Thứ Tư, 27 tháng 10, 2021

Tại sao Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam

 

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra mục tiêu, đường lối, chiến lược cách mạng đúng đắn, đáp ứng đòi hỏi của lịch sử dân tộc và thời đại, cho nên Đảng được thừa nhận quyền lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện cho quyền lợi của cả dân tộc, thể hiện được năng lực lãnh đạo và uy tín chính trị, có nhiều đảng viên của Đảng là những tấm gương, những tượng đài bất tử trong lòng nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Như vậy, chỉ có một đảng cách mạng chân chính, có đường lối cách mạng đúng đắn, thực sự có bản lĩnh, có trí tuệ, phấn đấu vì mục tiêu “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, Đảng đó mới xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Lịch sử đã cho thấy, trong quá trình đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân Pháp, không chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất có mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của ngoại bang. Sau khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng xâm lược Việt Nam (9-1858), các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp theo tiếng gọi “Cần Vương” do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo đã nổ ra mạnh mẽ nhưng tất cả đều bị đàn áp đẫm máu và lần lượt tan rã. Thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1895) đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của giai cấp phong kiến Việt Nam.

Sau khi phong trào Cần Vương thất bại, những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống xâm lược Pháp lại liên tục nổ ra như: Phong trào Đông Du (1905); Việt Nam Quang phục Hội (1912) do Phan Bội Châu khởi xướng; Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động (1906-1908); Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và nhiều nhân sĩ yêu nước lãnh đạo. Tất cả các phong trào đều lần lượt thất bại bởi sự khủng bố khốc liệt của kẻ thù.

Cuối những năm 20, đầu những năm 30 thế kỷ XX, dưới ách đô hộ, bóc lột tàn bạo của chính quyền thực dân Pháp và phong kiến Nam triều, nhiều tổ chức và đảng phái chính trị ở Việt Nam được thành lập. Các tổ chức, đảng phái này đều có khuynh hướng, mục tiêu đấu tranh đòi độc lập dân tộc:

Việt Nam Nghĩa đoàn: tổ chức của một nhóm (17 người) với nòng cốt là những sinh viên yêu nước của trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, do Tôn Quang Phiệt, Phạm Thiều, Đặng Thai Mai, Nguyễn Quốc Túy… đứng ra thành lập vào ngày 25-1-1925, tại nhà số 4 đường Giôrêghiberi, Hà Nội (nay là đường Quang Trung). Tuy Việt Nam Nghĩa đoàn đã có chương trình sơ lược và 10 lời thề nhưng không thật rõ ràng về chủ trương nên tồn tại không được bao lâu, một số thành viên rời bỏ tổ chức. Một số phần tử trung kiên do Tôn Quang Phiệt đứng đầu sau đó kết hợp với nhóm các chính trị phạm ở Trung Kỳ để thành lập Hội Phục Việt.

Hội Phục Việt: do Tôn Quang Phiệt, Lê Văn Huân, Ngô Đức Kế, Nguyễn Đình Kiên, Đặng Thai Mai và một số nhân sĩ, trí thức, sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội thành lập ngày 14-7-1925. Mục đích của Hội là đoàn kết các lực lượng yêu nước, tiến bộ để làm cách mạng đánh đuổi giặc Pháp xâm lược, lật đổ bè lũ vua quan bán nước, đem lại độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho đồng bào. Tuy nhiên, Hội không đưa ra được đường lối, phương pháp, tổ chức, cách thức tiến hành cách mạng. Các hội viên chỉ mới thống nhất và đưa ra được ba điểm: tuyên truyền phát triển Đảng; liên lạc với những người cách mạng ở Thái Lan và Trung Quốc; chuẩn bị đại hội để chính thức thành lập Đảng.

Chính vì vậy, khi đánh giá về tổ chức Phục Việt, Sở mật thám Đông Dương, trực tiếp là Quyền Cục trưởng Cục Chính trị và Liêm phóng Lui Mácty (Louis Marty) có vẻ coi thường. Ông ta cho rằng, thông qua việc đưa ra tôn chỉ mục đích, chứng tỏ: “Những nhà cách mệnh ấy chẳng biết tí gì về tình hình Đông Dương. Họ cũng không thảo nổi một chương trình hoạt động thích nghi với tình thế”(1). Tất nhiên, viên Chánh mật thám Đông Dương chẳng bao giờ có thể nhận xét một cách khách quan và thiện cảm về một tổ chức cách mạng Việt Nam. Song, phải thừa nhận rằng, về nhận thức cách mạng và trình độ chính trị, các yếu nhân của Phục Việt lúc bấy giờ còn ấu trĩ, non nớt.

Năm 1926, đồng chí Lê Duy Điếm (sau đó là đồng chí Trần Phú) được Hội Phục Việt cử sang Quảng Châu liên lạc với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau khi bắt được liên lạc và tham gia khóa huấn luyện chính trị của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy, đồng chí Lê Duy Điếm trở về nước và áp dụng chương trình, phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào Hội Phục Việt, làm cho Hội Phục Việt chuyển hóa từ một tổ chức yêu nước thành một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng vô sản (sau này trở thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn - một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam).

Đảng Thanh niên Việt Nam do Trần Huy Liệu, Nguyễn Trọng Hy... thành lập ở Sài Gòn (tháng 3-1926). Dù có tiếng là tiến bộ, nhưng đến khi: “Ban trị sự đã chính thức thành lập, nhưng chương trình, điều lệ vẫn không có và cũng chẳng ai hỏi đến... càng chưa nghĩ đến Đảng Thanh niên theo chủ nghĩa gì”(2). Hoạt động của Đảng chỉ sôi nổi nhất thời, trong đó có các hoạt động tiêu biểu như tổ chức mít tinh đón Bùi Quang Chiêu nhưng lại chống tư tưởng “Pháp - Việt đề huề” của Đảng Lập hiến do Bùi Quang Chiêu đứng đầu, đòi thả nhà yêu nước Nguyễn An Ninh... Khi những người đứng đầu bị nhà cầm quyền thực dân bắt giữ, Đảng Thanh niên Việt Nam nhanh chóng tan rã.

Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Nguyễn Khắc Nhu, Nguyễn Tuấn Tài... thành lập tháng 12-1926 tại Hà Nội. Đây là Đảng của giai cấp tư sản Việt Nam. Mục tiêu của Đảng là: “Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc biệt là các nước lân cận: Ai Lao, Cao Miên”(3). Đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng bao gồm các thành phần trí thức, nông dân, địa chủ, thương gia, công chức, sinh viên, học sinh, công nhân và binh lính người Việt yêu nước trong quân đội Pháp. Tuy mang danh là “Đảng cách mạng” nhưng không có cơ sở trong nhân dân, tổ chức lỏng lẻo nên có nhiều phần tử mật thám, chỉ điểm của thực dân Pháp trong hàng ngũ. Mặt khác, hoạt động của Đảng chủ yếu dùng hành động ám sát cá nhân nên ít được ủng hộ. Tháng 2-1930, Việt Nam Quốc dân Đảng phát động khởi nghĩa, biết rằng khó thành công nhưng như Chủ tịch Đảng Nguyễn Thái Học đã nói: “Không thành công thì cũng thành nhân”. Quả nhiên, khởi nghĩa thất bại, hầu hết những lãnh đạo của Việt Nam Quốc dân Đảng bị bắt và bị đưa đi hành quyết ở Yên Bái. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái là tiếng vọng cuối cùng của giai cấp tư sản Việt Nam trên vũ đài chính trị. Ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam chuyển hẳn vào tay giai cấp công nhân với đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam(4).

Thanh niên Cao vọng Đảng do Nguyễn An Ninh - chủ bút tờ La Cloche félée (Chuông rè), thành lập và hoạt động từ năm 1923 đến năm 1928 tại Sài Gòn. Tôn chỉ, mục đích và hoạt động của Đảng là tuyên truyền nâng cao dân trí. Tiêu chuẩn để được kết nạp vào Đảng là phải biết chữ Quốc ngữ, phải cắt tóc ngắn. Tổ chức của Thanh niên Cao vọng rất đơn giản, không có cấp trung ương, cấp tỉnh, trụ sở là nhà riêng của chí sĩ Nguyễn An Ninh. Sau khi nhà yêu nước Nguyễn An Ninh và một số người đứng đầu bị bắt, Thanh niên Cao vọng Đảng nhanh chóng tan rã.

