Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2021

Những thách thức, nguy cơ với đảng viên trong bối cảnh hội nhập

 


Từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thách thức đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau.

Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra ở trên, đến nay vẫn còn tồn tại, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, có mặt còn gay gắt hơn, đang đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Và hiển nhiên đây cũng là những nguy cơ, thách thức đối với cán bộ, đảng viên.

Một là, nguy cơ phai nhạt lý tưởng, đánh mất bản sắc văn hóa, xói mòn những giá trị truyền thống của dân tộc

Nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn tiềm ẩn trong cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay. Vấn đề này có một số biểu hiện như: sự giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và hiệu lực quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự gia tăng của tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tập thể; gia tăng sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống, sự băng hoại các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc...

Xuất hiện tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị". Một bộ phận cán bộ, đảng viên, phần lớn còn trẻ tuổi, giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thậm chí, một số ít thanh niên bị lôi kéo, có những việc làm đi ngược lại truyền thống của Đoàn, trái với mục tiêu của Đảng, của dân tộc. Có những cán bộ, đảng viên không giữ vững bản lĩnh cách mạng, ý thức nhạy bén chính trị kém, bị tác động bởi luận điệu, thông tin sai trái, có những biểu hiện tiêu cực, tạo ra mặt trái của xã hội và tiếp tay cho sự chống phá xuyên tạc của các thế lực thù địch, nhất là trên mạng xã hội.

Hai là, nguy cơ suy thoái về đạo đức lối sống, tham ô, tham nhũng, lãng phí

Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ từ phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, quan liêu, xa dân, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Không ít cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu tính Đảng, lợi dụng sơ hở trong cơ chế, chính sách, pháp luật, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát vốn, tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, bị xử lý kỷ luật đảng và xử lý theo pháp luật.

Tham nhũng là vấn nạn nhức nhối hiện nay trong cán bộ, đảng viên, xuất hiện với nhiều hình thức mới, như tham nhũng chính sách, tham nhũng đất đai, tham nhũng trong công tác cán bộ… Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy khen thưởng, chạy danh hiệu, chạy tội..., trong đó có cả cán bộ cao cấp, chậm được ngăn chặn, đẩy lùi. Tham nhũng làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, gây bức xúc dư luận, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với cán bộ, đảng viên, gây ra những nguy cơ tiềm ẩn, xung đột, làm mất ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, gây phương hại to lớn tới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và làm xấu đi hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.

Ba là, âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm vào cán bộ, đảng viên

Các thế lực thù địch thường tranh thủ, len lỏi vào cán bộ, đảng viên để thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá nước ta với những biểu hiện mới, quyết liệt và tinh vi hơn trước. Bản chất thật sự của “diễn biến hòa bình” là hoạt động của các thế lực đế quốc tư bản lớn và cường quyền nhằm vào các nước có chế độ chính trị mà họ coi là không phù hợp với lợi ích của họ, bằng tổng hợp các biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao, an ninh… để chuyển hóa chế độ chính trị của các nước này theo quỹ đạo có lợi cho họ[5]. Hiện nay, “diễn biến hòa bình” đã có những biểu hiện mới cả về chủ thể tiến hành, phương thức, nội dung, mục tiêu… đã phát triển đến đỉnh cao, với rất nhiều kịch bản khác nhau. Đặc biệt là sự phát triển của công nghệ số, các trang mạng, ứng dụng xã hội đã được các thế lực thù địch ráo riết tận dụng triệt để trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là nguy cơ không thể xem thường, thực tế đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những biện pháp, cách thức, đối phó và khắc chế cho phù hợp, không để rơi vào tình trạng bị động, bất ngờ.

Bốn là, tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn là nguy cơ thường trực và khó khắc phục

Toàn cầu hóa tạo ra những thách thức không nhỏ đối với cán bộ, đảng viên trong công cuộc đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó thì hiện nay chúng ta đang thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện.

Kinh tế Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt 6%/năm, (năm 2020, do ảnh hưởng dịch Covid-19, nhiều nước “tăng trưởng âm”, nhưng Việt Nam vẫn đạt GDP 2,91%, là mức tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất thế giới). Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2 tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD)[6].

Tuy nhiên, nhìn từ thực tế vẫn thấy: khoảng cách GDP của thế giới và của Việt Nam vẫn đang ngày càng doãng ra với tốc độ rất nhanh. Nếu cách đây 30 năm, GDP của thế giới hơn GDP của Việt Nam là 3.900 USD thì nay con số đó là 7.500 USD. Và như vậy là cho dù Việt Nam đã đi được nhiều bước, song đó chỉ là những bước ngắn, nên vẫn tụt hậu so với nhiều quốc gia khác trên thế giới dù bước chậm, nhưng họ lại đi được những bước dài. Và rõ ràng, đây là một thách thức thực sự, là một vấn đề khó đối với Việt Nam hiện nay, rất cần có chiến lược tổng thể, dài hạn để khắc phục. Điều này cũng chính là những thách thức, trở ngại và trách nhiệm lớn đặt lên vai cán bộ, đảng viên – là lực lượng làm việc chính, là chủ, là người đứng đầu các cơ quan công quyền, các doanh nghiệp… làm nhiệm vụ chèo lái con thuyền kinh tế Việt Nam ra biển lớn trên con đường hội nhập quốc tế.

Vượt qua những nguy cơ trên để tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng phải hy sinh biết bao nhiêu xương máu mới có được, vẫn đang và sẽ là những thách thức thực sự, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có những nỗ lực vượt bậc, sự đoàn kết cao độ, cùng chung sức, đồng lòng với cả dân tộc nhằm bảo vệ và phát huy những thành quả cách mạng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.

Những thời cơ, vận hội với đảng viên

 

Thực tiễn vận động, phát triển của những xu thế lớn trên thế giới, đặc biệt là xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển, hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho cán bộ, đảng viên trong quá trình học tập, công tác, phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ trên cương vị đảm nhiệm.

Có thể đề cập tới một số thời cơ, vận hội như:

Thứ nhất, cán bộ, đảng viên có cơ hội kế thừa, tiếp thu, sử dụng những thành tựu to lớn của khoa học - công nghệ

Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo điều kiện hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở nhiều quốc gia, khu vực; tạo cơ hội hợp tác, giao lưu trong tìm kiếm, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, tạo nguồn lực phát triển kinh tế. Toàn cầu hóa làm cho thị trường thế giới ngày nay càng rộng lớn về quy mô, hoàn thiện về cơ chế hoạt động. Cán bộ, đảng viên của chúng ta có điều kiện để học hỏi, tiếp thu, trao đổi, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học, kinh nghiệm quản lý, nguồn vốn của thế giới, đặc biệt là những tri thức để phát triển nền kinh tế số, tham gia chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu. Qua đó, Việt Nam có cơ hội mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, tham gia quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế.

