Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

Bản chất của cái gọi là “Quốc gia hóa Quân đội”

 

Cùng với việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được xác định tại Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị đang ra sức truyền bá quan điểm đòi “quốc gia hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, cho rằng: “Quân đội bao giờ cũng là của quốc gia, không phải là của một đảng phái hay một thể chế chính trị nào”, “Quân đội chỉ trung thành với Hiến pháp” và yêu cầu “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội” theo kịch bản “Cách mạng pháp luật” của phương Tây... Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cũng ngộ nhận về quan điểm này, cho rằng đã có lúc quân đội ta là “Quân đội quốc gia”. 

Thực chất của quan điểm “quốc gia hóa quân đội” là đòi quân đội phải trung lập, “phi đảng hóa”, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và mất sức chiến đấu; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và suy thoái. 

Lịch sử chiến tranh và quân đội đã chứng minh và khẳng định: Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy của quân đội phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị. V. I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản..., bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động” (1). 

Ở các nước tư bản thực hiện chế độ đa đảng, các đảng có thể cầm quyền về thực chất là những hình thái tổ chức khác nhau đại diện cho các “tập đoàn lợi ích” khác nhau của giai cấp tư sản. Thực tiễn cho thấy, ở các nước tư bản, các đảng phái có thể thay nhau cầm quyền, song bộ máy Nhà nước cũng như quân đội đều được tổ chức và hoạt động theo thể chế chính trị của xã hội tư bản, đều phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Quân đội tư sản không chỉ được sử dụng để bảo vệ lợi ích quốc gia, mà còn để đàn áp sự phản kháng của nhân dân lao động bị áp bức. Hiện ở Mỹ có “quân đội tư nhân” lớn nhất thế giới là đội quân đánh thuê của Công ty Blackwater do tỷ phú Erick Prince lập ra, với quân số hàng trăm ngàn, có cả máy bay, tàu chiến và vũ khí hạng nặng, được coi là lực lượng thiện chiến ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và có “khả năng lật đổ” nhiều chính phủ trên thế giới. Tuy nhân danh là “Bảo vệ lợi ích và giá trị Mỹ”, nhưng về thực chất, hoạt động của đội quân đó do các ông trùm tư bản điều khiển và bảo vệ thể chế chính trị của xã hội tư bản. 

Cách mạng Tháng Mười năm 1917 là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử nhân loại đã dẫn tới sự ra đời của Nhà nước kiểu mới - Nhà nước XHCN, gắn liền với sự ra đời của quân đội kiểu mới - quân đội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết còn non trẻ, V. I. Lê-nin rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội, coi đó là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô-viết đã vượt qua những thử thách nghiệt ngã của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian khổ hy sinh to lớn trong Đại chiến Thế giới lần thứ II, làm nên những chiến thắng vĩ đại, khẳng định sức mạnh vô địch của quân đội kiểu mới và sức sống mãnh liệt của Tổ quốc XHCN, tác động to lớn đến sự phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới. 

Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Những thuộc tính bản chất của quân đội kiểu mới được thể hiện tập trung rõ nét ở lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và CNXH; ở chức năng, nhiệm vụ của đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất; ở cơ sở chính trị-xã hội luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy mang tính cách mạng và khoa học; trong đó vấn đề quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với bản chất và sức mạnh chiến đấu của quân đội là nguyên tắc và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Thực tiễn gần 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã chứng minh và khẳng định: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc quan trọng hàng đầu, bảo đảm cho quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc XHCN và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. 

Đúng là có lúc Đảng ta rút vào hoạt động bí mật, trong tình thế hiểm nghèo phải thực hiện kế sách nhân nhượng để thêm bạn bớt thù, bộ máy Nhà nước có người của lực lượng Việt quốc, Việt cách và người không đảng phái, quân đội ta có lúc mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam (1946-1950), nhưng Đảng ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Tháng 1-1946, BCHTW Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy để tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội và cuộc kháng chiến. Tháng 5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một số sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL. Theo các sắc lệnh đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp (lúc đó là ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Quân ủy) được giao trọng trách là Tổng chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội là cơ quan quân sự tối cao có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc; trong quân đội từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn có Chính trị viên, cấp chiến khu có Chính trị ủy viên do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh và trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược để lãnh đạo dân tộc vượt qua hiểm nguy, giành thắng lợi vẻ vang.

Trong khi truyền bá quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối và nguyên tắc xây dựng quân đội của Đảng ta, bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của người chỉ huy, hạ thấp vai trò và tiến tới bãi bỏ hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Có thể nói, quan điểm đòi “quốc gia hóa quân đội” của các thế lực thù địch rất hiểm độc, tập trung công kích thẳng vào một đặc trưng bản chất có ý nghĩa sống còn của quân đội kiểu mới.

Sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng về chiến lược và phải trả ngay những giá rất đắt nếu ngộ nhận về quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “phi đảng hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết cho chúng ta bài học rất sâu sắc về vấn đề này. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, đáng chú ý là khi ông M.Goóc-ba-chốp làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (1985-1991), những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Chỉ trong khoảng hai năm từ 1987-1989, gần 50% cán bộ cơ quan chiến lược của quân đội và khoảng 30% tướng lĩnh bị cho ra quân, trên 100 cán bộ lãnh đạo chính trị cấp chiến dịch-chiến lược bị cách chức với lý do “tư tưởng bảo thủ, yếu kém, không ủng hộ cải tổ”(!). Chính Nguyên soái Sa-pô-xni-cốp trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô, với những toan tính cá nhân cơ hội, thực dụng đã trực tiếp tham gia khởi xướng và thực thi việc “phi đảng hóa” Quân đội Liên Xô. Ngày 23-8-1991, ông ta đã trở cờ, tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và tiếp đó buộc mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng. Ngày 29-8-1991, M.Goóc-ba-chốp ra lệnh giải tán các cơ quan chính trị và từ 1-9-1991 chấm dứt mọi hoạt động của Đảng trong Quân đội Liên Xô. Đó là nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991. Mặc dù lúc đó Quân đội Liên Xô còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị biến chất về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN.

Từ những bài học sâu sắc được đúc kết trong thực tiễn, trước những diễn biến phức tạp của tình hình và sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN trong thời kỳ mới, với bản lĩnh và trí tuệ được tôi luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt trong đấu tranh cách mạng, chúng ta không thể chấp nhận quan điểm “quốc gia hóa quân đội”; trái lại càng phải đặc biệt coi trọng giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đây là một vấn đề chiến lược và mang tính cấp thiết, không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, mà còn liên quan trực tiếp đến sự an nguy của đất nước và sự sống còn của chế độ XHCN.

 

NGƯỜI DÂN CẦN TỈNH TÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ TỪ NHỮNG BỘ PHIM TRUYỀN HÌNH CỦA TRUNG QUỐC

 



Những ngày qua, sau khi mạng xã hội Baidu của Trung Quốc công chiếu trailer phim “Quân đội Vương Bài” và đặc biệt là đoạn “quảng cáo” mang tính xuyên tạc lịch sử về cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta, chúng biến họ từ một kẻ đi xâm lược thành người bị xâm lược và phải đứng lên tự vệ. Những nội dung đó đã xuyên tạc hoàn toàn lịch sử, gây bất bình trong quần chúng nhân dân những ngày vừa qua.

Theo như phần quảng cáo cho bộ phim “Quân đội Vương Bài” thì: “Phim Vương Bài lấy bối cảnh phim là những năm 1980, khi lực lượng quân sự của Việt Nam mạnh lên không ngừng, họ cũng bắt đầu có ý nghĩ xấu đối với lãnh thổ của Trung Quốc và phát động một loạt cuộc quấy rối và xâm phạm biên giới của Trung Quốc…”, cho thấy, rõ ràng bộ phim này là một kiểu “tuyên truyền tâm lý chiến”, xuyên tạc lịch sử và xâm phạm trực tiếp đến “thể diện” quốc gia của chúng ta. Đây không còn là ý đồ mà là một chiến lược “thực thi quyền lực mềm văn hoá” rất quen thuộc của Trung Quốc đối với các quốc gia khác. Nói thẳng, bộ phim “Quân đội Vương Bài” là một sự “dựng chuyện” có mục đích lợi ích quốc gia rõ ràng của nhà sản xuất phim Trung Quốc. Điều này là không thể chấp nhận được.

Trước Quân đội vương bài, hàng loạt phim Trung Quốc đã góp phần quảng bá cho sức mạnh của Trung Quốc, khiến dư luận phẫn nộ vì cài cắm " đường lưỡi bò", vi phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ Việt Nam như các bộ phim “Nhất sinh nhất thế”, “Em là niềm kiêu hãnh của anh”, “Em là thành trì doanh lũy của anh”, “Lấy danh nghĩa người nhà”, “Gửi thời thành xuân ấm áp của chúng ta”, “Everest – Người tuyết bé nhỏ” và nhiều bộ phim khác. Những bộ phim này nếu không được cấm chiếu tại Việt Nam thì đây sẽ là hình thức truyền bá “đường lưỡi bò” của Trung Quốc rất hiệu quả.

