng Sa năm 1974 đơn giản chỉ là một vở kịch được người Mỹ dàn dựng hòng qua mặt đứa con rơi VNCH. Nó chẳng có tí gì để khẳng định đó là một cuộc chiến đúng nghĩa. Bởi chẳng đâu xa, hãy nhìn quân đội nhân dân Việt Nam vào năm 1988, lúc bấy giờ mặc dù chúng ta đang gặp muôn vàn khó khăn, song vẫn kiên quyết giữ bằng được chủ quyền quần đảo Trường Sa, kể cả việc phải lao tàu lên đảo dưới cơn mưa đạn của kẻ thù. Trong khi ngay năm 1974, phía ngụy quyền Sài Gòn với quân lực hạng tư thế giới lại để mất hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa một cách dễ dàng, chóng vánh. Quân lính thì bắn lẫn nhau, rồi quay đầu bỏ chạy, số còn lại vội vã ra hàng. Chính ngay người Mỹ khi giải mật tài liệu mà CIA cung cấp cũng khẳng định rằng "các lực lượng hải và không quân của Sài Gòn đã được lệnh rút ra khỏi vùng này, và phía Nam Việt Nam đã bỏ lại quân đội trên đảo".  

Đến đây xin hỏi các vị tòa soạn báo CAĐN: cái gọi là "hải chiến Hoàng Sa" kia có thực đáng được ai đó tôn trọng để rồi viết thành sách và tung hô ầm ỹ như vậy không? Cái chết của 74 tên lính ngụy kia có đáng được tôn vinh như những liệt sĩ đã hy sinh xương máu để bảo vệ quần đảo Trường Sa không? Nhố nhăng vốn dĩ là bản chất của những kẻ cơ hội chính trị. Ở đây là những kẻ đang núp dưới cái vỏ bọc mỹ miều: nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, thậm chí có cả những cán bộ lãnh đạo cấp cao và tướng lĩnh Quân đội. Nhưng rất tiếc, họ không thể qua mắt được quần chúng nhân dân, những người đang ngày đêm chung sức đồng lòng giữ gìn cơ đồ cha ông để lại; những người sẵn sàng nhổ toẹt vào những hành động bẩn thỉu đó. Chỉ tiếc rằng, một tờ báo của lực lượng CAND vì thiếu tự chủ và mất phương hướng để rồi có những hành động lệch chuẩn gián tiếp tiếp tay cho các thế lực thù địch, tạo cơ hội cho chúng thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, lật đổ chế độ.


Lời kết: 

Hãy luôn nhớ lời Bác dạy: "Làm công an không phải làm quan cách mạng". Thế nên, đừng biến mình thành kẻ cơ hội chính trị bởi một điều dễ nhận thấy rằng cơ hội và phản bội là rất gần nhau.

Yêu nước ST.

ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN THÔNG TIN XẤU, ĐỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, lợi dụng mạng xã hội đang gia tăng các hoạt động chống phá trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội để xuyên tạc, bịa đặt, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, biểu tình chống phá sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.

     Để công tác công tác đấu tranh, ngăn chặn thông tin xấu, độc ngày càng có hiệu quả trong thời gian tới, chúng ta cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

     Một là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao tinh thần cảnh giác trước các thông tin xuyên tạc, bôi nhọ, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Phải luôn chủ động nâng cao kiến thức xã hội về mọi mặt, nhằm xây dựng cho mình nhận thức chính trị đúng đắn để xem xét, tiếp cận thông tin một cách khách quan, đầy đủ, chính xác từ những nguồn thông tin chính thống, tránh tiếp cận thông tin phiến diện, một chiều. Cảnh giác trước các nguồn thông tin sai trái, thù địch, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

     Hai là, mỗi cán bộ, công chức, đảng viên khi tham gia mạng xã hội cần biến trang mạng xã hội của mình thành một kênh thông tin, tuyên truyền thường xuyên, chính thống về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Cùng với đó phải tố giác và sẵn sàng tham gia đấu tranh ngăn chặn kẻ xấu kích động việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, kịp thời thông báo cho các cơ quan chức năng để xử lý.

     Ba là,  đẩy mạnh tuyên truyền đội ngũ cán bộ, đảng viên chia sẻ những thông tin chính thống để cùng tuyên truyền vận động cộng đồng hiểu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; bên cạnh đó cần định hướng những trang thông tin, những tài khoản facebook chính thống để cán bộ, đảng viên theo dõi, cập nhật thông tin.