Thứ hai, cán bộ, đảng viên có cơ hội tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhân loại, tiếp tục phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc trong xây dựng con người xã hội chủ nghĩa

Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và rõ ràng, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công thì phải đặt con người vào vị trí trung tâm, phải có con người đạo đức, trí tuệ với đầy đủ các phẩm chất cần có của con người xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt đến con người, coi con người là trung tâm, mục tiêu và động lực của sự phát triển và định hướng sự nghiệp xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền với xây dựng nhân cách phát triển hài hoà, kế thừa truyền thống và hiện đại, vừa “hồng” vừa “chuyên” của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, những thành tựu mà Việt Nam đang có được trên con đường hội nhập quốc tế cũng là những thuận lợi, những tác động tích cực đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên

Thế và lực của đất nước sau 35 năm đổi mới đã lớn mạnh hơn nhiều cả về quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tình hình chính trị - xã hội, kinh tế vĩ mô ổn định, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp và xã hội tăng lên; tính tự chủ được cải thiện; tích lũy và nâng cao năng lực quản trị nhà nước, điều hành phát triển kinh tế - xã hội; uy tín, vị thế đất nước ngày càng được củng cố trên trường quốc tế. Chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch sang chiều sâu, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho nền kinh tế được cải thiện đáng kể. Nguồn lao động dồi dào, có khả năng thích nghi tốt với những thay đổi khoa học và công nghệ. Kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng, một số hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới quan trọng như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)... đòi hỏi phải cải cách thể chế kinh tế mạnh mẽ hơn nữa, tạo cơ hội mở rộng thị trường, đầu tư cho phát triển công nghiệp và thực hiện công nghiệp hóa. Khu vực tư nhân đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế đất nước. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, đốỉ ngoại được quan tâm và có sự chuyển biến tích cực; tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh; vẫn còn cơ hội cơ cấu dân số vàng; thành quả xây dựng nông thôn mới được củng cố, đời sống mọi mặt của người dân không ngừng được cải thiện.[3]

Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là phải tận dụng mọi thời cơ, vận hội, tiếp thu những tác động tích cực từ xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam để tiếp tục đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, thu nhập cao, phồn vinh với một vị thế cao hơn, xứng với truyền thống kiên cường của dân tộc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Cơ hội và thách thức...vấn đề vẫn luôn nóng?

 


Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6-1996), trên cơ sở thế và lực mới của nước ta, Đại hội lần đầu tiên nêu nhiệm vụ hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo hướng xây dựng nền kinh tế mở, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Đây là điểm khởi đầu quan trọng cho một chủ trương đối ngoại lớn và xuyên suốt của Đảng là hội nhập kinh tế quốc tế, tiếp đó là hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kế thừa chủ trương hội nhập quốc tế của các Đại hội VIII, IX, X, XI và XII, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (1-2021), Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế…, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Có thể nói, hội nhập quốc tế là quyết sách chính trị quan trọng, là định hướng mới trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta khi đất nước bước sang thời kỳ mới, phản ánh bước phát triển mới trong tư duy đối ngoại của Đảng trên cơ sở nhận thức sâu sắc về các xu thế lớn của thời đại và thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Bối cảnh toàn cầu hóa và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam đã đem lại những thời cơ, vận hội, đồng thời cũng làm xuất hiện cả những thách thức, nguy cơ thực sự đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; đối với quốc gia, dân tộc Việt Nam nói chung và đối với cán bộ, đảng viên nói riêng. Vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là cần nhận diện rõ và trên cơ sở đó, có những chiến lược, sách lược hợp lý, tận dụng được những vận hội, khắc chế những nguy cơ, thách thức đối với cán bộ, đảng viên. Đây là lực lượng chủ đạo đưa đất nước đi lên phồn vinh, hạnh phúc, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập và phát triển.

Cơ hội và thách thức đối với cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay

 

Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu khách quan, đang lôi cuốn tất cả các quốc gia trên thế giới tham gia và tác động sâu rộng tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, đến sự vận động, phát triển của mọi quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa là một quá trình có tác động hai chiều, cả tích cực lẫn tiêu cực, đem lại cả thời cơ, vận hội phát triển lẫn thách thức, nguy cơ hiểm họa khó lường đối với các quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa liên quan chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng đối với quá trình hội nhập quốc tế của các nước nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Về thực chất, hội nhập quốc tế là tiến trình một quốc gia theo đuổi lợi ích, mục tiêu của mình thông qua việc tự giác, chủ động hợp tác, liên kết sâu rộng với các quốc gia khác trên nhiều lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh…) dựa trên sự chia sẻ về nhận thức, lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và chủ động chấp nhận, tuân thủ, tham gia xây dựng các “luật chơi” chung, chuẩn mực chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.

“Ngũ họa”, “Tứ tôn” và “Ngọn lửa” cháy lên!

 

Việc nước nhà thịnh vượng hay suy vong, dân tộc hùng cường hay bạc nhược... luôn là nỗi bận tâm lớn nhất trong các việc chính sự của muôn triều đại, sự liêm sỉ của ức triệu lòng dân nước nhà. Không một thời kỳ nào, một triều đại nào, một thời khắc nào, một người Việt Nam nào, hễ có lương tri, không nghĩ về chuyện trọng đại đó, trải suốt xưa nay!

Ấy là quốc sỉ đất nước, là liêm sỉ mỗi người Việt Nam ta! 

Nay, nhìn khắp trong bờ cõi nước non, nhãn tiền thấy bao sự nhiễu nhương đã bất chấp quốc gia cường nhược, đau lòng thấy lắm người vô liêm sỉ, cam tâm bỏ mặc dân tộc thịnh suy.

Kìa, trông lên, nào thì “trên có chính sách, dưới có đối sách” khiến cho đại cục đất nước như “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” làm rạn vỡ sự thống nhất chỉnh thể quốc gia; nào thì “đồ đệ đồng liêu”, “cả họ làm quan”, biến nơi họ phụ trách thành “bầu trời riêng” và họ là những “ông vua con, bà vua con” những mưu toan “anh hùng nhất khoảnh”, “rừng nào cọp ấy”, những “ông tướng, bà tướng”, cả những lũ “ruồi trên đầu hổ” tác yêu tác quái, làm muôn người, dù hiền lành nhất, cũng buộc nổi giận. Nọ trông xuống, đây thì đua nhau, mặc sức “làm quan thần tốc”, “nửa bước thành quan”, đó thì chạy vạy, luồn cúi “bố quan con bố cũng phải quan”, “chồng quan vợ cũng rắp lên quan”, dù đó chỉ là những kẻ “đổ bô”, “đuổi gà không đáng” hoặc phần đông là những hạng nhẹ thì “chữ chẳng hay, cày chẳng biết” hoặc một đống “bụt ốc, đầu rau”, “câu đương làm dấu chặt đứt ngón tay”... khiến cho nặng thêm bộ máy vốn đã cồng kềnh thân nặng, nhưng ngốn bồ thuế dân thì “như tằm ăn rỗi”, “đổ quán siêu đình”... đang làm ly tâm, những người bền lòng cố kết đổ mồ hôi, sôi giọt máu, chỉ vì quốc thái dân an.

Quả đang là mối lo “vạ trong tường vách”, đại họa “tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”, như người xưa từng lo ngại!

Lại nom sang phía trái, ở không ít nơi, nạn tham nhũng, nạn đạo chích tiền bạc của công nguy hơn chuột đào chân tường; nạn “đạo vị”, nói như Bác Hồ, là “ăn cắp chức vụ” hoành hành, thậm chí làm nhiễu loạn cả không ít chốn công quyền... khiến cho bao người hiền tài, không ít bậc trí giả đành “rũ áo khoanh tay” hoặc chịu thúc thủ, ngặt vì nỗi “nước xa không cứu được lửa gần”; lại ngặt nỗi “quan thì ở xa, bản nha ở gần”, “sấm sét chọn đánh vào... cột thu lôi”. Rồi, trông quẹo phía phải, những “sứ quân” xưa hiện về bằng “lợi ích nhóm” kéo kết nhau thành những “nhóm lợi ích” - nguồn cơn của những “liên minh tội phạm”, “liên minh ma quỷ” khuynh đảo nơi này, quấy phá chốn kia... đang “băm nhỏ” trăm mảnh lợi ích quốc gia, khiến cho muôn dân không ai không nổi giận, làm cho bè bạn, dù thành tâm nhất, cũng nản lòng. Bởi, “đục thì đánh chạm, chạm thì đánh khăng. Đòn đánh lý trưởng thì văng... cả làng”, vì cả sợ...