Bên cạnh nhiều luồn dư luận chỉ trích những bộ phim xuyên tạc lịch sử, chủ quyền của đất nước ta thì vẫn còn nhiều bạn trẻ là fan cuồng của những diễn viên nổi tiếng tham gia đóng phim vẫn đứng ra ủng hộ thần tượng, ủng hộ bộ phim. Đối với những bạn trẻ này thì việc ủng hộ diễn viên thần tượng tham gia phim là dễ hiểu nhưng những thông điệp của bộ phim cần phải chấm dứt vì chúng rất nhạy cảm, xuyên tạc trắng trợn lịch sử và có thể tác động rất lớn tới nhận thức của thế hệ trẻ.

Việc Trung Quốc cho sản xuất và phát hành những bộ phim trên không có gì là xa lạ với chiến lược tuyên truyền của họ. Còn đối với chúng ta thì những bộ phim xuyên tạc lịch sử, thực hiện chiến lược tuyên truyền cho chính sách “bá quyền” như “Quân đội Vương Bài” cần bị cấm chiếu ở tất cả các nền tảng xã hội, cũng như ở tất cả các quốc gia. Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cần có kiến nghị lên Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để có phương án ngăn chặn “kịp thời”.

Còn với khán giả Việt Nam, việc lựa chọn tiếng nói “phản bác” lại luận điệu tuyên truyền của bộ phim trên cũng chính là thực hiện quyền và nghĩa vụ của một công dân đối với đất nước. Ngoài việc báo cáo lên nhà cung cấp các nền tảng xã hội, việc không xem bộ phim trên cũng là cách chúng ta không để lọt loại “virus văn hoá độc hại” này xâm nhập và lây lan sâu trong “bầu khí quyển lịch sử trong lành” của chúng ta. Chúng ta không cần và không nên vì “lợi ích ngoại giao hình thức” mà làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, sự tự tôn dân tộc. Độc lập chủ quyền và thể diện quốc gia là những điều bất khả xâm phạm.

Bên cạnh đó, chúng ta cần tăng cường sản xuất những bộ phim phản ánh trung thực lịch sử về các cuộc chiến tranh mà nhân dân, đất nước Việt Nam từng chịu nhiều đau thương mới có được. Đây chính là “liều vaccine” hữu hiệu nhất để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, không chỉ trên thực tế mà còn là ở trong “lập trường tư tưởng”, trong sự kiên định chân lý đối với lợi ích quốc gia, tự hào dân tộc. Độc lập chủ quyền và toàn vẹn đất nước không chỉ có ở trên lãnh thổ, mà độc lập chủ quyền và toàn vẹn đất nước còn nằm ở “không phận” văn hoá. Mỗi chúng ta cần nâng cao nhận thức, cảnh giác và lên án trước âm mưu sử dụng các sản phẩm điện ảnh để xuyên tạc lịch sử, truyền bá văn hóa xấu, độc của Trung Quốc để bảo vệ nên văn hóa, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ mà ông cha ta đã mất bao sương máu để bảo vệ.

 

SỨC MẠNH CỦA NIỀM TIN

 

Một trong những bài học xương máu sau chính biến ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là việc giữ được niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng Cộng sản. Vì vậy, giáo dục niềm tin đã trở thành một biện pháp quan trọng nhằm góp phần xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới trong thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức.


Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu để lại cho chúng ta một bài học xương máu: “Mất niềm tin là mất tất cả”. Chính vì mất niềm tin vào sự lãnh đạo của đảng cộng sản và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà chỉ sau một đêm, toàn bộ thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội đã bị xóa sạch ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Hậu quả của nó thật khủng khiếp: Đảng cộng sản bị giải tán, đất nước rơi vào khủng hoảng mất phương hướng. Nhớ lại tấn bi kịch này, nhiều chính khách và nhiều trí thức lớn ở Nga đã bày tỏ sự thất vọng và họ tự thấy ấy ân hận, mắc tội về sự tan rã của Liên Xô.


Những biến động đổ vỡ trên đây đã ảnh hưởng rất lớn đến bối cảnh chính trị toàn cầu, trong đó có Việt Nam, khiến cho không ít người rơi vào hoang mang, dao động. Tuy nhiên, vượt lên mọi sóng gió, với chủ trương đổi mới đúng đắn, được sự ủng hộ của nhân dân, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Song, những bài học đau đớn của lịch sử vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở những người cộng sản Việt Nam không được ngủ quên trong chiến thắng. Bên ngoài, các thế lực thù địch chưa hề từ bỏ mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện “diễn biến hòa bình”, kích động lật đổ. Trong nước, một bộ phận không nhỏ đảng viên có biểu hiện suy thoái, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nhận thức được những nguy cơ làm “chệch hướng”, “đổi màu”, ngay từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VII Đảng ta đã đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó đáng chú ý nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Mục đích quan trọng nhất của chỉnh đốn Đảng là làm trong sạch Đảng, tăng cường sức mạnh của Đảng và lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, coi sự nghiệp cách mạng của Đảng cũng là sự nghiệp cách mạng của nhân dân, thấu triệt nguyên tắc: do dân và vì dân. Từ thực tiễn cách mạng, Đảng ta nhận thức một cách sâu sắc rằng, sự thành bại của sự nghiệp cách mạng luôn luôn gắn liền với niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Muốn dân tin Đảng, Đảng phải coi lợi ích của nhân dân, của đất nước là mục tiêu phấn đấu của mình.


Niềm tin là một phạm trù triết học và là đối tượng nghiên cứu của thần học. Trong Ki-tô giáo, niềm tin gắn liền với ý Chúa và thiên đường. Trong Phật giáo, niềm tin gắn với sức mạnh và sự che chở của Đức Phật toàn năng. Trong tín ngưỡng, niềm tin gắn với sức mạnh siêu nhiên giúp con người vượt lên sợ hãi, đẩy lùi tai họa, hướng tới an yên. Cho dù mỗi tôn giáo, tín ngưỡng có những cách tạo dựng niềm tin riêng, nhưng điểm chung là hướng con người về những niềm tin hư ảo. Tuy nhiên, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, niềm tin tôn giáo vẫn tồn tại bởi trong cuộc sống, con người luôn phải đối mặt với nhiều trớ trêu, nghịch cảnh, và niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên chính là nơi con người bấu víu để vượt qua tâm lý sợ hãi, bất lực. Về bản chất, đó là thứ niềm tin mang tính chủ quan, không có cơ sở thực tiễn và không được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Trái ngược với niềm tin tôn giáo, triết học Mác  - Lê-nin đề cao lý tính, coi trọng thực tiễn, coi tri thức của con người là nhân tố cơ bản của niềm tin. Niềm tin ấy có tính khách quan vì đó là niềm tin gắn liền với quy luật phát triển của lịch sử nhân loại. Bởi thế, niềm tin trong triết học Mác khác hẳn với niềm tin tôn giáo. Vì xuất phát từ thực tiễn, được tạo dựng từ thực tiễn nên niềm tin mác-xít gắn liền với lý tưởng cao đẹp và mang tính hiện thực. Nó khác với thái độ cuồng tín, bất chấp thực tiễn. Bản chất của nó là dù gặp phải bất cứ gian nan nguy hiểm nào, vẫn kiên định phấn đấu, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng đã chọn lựa. Vì thế, niềm tin luôn gắn với lý tưởng, trở thành niềm tin lý tưởng. Lý tưởng ở đây là lý tưởng cách mạng, gắn liền với đấu tranh vì hạnh phúc của con người. Niềm tin lý tưởng, trong điều kiện lịch sử cụ thể, chuyển hóa thành niềm tin đối với người lãnh đạo, tổ chức lãnh đạo và học thuyết cách mạng. Đó phải là học thuyết cách mạng nhất và nhân văn nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, muốn giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, trước hết phải tìm thấy lý tưởng và kim chỉ nam hành động. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, tại Pa-ri, Người đã tìm thấy con đường ấy khi đọc Luận cương của Lê-nin về vấn đề giải phóng dân tộc và thuộc địa. Người cho rằng, muốn làm cách mạng trước hết phải có đảng cách mạng chân chính nắm vai trò lãnh đạo. Người khẳng định: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”.


Thực tiễn gần 90 năm qua của cách mạng Việt Nam cho thấy,  Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự đã quy tụ được niềm tin của giai cấp công nhân, của nhân dân Việt Nam. Đây chính là nguyên nhân hết sức quan trọng đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Tất nhiên, để đạt được những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, hướng tới một xã hội tốt đẹp, không có bóc lột, áp bức, bất công là một quá trình hết sức lâu dài và gian khổ. Con đường ấy không bao giờ bằng phẳng mà khúc khuỷu, gập ghềnh. Muốn hoàn thành sứ mệnh của mình, chủ nghĩa xã hội phải thường xuyên tự đổi mới, tự phát triển, tự hoàn thiện;  và với tư cách là người tổ chức, dẫn đường, Đảng phải luôn là người tiên phong, chiếm được niềm tin tuyệt đối của nhân dân, lãnh đạo cách mạng vận hành theo quy luật khách quan. Ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất, khi chủ nghĩa xã hội thoái trào thì mỗi đảng viên phải là một tấm gương sáng, kiên định lập trường, giữ vững niềm tin cách mạng. Chỉ có như thế nhân dân mới thực sự tin Đảng.