Tổ chức Hội kín Nam Kỳ ra đời rất sớm, tính từ năm 1914 đến năm 1918 ở Nam Kỳ có từ 70 đến 80 hội kín được thành lập và hoạt động với mục đích là lật đổ chính quyền thực dân. Tư tưởng triết lý của các hội kín khá phức tạp, gồm cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Các tổ chức hội kín hoạt động độc lập, không có hệ thống chỉ huy chung và hầu như tất cả đều suy tôn Phan Xích Long (tức Phan Phát Sanh) làm Hoàng đế. Mỗi hội đều có một hội chủ (gọi là Ông chủ). Hội chủ thường chia hội viên ra từng nhóm nhỏ (khoảng vài chục người) gọi là “kèo”. Trong khi hoạt động, giữa các “kèo” không được biết nhau, khi cần gặp nhau hội viên phải dùng ngôn ngữ và dấu hiệu do hội chủ quy định. So sánh với tổ chức Thiên Địa hội (ở Trung Quốc), Giáo sư Sử học Trần Văn Giàu đã nhận xét rằng, tuy cũng uống máu ăn thề, nguyện tuyệt đối trung thành với nhau, với hội và qua thử thách xem có đủ can đảm không, song trong Hội kín Nam Kỳ không hề có đẳng cấp với tính chất phong kiến và tôn giáo như trong Thiên Địa hội. Về tổ chức, Hội kín Nam Kỳ cũng đơn giản hơn nhiều, vì tính chất bình đẳng, huynh đệ là cơ bản. Khi quân Pháp tổ chức lùng sục, bắt bớ đã thu được nhiều bài “Phú hoài cổ” (của nhà giáo Võ Trường Toản) và các “bùa chú”. Nội dung bài “Phú hoài cổ” đề cao tư tưởng “trung, hiếu”, “xả thân thủ nghĩa”. Còn “bùa chú” là do các hội viên tin rằng nó có thể làm tăng thêm sức mạnh và giúp họ tránh được mọi hiểm nguy khi lâm trận. Một tổ chức chính trị, có khuynh hướng “cách mạng” mà lại mang màu sắc tôn giáo, huyền bí như vậy, cho nên khi bị khủng bố đã mau chóng tan rã.

Ngoài các tổ chức, đảng phái nói trên, còn có một số tổ chức và đảng phái chính trị ra đời sau Đảng Cộng sản Việt Nam như: Nhóm Trốt kít với các đại biểu là Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch..., là một tổ chức chính trị “mượn danh” mácxít, du nhập vào Việt Nam khoảng những năm 30 thế kỷ XX. Đến giữa những năm 30, Mặt trận Bình dân Pháp thắng thế lên cầm quyền, chính quyền thuộc địa ở Đông Dương nới lỏng chính sách, cho phép một số tổ chức, đảng phái chính trị được hoạt động công khai. Những người Trốt kít Việt Nam đã tham gia tranh cử vào Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ; Viện Dân biểu Trung Kỳ v.v.. Tuy nhiên, khi chính quyền thuộc địa trở mặt, đàn áp các đảng phái chính trị, tổ chức Trốt kít đã tan rã nhanh chóng. Người ta cho rằng, Trốt kít là những người “cách mạng đầu lưỡi”, sớm bộc lộ bản chất “cơ hội cách mạng”, do đó chỉ mang tính nhất thời, không được nhân dân ủng hộ.

Ra đời sau Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Cách) được thành lập năm 1940 ở Trung Quốc. Đầu năm 1942, Việt Cách cùng với Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc - lấy tên theo Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học), đã tổ chức đại hội, thành lập Việt Nam Giải phóng Hội, do Nguyễn Hải Thần, Trương Bội Công, Vũ Hồng Khanh, Nghiêm Kế Tổ... lãnh đạo. Năm 1945, hai tổ chức Việt Cách và Việt Quốc theo chân 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc vào Việt Nam với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, thực chất là thực thi kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” nhằm “diệt Cộng, cầm Hồ”, lật đổ chính quyền cách mạng. Nhưng mưu đồ của họ bất thành. Mặc dù với chính sách đoàn kết dân tộc, họ đã được nhường 70 ghế trong Quốc hội (không thông qua bầu cử); những người đứng đầu của Việt Quốc và Việt Cách tham gia như Nguyễn Hải Thần được cử giữ chức Phó Chủ tịch nước, Vũ Hồng Khanh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyễn Tường Tam làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao... trong Chính phủ Liên hiệp. Tuy nhiên, sau Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), quân đội của Tưởng Giới Thạch rút về nước, dù không ai đuổi nhưng Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh... chạy theo “quan thầy”, bỏ nước, bỏ dân.    

Như vậy, thực tiễn lịch sử đã cho thấy, dù không ai tranh giành, không ai gạt bỏ, nhưng tất cả các đảng phái, tổ chức chính trị ở Việt Nam (ngoại trừ Đảng Cộng sản) đều không nắm được quyền lãnh đạo cách mạng. Các đảng phái, tổ chức chính trị dù là đảng của các nhân sĩ trí thức yêu nước nhiệt thành, hay là đảng của giai cấp tư sản dân tộc... cơ bản đều chưa có đường lối chính trị rõ ràng, thiếu hệ thống tổ chức chặt chẽ, có những đảng viên của các tổ chức, đảng phái chính trị nói trên thiếu bản lĩnh, cơ hội... Vì thế, không đảng phái nào đủ năng lực và uy tín chính trị lãnh đạo cách mạng. Cho dù có những đảng được phép hoạt động công khai, thậm chí còn nhận được sự giúp đỡ của các thế lực ngoại bang cả về phương diện tổ chức lẫn tiền bạc (như Việt Quốc, Việt Cách...) đều thất bại và tan rã nhanh chóng.

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, thành lập ngày 3-2-1930 - so với nhiều đảng phái chính trị khác có thời gian ra đời muộn hơn. Nhưng ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm được quyền lãnh đạo cách mạng, được các giai tầng xã hội thừa nhận vai trò lãnh đạo cách mạng.

Lý giải vấn đề này, nhiều sử gia và nhiều nhà phân tích chính trị trong và ngoài nước đều thống nhất nhận định rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã đề ra được chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử. Mặt khác, Đảng có phương pháp tổ chức, chỉ đạo hoạt động, phương pháp vận động quần chúng khoa học, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn. Từ những yếu tố đó, Đảng tạo lập được uy tín đối với nhân dân, được nhân dân hết lòng ủng hộ. Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ niềm tin của hết thảy nhân dân đối với Đảng. Có được niềm tin ấy, dù Đảng tồn tại dưới hình thức nào (bí mật hay công khai), dù có bao nhiêu đảng phái, tổ chức khác tham gia trên vũ đài chính trị thì quyền lãnh đạo cách mạng vẫn thuộc về Đảng Cộng sản. Có thể khẳng định uy tín chính trị là yếu tố căn bản trong việc xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam.

Song, sẽ là thiếu tính thuyết phục và phiến diện nếu chỉ lấy tiêu chuẩn năng lực lãnh đạo và uy tín chính trị của Đảng làm tiêu chí khẳng định tính ưu việt của Đảng Cộng sản Việt Nam so với các đảng phái khác. Thực tế ngay khi mới ra đời, Đảng Cộng sản đã nắm được quyền lãnh đạo cách mạng và được tất cả các giai tầng trong xã hội Việt Nam thừa nhận quyền lãnh đạo cách mạng. Sở dĩ như vậy, là bởi Đảng Cộng sản Việt Nam sớm biết giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Điều đó có nghĩa là Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ những ngày đầu đã xác định được mục tiêu cách mạng, đáp ứng được những đòi hỏi và nguyện vọng cấp bách nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam (độc lập dân tộc), đồng thời, mục tiêu đó còn phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của thời đại (thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội). Cùng với đó, Đảng đã xây dựng được đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn. Với Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt... do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (2-1930), những vấn đề cơ bản mang tính chiến lược của cách mạng Việt Nam đã được giải quyết. Bên cạnh đó, những cán bộ, đảng viên của Đảng được huấn luyện, thử thách, rèn luyện trong phong trào cách mạng, luôn bám sát thực tiễn, có đủ năng lực lãnh đạo và uy tín chính trị, không phụ lòng tin của nhân dân. Những tấm gương kiên trung của Đảng đã tỏ rõ tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, kiên quyết hy sinh phấn đấu làm tròn sứ mệnh lịch sử giao phó. Trong tiến trình lịch sử, Đảng đã lãnh đạo dân tộc đứng lên Tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX.

Hoàn thành trọng trách lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là Đảng duy nhất cầm quyền đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới.

Sau 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. “Thực tiễn đó đã khẳng định một chân lý, ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”(5).

Tất nhiên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, có lúc Đảng ta bị quân thù khủng bố ác liệt, toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Xứ ủy đều bị bắt, các tổ chức, cơ sở Đảng bị đánh phá dữ dội, thiệt hại nặng nề. Nhưng vai trò lãnh đạo cách mạng của Đảng chưa khi nào bị đứt quãng, bị các đảng phái chính trị khác tiếm quyền. Bởi trong những giờ phút khó khăn, ác liệt nhất đã có lớp lớp đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam hy sinh oanh liệt vì sự nghiệp cách mạng. Các đồng chí Tổng Bí thư Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong và các nhà lãnh đạo của Đảng như Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Văn Thụ... đã trở thành tượng đài bất tử trong lòng nhân dân, tạo nên niềm tin giữa dân với Đảng mà không một kẻ thù nào, không một thế lực nào có thể chia lìa. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng là sức mạnh làm nên mọi chiến thắng của dân tộc ta. Chính niềm tin là cơ sở quan trọng nhất duy trì sự lãnh đạo liên tục của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.