     Bốn là, thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng kịp thời dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên; lắng nghe ý kiến phản ánh, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng Nhân dân địa phương, thường xuyên tổ chức sinh hoạt nhằm kịp thời trao đổi, làm rõ, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn từ những thông tin xấu xa, độc hại, ác ý của các thế lực thù địch, phản động.

Cuộc đấu tranh rông rãi của cả hệ thống chính trị sẽ góp phần lan toả những thông tin tích cực, định hướng dư luận xã hội, đấu tranh, phản bác tin giả, tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội, góp phần làm thất bại các âm mưu, hoạt động phản động của các thế lực thù địch ./.

NÂNG CAO VAI TRÒ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Lợi dụng môi trường thông tin trên không gian mạng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Triển khai các hình thức đấu tranh trên không gian mạng và duy trì hoạt động thường xuyên, có hiệu quả góp phần đấu tranh phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

Từ thực tiễn và kết quả đạt được trong thời gian qua có thể rút ra một số vấn đề sau:

Một là, Cần có chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể trong từng hình thức đấu tranh. Tổ chức lực lượng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong Quân đội; đồng thời, bám sát thực tiễn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng, thường xuyên giáo dục, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, nhất là trước sự kiện quan trọng, vụ việc phức tạp, nhạy cảm,… kịp thời thông tin, định hướng tư tưởng và có nội dung, biện pháp lãnh đạo đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng, kịp thời chấn chỉnh các trường hợp chưa chuẩn mực trên mạng xã hội, bảo đảm hoạt động đấu tranh luôn đúng định hướng.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, hình thức, phương pháp đấu tranh. Tổ chức lực lượng đấu tranh rộng rãi, có chiều sâu, khai thác tối đa khả năng, nguồn lực hiện có; các bài viết đấu tranh chuyên sâu với lập luận sắc bén, có tính thuyết phục, tính đấu tranh cao. Tổ chức lực lượng phù hợp, chặt chẽ, tạo ra lực lượng đấu tranh đông đảo, hoạt động liên tục, hiệu quả. Các bài viết đăng tải được nhiều người tiếp cận, tương tác, chia sẻ, lan tỏa với hàng trăm nghìn lượt người theo dõi, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh trên trên không gian mạng.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng với hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đây là giải pháp hết sức quan trọng, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, chiến đấu của các đơn vị. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ trang bị, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên có nền tảng tri thức, lý luận chính trị vững chắc, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng, cảnh giác cách mạng, nhạy bén, nhận diện đúng, kịp thời âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

          Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội với âm mưu, thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện hơn. Phát huy kết quả thời gian qua, chúng ta cần tiếp tục đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu quả đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

 Hành động động chống phá của các thế lực thù địch thường được triển khai bằng cách tung ra các khẩu hiệu, những lời tuyên bố, phân tích, đánh giá không đúng sự thật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm khiêu khích, bôi nhọ, đe dọa, gây mâu thuẫn trong nội bộ hệ thống chính trị quốc gia; gây mâu thuẫn giữa chính quyền với các tầng lớp nhân dân; gây mâu thuẫn giữa quốc gia này với các quốc gia khác về các vấn đề kinh tế, chính trị, biên giới, quốc phòng, an ninh...

Ở Việt Nam, trong thời gian qua, bản chất của việc tiến hành những “quan điểm sai trái, thù địch” là nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam; muốn Việt Nam từ bỏ con đường đi lên xã hội xã hội chủ nghĩa; thay đổi chế độ chính trị theo hướng biến Việt Nam thành “sân sau”, thành bộ phận lệ thuộc vào hệ thống tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Trong đó, “coi việc chống phá Đảng Cộng sản là một nhiệm vụ cơ bản, một khâu đột phá quyết định”.

Những luận điệu sai trái, thù địch mà kẻ thù nhắm đến để tuyên truyền, chống phá thường tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

Một là, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nền tảng tư tưởng đúng đắn đó là kim chỉ nam dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hai là, chống phá Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. Nhờ xác định Cương lĩnh, đường lối đúng đắn nên Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong 2 cuộc chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, bước vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập trung bình, có tốc độ tăng trưởng cao ở khu vực Đông Nam Á; trở thành thành viên có trách nhiệm, tích cực trong cộng đồng quốc tế.