Nhìn lại lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay, những thành tựu to lớn mà Đảng và nhân dân ta đạt được trong gần chín thập niên qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là Đảng tin dân và dân tin Đảng. Trong những năm đất nước nằm dưới ách nô lệ, dân chính là người che chở, bảo vệ Đảng bởi tin rằng, Đảng là người sẽ đưa dân tộc thoát khỏi xiềng xích nô lệ. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tiền đồ cách mạng đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để giải phóng non sông đất nước. Và niềm tin ấy cũng là tiền đề quan trọng để cả nước bắt tay xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.


Niềm tin của quần chúng nhân dân dành cho Đảng biểu hiện hết sức cụ thể trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, trong sản xuất, chiến đấu, trong khó khăn, hoạn nạn... Nó được biểu hiện qua các mối quan hệ gần gũi, tin cậy lẫn nhau, trong đó người đảng viên luôn chiếm được tình cảm quý mến, trân trọng của nhân dân. Đặc biệt, vẻ đẹp và sức mạnh của niềm tin lý tưởng được thể hiện hết sức tập trung và sinh động trong văn học, nghệ thuật. Người chiến sĩ cộng sản với tinh thần sẵn sàng xả thân cho lý tưởng, dám quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc đã trở thành hình ảnh quen thuộc đối với người dân Việt Nam trong suốt hơn một thế kỷ qua. Mối quan hệ giữa dân với Đảng là mối quan hệ cá - nước, gắn bó bền chặt thành “ý Đảng lòng dân”.


Có thể nói, mọi vẻ đẹp cao cả nhất của người cộng sản chân chính được kết tụ rõ nét nhất trong hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người trở thành niềm cảm hứng bất tận cho âm nhạc, văn học, mỹ thuật, hội họa, kiến trúc,... Hình tượng người cộng sản Hồ Chí Minh trong văn học, nghệ thuật đã đem lại những cảm xúc mạnh mẽ cho công chúng tiếp nhận nghệ thuật, tạo sức lan tỏa lớn trong cộng đồng. Đó là câu chuyện về một huyền thoại giữa đời thường bởi Người lúc nào cũng gần gũi với nhân dân, gắn bó với vận mệnh của dân tộc và nhân dân.


Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử mới với cả những thuận lợi lớn, thách thức lớn. Về khách quan, tình hình chính trị thế giới vẫn biến động hết sức phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chia rẽ sự đoàn kết thống nhất giữa dân với Đảng. Về chủ quan, thực tiễn đổi mới xuất hiện nhiều vấn đề mới, trong đó đáng chú ý là vấn đề đổi mới thể chế và phương thức lãnh đạo của Đảng, vấn đề mối quan hệ giữa Đảng với dân. Trong các nguy cơ làm ảnh hưởng đến sự nghiệp cách mạng hiện nay Đảng ta đã chỉ rõ nhiều nguy cơ, trong đó, đáng chú ý là nguy cơ “nội xâm” mà biểu hiện của nó là tệ tham nhũng, quan liêu, vô cảm, xa dân... Gần đây, hiện tượng “lợi ích nhóm”, thậm chí là sự manh nha của loại tư bản thân hữu đã được cảnh báo. Đây là nguy cơ từ bên trong, rất nguy hiểm, trực tiếp làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nó rất dễ làm chệch hướng cách mạng và sự nghiệp đổi mới đất nước nếu không sớm bị phát hiện và kiên quyết loại trừ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: giành độc lập cho nước mà không đem lại hạnh phúc cho dân thì độc lập ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nguy cơ “nội xâm” sẽ là nguy cơ tạo sự bất ổn từ bên trong, từng bước làm suy yếu và tan rã Đảng Cộng sản, cuối cùng là “đổi màu” chế độ, đưa đất nước rơi vào khủng hoảng, sụp đổ.


Trong bối cảnh lịch sử hiện nay, sự phát triển ở Việt Nam đương đại là sự thay đổi mang tính bước ngoặt, vì thế, về văn hóa phát triển, đòi hỏi Việt Nam phải giải quyết hợp lý hàng loạt vấn đề: mối tương quan giữa giá trị mới và giá trị cũ, giữa văn hóa dân tộc và sự ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài, giữa lý tưởng và hiện thực, giữa cống hiến và hưởng thụ... Tất cả những vấn đề trên đây có ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức, định hướng giá trị, hành vi, lối sống của cá nhân và cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ. Đối mặt với những thay đổi này, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động thích ứng với bối cảnh mới của thời đại, xây dựng hệ giá trị mới mang bản sắc Việt Nam, làm sao để mỗi người Việt Nam đều mang trong mình khát vọng cống hiến cho sự phát triển của đất nước, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới. Việc trau dồi lý tưởng sống tốt đẹp sẽ giúp cho mọi người có định hướng đúng đắn trong quá trình nhận thức các giá trị và hoàn thiện bản thân. Coi giáo dục niềm tin là vấn đề quan trọng, chúng ta cần giáo dục cho con người tình yêu quê hương đất nước, giá trị truyền thống của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng; có niềm tin vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Niềm tin lý tưởng của người cách mạng Việt Nam hiện nay chính là niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản. Đây cũng là hai giai đoạn của phát triển mà nhân loại sẽ hướng tới. Quan điểm thực tiễn đòi hỏi phải nhận thức đúng cách mạng Việt Nam đang ở giai đoạn nào thật cụ thể, để từ đó có chiến lược và phương thức phát triển hợp lý, tránh nôn nóng, đốt cháy giai đoạn. Vì đốt cháy giai đoạn thực chất là biểu hiện của duy ý chí, bất chấp thực tiễn lịch sử. Vì thế, cần tránh hai quan niệm thiên lệch: một là, không xác định rõ tình hình hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chứ chưa phải đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nếu chúng ta dùng những tiêu chí của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản để soi vào thực tiễn hiện nay, từ đó đề ra các chính sách kinh tế, văn hóa quá tầm mức là nóng vội, bất chấp hiện thực lịch sử, hệ thống chính sách sẽ phản tác dụng, làm nhân dân chán nản vì sự không phù hợp giữa chính sách và thực tiễn, giữa mục đích và phương thức; hai là, thấy chủ nghĩa cộng sản là hình ảnh quá xa vời, chưa qua kiểm nghiệm thực tiễn, từ đó chủ trương không cần giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chú trọng những thành quả vật chất có được. Thái độ này tất sẽ dẫn đến tình trạng sùng bái hưởng thụ, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà bỏ quên cái lợi lâu dài. Điều đó trước hết đòi hỏi cần phải thay đổi quan niệm về niềm tin và cách tạo dựng niềm tin trên cơ sở đổi mới về tư tưởng, bám sát thực tiễn, quán triệt đường lối của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ. Cương lĩnh của Đảng đã nêu rất rõ về mục tiêu cuối cùng và mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mục tiêu trước mắt là tiếp tục cuộc đổi mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện thành công những mục tiêu trên, cần phải kiên định niềm tin vào lý tưởng cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Sức thuyết phục của Cương lĩnh và sự đúng đắn trong đường lối đổi mới là ở chỗ luôn gắn với thực tiễn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Về thực chất, đó cũng chính là sự cụ thể hóa lý tưởng chủ nghĩa cộng sản trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Mặt khác, cần phải tỉnh táo nhận thức rằng, chủ nghĩa cộng sản tuyệt nhiên không phải là sản phẩm của một phán đoán giá trị giản đơn mà nó là kết quả của một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ. Ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã xác định rõ những bước đi cụ thể của cách mạng Việt Nam, và tương ứng với mỗi giai đoạn cụ thể là việc đưa ra chiến lược phát triển phù hợp với yêu cầu của giai đoạn ấy. Chỉ có chiến lược và sách lược phù hợp thì cách mạng mới thành công, còn nếu lầm tưởng rằng nhiệm vụ cụ thể và cương lĩnh trong giai đoạn hiện nay chính là toàn bộ nhiệm vụ và mục tiêu cuối cùng của Đảng, thì đúng như V.  I. Lê-nin nói, chúng ta đang chỉ nhìn thấy lợi ích tạm thời mà hy sinh tương lai của phong trào cách mạng. Một khi nhận thức rõ bản chất của vấn đề, chúng ta mới duy trì được niềm tin vào tương lai lâu dài là chủ nghĩa cộng sản trong quần chúng nhân dân lao động. Chủ nghĩa cộng sản không phải là thiên đường như tôn giáo đã vẽ ra cho các tín đồ mà là sản phẩm do chính con người tạo ra vì hạnh phúc của nhân loại. Vì thế, điều quan trọng là toàn Đảng, toàn dân hiểu rõ, vừa phải quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa nhận thức được rằng đó mới chỉ là một bước đi trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ để vững niềm tin vào mục đích cuối cùng của cách mạng chính là chủ nghĩa cộng sản.