Rõ ràng, chỉ một Đảng cách mạng chân chính, có đường lối cách mạng đúng đắn, thực sự có bản lĩnh, trí tuệ, phấn đấu vì mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, được nhân dân yêu mến, thừa nhận quyền lãnh đạo, Đảng đó mới xứng đáng là Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng và đồng thuận xã hội

 

Dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng là trụ cột có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội. Bài viết tập trung luận giải mối quan hệ giữa dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng và dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội ở nước ta hiện nay.

 

Nước ta hiện nay đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập quốc tế, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa. Vấn đề dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội trở thành vấn đề lớn, quan trọng, mang tính quyết định. Nó vừa là mục tiêu, nội dung, phương thức, vừa là động lực phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam... tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững”(1). Để phát huy dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội, trước hết Đảng ta phải là một tổ chức dân chủ, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động. Có thể khái quát mối quan hệ trên như sau:

Một là, yếu tố quyết định dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng là Đảng luôn giữ vững bản chất giai cấp công nhân; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân; đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và cả dân tộc; quan điểm, tư tưởng, đường lối và chủ trương, chính sách của Đảng xuất phát từ lập trường của giai cấp công nhân; trong bất cứ hoàn cảnh nào, Đảng cũng phải bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đảng phấn đấu cho lợi ích giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động và cả dân tộc. Chính điều đó quy định bản chất của Đảng ta là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Xác định rõ lập trường giai cấp, trung thành với lợi ích giai cấp và dân tộc, nhận diện và đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng là bảo vệ vững chắc sự đoàn kết thống nhất trong Đảng - hạt nhân của đồng thuận trong xã hội.

Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, là cơ sở quan trọng nhất để mở rộng và phát huy dân chủ, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; siết chặt kỷ luật; phòng ngừa và khắc phục sự độc đoán, chia rẽ nội bộ. Trong điều kiện hiện nay, cần thực hiện nghiêm túc, thực chất nguyên tắc tự phê bình và phê bình, sự nêu gương của những người lãnh đạo trong thực hành dân chủ, củng cố đoàn kết thống nhất trong từng tổ chức đảng và trong toàn Đảng, trong các cơ quan, tổ chức được giao phụ trách.

Xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, bố trí đúng cán bộ chủ chốt, đặc biệt người đứng đầu, là yếu tố có tính quyết định để phát huy dân chủ, củng cố và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng. Thực tiễn chứng minh, người đứng đầu có năng lực, phẩm chất đạo đức và uy tín là yếu tố quyết định mọi thành công. Trong nhiều trường hợp, sự quyết đoán, trí tuệ và quyết tâm của người đứng đầu đã giúp địa phương chớp được thời cơ, giành thắng lợi. Ngược lại, do dự, dựa dẫm tập thể, lẩn tránh trách nhiệm cá nhân dẫn đến mất dân chủ, mất đoàn kết, mất thời cơ. Chính vì thế, bố trí đúng người, đúng việc là một khâu quan trọng, tiền đề cho sự ổn định và phát triển. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng;... xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(2). 

Hai là, Đảng lãnh đạo cách mạng để giành độc lập dân tộc và quyền làm chủ của nhân dân, làm cho nhân dân là người chủ của xã hội, để nhân dân đoàn kết, đồng thuận thực hiện nghĩa vụ người chủ của mình

Mục tiêu trở thành động lực thôi thúc đảng viên và các tầng lớp nhân dân quyết liệt đấu tranh, tạo thành sức mạnh quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và quyết định thành công của công cuộc xây dựng CNXH. Trong chế độ xã hội mới, nền dân chủ XHCN là dân chủ của số đông, của đa số nhân dân lao động. Bao nhiêu lợi ích là của dân, bao nhiêu quyền cũng là của dân, thuộc về dân, quyền hành và lực lượng đều ở trong dân, sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH đất nước là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân thực hiện. Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân thành luật pháp, biến đường lối, chủ trương của Đảng thành luật pháp và chính sách phục vụ nhân dân; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị tổ chức lực lượng nhân dân thành sức mạnh, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chế độ mới, đem lại hạnh phúc cho nhân dân.

Đảng lãnh đạo phát huy quyền làm chủ của nhân dân để gây hạnh phúc cho nhân dân là định hướng chính trị tổng quát và bao trùm hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, là mục đích trực tiếp và sâu xa của sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để đạt được mục đích trực tiếp, Đảng phải lãnh đạo hệ thống chính trị thực hiện thành công cuộc đấu tranh chống quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí có hiệu quả, đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội.

Mất dân chủ, mất đoàn kết thống nhất trong Đảng sẽ làm tổn hại tới lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Quyền lực nhà nước phải thực sự thể hiện được quyền lực của nhân dân, quyền lực đó được sử dụng vào mục đích phục vụ nhân dân, bảo đảm cho nhân dân có cuộc sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày một tốt, xã hội ngày càng văn minh tiến bộ. Phải làm cho mỗi người dân được thụ hưởng các quyền và lợi ích chính đáng; làm cho mỗi người đều có cơ hội như nhau để phát huy mọi năng lực sáng tạo của mình. Dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội phải được đặt trên nền tảng ấy mới vững chắc, lâu bền.

Trong điều kiện hiện nay, phải thực hiện chế độ phân phối hợp lý và khoa học, xóa bỏ cơ chế xin - cho và độc quyền trong kinh tế. Chế độ phân phối không phù hợp với quy luật khách quan là một nguyên nhân gây mất dân chủ, mất đoàn kết. Phải thường xuyên nghiên cứu, hoàn thiện các chế độ phân phối, bảo đảm kịp thời, khoa học, khuyến khích người làm việc hăng hái, người có nhiều cống hiến cho xã hội. Trong đó, phải có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với các đối tượng chính sách, khuyến khích người tài; tôn vinh xứng đáng những anh hùng, chiến sĩ thi đua, người tốt, việc tốt. Điều này càng cần được thực hiện trong những hoàn cảnh khó khăn, như khi cả nước dồn sức phòng, chống dịch Covid-19 như chống giặc hiện nay.

Ba là, dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội là yêu cầu để xây dựng, củng cố dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng

Phát huy dân chủ, xây dựng đoàn kết, đồng thuận xã hội là củng cố cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng, Nhà nước. Nếu tạo được dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội thì cơ sở đó ngày càng vững chắc và ngược lại. Nhưng, đoàn kết, đồng thuận xã hội không thể tự có, và luôn chịu tác động nhiều chiều từ các yếu tố khách quan, chủ quan cần được không ngừng xây dựng, vun đắp, củng cố. Do vậy, Đảng lãnh đạo thực hiện đường lối chiến lược, hiện thực hóa khát vọng, ý chí của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc, đồng thời không ngừng phát huy dân chủ, quan tâm chăm lo đời sống thiết thực của mỗi người dân. Nhân dân rất sáng suốt, nên sẽ nhận thức được những thành quả do Đảng, Nhà nước mang lại cho nhân dân và luôn là nền tảng vững chắc cho sự tồn tại của Đảng và hệ thống chính trị, của chế độ XHCN.

Sự đồng thuận xã hội càng đạt được ở mức độ cao sẽ càng tạo cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho Đảng, Nhà nước. Mối liên hệ giữa dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng với dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội ngày càng được gắn kết chặt chẽ và thể hiện trong thực tiễn ở thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trong sạch vững mạnh.

Bốn là, công cuộc  đổi mới đất nước có điều kiện, tiền đề, động lực là dân chủ, đoàn kết thống nhất trong Đảng và dân chủ, đoàn kết, đồng thuận xã hội

Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn gắn dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội với việc từng bước xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta. Dân chủ hóa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội là con đường tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng, đồng thuận xã hội. Đổi mới đã thực sự mở đường và đặt cơ sở cho một xã hội dân chủ, đoàn kết, đồng thuận. Tư tưởng dân chủ mang ý nghĩa giải phóng con người và giải phóng xã hội và cũng từ đó mà ngày càng có điều kiện tinh thần và vật chất tốt hơn, tạo cơ sở vững chắc cho đoàn kết, đồng thuận trong xã hội vững chắc.

Năm là, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng đoàn kết thống nhất, trong sạch, vững mạnh, có đủ sức mạnh để lãnh đạo xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, phẩm chất và năng lực của cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên của Đảng. Song, điều đó chỉ trở nên thực chất và phản ánh sự trưởng thành của toàn Đảng về ý thức dân chủ và trách nhiệm xã hội khi Đảng thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Dựa vào nhân dân, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, làm cho Đảng không ngừng tăng cường sinh lực, khắc phục bệnh quan liêu là giải pháp chiến lược của công tác xây dựng Đảng. Cũng tương tự như vậy, Nhà nước chỉ mạnh lên và tăng cường được hiệu lực, hiệu quả quản lý nếu Nhà nước thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trong công cuộc đổi mới, dân chủ hóa cần có những biện pháp để Đảng thu nhận được những thông tin trung thực nhất của nhân dân, những ý kiến phản biện, khuyến nghị với Đảng về những quyết sách, kể cả những vấn đề lớn lao, hệ trọng như đường lối, tổ chức, cán bộ ở cấp cao.