Quả đang là mối họa “tự bắn chân mình”, “buộc đá chân mình nhảy xuống giếng khơi”, thậm chí “tự thắt cổ mình”, như tiền nhân truyền báo! 

Đoái trông lên, lại ngó xuống những bệnh hoạn khôn lường ấy rải rác ở khắp nơi, những hậu họa chết người ấy trú ngụ ở không ít kẻ, lại đang có chiều hướng lây lan... bỗng nhớ “ngũ họa” quốc vong mà tiền nhân tổng kết, cảnh báo, khuyên răn, như rút tự ruột gan mình: Rằng, có năm nguy cơ sẽ làm mất nước: Một là, trẻ không kính già; hai là, trò không trọng thày; ba là, binh kiêu tướng thoái; bốn là, tham nhũng tràn lan; và năm là, sỹ phu ngoảnh mặt.

Nhời tiên báo ấy của bảng nhãn Lê Quý Đôn, cách nay hơn 250 năm. Chỉ phạm vào một trong năm điều họa ấy thôi cũng đủ quốc sỉ bị tổn thương, liêm sỉ khó mà giữ trọn. Năm họa ấy hội lại, thì quốc sỉ mất, liêm sỉ cũng tan, thì đất nước tiêu vong, mà thân phận mỗi người tự do, cũng theo đó, mà mất! Lúc ấy, thử hỏi hối hận liệu có kịp không? Thật phải đáng lo xa! Nói như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Phải biết kiềng canh nóng mà thổi rau nguội”, chẳng khác gì chống họa ngoại xâm.

Xem thế, lại chạnh nhớ chuyện của hơn trăm năm trước, với nhời của cụ Nguyễn Khắc Niêm, trong “Tứ tôn châm”: “Tôn tộc đại quy. Tôn lộc đại nguy. Tôn tài đại thịnh. Tôn nịnh đại suy”. Nghĩa là: Đề cao nòi giống ắt đại hòa hợp. Coi trọng bổng lộc ắt đại nguy nan. Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh. Ưa thích xiểm nịnh, ắt đại suy vong.

Theo thiển ý, ấy là tư tưởng đau đáu, vì nước nhà tiến bộ. Nói rộng ra, “Tôn tộc đại quy” - đề cao sự đoàn kết dân tộc, mọi người phải quy về một mối quyết đặt Dân tộc, Tổ quốc, nòi giống lên trên hết. Có được điều đó thì vạn sự tất thành. “Tôn lộc đại nguy” không phải xem thường sự phát triển đất nước giàu có, vì dân giàu nước mới mạnh, mà “tôn lộc” ở đây muốn cảnh báo người làm quan nếu đặt lợi lộc của mình, mưu “lợi ích nhóm” để xâm hại lợi ích cộng đồng, phá vỡ lợi ích dân tộc, thì đó cũng là lúc nguy nan đang đến với đất nước. “Tôn tài đại thịnh” tức phải lấy “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Nếu coi thường trí thức, nói như cụ bảng nhãn Lê Quý Đôn, thì “Sỹ phu ngoảnh mặt”. Nếu để họ đứng ra ngoài hành trình của đất nước, tất yếu đất nước suy vong. Nên cần thành thực trọng dụng tài năng, nói như Bác Hồ, “sao cho đối đãi với mọi người” thì việc họ toàn tâm phụng sự quốc gia, hỏi còn đáng lo gì nữa. Được thế, nhất định nước cường dân thịnh. “Tôn nịnh đại suy” - thời nào, ở đâu cũng nhan nhản người nịnh hót. Nếu chỉ thích nghe bọn xum xoe nịnh bợ, ắt biến phải thành trái, ắt biến người tốt thành người xấu... thì họa sát thân kia sẽ ở cận kề. Vì thế, phải đủ bản lĩnh, đủ trình độ, đủ độ tinh tế để nhận ra kẻ nịnh mà lánh xa, người trung để gần gũi, cộng sự.

Từ chủ động cảnh giới, ngăn chặn “ngũ họa” quốc vong tới thành tâm hành sự “tứ tôn” vì nước, phải chăng ấy là một thái độ sống, bản lĩnh hành động cần có của bất cứ ai, trong đại cuộc dọn sạch hủ bại, chấn hưng và phát triển đất nước, ngõ hầu cũng tôn vinh quốc sỉ, gìn giữ và phát huy liêm sỉ cá nhân lúc này?

Từ lâu, và đặc biệt, ngay chính lúc này đây, hôm 31-7-2017, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hạ quyết tâm, trong đại cuộc chống tham nhũng và hủ bại: “Cái lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy... Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được...”. 

Cái Ngọn lửa Dân chủ - Đức trị và Pháp trị phải cháy lên! Và, càng không ai cản được, khi Lòng dân đã dậy sóng, đang giữ Lửa trong lò: “Dân ta đã nói là hành. Đã đốn quyết đốn cả cành lẫn cây”. Tất cả mỗi người, hãy giữ Lửa để rửa sạch “ngũ họa”, trên nền móng Dân là gốc Nước, Nước là nước Dân! 

Như thế, thiển nghĩ, chí ít việc khó hóa dễ, việc lớn hóa nhỏ, lo gì vạn sự hóa giải “ngũ họa” quốc vong kia chẳng thành!./.

“Lò đã nóng” và quyết tâm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng

 

Thông điệp của Tổng Bí thư gửi tới chúng ta: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy…Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được…” là một hình tượng rất sống, rất hay và rất thực tế. Nó thể hiện sự kiên quyết không thể gì lay chuyển của ông Nguyễn Phú Trọng, trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, hiện nay. 

Sử sách kể rằng, ở thành cổ đại Athen, khoảng 2500 năm về trước, nếu bất kỳ chính khách nào phạm vào một trong hai tội sau đây thì sẽ bị đuổi khỏi thành 10 năm; và cố nhiên, trong 10 năm đấy, thì không được tham gia vào chính sự. Đó là hai tội tham nhũng và tội hủ hóa trai gái. Điều đó cho thấy, phẩm hạnh một nhà chính trị, ngay từ thời cổ đại, rất được coi trọng; nó quyết định danh dự, uy tín của những chính trị gia và uy tín, sức mạnh của chế độ. Và, vì thế, đã đặt vấn đề chống tham nhũng quan trọng đến nhường nào, trong các đại sự chính trị.

Nom sang phía Đông, vấn đề tham nhũng và chống tham nhũng, được xem trọng đặc biệt. Việc nước nhà thịnh vượng hay suy vong, dân tộc hùng cường hay bạc nhược… luôn là nỗi bận tâm lớn nhất trong các việc chính sự của muôn triều đại, sự liêm sỉ của ức triệu lòng dân nước nhà. 