 

PHÒNG, CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN LÚC CẦN PHẢI TỎA SÁNG

PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”

 

Trong lịch sử, hiếm có quân đội nào trên thế giới luôn gắn bó máu thịt, không ngại hy sinh, gian khổ, sẵn sàng xả thân bảo vệ nhân dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh như Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội ta luôn được khẳng định là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong mọi nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ngay từ khi xuất hiện những ca lây nhiễm đầu tiên, Bộ Quốc phòng đã tổ chức diễn tập và kích hoạt toàn bộ hệ thống phòng, chống dịch trong toàn quân nhằm bảo đảm ứng phó kịp thời với mọi tình huống, kể cả cấp độ cao nhất. Toàn quân đã quán triệt và thực hiện nghiêm chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Lời kêu gọi của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với phương châm “sớm hơn và nhanh hơn một bước”.

Bộ Quốc phòng đã chủ động, quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, sát thực tế. Trên cơ sở đó, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân xung kích, đi đầu trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh, góp phần quan trọng ngăn chặn, khống chế không để dịch Covid-19 lan rộng trong cộng đồng. Những đóng góp thiết thực, hiệu quả trong tham gia phòng, chống dịch chính là kết quả sự kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống, bản chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” trong mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó được khẳng định qua lời biểu dương của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: “Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là trụ cột của quốc gia, đặc biệt là khi đất nước lâm nguy thì vai trò của Quân đội càng được phát huy mạnh mẽ. Quân đội nhân dân Việt Nam là Quân đội anh hùng; hiện đang đứng mũi, chịu sào nơi đầu sóng, ngọn gió trong trận tuyến phòng, chống Covid-19”.

Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, với khả năng, lực lượng, phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, các lực lượng tham gia phòng, chống dịch của Quân đội đã sát cánh cùng nhân dân cả nước trên tất cả các mặt công tác phòng, chống dịch, góp phần quan trọng ngăn chặn, không để dịch bệnh lan nhanh, phát tán rộng trong cộng đồng. Toàn quân tăng cường tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch trong Quân đội đạt hiệu quả, thiết thực. Sự quyết liệt trong triển khai và thực hiện đồng bộ các mặt công tác của Quân đội trên các trận tuyến phòng, chống dịch Covid-19 là minh chứng sinh động truyền thống đồng sức, đồng lòng, đồng cam cộng khổ của dân tộc Việt Nam, đồng thời, khẳng định tinh thần sắt son, quân với dân một ý chí.

Trong thời gian tới, với quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi và chiến thắng đại dịch của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân để bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng nhân dân, sớm ổn định các mặt đời sống xã hội, khôi phục và phát triển kinh tế, toàn quân đang ra sức thực hiện tốt yêu cầu “Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, quân đội cũng phải thể hiện là lực lượng xung kích, đi đầu, nhất là trong nhiệm vụ phòng chống dịch Covid-19 hiện nay”. Tiếp tục khắc phục khó khăn, quyết tâm khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt, chỗ dựa vững chắc của cấp ủy, chính quyền địa phương và nhân dân trong cuộc chiến chống đại dịch, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần làm lan tỏa hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, xứng danh là đội quân anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng trong thời kỳ mới.

 

 

KHI “KẺ CẮP” LẠI “LA LÀNG”!

 

Nguyên Anh, kẻ bồi bút “có tiếng” với nhiều luận điệu xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, nói xấu lãnh tụ của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Gần đây, với những thủ đoạn tương tự, y lại tiếp tục đưa ra luận điệu bịa đặt, bóp méo trắng trợn trên Quyenduocbiet với tiêu đề: “Luận điệu tuyên truyền bịp bợm xảo trá của bọn tuyên giáo”, hòng gây sự hoài nghi, tâm lý hoang mang trong dư luận, kích động chống phá Đảng, Nhà nước.

Với tâm địa đen tối, bản chất tráo trở, y không ngại “đổi trắng thay đen” với suy nghĩ “độc hại” rằng: càng bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc sự thật bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Y cho rằng: “giải phóng nước Việt, đưa nước Việt ra khỏi sự đô hộ của Thực Dân Pháp là một sự lừa bịp…”. Sự bịa đặt của y nhằm đánh tráo khái niệm, hòng lừa bịp người dân. Bởi vì, người dân bình thường, ai cũng rõ nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên đập tan chính quyền thực dân, phong kiến, những kẻ tay sai, bán nước hại dân, để đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Hành vi của y thật sự bỉ ổi, vô sỉ khi đã cố tình bác bỏ sự hy sinh của hàng triệu người dân Việt Nam cho độc lập, tự do; y cố tình phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bản chất đen tối, phản động của Nguyên Anh còn lộ rõ khi y tự cho mình nói thay cho nhân dân, nhưng thực chất không bao giờ y đứng về phía nhân dân, mà chỉ lợi dụng từ “dân” để trục lợi cho mình và đồng bọn, bởi chưa bao giờ một người dân Việt Nam chân chính lại nghĩ rằng: “Hồ Chí Minh là độc tài, quân phiệt…” như lời của Nguyên Anh. Rõ ràng, chỉ có những kẻ tay sai bán nước, hại dân mới có những phát ngôn vô liêm sỉ như vậy. Với mỗi người dân Việt Nam trong tiềm thức đều có chung tình cảm tốt đẹp về Chủ tịch Hồ Chí Minh với tên gọi thân thương Bác Hồ – vị lãnh tụ tài ba, lỗi lạc – Người Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam – Người đã cống hiến trọn một đời mình cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Không những thế, Nguyên Anh còn xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi cho rằng “hồ đã dựng lên nước VNDCCH với sự ranh ma của mình…” và “hồ mang nặng tâm lý nô lệ và lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Cộng”… Rõ ràng Nguyên Anh đã cố tình xuyên tạc bản chất các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ta khỏi ách đô hộ của thực dân, phong kiến, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc chỉ là cuộc chiến nhằm đem lại lợi ích của Đảng và một số người Cộng sản. Sự thật cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của thực dân, phong kiến, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giầu mạnh, văn minh, có vị thế, uy tín trên trường quốc tế sao lại “nhằm thực hiện ý đồ của người khác”?.

Đến đây, Nguyên Anh, “kẻ ăn cắp” lại “la làng” đã lộ rõ bản chất phản động hại nước, hại dân. Những luận điệu la lối, xuyên tạc, bóp méo sự thật của y không ngoài mục đích bôi nhọ, muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Y muốn dùng “mưu hèn, kế bẩn” để “đầu độc”, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân và độc lập, tự do của dân tộc. Đây chính là sự thâm hiểm, độc hại của Nguyên Anh và đồng bọn. Vì vậy, chúng ta cần cẩn trọng và kiên quyết vạch trần và đấu tranh, loại bỏ./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC SAU VỤ CÁC TƯỚNG LĨNH CẢNH SÁT BIỂN BỊ XỬ LÝ KỶ LUẬT

 Sau khi sự việc 11 tướng Cảnh sát biển bị xử lý kỷ luật vì hàng loạt các sai phạm nghiêm trọng xảy ra, nhiều đối tượng đã thêu dệt, móc nối để xuyên tạc, công kích Việt Nam và chính sách ngoại giao cuả nước ta. Ngày 4/10 vừa qua, Nguyễn Ngọc Chu đã đăng tải bài viết “Nhìn Thẳng Vào Sự Thât: Không Thể Đi Theo Đường Cũ”. Đối tượng đã cố tình đưa ra những thông tin bịa đặt, xuyên tạc với mục đích công kích lãnh đạo Nhà Nước, gây hoang mang dư luận.

Trong bài của mình Nguyễn Ngọc Chu đã đưa ra những thông tin bịa đặt, hoàn toàn sai sự thật. Lợi dụng sự việc, đối tượng đã cố tình dẫn dắt câu chuyện theo hướng sai lệch, cho rằng việc làm các tướng lĩnh biến chất để quy chụp về thực trạng của Bộ Quốc phòng: “Không phải một tướng, mà những 11 tướng cảnh sát biển của Bộ Quốc phòng tham nhũng phải kỷ luật, thì theo cách sử dụng phép toán xác suất của người nông dân, có thể đánh giá được tình trạng toàn bộ cán bộ của Bộ Quốc phòng.”

Thậm chí, đối tượng này còn móc nối sai phạm của các cá nhân để cho đặt điều về vấn đề “Biển đảo”, cho rằng chúng ta “cố tình nhân nhượng”, để nước khác “tự do xâm chiếm, công kích”. Để rồi từ đó, Nguyễn Ngọc Chu đánh vào tâm lý của người dân, cho rằng lãnh đạo Việt Nam “thiếu trách nhiệm”, “toàn bộ bộ khung của ngôi nhà quản trị quốc gia, đâu đâu cũng bị mối mọt khiến cho chủ quyền biển, đảo từng bước bị xâm lấn.”

Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu rõ rằng, những sai phạm của 11 tướng lĩnh Cảnh sát biển là trong lĩnh vực kinh tế chứ không liên quan đến vấn đề chính trị hay ngoại giao với bất kỳ một quốc gia nào. Từ đó không thể đánh đồng với việc quy trình đào tạo chọn lọc vấn đề, chất lượng cán bộ ngày càng giảm sút theo như lời của Nguyễn Ngọc Chu.

Trên thực tế, 11 tướng lĩnh Cảnh sát biển Việt Nam đã sai phạm trong việc quản lý, sử dụng tài chính, thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm vật tư, trang bị kỹ thuật. Các cá nhân này cũng đã có nhiều sai phạm trong phòng chống buôn lậu, giữ gìn an ninh trên biển.

Như vậy, những sai phạm của các cá nhân thuộc lực lượng Cảnh sát biển đã gây ra hậu quả rất nghiệm trọng, thiệt hại lớn về tiền, tài sản và ngân sách của Nhà nước. Xét về nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm thì những hình thức kỷ luật do Ủy ban Kiểm tra Trung ương đưa ra hoàn toàn phù hợp, đúng người đúng tội.

Điều đó cho thấy, mưu đồ sâu xa của Nguyễn Ngọc Chu là lợi dụng sai phạm kinh tế của một số cán bộ biến chất để quy chụp rằng chính sách, đường lối ngoại giao của chúng ta là sai trái, nhún nhường. Đó là một phần trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà những kẻ chống phá vẫn luôn rắp tâm thực hiện để chia rẽ mỗi quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước trên thế giới, làm cho chúng ta rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập.

Phải hiểu rằng nếu có sự bao che ở đây thì sẽ không có chuyện Ủy ban Kiểm tra Trung ương đưa ra những hình thức kỷ luật đối với 11 tướng lĩnh từ mức khiển trách đến khai trừ Đảng. Bởi vì chúng ta dám “Nhìn thẳng vào sự thật, không bi quan, không tô hồng” nên mới đưa ra những chế tài xử lý mạnh đối với các trường hợp vi phạm. Tuyệt đối không bao che, cổ xuý cho những hành vi vi phạm, cố tình làm trái với các nguyên tắc Nhà nước. Như vậy, việc khiển trách, kỷ luận nghiêm những cán bộ là “bao che”, là “không dám nhìn thẳng vào sự thật” hay sao.

“Nhìn Thẳng Vào Sự Thât: Không Thể Đi Theo Đường Cũ” là một bài viết thể hiện rõ thủ đoạn âm mưu chống phá của Nguyễn Ngọc Chu. Nếu là một người dân thực sự yêu nước, mong muốn đất nước phát triển như đối tượng tự tô hồng bản thân thì ý đã không bao giờ làm như vậy. Đó chỉ là những lời ngụy biện cho dã tâm phá hoại đất nước mà thôi.

 

Bản đồ thịt lợn

“Theo dõi” để nhận thông báo khi tác giả có bài viết mới× Ngồi cạnh tôi trong đám cưới, bỗng Quang nói: “Em có miếng đất trên Ba Vì, muốn xây dựng trại nuôi lợn công nghệ cao, bác ủng hộ em nhé”. Nguyễn Thanh Quang là kỹ sư cơ khí được đào tạo ở Liên Xô cũ, người bạn trẻ nhưng thân thiết của tôi. Thấy Quang nói thế, tôi vui vẻ nhận lời vì rất muốn cùng anh xây dựng mô hình nuôi lợn mới. Nói là làm ngay, bảy năm trước, Quang một mình lên sống trên mảnh đất ấy và xây dựng trại lợn về sau rất nổi tiếng. Sáng kiến mà tôi giúp Quang là cách mạng hóa việc sản xuất thức ăn nuôi lợn. Để có một cân lợn hơi cần bốn cân thức ăn. Vì vậy, giá thành thức ăn chăn nuôi quyết định giá thịt lợn. Trong thức ăn, phần protein là đắt nhất. Thức ăn hỗn hợp nuôi lợn thường lấy nguồn protein từ khô dầu đậu đỗ và bột cá. Toàn những nguyên liệu quá đắt. Tôi và Quang đã mạnh dạn thay hai thứ này bằng ốc bươu vàng và giun quế. Ốc do nông dân bắt ngoài ruộng để bỏ đi, mang đến bán cho Quang, giun anh tự nuôi tại trại. Mô hình thành công và nổi tiếng với thịt lợn sạch, nhiều đoàn nông dân đến học hỏi. Quang còn mạnh dạn xây thêm một trạm chế biến và sản xuất pa-tê, xúc xích lợn. Mấy tháng gần đây, Quang kêu trời vì giá thức ăn tinh để chăn nuôi như cám gạo, cám mỳ, ngô... tăng cao quá làm giá lợn hơi đầu ra chao đảo. Vậy mà kỳ lạ, giá lợn hơi trên thị trường lại đang giảm một cách thảm hại. Có lúc, giá một cân lợn hơi chỉ còn 28.000 đồng. Mức giá này chỉ bằng khoảng 60% vào thời điểm giữa năm 2020, cũng là thời điểm đang có dịch Covid. Bà con chăn nuôi đang lỗ khoảng một triệu đồng mỗi con lợn trên dưới 100 cân. Vì sao như vậy? Một mặt do giao thông vẫn chưa hoàn toàn thông suốt, giá thức ăn chăn nuôi đến từng xã, huyện vẫn bị đẩy lên. Mặt khác do có thông tin đang ứ thừa bốn triệu đầu lợn trong dân, thế là dẫn đến chuyện nhiều nông dân bán vội lợn bất chấp giá đang quá thấp. Giá bán lợn của nông dân giảm đột ngột, nhưng ở nhiều nơi, người tiêu dùng vẫn phải mua thịt lợn với giá không thấp, khoảng 100.000 đồng một cân. Tuần này, giá thịt lợn ở chợ Hà Nội đã giảm khoảng 10% nhưng vẫn chênh lệch khá lớn với sức giảm của giá lợn hơi. Giá thịt lợn từ người chăn nuôi đến mâm cơm người tiêu dùng đang cao hơn ít nhất là ba lần. Nhưng như chúng ta chứng kiến vài năm qua, giá thịt lợn năm nào cũng phập phù. Năm thì đắt kỷ lục, năm thì giảm mạnh. Tới đây, khi thấy giá bán lợn hơi giảm mạnh, hàng triệu nông dân sẽ không thả nuôi thêm lợn nữa. Sau vài tháng, có thể đợt Tết Nguyên đán sắp tới, biết đâu nguồn cung giảm, giá lại tăng cao. Thịt lợn là mặt hàng khá đặc biệt, không giống với giá thịt bò. Lợn đến tháng xuất chuồng là phải bán, vì càng nuôi càng lỗ. Quang cho biết con lợn đến khi xuất chuồng vẫn ăn một ngày từng ấy thức ăn nhưng chững cân, không tăng thịt nữa, nuôi thêm một ngày là lỗ ít nhất vài chục nghìn đồng một con. Còn người nuôi bò có nuôi thêm một thời gian cũng không sao. Có lẽ vì lợn ăn cám còn bò ăn cỏ. Nguyên nhân chênh lệch giá lợn hơi và thịt lợn trên thị trường còn do mạng lưới phân phối, không loại trừ việc người mua, vận chuyển, giết mổ đến bán lẻ, ở mỗi khâu trung gian vẫn có thể tùy tiện nâng lên vài ba giá. Làm cách nào để ổn định thị trường thịt lợn? Tôi nghe nhiều giải pháp được nêu nhưng thấy đều chưa thuận. Nào là, Chính phủ nên xây kho lạnh dự trữ thịt lợn, nhưng thịt lợn khác với lúa gạo, và có phải các doanh nghiệp từ trước tới nay không trữ thịt lợn đông lạnh đâu. Nào là, nông dân không bán thịt mà bán cho "sở giao dịch thịt lợn" tờ cam kết rằng sẽ bán sau ba tháng cho ai mua tờ giấy này, cũng không ổn vì không ai mua tờ giấy chưa chuẩn hóa gì về chất lượng thịt, chưa kể các rối rắm về thủ tục. Nào là, phải tuyên truyền người dân chuyển từ ăn thịt lợn sang các thịt khác. Cách này rất không ổn khi muốn thay cả một tập quán. Nào là, áp giá trần, giá sàn với thịt lợn, càng không ổn vì rất phi thị trường... Tôi đồng ý với Bộ trưởng Lê Minh Hoan, rằng chúng ta có một nền nông nghiệp mù mờ. Việc nuôi trồng, phân phối, kinh doanh thường dựa trên thông tin loáng thoáng, "nhiều điểm mù mờ gặp nhau nên rất khó dự báo". Để hết mù mờ, tôi và kỹ sư Quang cùng kiến nghị vài giải pháp. Thứ nhất, đẩy mạnh công nghệ hóa quản lý nông nghiệp, dự báo kịp thời nhu cầu tiêu thụ thịt lợn từng vùng miền, từ đó đưa ra dự báo số lượng lợn thịt cần nuôi ở từng địa phương. Tôi nghĩ công nghệ số hôm nay có thể giải quyết chuyện này không khó bằng một bản đồ thịt lợn - giống như bản đồ Covid. Nông dân bây giờ hầu hết đều có điện thoại thông minh. Mỗi hộ có thể báo với ngành nông nghiệp địa phương con số lợn nuôi của mình, địa phương tập hợp và ước lượng được sản lượng thu hoạch từng thời điểm qua một app... Tất cả người tham gia thị trường thịt lợn nhìn vào bản đồ mà tự điều tiết được công việc của mình. Thứ hai, ngành nông nghiệp xây dựng quy hoạch và khuyến khích phát triển các vùng trồng ngô, đậu tương để không bị động về nguồn thức ăn nuôi lợn vào nhập khẩu. Vấn đề này ta đã nói đến nhiều năm nhưng đâu vẫn hoàn đấy, do lại liên quan đến vấn đề khác là không cải thiện được năng suất của cây ngắn ngày như sắn, đỗ tương, ngô... Kinh nghiệm này chỉ cần học ngay của Thái Lan gần chúng ta. Thứ ba, Việt Nam cần đầu tư đủ tầm cho các nhà khoa học để khẩn trương sản xuất được vaccine phòng chống dịch tả lợn Châu Phi. Một nguyên nhân khiến thị trường thịt lợn biến động thời gian qua là hậu quả tàn phá của đại dịch này. Cả nước đã phải tiêu hủy 5,5 triệu lợn nhiễm bệnh trên tổng đàn khoảng 25 triệu con - hơn 1/5 đàn lợn quốc gia. Hàng nghìn người chăn nuôi nhỏ lẻ thậm chí không còn khả năng tái đàn vì phải xây dựng lại chuồng trại và dịch vẫn có thể tái đi tái lại khi chúng ta chưa có vaccine đặc hiệu. Nhà nước có thể hạn chế nhập khẩu thịt lợn khi giá trị trường xuống thấp, đồng thời kỷ luật nghiêm những kẻ thao túng thị trường, tiêu thụ lợn bệnh, lợn chết. Người tiêu dùng có thể mắc bệnh nguy hiểm khi ăn phải thịt bẩn, nhưng tôi hiếm khi thấy người bán bị xử lý.