Để xây dựng một xã hội dân chủ, đoàn kết và đồng thuận, các quan hệ nhân dân với Đảng, Đảng với nhân dân, công dân với Nhà nước, Nhà nước với công dân, công dân với công dân là những quan hệ được duy trì trong vùng kiểm soát của pháp luật và được hỗ trợ bằng dư luận xã hội, với sức mạnh của văn hóa và đạo đức công dân.

Xã hội vận động theo xu hướng dân chủ hóa, các mối quan hệ xã hội sẽ định hình bởi cấu trúc phân công - hợp tác - kiểm tra và kiểm soát, được điều chỉnh bằng luật pháp, cũng như tự điều chỉnh. Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là phương thức, chỗ dựa để thực hiện dân chủ trong xã hội. Sự vững mạnh của Nhà nước pháp quyền XHCN và sự trưởng thành của công dân về vai trò của cá nhân, ý thức nghĩa vụ của chính mình dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ đem lại những thành quả dân chủ, đoàn kết, đồng thuận trong xã hội.

Sáu là, tăng cường kiểm soát quyền lực, đẩy mạnh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí

Quyết tâm kiểm soát quyền lực, phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí tiếp tục được Đại hội XIII của Đảng khẳng định mạnh mẽ: “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(3). Kiểm soát quyền lực đối với Nhà nước theo cơ chế Đảng ban hành đường lối, chủ trương, lãnh đạo để Nhà nước cụ thể hóa bằng chính sách, pháp luật; nhân dân làm chủ, kiểm soát, giám sát hoạt động của Nhà nước. Đảng giới thiệu đảng viên ứng cử giữ các chức vụ quan trọng của Nhà nước để thực thi đường lối, chính sách của Đảng. Đảng kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua việc kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, đảng viên thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đảng viên trong các cơ quan nhà nước có thể bị cách chức bất cứ lúc nào nếu quan liêu, tham nhũng, vi phạm pháp luật đến mức bị xử lý kỷ luật đảng

Đấu tranh chống quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

 

Bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm suy yếu hệ thống chính trị. Đảng ta thể hiện quyết tâm chính trị rất cao, thực hiện các giải pháp mạnh mẽ nhằm đẩy lùi các căn bệnh này, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước.

1. Nhận diện bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Quan liêu là cán bộ phụ trách xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi, đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung. Quan liêu xa rời quần chúng, không đi sâu đi sát, không hiểu rõ lai lịch, tư tưởng và công tác của cán bộ mình. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Sợ phê bình và tự phê bình”(1). Người chỉ rõ sở thích của những cán bộ mắc bệnh quan liêu là thích dùng mệnh lệnh, “thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách”(2); “ở cương vị phụ trách thì tự cho mình có quyền hành hơn hết thảy, định đoạt mọi công việc, ở địa phương nào thì coi đó là một giang sơn riêng, không biết đến lợi ích của toàn cục”(3). Người nhấn mạnh: “Số người đó coi Đảng như cái cầu thang để thăng quan phát tài. Họ không quan tâm đến đời sống của nhân dân mà chỉ lo nghĩ đến lợi ích của riêng mình. Họ quên rằng mỗi đồng tiền, hạt gạo đều là mồ hôi nước mắt của nhân dân, do đó mà sinh ra phô trương, lãng phí. Họ tự cho mình có quyền sống xa hoa, hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”(4).

Như vậy, có thể hiểu: quan liêu là cách lãnh đạo thoát ly thực tế, đại khái, chung chung, chuộng hình thức, nặng về giấy tờ, ít kiểm tra, thiếu dân chủ, thích dùng mệnh lệnh hành chính, xa nhân dân, coi thường nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, bảo thủ, hách dịch, chuyên quyền, độc đoán, thậm chí ức hiếp cán bộ cấp dưới và nhân dân.

“Chủ nghĩa cá nhân” là thế giới quan dựa trên cơ sở đối lập quyền lợi cá nhân riêng lẻ với quyền lợi của xã hội, đặt quyền lợi của cá nhân trên quyền lợi tập thể(5). Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, những người mắc vào chủ nghĩa cá nhân “việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”... ngại khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ”(6). Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đường lối chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(7).

“Lối sống” là toàn bộ lề thói, cách thức cư xử, ăn, ở của một người, một tập thể người trong xã hội, thể hiện trong các lĩnh vực hoạt động từ sản xuất, tiêu dùng, sinh hoạt đến thái độ, hành vi, cách tư duy, lối ứng xử giữa con người với con người.

Con người luôn luôn phải tồn tại trong một cộng đồng nhất định, họ phải tuân thủ những quy tắc nhất định của cộng đồng, dần dần thành thói quen và trở thành lối sống cá nhân. Lối sống cộng đồng là những quy tắc được thừa nhận rộng rãi trong một cộng đồng người nào đó, được mọi thành viên tuân thủ gần như vô điều kiện và trở thành đương nhiên. Như vậy, lối sống là một thói quen có định hướng, thể hiện những đặc trưng văn hóa của mỗi người hay một cộng đồng.

Lối sống có sự thay đổi theo các điều kiện sống, sự thay đổi đó không phải lúc nào cũng mang tính tích cực, có không ít lối sống thay đổi theo hướng tiêu cực.

Lối sống quan hệ mật thiết với lẽ sống. Theo Đại từ điển tiếng Việt: “lẽ” là điều thường thấy ở đời, được coi là hợp với quy luật, với đạo lí(8). “Lẽ sống” chính là lối sống của cá nhân hay một cộng đồng người hợp đạo lý, hợp quy luật, là lối sống tiến bộ, được duy trì, phát triển cùng với sự phát triển, tiến bộ của con người và xã hội.

Như vậy, lẽ sống là nhân lõi của lối sống, quy định ý thức, tình cảm và mục tiêu của lối sống. Bởi vậy, để xây dựng lối sống tốt đẹp trong xã hội phải đặc biệt quan tâm xây dựng lẽ sống đúng đắn, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc và thời đại, giữ gìn lối sống tốt, loại bỏ lối sống xấu.

Lối sống tốt đẹp của con người là lối sống trong sạch, lành mạnh, giản dị, tiết kiệm, vì tập thể, vì mọi người, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích tập thể và đất nước... Người có lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm là người có lập trường tư tưởng không vững vàng, bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc, say mê quyền lực, địa vị, khéo luồn lách, nịnh bợ, kéo bè, kết cánh, “móc ngoặc” trên dưới, trong ngoài để đạt mục đích cá nhân. V.I.Lênin chỉ rõ, những người cơ hội là những người lừng chừng về chính trị, họ “dễ dàng thừa nhận mọi công thức và rời bỏ mọi công thức cũng dễ dàng như thế”(9).

Lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái là biểu hiện của suy thoái đạo đức, lối sống mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã chỉ ra. Đây là biểu hiện thứ nhất trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

“Lợi ích nhóm” là biểu hiện của suy thoái về đạo đức, lối sống.

Quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là các tệ nạn nguy hiểm đối với Đảng và chế độ. Những tệ nạn này có mối quan hệ với nhau và liên quan đến suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm cho các tệ nạn này không còn khả năng phát triển, giảm dần, hạn chế và bị loại trừ.

2. Những biểu hiện của bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng chỉ rõ: “Trong Đảng có một bộ phận giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động, mất lòng tin, trong đó một số chịu ảnh hưởng của khuynh hướng cơ hội, xét lại, muốn đưa đất nước đi theo con đường khác; thậm chí đã có người phản bội, đầu hàng. Không ít cán bộ, đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân, thực dụng cuốn hút, trở nên thoái hóa, hư hỏng..., ăn chơi vung phí tài sản của nhân dân rất nghiêm trọng và kéo dài”(10).

Nghị quyết còn nhấn mạnh: “Bệnh quan liêu xa thực tế, xa quần chúng rất nặng. Nhiều cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, sống xa dân, thậm chí cách biệt với cuộc sống của người lao động”(11). Xuất hiện ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong nhiều tổ chức đảng, cơ quan Nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật và cơ sở, nơi gần gũi, tiếp xúc nhiều nhất và trực tiếp giải quyết công việc của nhân dân.

Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh: “Bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại, tinh giản và nâng cao chất lượng; còn biểu hiện quan liêu... Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức...”(12). Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”, chỉ rõ: “Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng bộc lộ một số yếu kém: ... tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn”(13).

Đại hội IX của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tình trạng lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến”(14). Đại hội X của Đảng nhận định: Đáng lo ngại là “một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội” “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống ... trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi...”(15).

Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về..., đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau”(16). Đại hội XII của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn”(17).

Lợi ích nhóm đã xuất hiện trong các giai đoạn trước đây, song từ sau Đại hội VI của Đảng đã phát triển đến mức phức tạp, gây hậu quả rất nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị. Qua kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đại hội XII nhận định: “Trên một số vấn đề, qua kiểm điểm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp từ Trung ương đến cơ sở vẫn chưa làm rõ thực chất, mức độ nghiêm trọng... như tình trạng chạy chức, chạy tội, tham nhũng, lợi ích nhóm”(18). Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về đạo đức, lối sống...”, chỉ rõ một biểu hiện rất nguy hiểm của lợi ích nhóm: “... lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực”(19).