Bảy trăm năm trước, bàn về việc chọn tướng, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn nói: Lấy của mà thử xem có giữ được sự trong sạch không. Bỗng nhớ đến “ngũ họa” quốc vong mà tiền nhân tổng kết, cảnh báo khuyên răn có 5 nguy cơ làm mất nước: Một là, trẻ không kính già; hai là, trò không trọng thày; ba là, binh kiêu tướng thoái; bốn là, tham nhũng tràn lan; năm là, sỹ phu ngoảnh mặt. Nhời tiên báo ấy của bảng nhãn Lê Quý Đôn, cách nay hơn 250 năm. Chỉ phạm vào một trong năm điều họa ấy thôi cũng đủ quốc sỉ bị tổn thương, liêm sỉ khó mà giữ trọn. Năm họa ấy hội lại, thì quốc sỉ mất, liêm sỉ cũng tan, thì đất nước tiêu vong, mà thân phận mỗi người tự do, cũng theo đó, mà mất! Ăn cắp của công, ăn trộm chức vụ, tham nhũng quyền lực đẻ ra vô vàn những cơn bệnh khác, không chỉ làm băng hoại cá nhân mà còn có nguy cơ làm tan tành thể chế.

Nay, ở không ít nơi, nạn tham nhũng, nạn đạo chích tiền bạc của công nguy hơn chuột đào chân tường; nạn “đạo vị”, nói như Bác Hồ hơn 70 năm về trước là “ăn cắp chức vụ” hoành hành, thậm chí làm nhiễu loạn cả không ít chốn công quyền… khiến cho bao người hiền tài, không ít bậc trí giả đành “rũ áo khoanh tay” hoặc chịu thúc thủ, ngặt vì nỗi “nước xa không cứu được lửa gần”.

Ăn cắp hay nói bây giờ là tham nhũng về vật chất đó là sự ô nhục đã làm bại hoại quốc gia, làm nhục quốc thể, cá nhân thì táng tận liêm sỉ. Tham nhũng về chính trị, về quyền lực sẽ đẻ ra và dung dưỡng nhiều hủ bại có nguy cơ làm mục rỗng nhân tâm, phá nát lòng tin, làm băng hoại quốc gia. Quyền lực không phải của riêng ai, của nhân dân, nhân dân trao cho những người làm công bộc của dân. Mà nếu bằng mọi thủ đoạn, họ chiếm đoạt nó, biến quyền được giao đó thành quyền sở hữu, nó trở thành mục tiêu hoạt động của họ thì rất nguy hiểm, thậm chí chết cả dân tộc. Khi tiền liên kết với quyền thì tai họa khủng khiếp, khôn mà tiên lượng hậu họa. Bởi nó liên quan đến chế độ và rộng hơn là lòng dân, là sự sinh tử của dân tộc, là vị thế, sức mạnh và uy tín quốc gia.

Thế nên đặt vấn đề tham nhũng và chống tham nhũng, ở mọi thời và muôn đời vốn không bao giờ cũ. Tham nhũng đã tích tụ từ rất lâu rồi, đủ phương diện, hình thái, đủ mức độ và vô cùng nguy hiểm về tính chất. Chúng ta, nếu không kiểm soát được, không khắc chế triệt để, thì mọi thứ chết người, theo đó, sẽ bung ra ngay. Những vụ đại án Trịnh Xuân Thanh, Trầm Bê… vừa qua là một minh chứng về sự nguy hiểm trong cuộc cấu kết giữa quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Mầm mống của những “liên minh ma quỷ”, theo đó, mà mọc ra, mà phát tác và lũng đoạn. Vì vậy, vấn đề đặt ra là càng phát triển cơ chế thị trường, càng hội nhập quốc tế, càng phải kiểm soát quyền lực, càng phải đề cao thượng tôn pháp luật. Không thể làm khác, nếu không muốn thất bại. Từ cơ chế kiểm soát thì sẽ có cơ chế phát hiện, cơ chế khắc trị… và trị thật nghiêm, không có ngoại lệ, không có vùng cấm. Nghĩa là dân chủ và pháp trị phải được thượng tôn!

Lâu nay, vấn đề mà Đảng ta đang rất suy tư là, làm thế nào để có cơ chế kiểm soát quyền lực tốt. Kỳ thực rường cột của nó, nói cụ thể, là ván đề quyền lực và trách nhiệm được thực thi và vận hành với bảo bối: dân chủ và pháp trị. Kiểm soát từ bên trong tới toàn dân kiểm soát; kiểm soát từ trên xuống và giám sát từ dưới lên, từ bên cạnh một cách công khai, minh bạch. Suy cho cùng là, quyền lực phải gắn với trách nhiệm một cách dân chủ và kỷ luật, theo kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Những vụ đại án trong năm 2017 vừa qua kỳ thực đã tích tụ từ lâu, bằng cơ chế kiểm tra, kiểm soát dân chủ và minh bạch trong nhiều năm qua, bây giờ mới bộc lộ ra. Vì thế, có thể nói, chống tham nhũng lúc này, cần tập trung làm tốt trước mắt, hai lĩnh vực rất căn bản, đó là gắn chặt đức trị và pháp trị. Đại hội lần thứ XII của Đảng quyết định rất quan trọng, lấy vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức là một trong bốn bộ phận cấu thành toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Đây là một trong những vấn đề trong quy luật xây dựng Đảng kiểu mới chứ không phải đơn thuần mang tính lý thuyết. Trở đi trở lại, khi lời răn đạo lý chưa đủ mạnh, khi đạo đức chưa đủ lay chuyển thì ắt pháp lý phải ra tay, nhất định các đạo luật phải được toàn dụng.

Ngày xưa, các cụ nói: Sát nhất nhân vạn nhân kỵ. Đó là hạ sách. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nói, xử một người đau lòng lắm, nhưng cũng phải kỷ luật thôi, vì nhiều người khác. Tôi nghĩ, chống tham nhũng không khác gì đứng giữa bầy sói. Khi những “con sói đói khát quyền lực”, “đói khát tiền bạc” lũng đoạn, hoành hoành, mà đạo đức chưa đủ thấu, đạo lý chưa đủ răn, liêm sỉ chưa đủ chuyển, thì dứt khoát kim đao phải tất được dụng thôi. Hợp với nhẽ thường. Đấy là nhân văn nhất, đấy là đạo đức nhất; đấy cũng là dân chủ và kỷ cương nhất.

Giờ, không phải bàn thêm về quyết tâm của Tổng Bí thư. Mà vấn đề cần nói hơn đó là, làm gì và thế nào để chuyển quyết tâm ấy thành quyết tâm và hành động của toàn thể cán bộ, đảng viên và đồng bào. Quan trọng nhất là, đó chính là sự quyết tâm và hành động của 11 triệu cán bộ, viên chức trong bộ máy, của gần bốn triệu đảng viên, của 116000 tổ chức Đảng, của 63 tỉnh thành kết tinh trực tiếp ở 63 người đứng đầu cấp ủy và những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức trong toàn thể hệ thống chính trị nước nhà… Và, cũng phải hỏi, còn có ai trong đội ngũ ấy nghễnh ngãng, thờ ơ, chiếu lệ cho phải phép, rồi “nghe ngóng tùy thời”, “chọc gậy xuống nước” hoặc “a dua chiếu lệ”, “hò voi bắn súng sậy” không?! Đấy chính là sự đồng lõa với sai trái, với tội phạm!

Có một dịp, vinh dự được trao đổi với Tổng Bí thư. Ông nói, cần phải giữ vững sự ổn định. Tôi thưa rằng, ổn định lúc này là phát triển, phát triển là đẳng cấp của ổn định, ổn định lúc này là phải hành động. Ông hỏi: Cụ thể như thế nào? Tôi thưa: Chúng ta cần lựa chọn một số việc mang tính chất đột phá, có khả năng làm rung động toàn bộ hệ thống: cải cách bộ máy và chống tham nhũng. Sao nữa? Phương châm là, đề cao dân chủ, cổ vũ đức trị và tôn vinh pháp trị. Đấy là cả một nghệ thuật chính trị. Và, để thực hiện nó, phải với bản lĩnh chính trị rất cao, một quyết tâm đến cùng, một lộ trình phù hợp và cổ vũ một lực lượng chính trị nhân dân đông đảo. Không có những điều đó, rất khó thành!