Ba là, chống phá tổ chức của Đảng. Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đạo đức, văn minh, đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là nhiệm vụ, mục tiêu xuyên suốt, cốt lõi, bảo đảm sự tồn tại và giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng nước ta. Hơn 90 năm qua, kể từ khi thành lập đến nay, Đảng ta không ngừng xây dựng, chỉnh đốn để luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc; là biểu tượng của trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc.

Bốn là, chống phá mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn xác định mối liên hệ, gắn bó máu thịt với nhân dân. Trong các Cương lĩnh, đường lối chính trị đề ra, Đảng luôn quán triệt nguyên tắc “lấy dân làm gốc”, bao nhiêu quyền hành đều từ dân, bao nhiêu lực lượng đều do dân; luôn giáo dục mọi cán bộ, đảng viên phải yêu dân, kính dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân và phải hết sức làm điều có lợi cho dân.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách để chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Chúng tuyên truyền, kích động, chuyển hóa những xung đột xã hội thành mâu thuẫn giữa chính quyền, lực lượng vũ trang với nhân dân.  

Năm là, chống phá những thành tựu xây dựng, phát triển đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việt Nam đang vững bước tiến lên trên con đường xây dựng xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với nhiều thành tựu đạt được trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Do quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa có tiền lệ trong lịch sử, nên không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta nghiêm túc, thẳng thắn nhìn nhận, đúc rút kinh nghiệm, bài học để lãnh đạo công cuộc đổi mới ngày càng phù hợp với các quy luật phát triển khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động cố tình khoét sâu, thổi phồng những sai lầm, phủ định những thành tựu chúng ta đạt được hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo, đường lối chính trị của Đảng ta.

Việc nhận diện và nắm rõ bản chất những luận điệu sai trái, thù địch là cơ sở quan trọng để chúng ta kịp thời có những biện pháp phản bác, đấu tranh, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta./.

CẦN CÓ CHẾ TÀI XỬ LÝ VỚI NHỮNG THÔNG TIN SAI SỰ THẬT VỀ DỊCH COVID-19

 

Hiện nay cơ quan An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, đã phát hiện, truy tìm và xử lý nhiều đối tượng đăng tải bình luận xúc phạm lực lượng phòng, chống dịch trên mạng xã hội.

Các đối tượng đã sử dụng tài khoản facebook cá nhân bình luận với nội dung xúc phạm lực lượng phòng, chống dịch. Qua đấu tranh, các đối tượng đã nhận thức được sự sai phạm của mình trong việc đăng tải thông tin sai sự thật, đồng thời gỡ bỏ các nội dung đăng tải trên facebook.

Thời gian qua, chính quyền các cấp cùng lực lượng chức năng phải gồng mình phòng, chống dịch Covid-19 để đảm bảo an toàn, tính mạng cho nhân dân và duy trì phát triển kinh tế - xã hội. Thế nhưng, chỉ vì mục đích câu view, thu hút lượt like hay thậm chí là vì thỏa mãn những cảm xúc nhất thời của bản thân, nhiều cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật, bình luận với lời lẽ xúc phạm cơ quan, tổ chức thực thi nhiệm vụ phòng, chống dịch trên các trang mạng xã hội và đã bị xử phạt, răn đe.

Các thông tin, clip bịa đặt sai sự thật được thu hút nhiều lượt bình luận, chia sẻ, gây hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến công tác phòng, chống dịch và tình hình an ninh trật tự của xã hội. Tất cả nội dung, hình ảnh trong clip đã đăng tải lên trang cá nhân do tự dàn dựng, quay, cắt ghép và không đúng sự thật, tại cơ quan Công an, các đối tượng đã tự gỡ bỏ bài viết và cam kết không tái phạm.

Trước tình hình trên, mỗi chúng ta cần cảnh giác và nâng cao khả năng đấu tranh với những thông tin sai sự thật trên mạng, giữ vững ổn định đời sống xã hội. 

CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI ĐẤU TRANH CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

Về chính sách đối nội

Đảng Cộng Việt Nam luôn chú trọng công tác đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Cương lĩnh chính trị, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc. Đây là nội dung cơ bản, sống còn trong công tác xây dựng Đảng, đấu tranh với các quan điểm sai trái thù địch.