Như vậy, quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm” diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi và có xu hướng nghiêm trọng ở nhiều nơi, ở các ngành, các cấp, lĩnh vực đời sống xã hội. Đây là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và trong nhân dân, cần kiên quyết đấu tranh với quyết tâm chính trị cao và có hệ thống giải pháp mạnh mẽ, đồng bộ, khả thi.

3. Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái, “lợi ích nhóm”

- Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống quan liêu

Thứ nhất, giải pháp về kinh tế - xã hội. Đề cao và tăng cường tính tự chủ, tự quản về kinh tế, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đạt chất lượng hiệu quả; xác định cụ thể, rõ ràng hơn sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm thiểu sự can thiệp mang tính hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh việc xã hội hóa một số lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, nhất là những lĩnh vực dịch vụ công liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân; đẩy mạnh việc phân cấp hợp lý cho địa phương.

Thứ hai, giải pháp về công tác chính trị, tư tưởng. Mở rộng và tăng cường dân chủ trong Đảng và trong xã hội, đặc biệt là dân chủ trực tiếp; tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân.

Thứ ba, giải pháp về công tác tổ chức cán bộ. Đẩy mạnh việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội, đặc biệt là các cơ quan quản lý hành chính, các tổ chức chính trị - xã hội; phân định cụ thể, rõ ràng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, việc tự quản của nhân dân; xây dựng quy chế làm việc và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc; xây dựng đội ngũ cán bộ có chất lượng; đẩy mạnh công khai hóa, minh bạch hóa hoạt động quản lý của bộ máy Nhà nước; xây dựng cơ chế phản biện xã hội đối với những vấn đề quan trọng của đất nước.

Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, phát huy mạnh mẽ vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể nhân dân trong chống quan liêu.

Thứ năm, giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của nhân dân, cán bộ, đảng viên đối với cán bộ, tổ chức đảng, chính quyền mắc bệnh quan liêu; xử lý nghiêm minh những cán bộ, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị mắc bệnh quan liêu gây hậu quả nghiêm trọng, khen thưởng kịp thời các tổ chức và cá nhân có thành tích chống tệ quan liêu. Coi trọng sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về chống quan liêu.

- Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái

Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của cấp ủy các cấp, đội ngũ đảng viên về chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên. Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Thứ hai, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự xã hội, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động của mặt trái kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thứ ba, tiếp tục thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, thực sự là nơi trực tiếp chống lại một cách có hiệu quả chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và hoạt động thanh tra, kiểm sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước; xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên sa vào chủ nghĩa cá nhân, có lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái.

Thứ năm, mỗi cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức trách nhiệm, trước hết, tự tu dưỡng rèn luyện để tự tránh sa vào những suy thoái nêu trên.

Thứ sáu, đề cao trách nhiệm và có các hình thức, phương pháp hiệu quả để tổ chức, động viên nhân dân tham gia chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, nói không đi đôi với làm, bè phái trong cán bộ, đảng viên, trước hết ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

- Giải pháp chủ yếu đấu tranh chống “lợi ích nhóm”

Một là, nâng cao chất lượng việc xây dựng, thảo luận, quyết định và ban hành các quyết sách chính trị của Đảng, các văn bản pháp luật và dưới luật, hạn chế các kẽ hở pháp luật. Công khai, minh bạch những hoạt động của các cơ quan lãnh đạo, quản lý, nhất là về các hoạt động phê duyệt dự án, đề án, đấu thầu các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao chất lượng ngay từ khâu chuẩn bị và hình thành dự thảo các quyết sách chính trị, văn bản pháp luật, dưới luật; dân chủ thảo luận, lấy ý kiến đóng góp của các cấp ủy, tổ chức đảng, các nhà khoa học và nhân dân. Thực hiện nghiêm quy trình thảo luận các văn bản đó. Chỉ đạo chặt chẽ việc cụ thể hóa các văn bản, vì đây là khâu dễ xuất hiện các sơ hở để lợi dụng, hình thành và phát triển “lợi ích nhóm”.

Quan tâm nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tham mưu của cấp ủy, chính quyền các cấp nhằm chống lại việc lợi dụng sơ sở trong các quyết sách chính trị, pháp luật.

Hai là, tiếp tục thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, duy trì thành nền nếp thường xuyên việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Ba là, xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thực hiện làm việc và quyết định mọi vấn đề theo nguyên tắc tập thể, dân chủ, quyết định theo đa số; gắn chặt quyền hạn với trách nhiệm của các bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt...

Bốn là, thực hiện đồng bộ các giải pháp đối với công tác cán bộ nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp, nhất là về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tinh thần cảnh giác trước các thủ đoạn của các phần tử xấu.

Năm là, phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng trong đấu tranh chống “lợi ích nhóm”.

Tập trung nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, cán bộ và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, nhất là về giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, công chức. Thực hiện nghiêm quy chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội. Coi trọng việc tham gia giám sát trực tiếp của nhân dân đối với hoạt động của cán bộ, công chức và đảng viên.

Sáu là, tăng cường hoạt động của các cơ quan kiểm tra của cấp ủy, thanh tra Nhà nước và các cơ quan tư pháp để điều tra, xác minh và xử lý nghiêm minh, kịp thời theo kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước những cán bộ, đảng viên sa vào “lợi ích nhóm”.

Phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 

 Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thông qua các phương tiện truyền thông, các thế lực phản động thiếu thiện chí, thù địch, bất mãn, cơ hội chính trị đã tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xuyên tạc công tác phòng, chống tham nhũng, qua đó hạ thấp vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với chế độ. Bài viết phân tích, luận giải và phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng được đề cập trong các văn kiện của Đảng như: Cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, là cơ sở chính trị trong công tác phòng, chống tham nhũng. Trên cơ sở đó, Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng thành các bộ luật, luật, nghị định, thông tư..., tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần hoàn thiện từng bước cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”, cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng” và cơ chế để “không cần tham nhũng”.

Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đẩy mạnh thực hiện, ngày càng quyết liệt ở tất cả các cấp, các ngành với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có hạ cánh an toàn” và đã đạt được những kết quả rõ rệt; được người dân đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, đã thi hành kỷ luật trên 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 22 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Mặc dù vậy, kết quả đấu tranh chống tham nhũng cũng là chủ đề mà các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị lợi dụng để công kích, xuyên tạc, bôi nhọ nhằm thực hiện các mưu đồ “diễn biến hòa bình”. Chúng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, như:

Chúng xuyên tạc rằng: Tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong một thể chế mà không có tư pháp độc lập, toà án xử theo lệnh của Đảng không thể chống được tham nhũng. Hoặc bản thân bộ máy đẻ ra tham nhũng, cái lò này đẻ ra tham nhũng thì phải vứt cái lò đẻ ra tham nhũng này đi, chứ không phải đốt những kẻ tham nhũng; bởi không bao giờ đốt hết được cả(2).

Nghiên cứu về tham nhũng cho thấy, khi nào xã hội còn tư hữu và tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, các giai cấp khác nhau thì tham nhũng còn xuất hiện, tồn tại ở những mức độ và tính chất nhất định. Ở đâu có quyền lực, có tổ chức nhà nước mà bị tha hóa, không kiểm soát được quyền lực, minh bạch hoạt động thì nguy cơ tham nhũng đều có thể xảy ra. Do đó, dù là hình thức nhà nước nào, thể chế chính trị nào, tham nhũng đều tồn tại. Thực tế, tham nhũng có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và các nước đều đặc biệt quan tâm tìm cách thức để phòng ngừa, xây dựng thiết chế ngăn chặn, hạn chế, đẩy lùi.

Việt Nam đã chuyển từ mô hình nhà nước tập quyền XHCN sang mô hình nhà nước pháp quyền XHCN. Đây là bước đổi mới trong tư duy lý luận về xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước của Đảng. Sự đổi mới này dựa trên nhận thức đúng đắn về những hạn chế của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước trước đây cũng như những giá trị đã được thừa nhận chung của nhân loại về nhà nước pháp quyền. Đảng đã tiếp thu chọn lọc những giá trị tinh hoa của nhân loại về nhà nước pháp quyền và quản trị nhà nước hiện đại. Việc lựa chọn mô hình nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là sự kết hợp hài hòa giữa vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước XHCN, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và những giá trị tiến bộ, phù hợp với lý luận về nhà nước pháp quyền của nhân loại. Về tổ chức quyền lực nhà nước, chúng ta chủ trương tổ chức theo nguyên tắc: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Điều này hoàn toàn phù hợp với thể chế chính trị của nước ta và đã được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

Luận điệu cho rằng “tham nhũng là sản phẩm của chế độ, thể chế chính trị ở Việt Nam” là một sự quy chụp, xuyên tạc, vô căn cứ. Nhà nước pháp quyền XHCN là thống nhất, trong đó, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân cấp, phân quyền với chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Tòa án xét xử dựa trên hành vi, chứng cứ phạm tội, chứ không phải “xét xử theo lệnh của Đảng” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Thực chất luận điệu xuyên tạc này nhằm tuyên truyền, cổ xúy cho nhà nước tam quyền phân lập.