Thông điệp của Tổng Bí thư đã gửi: “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy…Cá nhân nào muốn không làm cũng không thể được…” là sự kết tinh, thể hiện tầm nhìn, sự kiên định và cả tâm huyết của ông. Cái Ngọn lửa Dân chủ, Đức trị và Pháp trị phải cháy lên trong cái lò ấy! Và, càng tin rằng, không ai cản được, khi Lòng dân đã dậy sóng, đang làm Gió thổi lò, với quyết tâm: “Dân ta đã nói là hành. Đã đốn quyết đốn cả cành lẫn cây”.

Đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin

 

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động tuyên truyền gây nhiễu loạn thông tin, trước hết, phải đặt nhiệm vụ này dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, Nhà nước, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chuyên trách, chuyên sâu. Triển khai đồng bộ các mặt công tác từ nắm tình hình, phát hiện, phòng ngừa đến các biện pháp đấu tranh. Thường xuyên tranh thủ sự đồng lòng, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, kể cả cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài một cách thực chất, hiệu quả. Tăng cường công tác nắm tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, chủ động xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh; những bức xúc, nổi cộm ngay tại cơ sở, nhất là ở những địa phương phức tạp về an ninh chính trị; không để phát sinh “điểm nóng”. Chủ động nghiên cứu, dự báo các phương thức hoạt động tuyên truyền xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin của các thế lực thù địch, triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

   Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và đối ngoại làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, nhất là kết quả đạt được trong phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng xã hội với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận; gắn kết chặt chẽ giữa “xây và chống”. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân về âm mưu, thủ đoạn, bản chất của hoạt động gây nhiễu loạn thông tin; thấy rõ tác hại của các thông tin phản động, xuyên tạc. Từ đó, thúc đẩy mọi người tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, có khả năng nhận diện, tự “miễn dịch” trước các thông tin xấu độc, nguy hại. Hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân tiếp cận thông tin chính thống, kịp thời đấu tranh phê phán, phản bác những thông tin nhiễu loạn, xuyên tạc.

   Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, quan tâm giải quyết thỏa đáng quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Chú ý giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, các vụ đình công, lãn công,… ngay từ cơ sở, không để kẻ địch lợi dụng chống phá.

   Cùng với đó, chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, sử dụng các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ kịp thời các trang mạng, blog phản động đăng tải các tin, bài, video clip có nội dung xấu độc, xuyên tạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa thông tin tích cực để định hướng dư luận xã hội. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, quản lý internet, mạng xã hội. Nghiên cứu, rà soát xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên không gian mạng chưa được pháp luật điều chỉnh để cơ quan chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả của công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, toàn dân nhằm bảo vệ tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt được, công tác đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch còn có những hạn chế, bất cập. Cấp ủy, người đứng đầu một số địa phương, cơ quan, tổ chức nhận thức chưa đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này nên chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đúng mức. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lơ là, mất cảnh giác trong nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong đấu tranh, ngăn chặn thông tin nhiễu loạn còn mang tính hình thức, thụ động. Công tác tuyên truyền phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi chưa đa dạng, phong phú; nội dung thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao. Việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có địa phương còn sơ hở, thiếu sót; tình trạng cán bộ cấp cơ sở quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch với người dân vẫn còn. Công tác giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, để khiếu nại vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân, v.v. Đây chính là “miếng mồi ngon”, “mảnh đất màu mỡ” mà các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc gây nhiễu loạn thông tin.

“Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”

 

Hiện nay là thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0), người phụ nữ của thời đại 4.0 được gán cho rất nhiều trọng trách nặng nề, vừa phải phát triển sự nghiệp vừa chăm lo cho tổ ấm gia đình mình. Do vậy, người phụ nữ gặp rất nhiều khó khăn, rào cản của xã hội từ trong công việc, từ phía gia đình. Thế nhưng, với phẩm chất “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” của người phụ nữ Việt Nam luôn là phẩm chất đạo đức, truyền thống tốt đẹp, thể hiện vai trò làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ, đồng thời khẳng định vị thế của các chị trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

Lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, người phụ nữ Việt Nam đã đóng góp rất nhiều vào công cuộc dựng xây, bảo tồn, trau dồi, kế thừa, phát huy những phẩm chất đạo đức tốt đẹp từ đời này sang đời khác. Dân gian Việt Nam thường truyền miệng “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Trong đó, người phụ nữ được xem là có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng một nền tảng gia đình bền vững. Cuộc sống của thời đại mới 4.0, bên cạnh việc xây tổ ấm còn phải gánh vác rất nhiều trọng trách trong công việc.

Thời đại 4.0, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam được gói gọn trong 4 chữ: “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”. Trong 4 phẩm chất ấy, có hai tiêu chí điển hình cho thế hệ phụ nữ trẻ, đó là “tự tin”, “tự trọng”, hai tiêu chí còn lại là “trung hậu”, “đảm đang” vốn là truyền thống quý báu của dân tộc được duy trì và gìn giữ cho đến tận ngày nay. Tất cả những phẩm chất tốt đẹp đó đều có ở người phụ nữ hiện đại, chúng có mối quan hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau, phẩm chất này nhiều khi là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để dẫn đến phẩm chất khác. Tuy nhiên, để hài hòa giữa các phẩm chất, đòi hỏi người phụ nữ phải có sự khôn khéo, sắp xếp giữa việc nhà và việc nước.

“Tự tin” là phẩm chất mà người phụ nữ hiện đại không thể thiếu trong xã hội cách mạng công nghiệp 4.0. Đây là một điểm mới đối lập với người phụ nữ truyền thống. Vượt qua những rào cản tâm lý, tư tưởng của người phụ nữ thời xưa, ngày nay, người phụ nữ, mặc dù chưa xóa bỏ hết được những tâm lý tự ti, thiếu tự tin nhưng đã phần nào có chỗ đứng, tiếng nói và có quyền bình đẳng hơn với nam giới trong công việc, cuộc sống. Ngày nay, rất nhiều nữ giữ vai trò quan trọng trong lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nhiều nữ doanh nhân thành đạt giữ vai trò lãnh đạo, quản lý trong các doanh nghiệp lớn đã được tôn vinh, trở thành điểm sáng về người phụ nữ tự tin trong thời hiện đại mới, thời đại nam - nữ bình quyền, phụ nữ ngày càng tự tin hơn trong công việc cũng như trong cuộc sống gia đình và giao tiếp xã hội. Tuy nhiên, Người phụ nữ tự tin nhưng phải vẫn giữ được sự khiêm tốn, trân trọng giá trị và thành quả của người khác, luôn nỗ lực học hỏi, trau dồi, rèn luyện các kỹ năng sống, sức khỏe, duy trì và gìn giữ vẻ đẹp từ trong ra ngoài.