Đảng và Nhà nước ta đã làm tốt công tác dân vận, nâng cao nhận thức và làm sâu sắc hơn nữa những nội dung của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc cho quần chúng nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nhiều văn bản chỉ đạo công tác đấu tranh, phòng ngừa trên lĩnh vực này. Các biện pháp đấu tranh của Đảng ta đã làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, ngăn chặn những quan điểm xuyên tạc, sai trái.

Toàn Đảng, toàn dân ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về những giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, phổ biến thông qua các phương tiện truyền thông và trực tiếp đến các tầng lớp nhân dân.

Đảng và Nhà nước ta đã chủ động làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn, không để bị chi phối bởi những thông tin xấu độc, bịa đặt của các thế lực thù địch. Luôn cảnh giác cao độ, có những phương án, biện pháp cụ thể đấu tranh với những luận điệu sai trái, xây dựng lý luận sắc bén phục vụ công tác đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, thù địch.

Đảng ta đã rất chủ động trong công tác đấu tranh, tuyên truyền chống các quan điểm bóp méo sự thật của các nhóm phản động lưu vong nhằm chống phá Nhà nước ta. Tính chủ động được thể hiện rất rõ trong nhận thức của Đảng, cập nhật thường xuyên về tình hình và âm mưu của các thế lực thù địch.

Tích cực hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn đã khẳng định mục tiêu, lý tưởng của Đảng là khoa học và đúng đắn. Kết quả của hoạt động nghiên cứu đã khẳng định tính khoa học và thuyết phục trong đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Về chính sách đối ngoại

Xu thế của thời đại là hòa bình, hợp tác và phát triển vì thế mỗi nước đều có quan hệ hợp tác với các nước khác nhau. Chính sách đối ngoại của Việt nam là thúc đẩy quan hệ với các nước trên thế giới, chủ động tham gia các cơ chế, diễn đàn khu vực và toàn cầu, phục vụ một cách tốt nhất lợi ích quốc gia, dân tộc.

Việt Nam đang đứng vững và từng bước phát triển với một tâm thế mới, làm chủ vận mệnh của mình, độc lập, tự chủ và hòa bình, ổn định. Thực tế đó đã được bạn bè quốc tế thừa nhận và tôn trọng. Sự thừa nhận của bạn bè quốc tế đã góp phần xóa bỏ sự xuyên tạc, chống đối của các thế lực thù địch, đấu tranh và làm thất bại các quan điểm sai trái của chúng. Tất cả đã thể hiện Việt nam hoàn toàn có khả năng và thực lực để tự lập, tự chủ, giữ vững nền độc lập của quốc gia dân tộc. Độc lập, tự chủ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước trước những biến đổi của thời cuộc và tình hình mới của thế giới.

Trong tình tình mới, ta đang tích cực, chủ động giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập, chủ động và tích cực trong công tác đối ngoại, tham gia các diễn đàn, tổ chức, cộng đồng khu vực và quốc tế. Dựa trên cơ sở nội lực của đất nước đồng thời dựa vào hợp tác và hội nhập quốc tế để vị thế của nước ta ngày càng tăng cao.

QUÂN ĐỘI ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH CHỐNG DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI

Những năm gần đây, tình trạng bất ổn, bạo động, biến động trị và xung đột vũ trang trên thế giới, điển hình như ở các nước Trung Đông, Bắc Phi có sự tham gia rất lớn của các trang mạng xã hội. “Diễn biến hòa bình” qua mạng xã hội đã và đang là phương thức, thủ đoạn chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động quốc tế trong giai đoạn bùng nổ thông tin ngày nay, nhất là đối với Việt Nam chúng ta.

Trên thực tế, các nước phương Tây đã thực hiện thành công “Diễn biến hòa bình” với sự trợ giúp đắc lực và hiệu quả của mạng xã hội tại nhiều nước Đông Âu, Bắc Phi như: Gruzia (2003), Ukraine (2012) và Tunisia, Libya, Ai Cập trong phong trào “Mùa xuân Ả Rập” năm 2011. Trong các cuộc bạo loạn lật đổ ở các nước này, mạng xã hội đã trở thành vũ khí tối ưu khi nhanh chóng liên kết các nhóm chống đối, các phong trào hoạt động ngầm không có thủ lĩnh công khai, tránh được sự kiểm tra, kiểm soát của chính quyền. Chính nhà xã hội học Thụy Sĩ Ô-li-vơ Gơ-lát-xi đã khẳng định “các mạng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong những cuộc cách mạng này.

Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội cũng không loại trừ với Quân đội nhân dân Việt Nam, vì đây là lực lượng chủ yếu, lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và nhân dân. Các thế lực thù địch thường lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết quân đội với nhân dân, kích động đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Qua đó, thúc đẩy nhanh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được chúng nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật - giả, tốt - xấu, khó nhận diện, trở nên cực kỳ nguy hiểm.

Là lực lượng xung kích, nòng cốt, đi đầu trong cuộc đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” thông qua mạng xã hội, lực lượng vũ trang nói chung, quân đội nói riêng đã luôn nhận thức đúng tình hình, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng luôn được đảng ủy, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chặt chẽ. Cấp ủy đảng các cấp đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp trên về đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Các cơ quan, đơn vị đã chủ động xây dựng cơ quan thường trực, lực lượng nòng cốt, chuyên sâu, tham gia đấu tranh và bảo đảm các điều kiện vật chất thực hiện công tác này ở từng cấp. Đồng thời, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị các cấp đã phát huy vai trò nòng cốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Cùng với đó, các đơn vị trong quân đội đã luôn chủ động trong công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức đấu tranh nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện. Nhờ đó, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an ninh mạng trên địa bàn đóng quân  được bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ địa bàn an toàn, đơn vị an toàn.

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên các trang mạng xã hội là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, sắc bén, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. 

Tóm lại, chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng là cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt, gay gắt, lâu dài và vô cùng phức tạp. Với vai trò là lực lượng nòng cốt, đi đầu, Lực lượng vũ trang nói chung, các đơn vị quân đội nói riêng cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đấu tranh hiệu quả, thiết thực, góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay.

Nguồn QĐND

TIA CHỚP

NHỮNG TÊN TRÙM XÉT LẠI LỊCH SỬ ĐỂ LẬT SỬ!

Mấy năm nay cộng đồng mạng xã hội đã nhận diện một cách khá rõ nét về bè lũ xét lại lịch sử để lật sử gồm những Phan Huy Lê, Trần Đức Cường, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hà, Dương Trung Quốc, Nguyễn Nhã, Trần Công Trục, Vũ Quang Hiển, Lê Văn Cương, v.v... Trong đó, Phan Huy Lê được xem là tên trùm. Tuy nhiên, chúng ta thực sự cũng chưa biết một cách chính xác, rõ ràng về âm mưu xét lại lịch sử đê hèn này được bắt đầu từ khi nào và còn có kẻ nào khác nữa không. 

Hôm nay tôi xin gửi tới quý vị chân dung của một kẻ xét lại lịch sử, thậm chí tệ hơn là hắn đã xuyên tạc lịch sử, mà tôi cho rằng đó là một trong hai tên trùm xét lại lịch sử cực kỳ nguy hiểm với rất nhiều những sự bất ngờ, ngỡ ngàng.

Từ thời kỳ còn kháng chiến chống Mỹ đã xuất hiện một danh xưng trong ngành sử học nước ta gọi là "Tứ trụ sử học Việt Nam đương đại" - "Lâm, Lê, Tấn, Vượng" (tức gồm các Giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng). Tất cả các vị giáo sư này đều đã có những đóng góp to lớn cho nền sử học nước nhà và cả 4 vị giáo sư này đã nhận được nhiều danh hiệu cao quý do Đảng và Nhà nước trao tặng.

Tuy nhiên, kể từ khi Liên Xô và khối các nước XHCN ở Đông Âu có dấu hiệu sụp đổ vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX thì 2 trong số 4 vị giáo sư của “Tứ trụ sử học Việt Nam đương đại” là Phan Huy Lê và Trần Quốc Vượng đã xuất hiện sự tự diễn biến tự chuyển hóa trong tư tưởng chính trị. Thật ra trong thời gian trước 30/4/1975 thì cũng đã có một số nhà sử học đã có biểu hiện sự tự diễn biến tự chuyển hóa tư tưởng, nhưng ngày đó do các cụ đứng đầu ngành sử học nước ta là các cụ Trần Huy Liệu và Trần Văn Giàu quá mạnh, vừa là nhà cách mạng xuất chúng, vừa là thầy dạy của họ (GS Trần Văn Giàu là thầy dạy trực tiếp của các GS Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng), bên cạnh đó còn có các nhà phê bình uyên bác, các nhà sử học lão luyện, nhà quân sự và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước như các cụ Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, v.v… nên những sử gia có tư tưởng tự diễn biến, tự chuyển hóa này đã không làm được gì. 

Vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, mở cửa giao lưu quốc tế, và đặc biệt là khi Liên Xô cùng khối các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ, bên cạnh đó thì các GS đứng đầu ngành sử học nước nhà như Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu, v.v… người đã qua đời, người đã nghỉ hưu, nên một số nhà sử học thuộc lớp học trò này đã bộc lộ tư tưởng tự diễn biến, tự chuyển hóa một cách rõ ràng, trong đó đặc biệt là GS sử học Trần Quốc Vượng.

Năm 1991, khi ông Trần Quốc Vượng sang California, Hoa Kỳ để giảng dạy thì ông ta đã viết một cuốn sách mang tên “Trong cõi”, trong đó đã thể hiện sự xét lại và xuyên tạc lịch sử Việt Nam suốt cả chiều dài của lịch sử dân tộc. Đặc biệt và cũng là sự cực kỳ khốn nạn, không còn gì để nói khi ông này đã xuyên tạc về thân thế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ thể là ông ta đã xuyên tạc về thân thế cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi cho rằng cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là chỉ là đứa con rơi của bà Hà Thị Hy (thân mẫu của Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, bà nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Qua đây ông ta đã xuyên tạc về danh xưng Hồ Chí Minh.

Cuốn sách “Trong cõi” đã được nhà xuất bản “Trăm hoa” xuất bản năm 1993 tại Hoa Kỳ. Trong đó, nhà xuất bản này đã ghi đề tựa để giới thiệu về cuốn sách này như sau:

“Mặc dầu trong tác phẩm này sử gia Trần Quốc Vượng có công bố một vài kết quả và kinh nghiệm điền dã, ‘Trong cõi’ không phải là một cuốn sử theo hiểu biết thông thường mà là những suy nghĩ về lịch sử, những ý kiến về truyền thống, những phân tích về tình trạng đất nước của ngày hôm nay, là tiếng vọng của người trí thức chân chính bị gánh nặng của một giai đoạn lịch sử đè nén. Trong nỗi cô đơn đó, con én Trần Quốc Vượng vẫn hăng say đóng góp để tạo một mùa xuân trên đất nước, mùa xuân của cả mọi người sống trong hòa bình, hòa hợp và hòa giải dân tộc, mùa xuân của độc lập tư tưởng, của sự thật lịch sử. Vì độc lập tư tưởng nên nhà sử học không ngần ngại công bố những điều đi ngoài dòng lịch sử, những sự thật còn nằm trong bóng tối hay những ý kiến về huyền thoại dân gian đã được hay là đã bị lịch sử hóa. Trong quá trình nghiên cứu và suy nghĩ, nhà giáo nổi tiếng này đã cố nạo bỏ lớp vỏ lịch sử bên ngoài để đi tìm chiều sâu của huyền thoại ở bên trong vì (xin dẫn): ‘Mối bận tâm của người Việt cổ là cái huyền và mối bận tâm của ta là cái thật’”.

Tất nhiên, đến đây sẽ có nhiều người câu hỏi: Tại sao ông Trần Quốc Vượng xuyên tạc lịch sử như thế nhưng Đảng và Nhà nước lại không có ý kiến gì? 

Tôi thật sự không biết Đảng và Nhà nước ta có ý kiến gì hay không những tôi biết chắc chắn Trần Quốc Vượng đã chạy tội bằng cách này khi ông ta đã dẫn giải, ghi chú, biện hộ trong cuốn sách “Trong cõi” như sau:

“Tôi khẳng định rằng những điều tôi viết ra dưới đây là những sự thực lịch sử - theo cái nghĩa là vì chúng đã không được ghi chép lại trong một tài liệu nào đó ở đương thời, hay ở một thời kỳ tương đối muộn hơn, trong chính sử, dã sử, hay là địa phương chí…

Đây là những lời truyền miệng dân gian, cho nên cùng lắm, ta cũng có thể gọi là những giai thoại lịch sử…”.

“Tôi không muốn có bất cứ kết luận ‘khoa học’ gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An), đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê. Còn viết lách thì bao giờ chẳng là chuyện:

‘Thư bất tận ngôn, Ngôn bất tận ý’.

(Viết không bao giờ hết lời nói, lời nói không bao giờ hết ý!)