Trong khi Đảng và Nhà nước thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì các thế lực thù địch lại đưa ra những giọng điệu xuyên tạc rằng, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, “là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam”(3).

Việc Đảng lãnh đạo hoạt động kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay là tất yếu, khách quan, dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn rõ ràng và đầy đủ. Bởi lẽ, việc không kiểm soát được quyền lực sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, sự “tha hóa quyền lực” và sự lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ thường đi liền với tham nhũng. Tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XIV, nhiều đại biểu đã chỉ rõ: Phòng, chống tham nhũng trong tuyển dụng công chức, bổ nhiệm cán bộ rất khó, nhưng đây lại là “nguyên nhân mấu chốt” và tham nhũng cũng từ đây mà ra. Đặc biệt, tham nhũng trong công tác cán bộ là dạng tham nhũng phổ biến nhất và cũng khó chống nhất. Dạng tham nhũng này vô cùng nguy hiểm, nó có thể phá hoại đường lối, chiến lược của Đảng về công tác cán bộ, làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên. Nếu không có giải pháp kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và đấu tranh tranh phòng, chống tham nhũng hữu hiệu thì hệ quả sẽ hết sức nghiêm trọng, sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức yếu kém, làm mục ruỗng hệ thống chính trị, thậm chí đe dọa sự tồn vong của chế độ.

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã xác định: kiểm soát chặt chẽ quyền lực là một nội dung trọng tâm, khâu đột phá trong công tác cán bộ. Theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW, cơ chế kiểm soát quyền lực đối với những cán bộ có chức, có quyền phải được thực hiện với sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, vai trò giám sát và phản biện xã hội của các đoàn thể chính trị - xã hội, đặc biệt là của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân. Nghị quyết yêu cầu: “mở rộng dân chủ, phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân; vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ. Tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong công tác cán bộ”.

Công tác phòng, chống tham nhũng không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”, không có “đặc quyền” đối với bất kỳ ai. Với quan điểm rõ ràng, cụ thể đó, luận điệu: “Phòng chống tham nhũng đấu đá nội bộ, tranh giành quyền lực”; “Đảng không thể đấu tranh phòng, chống tham nhũng”... là hoàn toàn sai lầm và vô căn cứ.

Việc xử lý cán bộ, công chức, đảng viên tham nhũng, vi phạm pháp luật là hết sức cần thiết, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Phương châm phòng, chống tham nhũng mà Đảng ta đề ra là: Phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, hay bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng. Trên cơ sở đó, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng; tạo bước chuyển biến rõ rệt nhằm giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính.

Quy định về xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, đã xem xét cả đơn thư nặc danh, như vậy, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và đấu tranh phòng, chống tham nhũng hoàn toàn không phải là cuộc thanh trừng nội bộ, gây mất đoàn kết, mà nhằm bảo đảm lợi ích nhân dân, giữ vững sự ổn định và phát triển bền vững của chế độ XHCN.

Trên không gian mạng, các thế lực phản động ra sức tuyên truyền rằng: “căn nguyên tạo ra tham nhũng là do một đảng lãnh đạo, đảng đứng trên pháp luật. Vì thế, phải thực hiện đa đảng để không còn hoặc là hạn chế tham nhũng”(5). Thực tế, chúng muốn lợi dụng việc phòng, chống tham nhũng để xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời, cổ xúy cho tham nhũng, lợi ích nhóm. Chúng xuyên tạc nhằm gây chia rẽ nội bộ, làm suy giảm ý chí, lòng tin của nhân dân; giảm ý nghĩa thắng lợi công cuộc phòng chống tham nhũng. Bên cạnh đó, một bộ phận người dân do chưa hiểu đúng, hiểu rõ về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước nên hoài nghi, có những phát ngôn lệch lạc, làm ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay.

Phòng, chống tham nhũng là vấn đề sống còn của Đảng, của chế độ, do đó là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, vì lợi ích của Đảng, của đất nước và mỗi người dân. Đây là “mặt trận” phức tạp, gay gắt, quyết liệt, trực tiếp đấu tranh với sự chống đối “vô hình” của những người đi ngược lại lợi ích chung của Đảng và đất nước. Nhận thức rõ nguy cơ tham nhũng, Đảng ta đã đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống, tham nhũng, gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Nhà nước đã ban hành nhiều đạo luật để thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng như: Luật Phòng, chống tham nhũng, Bộ luật Hình sự,... Thí dụ, cụ thể hóa quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có hạ cánh an toàn...”, Bộ luật Hình sự Việt Nam đã quy định không có thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các loại tội phạm tham nhũng.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cất lên những tiếng nói lạc lõng, cố tình xuyên tạc, bóp méo, làm sai lệch vấn đề, định hướng dư luận với mục đích xấu. Do đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần nhận diện đúng những âm mưu, thủ đoạn tinh vi đó, giữ vững quyết tâm cao trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay. Mỗi tổ chức, cá nhân phải nhận thức phòng, chống tham nhũng là cuộc chiến chống “giặc nội xâm”, kiên quyết phòng, chống với tinh thần thẳng thắng, quyết liệt. Phòng chống tham nhũng bằng cả cơ chế, chính sách và hệ thống kiểm soát quyền lực... Có như vậy, tham nhũng, lợi ích nhóm mới bị đẩy lùi và không còn cơ hội để tồn tại. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo trước các âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề này.

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc hoạt động ngoại giao của Việt Nam

 

Nhân chuyến công du của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đến Cuba từ ngày 18-21/9/2021 và tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao khóa 76 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ), một số đối tượng phản động, cơ hội chính trị đã lợi dụng mạng xã hội đăng tải các bài viết nhằm xuyên tạc, hạ thấp vai trò của chuyến thăm, cho rằng lãnh đạo Nhà nước đi “van nài” Cuba và quốc tế hỗ trợ vắc xin trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp. Vậy thực hư của vấn đề này như thế nào?

Thứ nhất, phải khẳng định ngay chuyến công du của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta là sự cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng ta được xác định tại Đại hội XIII: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại… Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp, khó lường, Đảng ta xác định cần phải đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, xem trọng mối quan hệ với các nước láng giềng, đối tác bạn bè truyền thống. Chuyến thăm chính thức Cuba thể hiện chủ trương thúc đẩy quan hệ của Việt Nam với các đối tác ưu tiên, các nước bạn bè truyền thống. Là dịp để Việt Nam khẳng định tình đoàn kết, sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Cuba trong giai đoạn nhiều thách thức; thể hiện rõ bản sắc ngoại giao chân tình, thủy chung của Việt Nam với các nước bạn bè, anh em; chuyến thăm của đoàn đại biểu cấp cao nước ta càng có ý nghĩa đặc biệt khi đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạn, ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động trao đổi cấp cao trực tiếp gần hai năm qua.

Thứ hai, chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đến Cuba là sự tiếp nối mối quan hệ truyền thống anh em giữa hai nước, như lời của cố Chủ tịch Fidel Castro, lãnh tụ cách mạng Cuba đã nhận xét: quan hệ Việt Nam - Cuba là quan hệ mẫu mực trong thế giới hiện đại. Trong suốt thời kỳ kháng chiến, Cuba luôn là chỗ dựa cả về tinh thần lẫn vật chất cho Việt Nam, ủng hộ Việt Nam như ủng hộ chính sự nghiệp của Cuba, dành hết tất cả những gì quý báu nhất mà Việt Nam cần, Cuba luôn sẵn sàng. Điều này được thể hiện qua câu nói bất hủ “Vì Việt Nam, Cuba luôn sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Trong điều kiện hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 gây ra những khó khăn to lớn cho Nhân dân hai nước, mối quan hệ đoàn kết gắn bó đó lại được khẳng định trong gian khổ, thật cảm động khi nước bạn vẫn đang trong hoàn cảnh khó khăn, tỷ lệ tiêm chủng vẫn chưa cao thì những người bạn Cuba nói rằng “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng chia sẻ vắc xin của mình”, đáp lại tình cảm chân thành đó, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định “Quan hệ Việt Nam - Cuba là tài sản vô giá của hai đảng, hai dân tộc. Đó là tình đồng chí, tình anh em trường tồn, là cầu nối từ trái tim tới trái tim”. Việt Nam và Cuba dù xa xôi cách trở và còn nhiều khó khăn. Nhưng dù thế nào, hai nước vẫn luôn kề vai sát cánh, chia ngọt sẻ bùi. Việt Nam làm tất cả những gì có thể, bằng cả trái tim của mình để góp một phần nhỏ bé cùng Cuba vượt qua thử thách. Việt Nam đã dành cho nhân dân Cuba những món quà quý giá với hơn 6000 tấn gạo, 100 tấn ngô lai và nhiều trang thiết bị, vật tư y tế, thể hiện sự chia ngọt, sẻ bùi, cùng bạn vượt qua đại dịch. Việt Nam - Cuba đến với nhau trong hoạn nạn, tất cả những điều đó đã vượt qua mối quan hệ bang giao thông thường, chỉ có thể mô tả bằng tình cảm hữu nghị anh em đặc biệt.