Trừ phẩm chất “tự tin”, “tự trọng” cũng là phẩm chất không thể thiếu của người phụ nữ Việt Nam. “Tự trọng” để biết dừng lại trước những điều xấu, biết chấp hành pháp luật, tự hình thành cho mình một thói quen ứng xử có văn hóa, giữ mình trước những cám dỗ thường ngày của thời đại 4.0 với nhiều cạm bẫy dễ sa vào như tham ô, hối lộ,... đối với những phụ nữ có chức quyền; dễ ăn gian, làm dối, chạy theo lợi nhuận,… đối với những phụ nữ lãnh đạo, điều hành các doanh nghiệp. Người phụ nữ tự trọng sẽ trân trọng các chuẩn mực đạo đức của xã hội, để không làm những việc trái với thuần phong mỹ tục, không chạy theo những hào nhoáng bề ngoài mà đánh mất giá trị ẩn sâu bên trong. Người phụ nữ tự trọng biết đặt đạo đức nghề nghiệp lên trước lợi ích của bản thân.

Đối lập với những phẩm chất “tự tin”, “tự trọng” được sinh ra trong thời đại mới, “trung hậu” là một trong những phẩm chất truyền thống quan trọng của người phụ nữ Việt Nam được truyền từ thế hệ phụ nữ này sang thế hệ phụ nữ khác từ xưa đến hiện nay. Ở Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, sự thủy chung, tình nghĩa, nhân ái, son sắt, vị tha, bao dung được đề cao trong mọi thời kỳ. Tất cả những đức tính tốt đẹp đó được gói trọn trong phạm vi của hai từ: “Trung hậu”. Người phụ nữ trung hậu là người giàu tình cảm, dám đứng lên đấu tranh cho những điều thiện, cho những người bị ức hiếp. Trung hậu để không vô cảm, để dám lên tiếng vì một thế giới tốt đẹp hơn, sẵn sàng thứ tha, bao dung để khiến lòng mình thanh thản.

Trong 4 phẩm chất, dù ở thời đại nào thì phẩm chất “đảm đang” của người phụ nữ đều được coi trọng, và là một trong những đức tính quý báu được nhân loại đề cao. Người phụ nữ đảm đang là người biết hài hòa, cân bằng các yếu tố trong cuộc sống như công việc, tình cảm, sức khỏe, gia đình, biết nghỉ ngơi để lấy lại năng lượng chứ không lao đầu vào công việc ngày đêm. Người phụ nữ Việt Nam đảm đang khi biết khéo léo chia sẻ những khó khăn cùng chồng con, động viên họ cùng tham gia công việc gia đình, biết dùng lý trí và tình cảm hài hòa trong mọi vấn đề của cuộc sống.

Bốn phẩm chất vừa truyền thống vừa hiện đại của người phụ nữ Việt Nam thời đại 4.0 “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” đã tạo nên sự hài hòa giữa những tinh hoa của dân tộc cùng văn minh của nhân loại. Người phụ nữ vẫn mãi  phấn đấu, rèn luyện để hoàn thiện bản thân mình, tự tin mang lại hạnh phúc cho chính mình, cho gia đình của mình và cho xã hội. Để làm được điều đó, ngoài nỗ lực tự thân, người phụ nữ rất cần đến sự giúp đỡ, hỗ trợ của những người thân trong gia đình, sự ủng hộ của đồng nghiệp, các đoàn thể, cộng đồng xã hội./.

“Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”

 


    Đó là lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11-9-1950.

    Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.

    Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng quân đội ta, từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    Trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, cùng với việc quan tâm chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị; xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, là tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng vững chắc tạo sự đoàn kết, nhất trí xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

ĐỘI QUÂN CHIẾN ĐẤU, ĐỘI QUÂN CÔNG TÁC

 

Quân đội Nhân dân Việt Nam có chức năng: đội quân chiến đấu; đội quân công tác; đội quân lao động sản xuất là thực tế khách quan; vậy mà thời gian gần đây, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch tiếp tục diễn biến phức tạp; chúng triệt để lợi dụng các Bộ đội giúp đỡ Nhân dân chống dịch Covid – 19 để xuyên tạc, công kích với đủ các luận điệu ấu trĩ, kém văn hóa.

Về “đội quân chiến đấu” đã được bàn nhiều, có lẽ không cần nói thêm. Trong việc thực hiện chức năng đội quân công tác, quân đội ta luôn gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với nhân dân, thực sự là cầu nối vững chắc và tin cậy của Đảng và Nhà nước với nhân dân. Sống trong lòng dân, bộ đội ta luôn tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đoàn kết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, khám chữa bệnh, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng đời sống văn hóa, ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Những ngày qua, hình ảnh các anh Bộ đội Cụ Hồ không quản ngại khó khăn, nguy hiểm kề vai sát cánh với Nhân dân chống Dịch Covid - 19 củng cố mối quan hệ máu-thịt với nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, thêm một lần nữa in đậm trong trái tim đồng bào cả nước. Các anh luôn là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của người dân trong những lúc nguy nan nhất, quân đội luôn làm điểm tựa vững chắc trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.

Tiếp  tục phát huy vai trò Quân đội trong phòng chống dịch bệnh, ứng phó sự cố thiên tai, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với Dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”./.

CHỐNG: “BỆNH CÔNG THẦN”

 

 Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về “thói hư tật xấu” của cán bộ, Người đã chỉ ra căn bệnh công thần: “Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng… Cậy thế mình là người của Đảng, phớt cả kỷ luật và cả cấp trên trong các đoàn thể nhân dân hoặc cơ quan Chính phủ. Những đồng chí mắc bệnh ấy không hiểu rằng: mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật chẳng những kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng. Trong đó, có cả cán bộ đương chức và cả cán bộ đã nghỉ hưu. Có những người tự kiêu tự mãn, để những căn bệnh ấy không chỉ làm méo mó hình ảnh, nhân cách, vinh quang của chính họ mà còn tạo ra dư luận xấu, ảnh hưởng đến niềm tin, tình cảm của nhân dân. Chỉ với một chút đóng góp, một chút thành tựu nhưng nhiều người đã coi trời bằng vung, coi mình là trung tâm của vũ trụ. Thậm chí, có những người ảo tưởng về sức mạnh của bản thân, tự cho mình là “cứu tinh” của nhân dân. Cũng từ căn bệnh công thần này sinh ra rất nhiều bệnh tật nguy hiểm khác. Có những người tự cho mình là quan trọng, tự cho mình là người đã đóng góp lớn cho Đảng, Nhà nước và sau đó đưa ra các yêu sách, đòi hỏi về những đặc quyền, đặc lợi cho bản thân, gia đình. Đối với cán bộ đã nghỉ hưu, có người thì đưa ra đòi hỏi về vật chất, chế độ; có người lại đưa ra đòi hỏi về vị trí “ghế ngồi” cho con, em mình. Khi yêu cầu không được đáp ứng thì không ít người lại sinh ra ấm ức, bất mãn với tổ chức, nhiều khi còn ghét thế hệ sau… và sinh ra chống đối, xét lại, thù hằn đội ngũ lãnh đạo, thù hằn chế độ. Cá biệt còn có người trở thành các phần tử cực đoan chống đối Đảng, Nhà nước ta như có phát ngôn thiếu tỉnh táo, kích động gây hoang mang cho dư luận và đặc biệt trong đó có cả tướng lĩnh đã về hưu. Có thể nói tất cả những cán bộ trên không làm theo lời Bác, tự cho mình là đúng nhất, phủ nhận tất cả mọi ý kiến khác, nhất là ý kiến của tổ chức. Khi có một chút công lao với đất nước lại tự kiêu ngạo và cho rằng ý kiến của mình có thể đứng trên ý kiến của người khác, như thế là thiếu khiêm tốn. Những cán bộ nói trên có lẽ không phải là người thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nên nhận xét vội vàng, hồ đồ, phủ nhận quyết định của Nhà nước đối với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Với những căn bệnh đó, chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh, không để những công thần khoe khoang, ngụy biện, làm hại đất nước.