 

 

THÀNH QUẢ CHỐNG DỊCH COVID-19

CỦA VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

 

Khi làn sóng dịch COVID-19 lần thứ tư bùng phát tại Việt Nam, trên một số trang mạng xã hội cũng bùng phát một loại “virus” nguy hiểm không kém biến thể Delta, đó là việc xuyên tạc công tác phòng, chống dịch (PCD) tại Việt Nam như bài đăng“Corona dung tha hay đảng ta “thiên tài” của Lê Thiên trên baotiengdan. Rõ ràng, bài viết là những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt nhằm phủ nhận những kết quả của Việt Nam trong cuộc chiến với COVID-19, đồng thời vẽ nên một bức tranh với những gam màu tối về Việt Nam trong đại dịch, sâu xa hơn là nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.

Với góc nhìn thiển cận, thiếu thiện chí Lê Thiên đang cố tình không thừa nhận những thành quả trong phòng, chống dịch COVID-19 của Việt Nam. Ngoài việc xuyên tạc, bóp méo các chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch y còn rêu rao luận điệu cho rằng “Việt Nam thoát dịch là nhờ yếu tố khách quan, chứ chẳng ai tài ba gì”. Tuy nhiên, thưc tế nhìn lại toàn bộ quá trình phòng, chống dịch COVID-19 của nước ta sẽ thấy, rõ ràng đây là luận điệu sai trái, phiến diện, một chiều. Trước hết, cần khẳng định khi dịch COVID-19 xuất hiện, Việt Nam đã là nước nằm trong khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao. Tuy nhiên, ngay sau khi phát hiện những trường hợp dương tính đầu tiên ở trong nước, với tinh thần chủ động, Đảng và Chính phủ đã xác định “Tất cả vì sức khỏe của nhân dân”. Đây cũng là quan điểm nhất quán của Chính phủ ta trong hơn một năm qua. Chúng ta cũng đã nhanh chóng thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19; phát động toàn dân, toàn quân “chống dịch như chống giặc”. Với những diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, công tác phòng, chống dịch đã được đưa lên mức độ cao nhất, với những biện pháp quyết liệt, phù hợp như: Tập trung tổ chức tốt việc khoanh vùng, dập dịch; truy vết người tiếp xúc với nguồn bệnh trong phạm vi phù hợp; kiểm soát chặt chẽ người bên trong các khu vực phong tỏa, cách ly những người lây nhiễm và tiếp xúc gần một cách hiệu quả. Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều chỉ thị về công tác phòng, chống dịch như: Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch COVID-19; Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19… Đặc biệt, trước những diễn biến phức tạp của đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ tư hiện nay, công tác chỉ đạo phòng, chống dịch luôn được Chính phủ chỉ đạo sát sao, liên tục hằng ngày, hằng tuần, nhất là đối với những địa phương có diễn biến phức tạp. Đồng thời, bằng tinh thần “tương thân tương ái”, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng, mọi nguồn lực, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các bệnh viện và nhiều địa phương trong cả nước như: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hà Nội… đã chủ động chia sẻ kinh nghiệm, tăng cường lực lượng, phương tiện trang bị hỗ trợ các địa bàn tâm dịch nâng cao hiệu quả, năng lực phòng, chống dịch COVID-19, đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, làm tiền đề vững chắc cho việc kiểm soát dịch COVID-19 trong thời gian tới. Như vậy, nhìn lại kết quả công tác phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian qua ở Việt Nam có thể thấy, điểm mấu chốt tạo thành sức mạnh để đẩy lùi dịch bệnh chính là sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, chính quyền các cấp và sự đoàn kết, chung sức đồng lòng của toàn dân. Điều này không chỉ được chúng ta khẳng định mà bạn bè quốc tế cũng đã ghi nhận. Ông Jean Noel poirier, Cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam đánh giá cao hiệu quả của Việt Nam trong phòng chống COVID-19: “Có 2 lý do, lý do thứ nhất là chính sách phòng chống COVID-19 của Việt Nam rất xuất sắc và rất đúng. Thứ hai là người dân Việt Nam đã thực hiện và đồng tình với các quy định của Nhà nước, của Chính phủ”. Đây là minh chứng rõ ràng nhất đập tan lối suy diễn hồ đồ, vô căn cứ của kẻ có động cơ đen tối, thấp hèn và tâm địa xấu xa như Lê Thiên.

Sự thật đã được sáng tỏ, thế nhưng Lê Thiên vẫn tiếp tục xuyên tạc công tác lãnh đạo, chỉ đạo với những chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng và Chính phủ để ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch là “đì dân, dìm dân” nhằm vẽ nên một bức tranh đen tối về một Việt Nam tang thương trong dịch bệnh. Mục đích nguy hiểm của y là đánh lạc hướng, làm lung lạc niềm tin của nhân dân đối với công tác PCD COVID-19 ở nước ta. Sâu xa hơn chúng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ định thành quả của cả hệ thống chính trị cùng tinh thần đoàn kết của dân tộc ta. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp của tình hình dịch bệnh, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ đạo, hành động quyết liệt phòng, chống dịch, chăm lo đời sống, bảo vệ sức khỏe nhân dân với phương châm có thể hy sinh một số lợi ích kinh tế nhưng quyết tâm phải bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân. Đồng thời, với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, ngay trong các đợt phòng chống đại dịch COVID-19, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 42 với gói hỗ trợ lên đến 62 nghìn tỷ đồng để giúp đỡ những người bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Hiện nay Việt Nam đang trải qua làn sóng dịch lần thứ 4 với biến chủng Delta lây lan nhanh trên diện rộng và phức tạp. Đảng và Nhà nước đã ngay lập tức ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể chăm lo cho người dân. Đầu tháng 7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 68 với gói hỗ trợ 26.000 tỷ đồng cho người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 và tháng 8/2021, Chính phủ có Quyết định xuất hơn 130.000 tấn gạo cho 24 tỉnh, thành phố để hỗ trợ người dân gặp khó khăn. Nhiều đoàn xe cứu trợ từ các tỉnh phía Bắc, miền Trung, Tây nguyên vào các tỉnh, thành phía Nam… Như vậy, người dân chưa bao giờ bị đơn độc, cô lập trong cuộc chiến vốn khốc liệt, nguy hiểm này. Đặc biệt, trong điều kiện khan hiếm vắc xin phòng chống COVID-19 trên toàn thế giới, nhưng Đảng và Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân, là một trong số không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine ngừa COVID-19 đại trà cho toàn dân, coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Điều đó đã khẳng định quan điểm, tư tưởng, mục đích của Đảng và Nhà nước ta thực sự là vì dân chứ không phải bỏ mặc người dân như luận điệu Lê Thiên tuyên truyền, xuyên tạc. Có thể khẳng định rằng chỉ những ai đang sống ở một đất nước mà không ai bị bỏ lại phía sau bởi sự nỗ lực hết sức từ Chính phủ đến chính quyền địa phương, đoàn thể, tổ chức, cơ quan, đơn vị và cả cá nhân hảo tâm thì mới thấu hiểu hết những việc làm đầy ý nghĩa nhân văn, những ứng xử có trách nhiệm cao, sự hy sinh lợi ích cá nhân để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của cộng đồng trong cuộc chiến chống COVID-19. Điều đó càng củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào bản chất tốt đẹp, nhân văn của chế độ ta và đập tan mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc sự thật, làm sai lệch bản chất vấn đề như một thứ “biến chủng Delta” của Lê Thiên.