Đây rõ ràng là một sự lập lờ, đánh lận con đen, một chiêu trò  nhằm dẫn lái dư luận xã hội của Trần Quốc Vượng. Nó giống y như cái cách mà bè lũ xét lại lịch sử để lật sử mà những Phan Huy Lê, Trần Đức Cường, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hà, Dương Trung Quốc, Nguyễn Nhã, Trần Công Trục, Vũ Quang Hiển, Lê Văn Cương, v.v... đã thực hiện trong những năm từ 2005 đến nay.

Bản chất hai mặt, sự khốn nạn tột cùng của một giáo sư sử học gạo cội, NGND Trần Quốc Vượng đã quá rõ ràng như thế mà không hiểu tại sao tên ông ta lại được lấy để đặt tên cho những tên đường và tên phố ở Hà Nội, Hà Nam và Đà Nẵng? Bảo sao ngày nay bè lũ sử tặc đã lộng hành một cách ra mặt mà vẫn chưa thấy Đảng và Nhà nước nói gì.

Nói thật với quý vị, khi viết đến đây tôi đã không thể kiềm chế cảm xúc được nữa, tôi chỉ muốn đào mồ cuốc mả hắn lên!


Yêu nước ST.

MỘT SỐ NGHỊ SỸ MỸ VẪN ÂM MƯU SỬ DỤNG CON BÀI NHÂN QUYỀN CHỐNG VIỆT NAM


Nhân quyền là một trong ba vấn đề được Liên Hợp quốc coi là trụ cột, cùng với Hòa bình và An ninh phát triển. Ngay từ khi khai sinh ra Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, 2/9/1945, trong Bản Tuyên ngôn độc lập của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập trực tiếp tới vấn đề dân chủ nhân quyền và coi đây là một vấn đề cấp bách, quan trọng cần đặc biệt quan tâm thường xuyên và xuyên suốt.

Trong những năm qua, Việt Nam và Mỹ đã có những bước phát triển đáng kể trong quan hệ hợp tác giữa hai nước. Sau hai mươi năm gián đoạn kể từ khi kết thúc chiến tranh, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 11/7/1995, Ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam đã trở nên sâu và đa dạng hơn trong những năm đã bình thường hóa chính trị. Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại về nhân quyền và an ninh khu vực. 

Tuy nhiên, bên cạnh đó, phía Mỹ vẫn luôn có những động thái nhằm triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào nội bộ Việt Nam.

Nắm bắt được điều này, nên hầu như nhiệm kỳ Quốc hội nào của Mỹ cũng có cái gọi là Dự luận Nhân quyền Việt Nam được đệ trình lên, chẳng hạn năm 2012 dự luật số hiệu là H.R.1410 được thông qua ở Hạ viện, nhưng bị chặn ở Thượng viện; năm 2013 là S.2632, HR 1897…  Năm 2021, dự luật HR3001 lại mới được dân biểu Chris Smith đệ trình lên Tiểu ban đối ngoại Hạ viện ngày 4/5/2021.

Tác giả của các Dự luật Nhân quyền Việt Nam hàng chục năm trở lại đây là vị Dân biểu Chris Smith và một vài dân biểu ở bang California, nơi có đông lực lượng chống cộng, cờ vàng, 3 sọc nên dễ hiểu vấn đề nhân quyền như là thứ cộng sinh được nhân đôi khi đáp ứng nhu cầu đôi bên đều muốn dựa vào vấn đề này vừa đáp ứng mục tiêu chính sách của Mỹ về nhân quyền, vừa tranh thủ được lá phiếu và đáp ứng lợi ích của nhóm chống cộng hung hăng, chưa từ bỏ dã tâm “phục quốc”, vụ lợi kia.

Nội dung những dự luật này, quanh đi quanh lại vẫn là mấy vấn đề như Hoa Kỳ không được viện trợ không có mục đích nhân đạo cho Việt Nam Việt Nam đã cải thiện đáng kể trong lĩnh vực nhân quyền, đặc biệt là phóng thích tất cả tù nhân chính trị và tôn giáo, quyền tự do hội họp, tự do lập hội, và tự do tôn giáo của người dân, đồng thời trừng phạt Nhà nước Việt nam về thương mại và đầu tư gắn với điều kiện về nhân quyền. Các dự luật luôn đặt mục tiêu hỗ trợ thúc đẩy tự do và dân chủ ở Việt Nam thông qua điều tiết các khoản tăng viện trợ, tài trợ của Mỹ cho thành phần như “phi chính phủ”, “xã hội dân sự”….