Chúng ta cần phê phán bệnh công thần, bệnh kiêu ngạo cộng sản, không thể để một người phủ nhận công lao, thành tựu chung của đất nước. Như chúng ta đã biết, cán bộ là sức mạnh của quốc gia, là linh hồn của toàn hệ thống chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, tránh những căn bệnh ấy, rèn luyện đạo đức cách mạng, khi đương chức cũng như khi nghỉ hưu. Căn “bệnh công thần” vô cùng nguy hiểm. Ở một góc độ nhất định, những người mắc bệnh công thần cũng nguy hiểm không kém những người tham nhũng. Tất cả đều làm suy yếu nội bộ, khiến cho bản chất cách mạng của người cán bộ bị biến chuyển làm mất niềm tin với Nhân dân./.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ: NHỮNG GIÁ TRỊ BỀN VỮNG SOI SÁNG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

   Trong kho tàng di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, tư tưởng của Người về hội nhập quốc tế là một bộ phận hết sức quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Đây là cơ sở, nền tảng, là kim chỉ nam cho các hoạt động đối ngoại, hợp tác, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.

     Gắn kết phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới

   Trước hết, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy, hợp tác, hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại mới, là một nhân tố quan trọng đưa tới thành công của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Qua hành trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một cách nhìn mới về thế giới, về mối liên hệ giữa Việt Nam và thế giới. Người đã vượt qua những hạn chế mang tính lịch sử của các bậc tiền bối để hướng ra bên ngoài, gắn kết giữa sự nghiệp cứu nước của dân tộc Việt Nam với sự nghiệp cách mạng trên thế giới.

   Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hoạt động của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở nước ta trở nên sôi sục, rộng khắp, song những hoạt động đó đều không mang lại kết quả. Một trong những nguyên nhân cơ bản là do các nhà yêu nước lúc đó chưa đưa ra được các phương hướng cách mạng phù hợp với thời đại đã đổi thay. Từ trải nghiệm trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, nhận thức được xu thế thời đại, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng định: “cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Có thể xem đây là điểm khởi đầu của tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế. Một mặt, tư tưởng này thể hiện tầm nhìn mở rộng ra toàn thế giới, không chỉ thu hẹp ở phương Đông; mặt khác, quan điểm đoàn kết rộng mở của Người về hội nhập quốc tế là hướng vào những người làm cách mạng, không bị ràng buộc bởi châu lục hay màu da. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra một trong những yếu tố dẫn đến thành công của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là phải hội nhập với thế giới, đoàn kết với phong trào cách mạng thế giới để góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng nước ta. Chính từ đây, Người chủ trương đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường của thời đại mới: con đường cách mạng vô sản và Việt Nam đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của phong trào cách mạng thế giới.

   Từ tiếp cận và hướng theo học thuyết cách mạng, khoa học Mác - Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc -  Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn kết công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do chính Người sáng lập và lãnh đạo, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng của dân tộc. Đây là sợi dây gắn kết giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cộng sản quốc tế. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, “cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát xít”. Khi phát-xít Nhật đầu hàng Đồng minh, các lực lượng cách mạng Việt Nam đã chớp thời cơ, phát huy thế chủ động, cùng toàn thể đồng bào vùng lên giành chính quyền, đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam độc lập.

   Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư tưởng chỉ đạo trong công tác đối ngoại “dĩ bất biến ứng vạn biến” đã tích cực đưa hoạt động đối ngoại hướng tới tranh thủ sự ủng hộ của các nước trên thế giới. Ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập, về đối ngoại, Người kêu gọi các nước Đồng minh công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam. “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”. Về đối sách của Chính phủ Việt Nam, Người khẳng định: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”. Sau khi đất nước độc lập, trên cương vị người đứng đầu Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi nhiều điện, thư đến các vị nguyên thủ, ngoại trưởng của các nước, như Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô và đến Liên hợp quốc... thể hiện quan điểm đối ngoại của Việt Nam, đó là cố gắng mở rộng quan hệ với các nước, nhất là các cường quốc, để tranh thủ sự công nhận địa vị pháp lý của nước Việt Nam độc lập, qua đó xác lập vị thế chủ nhà trong việc giao tiếp với các nước bên ngoài, bảo vệ chế độ dân chủ cộng hòa vừa được thành lập. Từ năm 1950, ngoại giao Việt Nam đã “mở ra con đường hướng lên phía bắc, đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân”. Từ đây, cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận và được sự ủng hộ tinh thần, viện trợ vật chất của cách mạng thế giới, phục vụ công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Những sự kiện trên đánh dấu bước hội nhập quan trọng của Việt Nam vào khối các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó ngoại giao đóng vai trò mở đường.

   Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), với tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế, ngoại giao Việt Nam đã phối hợp nhịp nhàng với đấu tranh quân sự và chính trị, tích cực tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa và sự đoàn kết đấu tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, hình thành mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, trực tiếp góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

     Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế

   Ngay sau ngày tuyên bố độc lập năm 1945, Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Thông cáo về chính sách đối ngoại, khẳng định mục tiêu phấn đấu cho “nền độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn”. Trong đó, tư tưởng cơ bản là thân thiện và hợp tác với tất cả các nước, từ các nước Đồng minh, các nước láng giềng, các dân tộc đang đấu tranh giải phóng cho đến nhân dân Pháp, kể cả kiều dân Pháp đều được bảo đảm sinh mệnh và tài sản, nếu họ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam. Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định phương châm đối ngoại của Việt Nam là “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Người nhấn mạnh: “Mục đích của ta lúc này là tự do, độc lập... Là bạn của ta trong giai đoạn này tất cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy”.

   Có thể thấy, từ chiến lược hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng nước ta từng bước hòa vào dòng chảy của cách mạng thế giới, luôn gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Đánh giá thành quả của cách mạng Việt Nam đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng ta đã vượt được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang ngày nay”. Mặt khác, tư tưởng Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, hội nhập quốc tế không chỉ diễn ra một chiều, giành được lợi ích cho mình mà còn đóng góp vào hòa bình, tiến bộ của thế giới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “nhân dân ta chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”.

    Nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến lược hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, xác định đúng các dòng chảy của thế giới trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đã thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, trên nguyên tắc bao trùm và cũng là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Chính từ chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, nước ta từng bước vượt qua tình trạng bị bao vây, cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có tất cả các nước lớn, tham gia các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Liên hợp quốc..., phát huy vai trò tích cực, chủ động trong mọi hoạt động tại các thể chế đa phương.

   Sau thống nhất đất nước năm 1975, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều chuyển biến sâu sắc, tạo ra những thời cơ và thách thức lớn đối với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng ta (năm 1986) đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế trên tinh thần giữ vững độc lập, chủ quyền dân tộc. Trong xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời kỳ quá độ, đổi mới, kiên định chiến lược hội nhập quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta luôn quán triệt và thực hiện bài học kinh nghiệm lớn “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”. Trong đó, để tận dụng sức mạnh thời đại, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;... nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”.

   Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, đạt  nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Điều này một lần nữa khẳng định, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, nếu nhận thức đúng và nắm bắt được xu thế phát triển, các dòng chảy của cách mạng thế giới, gắn mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta với các quốc gia, dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, thì sẽ tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới; ngược lại với xu thế trên, sẽ khó thành công.