Bởi vậy, dẫu có bôi nhọ và xuyên tạc đến đâu thì các thế lực phản động, cơ hội chính trị cũng không thể bẻ cong được sự thật, khi mà nhiều quốc gia, tổ chức uy tín trên thế giới đã và đang đánh giá cao Việt Nam trong xử lý đại dịch COVID-19. Điều đó khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn đoàn kết một lòng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung, phòng chống dịch COVID-19 nói riêng./.

30 NĂM LIÊN XÔ SỤP ĐỔ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM!

KHI ĐẢNG CỘNG SẢN TỰ XÓA BỎ CHÍNH MÌNH

Chỉ còn ít ngày nữa là đến thời điểm tròn 30 năm Liên bang Xô viết sụp đổ, đánh dấu bằng buổi tối mùa đông lạnh giá 25-12-1991, lá cờ đỏ búa liềm từ đỉnh tháp Kremli sau 74 năm tung bay đã phải hạ xuống, thay vào đó là lá cờ ba sắc. Sự kiện được coi là cơn địa - chính trị chấn động thế kỷ XX này đã làm thay đổi sâu sắc thời đại chúng ta đang sống và để lại rất nhiều bài học đắt giá về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Nhân dịp này, Báo Quân đội nhân dân Điện tử trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc loạt bài “30 năm Liên Xô sụp đổ và bài học cho Việt Nam” hi vọng góp phần phân tích, rút ra những điều thiết thực để tiếp tục thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên định thực hiện thắng lợi con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Trước khi thực hiện loạt bài này ít lâu, chúng tôi có dịp đến công tác tại Liên bang Nga và một vài nước thuộc Liên Xô. Trong chuyến đi ấy, có cảm xúc rất đặc biệt khi đến những địa danh như Điện Kremli, nơi lá cờ Liên bang Xô viết bị hạ xuống hay trước tòa nhà Duma Quốc gia Nga, nơi xe tăng từng xuất hiện cho thấy sự nguy hiểm của “phi chính trị hóa” quân đội.

Khi ấy, một câu hỏi cứ văng vẳng trong chúng tôi: Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô do Lênin sáng lập, từng lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng, xây dựng thành công Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên lại tan rã? Vì sao một đảng từng lãnh đạo nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước đế quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, đánh bại phát-xít Đức trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và đóng góp to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai lại mất địa vị cầm quyền sau 74 năm với bao trang sử vẻ vang?

Chúng tôi đã tìm thấy phần nào câu trả lời chính từ những nhà báo tiền bối ở Báo Quân đội nhân dân.

Ngày 22-4-1990, hơn một năm trước ngày Liên Xô sụp đổ hoàn toàn, Thiếu tướng Trần Công Mân, Tổng Biên tập Báo Quân đội nhân dân trong bài viết “Cuộc chiến đấu chưa kết thúc” đã đưa ra cảnh báo chính xác khi xuất hiện trào lưu ở Liên Xô và nhiều nước XHCN, nhiều người né tránh, không nhắc đến Đảng Cộng sản, đến CNXH. Nêu ra và cũng tự trả lời, ông khẳng định niềm tin mãnh liệt vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào tương lai của CNXH.

Không riêng ông, những nhà lãnh đạo lớn của đất nước ta từ ngày đó đã nhìn thấy “tử huyệt” dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và nhìn rõ Đảng ta, đất nước ta, nhân dân ta cần phải làm gì.

Tháng 4-1992, đồng chí Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) đã có bài viết hết sức sâu sắc với tựa đề “Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã?” đăng trên Tạp chí Cộng sản. Đồng chí chỉ ra 5 nguyên nhân chủ yếu: Không xác lập đúng đắn sự lãnh đạo của Đảng, buông lơi công tác xây dựng Đảng; phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê nin là nền tảng tư tưởng của Đảng; Coi nhẹ hoặc phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ; xa rời quần chúng, mất uy tín nghiêm trọng trước nhân dân, không được nhân dân ủng hộ; Từ bỏ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, thổi lên ngọn lửa kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi.

Thật ra, sai lầm, sự chệch hướng đã diễn ra từ khá lâu. Nguyên nhân đến từ sự thay đổi lãnh đạo và đường hướng chiến lược của Đảng Cộng sản Liên Xô, được đánh dấu bằng Đại hội XX tháng 2-1956. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev đã trình bày một báo cáo bí mật mang tên "Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó", trong đó quy chụp, thêu dệt rất nhiều vấn đề và hạn chế hệ thống Đảng và Nhà nước Xô viết cho lãnh tụ quá cố Joseph Stalin.

Đồng thời, trong báo cáo chính trị chính thức của một Đại hội Đảng sau này cũng đề ra những sách lược mới nhằm "chung sống hòa bình", "thi đua hòa bình" và "quá độ hòa bình" với chủ nghĩa tư bản. Đây là một sự đảo ngược 180 độ trong quan điểm và chiến lược của Đảng Cộng sản Liên Xô so với chính họ trước đây, hay còn gọi là "xét lại".

Các nhà phân tích cao cấp của CIA trong báo cáo mang mã hiệu SRS-1 thực hiện không lâu sau sự kiện Đại hội XX đã cho rằng, ekip của Nikita Khrushchev hành động như vậy là để đập bỏ hoàn toàn di sản của thời đại Stalin, nhằm xây dựng một hệ thống mới của riêng họ. Trong những kỳ Đại hội Đảng tiếp theo, ekip của Tổng Bí thư Khrushchev tiếp tục sa đà trên con đường xét lại, đến Đại hội XXII năm 1961, họ còn xác định "nguy cơ chủ nghĩa tư bản hồi phục ở Liên Xô đã không còn", "Liên Xô sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trong 20 năm", xây dựng "đảng toàn dân", "nhà nước toàn dân".

Đây thực chất đều là những tính toán không có cơ sở và là sự đoạn tuyệt với học thuyết Marxist-Leninist chính thống về Đảng. Đó là một cuộc khủng hoảng đường lối chưa từng có trong lịch sử cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Nikita Khrushchev buộc phải từ chức Tổng Bí thư vào năm 1964, nhưng sự hỗn loạn mà ekip của ông ta tạo ra đã được gieo mầm. Những cán bộ trẻ tuổi của Đảng Cộng sản Liên Xô vào những năm ấy như Mikhail Gorbachev, Alexander Yakovlev, Eduard Shevardnadze... đều đã bị tác động rất mạnh và có những chuyển biến về tư duy, quan điểm bởi cuộc xét lại của Khrushchev.

Lịch sử sau này định danh họ là "những đứa con của Đại hội XX". Chính những nhân vật này, khoảng 30 năm sau, khi trở thành những rường cột của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, đã một lần nữa tiếp tục cuộc cải tổ mà Nikita Khrushchev năm xưa còn dang dở. Cuộc cải tổ ở Liên Xô từ năm 1987 trở đi đã ngày càng xa rời các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội Marx-Lenin, kết cục tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô, tan rã Liên bang Xô viết là điều tất yếu.

Mikhail Gorbachev, người nắm giữ cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô từ năm 1985 đã chính thức phát động công cuộc cải tổ. Ban đầu, sự nghiệp này nhận được sự hưởng ứng và đồng thuận rất lớn trong đảng và trong xã hội sau khi Liên Xô đã phải trải qua một thập kỷ trì trệ.

Tuy nhiên, Mikhai Gorbachev cũng như nhiều "đứa con của Đại hội XX" khác, những cải cách của ông ta dần rời xa những vấn đề mang tính chất nguyên tắc. Từ năm 1987, ekip Gorbachev không ngừng sử dụng các thủ thuật chính trị để nhằm làm chia sẽ đảng, cô lập hóa nhóm người chống đối lại những cải tổ của họ.

Tại Đại hội Đại biểu Nhân dân bất thường lần thứ III giữa tháng 3-1990, họ đã thông qua nghị quyết mang tên Thiết lập chức vị tổng thống và sửa đổi bổ sung Hiến pháp Liên Xô. 7 điều trong Hiến pháp Liên Xô bị sửa đổi, trong đó nghiêm trọng nhất là Điều 6.

Từ "Đảng Cộng sản Liên Xô là lực lượng lãnh đạo và là hạt nhân của chế độ chính trị, nhà nước và xã hội Liên Xô" bị sửa thành "Đảng Cộng sản Liên Xô, các chính đảng khác và công đoàn, đoàn thanh niên, đoàn thể xã hội và phong trào quần chúng khác, thông qua đại biểu của mình bầu vào Xô viết đại biểu nhân dân và các hình thức khác tham gia vạch ra chính sách của nhà nước Xô viết, công việc quản lý nhà nước và xã hội".