Thứ ba, việc tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao của Đại hội đồng LHQ khóa 76 và trao đổi với các lãnh đạo cao nhất của LHQ là dịp để Việt Nam gửi đi thông điệp mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế về nước Việt Nam tự cường, có khát vọng và tầm nhìn phát triển, có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở, đã, đang và tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào công việc chung của cộng đồng quốc tế, và cũng tại diễn đàn quan trọng này Chủ tịch nước tiếp tục khẳng định tình đoàn kết với Nhân dân Cuba khi lên án chính sách bao vây cấm vận của Mỹ, cũng như ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Palestine. Cuối cùng, việc tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao của Đại hội đồng LHQ khóa 76 của Chủ tich nước Nguyễn Xuân Phúc cũng là cơ hội để nước ta gửi lời tri ân đến các nước trên thế giới đã ủng hộ Việt Nam trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021, đó cũng là thể hiện truyền thống, đạo lý của dân tộc, tô thắm thêm hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trọn tình vẹn nghĩa.

Chuyến công du của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, khẳng định vị thế uy tín của nước ta trên trường quốc tế, nắm chắc đường lối của Đảng, hiểu về mối quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam-Cuba sẽ là cơ sở, tiền đề để mỗi người nhận diện đúng âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.

Ngăn group chat thành “thiên đường” phát tán tin giả

 

Cùng với sự phát triển của mạng xã hội cũng như những ứng dụng gọi điện, nhắn tin miễn phí như Zalo, Viber… là sự ra đời của những group chat (nhóm những người trong cùng một nền tảng ứng dụng có thể tương tác và trò chuyện với nhau).


Gần đây, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, khi nhiều địa phương phải giãn cách xã hội nghiêm ngặt, ai ở đâu thì ở yên đó, hình thức giao tiếp thông qua group chat càng bùng nổ. Hiện nay, việc một cá nhân sở hữu từ vài nhóm đến hàng chục, thậm chí hàng trăm group chat khắp các ứng dụng là chuyện bình thường. Có group chat chỉ vài người nhưng cũng có group chat đến hàng chục, hàng ngàn người, nhất là trong những cộng đồng dân cư tập trung như khu chung cư.

Bên cạnh rất nhiều ưu điểm như tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin, hỗ trợ lẫn nhau, gắn kết tình nghĩa cộng đồng khu dân cư…, những group chat nói trên cũng trở thành “thiên đường” để phát tán, lan truyền những tin tức giả, độc hại. Nói không ngoa, group chat đã trở thành những “xóm nhà lá” thời 4.0. Qua lan truyền người này sang người kia, từ nhóm này đến nhóm kia theo dạng “nghe nói”, “nghe đồn”, từ một thông tin không rõ nguồn gốc, dần dà trở thành những cơn “địa chấn” dẫn dắt cảm xúc, gây hoang mang, thậm chí phẫn nộ trong cộng đồng.

Những ngày qua, nhan nhản những tin nhắn hoặc hình ảnh chụp màn hình một tin nhắn nào đó đại loại “người nhà đang ở ABC cho biết chuyện XYZ (đa phần đều mang tính tiêu cực hoặc mang tính cảnh báo nguy hiểm không đúng sự thật) được gửi tràn lan trong các group chat như thế. Quản trị viên một nhóm cư dân trên ứng dụng Zalo tại một khu căn hộ cho biết, mặc dù đã đưa vào nội quy và thường xuyên nhắc đi nhắc lại nhưng mỗi ngày anh xóa không biết bao nhiêu những tin nhắn lan truyền không có kiểm chứng như thế từ cư dân. Điều nguy hiểm là dạng lan truyền này tạo nên ảnh hưởng rất lớn bởi được chia sẻ từ những mối quan hệ quen biết thân tình nên thường tạo ra sự tin cậy rất cao.

Do vậy, dù mức độ ảnh hưởng không hề kém việc phát tán, lan truyền trên các trang mạng xã hội nhưng việc lan truyền, phát tán thông tin, nhất là tin độc hại, tin giả trong các group chat, rất khó để cơ quan chức năng phát hiện, xử lý nếu không nói gần như không thể! Do tính khó phát hiện, khó xử lý này mà hình thức group chat hiện đang được không ít phần tử phản động, các hội nhóm mang màu sắc tâm linh sử dụng triệt để nhằm tuyên truyền sai lệch, kích động gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Rõ ràng, dù biết rằng với không gian mạng mở vô tận như hiện nay, việc kiểm soát triệt để những thông tin xấu, độc hại phát tán trên các nền tảng mạng xã hội nói chung cũng như group chat nói riêng là rất khó nhưng cũng cần nhận diện một cách nghiêm túc mặt trái của nó để từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả có thể mang đến cho cộng đồng và xã hội. Đặc biệt, ý thức của mỗi cá nhân chính là “phòng tuyến” cực kỳ quan trọng trước vấn nạn tin giả, tin độc hại ngày càng tràn lan như hiện nay. Hãy tỉnh táo và có trách nhiệm trước mỗi thông tin muốn chia sẻ. Đừng lan truyền những thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là những thông tin góp phần gây hoang mang, hoảng loạn cho cộng đồng.

Giữa những ngày cả nước, nhất là TPHCM chúng ta, phải hứng chịu sự tổn thương đến gần như quỵ ngã bởi đại dịch Covid-19, hãy lan tỏa cho nhau niềm tin, động lực để cùng nỗ lực vượt qua thời đoạn khắc nghiệt và khốc liệt này.

Cảnh giác quan điểm “liên minh” trong giải quyết tranh chấp chủ quyền

 

Lợi dụng chuyến thăm của phái đoàn cấp cao Hoa Kỳ đến Việt Nam vào tháng 8/2020, đặc biệt là lời tuyên bố của Phó Tổng thống K. Harris về việc Hoa Kỳ mong muốn nâng tầm mối quan hệ đối tác toàn diện hiện nay giữa hai nước lên đối tác chiến lược. Trên mạng xã hội tràn ngập những lời kêu gọi Đảng, Nhà nước ta thiết lập liên minh với Hoa Kỳ, để họ giúp ta bảo vệ chủ quyền, đồng thời lên án chính sách “4 không” về quốc phòng ở nước ta. Các đối tượng cho rằng chính sách “ 4 không” như trên là “tự trói tay chân mình”, đồng thời hô hào, cổ suý tư tưởng phải dựa dẫm, lệ thuộc vào các nước khác, đặc biệt là các quốc gia phương Tây.

Chính sách đối ngoại của Đảng ta là sự kế thừa và tiếp nối chính sách đối ngoại từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, với chủ trương nhất quán là “đa dạng hóa và đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại”, “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Xét về chính sách quốc phòng, Đảng, Nhà nước ta thực hiện chủ trương “bốn không”, bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự với bất kỳ nước nào; không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; không dựa vào nước này để chống nước kia và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Chính sách quốc phòng nói trên là phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử giữ nước và tình hình thực tiễn của Việt Nam. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, được thực hiện xuyên suốt và có ý nghĩa sống còn đến sự tồn vong của dân tộc. Xuất phát từ các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, bàn về chính sách quốc phòng của Việt Nam, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện, đầy đủ. Về mặt lịch sử, trải qua quá trình đấu tranh dựng và giữ nước, sức mạnh nội lực, tự lực, tự cường luôn là nguồn sức mạnh to lớn nhất, vững chắc nhất để bảo vệ Tổ quốc. Nội dung đó đã thấm nhuần vào trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của tinh thần “tự lực tự cường” trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong buổi đầu tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mặc dù rất khâm phục các sĩ phu yêu nước, nhưng người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra những hạn chế trong con đường cứu nước của các bậc tiền bối. Như cụ Phan Bội Châu hi vọng Nhật giúp nước ta đuổi Pháp cũng chẳng khác gì “Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Do vậy, ý thức tự lực tự cường phải đước đặt lên hàng đầu, xuyên suốt, đặc biệt là trong thời điểm thế giới có những diễn biến phức tạp, lợi ích đan xen như hiện nay.

Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn của các khối liên minh và các mối quan hệ liên minh trên thế giới hiện nay. Sự kiện ba nước Mỹ, Úc và Anh công bố quan hệ đối tác 3 bên (AUKUS) đã gây ra những chia rẻ sâu sắc đến với các quốc gia được xem là “đồng minh”. Theo đó, Mỹ và Anh sẽ giúp Úc sở hữu hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Hiệp định AUKUS có nhiều mục đích khác nhau, nhưng trong đó ai cũng hiểu là để kiềm chế Trung Quốc là mục tiêu chính. Thế nhưng, không phải Trung Quốc mà Pháp lại đang là nước phản ứng rất mạnh mẽ, bởi một hợp đồng kinh tế hàng chục tỷ đô la của Pháp đã bị “cướp” trắng bởi những đồng minh thân thiết nhất. Ngoại trưởng Drian tuyên bố một cách giận dữ “Việc từ bỏ dự án tàu ngầm... là hành vi không thể chấp nhận được giữa các đồng minh và đối tác". Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là một hợp đồng béo bở bị mất vào phút chót. Đó là việc nước Pháp bị “đâm sau lưng” bởi các quốc gia đồng minh có cùng lợi ích. Từ sự việc trên, có thể thấy mối quan hệ giữa các “đồng minh” cũng sẽ bị lung lay bởi nhiều yếu tố khác. Do vậy, việc hi vọng và đặt hết niềm tin vào “Đồng minh” đó là một canh bạc mạo hiểm, mà hậu quả nhiều khi phải đánh đổi bằng lợi ích, chủ quyền quốc gia dân tộc.

Hay sự kiện Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough cũng để lại nhiều bài học sâu sắc cho việc giải quyết mối quan hệ với các nước lớn và các tranh chấp. Philippines có Hiệp ước các lực lượng thăm viếng với Mỹ, hiệp định này cho phép hàng ngàn quân Mỹ tới Philippines tập trận, bên cạnh đó là những lời hứa bảo đảm an ninh, chủ quyền cho Philippines, nhưng khi Trung Quốc có hành động xâm chiếm bãi cạn Scarborough vào năm 2012, Mỹ không giữ lời hứa gây áp lực buộc Trung Quốc rời khỏi bãi cạn mà làm ngơ để trung Quốc chiếm trọn và Tổng thống Philippines, Duterte đe dọa hủy Hiệp ước với Mỹ và yêu cầu Mỹ giải thích lý do để Philippines “mất lãnh thổ vào tay Trung Quốc”.

Thứ ba, những luận điệu cho rằng có thể dựa vào Mỹ để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông có lẽ họ đã quên đi quá khứ cay đắng khi Mỹ đã cố ý phớt lờ để mặc Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974, Ngoại trưởng Mỹ Kissinger khi đó đã lật lọng tuyên bố “Mỹ không có lập trường trong việc tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này”. Bản chất của chủ nghĩa đế quốc sẽ không bao giờ thay đổi dù được che lấp bởi nhiều mỹ từ, hay biểu hiện ở hình thức này hay hình thức khác.

Bàn về mối quan hệ giữa các nước, Cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill từng nói: “Không có bạn bè vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn. Chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”. Quan điểm đó gợi lên cho chúng ta những suy nghĩ nghiêm túc về đường lối ngoại giao giữa các nước trên thế giới.

Hiện nay, Việt Nam và Mỹ đã bình thường hóa quan hệ, hai nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế, gần đây là quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, không vì vậy mà khi quan hệ với Mỹ, chúng ta mơ hồ, ảo tưởng, dựa dẫm. Trên các diễn đàn quốc tế có vẻ như Mỹ có thái độ ủng hộ Việt Nam, tuy nhiên phải hiểu đây chiến thuật trong quan hệ ngoại giao mà thôi. Mỹ vẫn đang nuôi dưỡng và cưu mang những đối tượng phản động gốc Việt tiến hành các hoạt động chống phá nước ta; thường xuyên lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng Việt Nam. Do đó, chúng ta cần xây dựng bản lĩnh, tinh thần cảnh giác cách mạng, không dao động trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, tin tưởng tuyệt đối vào chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước.

Chủ động đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa

 Diễn biến hòa bình” là chiến lược phản động của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Để đạt được mục tiêu trên, các thế lực thù địch đã sử dụng những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi và xảo quyệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó lĩnh vực tư tưởng văn hóa được coi là mũi nhọn mà chúng đã và đang tập trung chống phá quyết liệt.


Chúng đẩy mạnh tuyên truyền những luận điệu nhằm phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Thâm độc hơn, chúng ra sức truyền bá văn hóa phẩm độc hại, cổ xúy cho lối sống thực dụng, sùng bái văn hóa ngoại lai nhằm làm phai nhạt truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc và băng hoại đạo đức xã hội.
Đối với Quân đội, chúng đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc lịch sử truyền thống và bản chất cách mạng của Quân đội ta, bôi nhọ, hạ thấp hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội với Nhân dân. Chúng rêu rao và cổ xúy cho luận điệu “phi chính trị hóa” Quân đội nhằm tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu và lý tưởng chiến đấu cao cả của mình.

Những âm mưu, thủ đoạn thâm độc trên nếu để len lỏi vào từng đơn vị cơ sở trong Quân đội có thể dẫn tới những hệ lụy hết sức nguy hại như: cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở dao động tư tưởng, thoái thác nhiệm vụ; không chịu học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ; nói xấu cấp trên, bôi nhọ cấp dưới, nói một đằng, làm một nẻo, gây mất đoàn kết; học theo lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất, tâm lý hưởng thụ; ở mức độ cao hơn, đó là biểu hiện nghe và tin theo thông tin sai trái, phản động, chống đối tổ chức, nói xấu chế độ.
Chính vì thế, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Quân đội nói chung và từng đơn vị cơ sở nói riêng cần phải xây dựng được “tấm khiên an toàn” và tìm ra được “phương thuốc đặc trị” nhằm đấu tranh ngăn ngừa và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tác động của “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở đơn vị cơ sở, các cơ quan, đơn vị cần quan tâm cần thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp như sau:

Thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, trọng tâm là giáo dục về chính trị tư tưởng nhằm nâng cao bản lĩnh, củng cố niềm tin, lòng trung thành với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Tích cực tuyên truyền đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ, giữ vững trận địa tư tưởng. Thực hiện tốt công tác quản lý chính trị nội bộ trong đơn vị; rà soát, kiểm soát, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các biểu hiện tư tưởng lệch lạc, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Nâng cao hiệu quả hoạt động các tổ chức ở đơn vị cơ sở trong việc nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ; kịp thời phát hiện, đấu tranh có hiệu quả những luận điệu chống phá của các thế lực phản động nhằm đảm bảo ổn định về chính trị tư tưởng trong đơn vị.
Phát huy vai trò nêu gương, nhân rộng cách làm hay, sáng tạo và coi trọng việc rút kinh nghiệm trong đấu tranh phòng, chống tác động của “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở đơn vị cơ sở. Các cơ quan, đơn vị cần nhân rộng những cách làm hay, sáng tạo trong giải quyết tư tưởng bộ đội, tiếp tục vận dụng thực hiện tốt “5 chủ động” trong tiến hành công tác tư tưởng, đó là: chủ động “dự báo”, chủ động “nắm bắt”, chủ động “ngăn ngừa” tư tưởng lệch lạc, chủ động “giải quyết và xử lý” và chủ động “đấu tranh” về tư tưởng; đẩy mạnh thực hiện mô hình đơn vị điểm, mẫu mực, tiêu biểu về “xây dựng đơn vị có môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh”.

Chữa “bệnh” xa dân

 

 

Gắn bó mật thiết với nhân dân là phẩm chất cốt lõi thể hiện bản chất, sức sống của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ý dân là ý trời. Làm đúng ý nguyện của dân thì ắt thành.

Đoàn kết - sức mạnh vô địch của Đảng

 

Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc và của Đảng ta. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh: Đoàn kết là yêu cầu chiến lược để đảng cộng sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đoàn kết là sức đề kháng để Đảng phòng ngừa các nguy cơ bè phái, cục bộ, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...

Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

Tự phê bình và phê bình - "vũ khí" sắc bén

 


Nguyên tắc tự phê bình và phê bình (TPB&PB) được đưa vào Điều lệ Đảng từ Đại hội II của Đảng năm 1951.

“Pháp bảo” của đội tiên phong

 

 

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt của Đảng ta, là một trong những nội dung chủ yếu quy định bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Giáo sư Bùi Phan Kỳ từng ví nguyên tắc này như là “pháp bảo” của Đảng để loại bỏ các khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chẳng những các thế lực thù địch, phản động chĩa mũi nhọn tấn công mà ngay trong nội bộ của Đảng, một số đảng viên, trong đó có cả những người từng là lãnh đạo cấp cao đặt vấn đề đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Một bộ phận đảng viên, tuy thừa nhận nguyên tắc nhưng thực tế sinh hoạt lại vi phạm nguyên tắc.

Công tác kỷ luật của Đảng là thường xuyên, nghiêm minh

 

 

Trước sự công khai, minh bạch của Đảng về tình hình kỷ luật cán bộ trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch được đà lớn tiếng đặt điều, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đang bị biến chất trầm trọng. Cùng với đó, chúng chủ ý bám víu vào các sự vụ, sự việc kỷ luật một số cán bộ, sĩ quan quân đội để lật lọng, quy chụp rằng “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước đã không còn “sắc bén”; từ đó chúng độc địa bôi nhọ, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.

Kiên định đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa

 

 

Trước hết, cần khẳng định bản chất và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.