     Thực hiện nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi

   Ngay từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư đến Quốc hội và Chính phủ Pháp nêu rõ: “Chỉ cần nước Pháp công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và tình cảm của tất cả những người Việt Nam”. Với Mỹ, Người kiên quyết yêu cầu “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam”. Với việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7-1954), Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), Pháp và Mỹ đều phải cam kết, thừa nhận nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Đây là cơ sở để sau khi hòa bình lập lại, với phương châm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, quan hệ giữa Việt Nam với các nước đó đã được thiết lập và phát triển trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, hợp tác, hữu nghị, cùng phát triển. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục khẳng định, phải quán triệt nguyên tắc chiến lược là tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau trong hội nhập quốc tế. Trong đó, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ biện chứng với nhau.

   Không chỉ như vậy, hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn là quá trình hướng tới chọn đối tác, mở rộng quan hệ, hợp tác quốc tế, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi.

   Sau khi nước nhà độc lập, năm 1946, trong Thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực. Theo đó, Người nêu ra một số giải pháp: Việt Nam sẽ dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, các nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; sẵn sàng chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế; sẵn sàng ký kết các hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan... Ngay trong những năm kháng chiến chống Pháp, Người khẳng định rõ thiện chí: “Chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”, “Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”.

   Khi bàn về quan hệ hợp tác trong thời kỳ đấu tranh giải phóng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến thực lực của đất nước là nhân tố quyết định thành công. Người thường nhắc nhở phải “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, “dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp mình thì trước hết phải tự giúp lấy mình đã”. Người khẳng định: “Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”. Người mong muốn xây dựng một nền kinh tế độc lập, không lệ thuộc vào ngoại bang, dựa vào những điều kiện, tiềm năng sẵn có của dân tộc để không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, trong khi ra sức đấu tranh cho lợi ích của dân tộc mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia, dân tộc khác. Người cho rằng “Mình chớ làm cho người những điều không muốn người làm cho mình”. Phát biểu nhân dịp Ngày Quốc khánh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 2-9-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Trong quan hệ đối với các nước khác, chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là rõ ràng và trong sáng: Đó là một chính sách hòa bình và quan hệ tốt... tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hòa bình”. Điều này cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khác hản với những người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt lập. Cùng với việc duy trì tính độc lập, tự chủ, Người chủ trương xây dựng khối đoàn kết quốc tế, quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các đối tác, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế, nhất là hợp tác kinh tế quốc tế có nội dung rất rộng, có giá trị tham chiếu cho quá trình hội nhập quốc tế, với các bước đi thích hợp của Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay.

   Có thể thấy, trong hội nhập quốc tế nói chung, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển kinh tế là một tư tưởng lớn và nhất quán ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm đó được hình thành là kết quả của quá trình khảo sát thực tiễn trong nước và quốc tế, nhận thức đúng quy luật vận động, xu thế phát triển của thời đại. Người khẳng định, hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước là nhu cầu khách quan có tính quy luật phổ biến của mọi nền kinh tế, là điều kiện quan trọng bảo đảm thực hiện thành công sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đây chính là biểu hiện của sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tiến trình phát triển.

   Lịch sử đã khẳng định tính đúng đắn trong quan điểm Hồ Chí Minh về việc xác định đối tác mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và trong quan hệ hợp tác, thực lực của đất nước là nhân tố quyết định thành công. Đây là những quan điểm đi trước thời đại và có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay của Việt Nam, là những việc mà nước ta đã và đang triển khai trong quá trình hội nhập vào một thế giới toàn cầu hóa, mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến, khoa học quản lý hiện đại... Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới, từng bước hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của chiến lược hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

     Giương cao ngọn cờ chính nghĩa: “Thêm bạn, bớt thù”, đoàn kết quốc tế

    Trải qua các chặng đường đấu tranh giành và giữ độc lập dân tộc, cách mạng Việt Nam luôn xác định rõ bạn, thù; phân hóa “bạn”, “thù” ngay trong hàng ngũ đối phương. Nhờ vậy, cách mạng Việt Nam đã giành được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân tiến bộ trên thế giới. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp”. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người nói: “Nhân dân Việt Nam coi nhân dân Mỹ là bạn của mình”. Với phương châm đúng đắn đó mà cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta đã nhận được sự ủng hộ to lớn của phong trào cách mạng, nhân dân tiến bộ thế giới chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhất là ở châu Âu và Mỹ. Năm 1967, nhân dân tiến bộ Mỹ với cuộc đấu tranh “Mùa Xuân” đã lôi cuốn hàng triệu người tham gia, đến cuộc đấu tranh “Mùa Thu” có tới 3.400.000 người của hơn 100 thành phố Mỹ vào cuộc, đạt tới đỉnh cao là cuộc bao vây Lầu Năm góc của 200.000 người Mỹ trong suốt 32 giờ liền. Tiếng nói phản chiến từ các cuộc biểu tình trên đường phố đã có tác động lớn đến giới cầm quyền chính quốc, thể hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Với phương châm thêm bạn, bớt thù, đoàn kết quốc tế, chúng ta đã giương cao ngọn cờ chính nghĩa đó.

   Ngày nay, trong bối cảnh mới, chúng ta tiếp tục kiên định, nhất quán tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”. Với chính sách đối ngoại rộng mở, Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với tất cả các nước, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế. Từ chủ trương rộng mở quan hệ đối ngoại của Đại hội VI của Đảng, với những kết quả đối ngoại của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, đã củng cố những bước tiến vững chắc của Việt Nam theo phương châm “muốn là bạn với tất cả các nước” của Đại hội VII, “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” của Đại hội IX, “là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” của Đại hội XI và điều này tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng. Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, đem lại nhiều kết quả tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, hợp tác, phát triển của nhân dân thế giới. Trong quan hệ đối ngoại, chúng ta kiên trì phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Trong đó, hai mặt hợp tác và đấu tranh gắn bó hữu cơ với nhau. Thúc đẩy hợp tác nhưng vẫn phải đấu tranh dưới hình thức, mức độ thích hợp với từng đối tượng, trên từng vấn đề, nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, thiết lập quan hệ bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình. Chính sự kết hợp đúng đắn, linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh đã giúp Việt Nam tranh thủ được ngày càng nhiều sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đối với sự nghiệp chính nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

   Thực tế ngày nay cho thấy, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” là phù hợp với xu thế quan hệ quốc tế hiện nay. Những quan điểm đó đã và đang được Đảng, Nhà nước ta quán triệt, vận dụng trong đường lối và thực tiễn quan hệ đối ngoại, hướng tới mục tiêu tiếp tục tạo lập môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và thế giới cho sự phát triển của đất nước, vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Chính từ đây đã mở ra một trang mới trong lịch sử đối ngoại của nước ta. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao chính thức với 189/193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, trong đó có cả những nước từng là cựu thù của Việt Nam. Trong các mối quan hệ quốc tế đa tầng, đan chéo, biến động phức tạp khó lường hiện nay, quán triệt các quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần tích cực, chủ động hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn với thế giới, qua đó sẽ góp phần xây dựng lòng tin chiến lược trong hợp tác, phát triển của quốc gia, góp phần vào sự phát triển chung của cộng đồng quốc tế.

   Lịch sử cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế đã phát huy hiệu quả to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới. Ngày nay, mặc dù quan hệ quốc tế và tình hình Việt Nam đã thay đổi căn bản, nhưng những quan điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa chiến lược, tiếp tục được quán triệt và thấm sâu vào mọi chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc cho nước ta tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả./.