Thay đổi này đồng nghĩa với hành động thủ tiêu địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với nhà nước và xã hội về mặt luật pháp, chấp nhận đa nguyên, đa đảng chính trị trong nước.

Xét trên lập trường của chủ nghĩa Lenin, đây là sự phản bội quyết định nhất. Trước đó, tháng 2-1986, sau hơn một năm Gorbachev được bầu làm Tổng Bí thư, Đảng Cộng sản Liên Xô triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ 27. Sau đó không lâu, Gorbachev đưa ra khẩu hiệu “Dân chủ hóa tính công khai, dư luận đa nguyên hóa” và lấy đó làm bước đột phá mở ra cơ chế cải cách.

Trong báo cáo đọc tại phiên họp Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19, Gorbachev đưa ra phương châm chủ yếu của cải tổ thể chế chính trị Liên Xô không chỉ là đề xướng vấn đề dân chủ hóa tình công khai và dư luận đa nguyên hóa. Mà là phải loại bỏ vấn đề Đảng Cộng sản Liên Xô là hạt nhân của thể chế chính trị Liên Xô. Là vấn đề phải chuyển trung tâm quyền lực nhà nước từ trong tay Đảng Cộng sản sang Xô-viết.

Thể chế đa đảng và thể chế dân chủ nghị viện, ý thức hệ đa nguyên chính thức trở thành phương châm chỉ đạo của Đảng khi Đại hội đại biểu lần thứ 28 (Đại hội cuối cùng trong lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô trước khi Liên Xô tan rã) thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh “tiến tới Xã hội chủ nghĩa dân chủ hóa nhân đạo”.

Từ đây, hàng loạt các tổ chức chống phá được thành lập, phát triển và thực hiện cuộc đấu tranh với Đảng Cộng sản Liên Xô. “Sửa đổi Hiến pháp chỉ vẻn vẹn một năm, đã có khoảng 20 chính đảng cấp Liên bang, có hơn 500 chính đảng cấp nước cộng hòa. Hầu hết trong đó trở thành lực lượng chính trị cuối cùng thúc đẩy Đảng Cộng sản Liên Xô bị hạ bệ và giải tán” - Kusov, Phó chủ tịch Trung ương Đảng Cộng sản Nga.

Được sự cổ vũ của phương châm dân chủ hóa tính công khai và thể chế đa nguyên, đa đảng của Gorbachev, tinh thần dân tộc chủ nghĩa và khuynh hướng ly khai ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ. Tổ chức Đảng ở các nước này cũng ngày càng xa rời trung ương.

Từ năm 1989, Đảng Cộng sản của một số nước cộng hòa như Latvia, Litva, Estonia… đã yêu cầu tách khỏi hoặc độc lập với Đảng Cộng sản Liên Xô. Ngày 7 tháng 12 năm 1989, Đảng Cộng sản Litva đã tách khỏi Đảng Cộng sản Liên Xô và từ bỏ yêu sách của mình để có một "vai trò lãnh đạo" hiến pháp trong chính trị. Lần đầu tiên ở Liên Xô, Đảng Cộng sản cầm quyền của Litva chính thức độc lập khỏi sự kiểm soát của Moscow.

Và cũng chỉ một năm sau Đảng Cộng sản đã mất quyền lực hoàn toàn trong các cuộc bầu cử quốc hội đa đảng, Vytautas Landsbergis trở thành tổng thống phi Cộng sản đầu tiên của Litva kể từ khi bị sáp nhập vào Liên Xô.

Về sau, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tự giải tán trước sự thúc ép của Gorbachev. Kết quả là các tòa nhà làm việc, trung tâm chính trị xã hội, cơ sở nghiên cứu cùng nhiều công trình khác của Đảng Cộng sản Liên Xô đều bị nhà cầm quyền Nga niêm phong và tịch thu.

Tổ chức đảng ở Nga và các nước cộng hòa Liên Xô nhanh chóng bị giải tán hoặc bị cấm hoạt động. Đảng Cộng sản Liên Xô với gần 20 triệu đảng viên đã đánh mất địa vị cầm quyền sau 74 năm. Điều đáng nói là các đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô dường như đã “buông xuôi” , không hề tiến hành bất cứ một hoạt động phản đối quy mô lớn nào nhằm bảo vệ tổ chức đảng của mình.

Mất đảng tất yếu dẫn đến mất nước. Ngày 25-12-1991, Gorbachev đến Phủ Tổng thống ở Điện Kremli chuẩn bị đơn từ chức. 19 giờ, Gorbachev lên Đài truyền hình trung ương và Đài CNN (Mỹ) đọc thư gửi nhân dân Liên Xô và toàn thế giới, tuyên bố từ chức, ngừng mọi hoạt động của mình với chức vụ Tổng thống Liên Xô. Liên bang Xô - viết chính thức tan rã.

30 năm sau cơn địa chấn chính trị lớn nhất thế kỷ XX ấy, tháng 5 vừa qua, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bài viết quan trọng: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".

Tổng Bí thư nhận định: “…Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá.

Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác”.

Song trên cơ sở phân tích toàn diện các khía cạnh lý luận và thực tiễn, Tổng Bí thư khẳng định: “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Bài học xương máu từ sự tan rã của Đảng Cộng sản Liên Xô sau 30 năm nhìn lại càng cho thấy, nhân dân không hề từ bỏ chủ nghĩa xã hội mà sự phản bội mang tính chất quyết định của một số nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã tước đoạt đi chế độ xã hội chủ nghĩa ở đất nước này. Việc sửa đổi điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1990 cũng do chính lực lượng này chủ trì, không một thế lực thù địch bên ngoài nào có khả năng thực hiện được điều này.

GS, TS Phạm Quang Minh, nguyên Hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cũng chỉ rõ rằng không thể có sự cáo chung của Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Việt Nam. Bởi theo ông: “Cho đến nay, mẫu hình kinh tế-chính trị đổi mới ở Việt Nam là Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Từ góc độ chính trị, thể chế chính trị được xây dựng trên nguyên tắc dân chủ tập trung dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

Quá trình dân chủ hóa đang từng bước được thực hiện một cách tiệm tiến với các biểu hiện như thực hiện phê bình và tự phê bình trong Đảng, đấu tranh với các biểu hiện diễn biến và tự diễn biến, tham nhũng, thực hiện các cuộc chất vấn và bỏ phiếu tín nhiệm trong quốc hội, hình thành các tổ chức hội nghề nghiệp bảo vệ quyền lợi của nhân dân”.

GS, TS. Lưu Văn Sùng, nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh rút ra bài học: Xác định kiên định và tiếp tục thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa thì tất yếu phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, vì đây là nhân tố tiên quyết để thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Trong quá trình thực hiện cải tổ, ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đã quyết định xóa bỏ Điều 6, Hiến pháp Liên Xô về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Thực chất, đó không chỉ là sự tước quyền lãnh đạo của Đảng về mặt pháp lý, thừa nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo điều kiện cho các lực lượng chính trị khác vươn lên đoạt quyền, mà còn là sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Vẫn theo GS, TS. Lưu Văn Sùng, cùng với đó, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản thì tất yếu phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin làm nền tảng tư tưởng, bởi chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ là nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là cơ sở để xây dựng hệ tư tưởng của toàn xã hội và nhờ đó mới có thể thực hiện được mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Ngược lại, nếu từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa thì tất yếu dẫn đến phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tiếp nhận hệ tư tưởng tư sản, như Goóc-ba-chốp đã thực hiện trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô trước đây.

Phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước và xã hội nói chung, nhất là đối với lực lượng vũ trang (quân đội và công an). Đảng phải lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và trực tiếp lực lượng vũ trang.

Bởi vì, nếu lực lượng vũ trang bị trung lập hóa, chỉ có trách nhiệm bảo vệ độc lập chủ quyền và an ninh quốc gia, không phụ thuộc vào đảng phái nào, thì thực chất là tước quyền lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Cách thức này đã được áp dụng ở Liên Xô thời kỳ cải tổ.

Trong hội nhập quốc tế, nhưng độc lập về chính trị, giữ vững chủ quyền quốc gia, tiếp tục thực hiện con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn gần 30 năm qua đã chứng minh đó là quan điểm đúng đắn. Thực tiễn cũng cho thấy, việc thực hiện công cuộc cải tổ của Liên Xô trước đây có sự chi phối và sao chép tư tưởng chính trị từ bên ngoài, vì vậy đã gây nên sự sụp đổ chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa.

Công cuộc đổi mới cần có những bước đi thích hợp để bảo đảm vừa đổi mới, vừa ổn định. Đổi mới phải bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, sau đó đến đổi mới về chính trị. Công cuộc cải tổ của Liên Xô trước đây đã thực hiện một cách cấp thời, thiếu trình tự, cụ thể là: ban đầu đổi mới doanh nghiệp, rồi đến 100 ngày thực hiện tư nhân hóa, áp dụng nền dân chủ tư sản vào xã hội Xô-viết,... Kết cục, dẫn đến hỗn loạn và sụp đổ chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa” – GS, TS Lưu Văn Sùng phân tích.














Yêu nước ST.