Mỗi khi Dự luật bị thất bại ở Hạ viện hoặc Thượng viện, nó lại được tròng thêm tuyên bố, những nội dung của dự luật đó sẽ được xem xét, lồng trong các luật khác liên quan, tức là dù dự luật này không được thông qua, nhưng Quốc hội Mỹ sẽ “liệu cơm gắp mắm”, lồng ghép một số nội dung trong đó vào các luật khác để Chính phủ thực hiện, phù hợp lợi ích của nước Mỹ! Thế nên mới có chuyện như hàng năm vẫn có các báo cáo nhân quyền, tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Mỹ can thiệp nội bộ Việt Nam, Mỹ vẫn dành các ngân khoản từ quỹ thúc đẩy dân chủ kiểu như NED hoặc thông qua các tổ chức phi chính phủ khác hậu thuẫn cho “lực lượng đối lập” Việt Nam…

Đây rõ ràng là một chiêu bài quen thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp Mỹ sử dụng để can thiệp đường lối chính sách về nhân quyền của Việt Nam. Họ lợi dụng sự hiểu biết không đầy đủ về nhân quyền ở Việt Nam của cộng đồng quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và sự hận thù quá khứ để gây ra hiểu lầm, mâu thuẫn và dẫn tới kích động, lôi kéo, tạo dựng những làn sóng chống đối Việt Nam. Từ đó họ đi đến chống phá ta, hạ thấp uy thế và vai trò lãnh đạo của Đảng, giảm niềm tin của quần chúng nhân dân vào đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước ta nói chung. Dễ hiểu các dự luật này chứa đựng đầy màu sắc ý kiến chủ quan và áp đặt mà thành phần diều hâu trong Chính phủ Mỹ sử dụng nhằm âm mưu chống phá Việt Nam.

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong việc bảo đảm quyền con người trong tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Quyền con người được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.

Dự luật HR3001 cũng như các dự luật trước đây đều dựa trên những thông tin lạc hậu không phản ánh được sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam. Dự luật HR3001 cũng thiển cận trong cách đặt vấn đề và đi ngược lại các nỗ lực của các chính quyền Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama hay Trump, Biden nhằm tăng cường quan hệ với Việt Nam. Dự luật được đưa ra dựa trên sự áp đặt các tiêu chí mà một số hạ nghị sĩ Mỹ cho là chuẩn mực về nhân quyền. Việc đem các tiêu chí nhân quyền ở một đế quốc Tư bản áp đặt vào một quốc gia xã hội chủ nghĩa là một điều hoàn toàn sai lầm và lạc hướng. Phía Mỹ vu cáo Việt Nam không có tự do dân chủ, không có quyền tự do báo chí. Họ đề cao các giá trị nhân quyền ở Phương Tây và đòi hỏi VN cũng phải áp dụng những mô hình nhân quyền giống như họ, được tự do ngôn luận không có kiểm soát và quản lý, được quyền biểu tình chống đối chính phủ là các nhà lãnh đạo… Nhất là từ sau khi mô hình Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, thành phần cực đoan, diều hâu, thiếu thiện chí với Việt Nam ngày càng tích cực sử dụng chiêu bài này để nhằm chống phá, lật đổ Nhà nước ta. Họ luôn tranh thủ lợi dụng những sơ hở, sai sót, yếu kém của ta trong quản lý, điều hành đất nước; thậm chí trắng trợn đổ lỗi cho Đảng Nhà nước ta nhằm bôi nhọ lãnh tụ ta, hạ thấp vị thế và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ thông qua những phương thức này nhằm triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền tạo ra mâu thuẫn, kích động và tự diễn biến trong chính nội bộ ta, nhằm đi tới kích động tư tưởng ly khai, bạo loạn chính trị, gây mất ổn định an ninh trật tự.

Đúng như Hạ nghị sỹ Faleomavaega từng chia sẻ: “Tôi không nhất trí với cách nhìn nhận về nhân quyền của một số nghị sỹ Mỹ, những người có thiên hướng áp đặt tiêu chí mà họ cho rằng chuẩn mực trong vấn đề này. Mỗi nước đều có giá trị và nguyên tắc riêng trong thực thi nhân quyền. Tôi cho rằng Chính phủ Việt Nam đã làm những gì tốt nhất. Tôi luôn phản đối việc các Nghị sỹ Mỹ chỉ trích tình hình nhân quyền tại Việt Nam”.