Thứ Ba, 2 tháng 11, 2021

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19

Ngày 2/11 các tỉnh miền Tây tiếp tục ghi nhận ca mắc Covid-19 ở mức cao. Cụ thể, Cần Thơ gần 300 ca, Kiên Giang 400 ca, Bạc Liêu 316 ca, An Giang 314 ca, Tiền Giang 202 ca...

Phú Thọ: Thêm 54 ca mắc mới

Theo báo cáo của Sở Y tế, từ 06h00 đến 18h00 ngày 02/11, tỉnh Phú Thọ ghi nhận 54 ca mắc COVID-19 mới. Trong các trường hợp mắc mới, có 44 trường hợp trường hợp F1 hoặc trong vùng phong tỏa, đều đã được cách ly, theo dõi và quản lý; 10 trường hợp mắc mới trong cộng đồng đều liên quan đến ổ dịch tại Thanh Sơn.

Thanh Hóa: Thêm 36 ca mắc mới, đều đã được cách ly

Trong 24h qua trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ghi nhận thêm 36 bệnh nhân mắc Covid-19; trong đó có 25 trường hợp lây nhiễm trong tỉnh và 11 trường hợp là công dân trở về từ các tỉnh, thành phố phía Nam. 

Như vậy, tính từ ngày 27/4 đến nay, Thanh Hóa ghi nhận 1.138 ca mắc Covid-19, có 686 người được điều trị khỏi bệnh, 7 trường hợp tử vong. 

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Trong ngày, các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện xét nghiệm bằng PCR hơn 4.723 mẫu (Ảnh: CDC Thanh Hóa).

Tính đến thời điểm này, Thanh Hóa đã triển khai tiêm được hơn 1,3 triệu liều vaccine phòng Covid-19. 

Nghệ An: Xuất hiện 1 ca cộng đồng

Địa phương này ghi nhận thêm 20 ca mắc Covid-19 mới, nâng tổng số ca mắc toàn tỉnh đến 2/11 là 2.498 bệnh nhân. Trong ngày có 12 trường hợp là công dân trở về từ các tỉnh, thành có dịch phía Nam, 7 trường hợp là F1 chuyển thành F0. Ca cộng đồng duy nhất được phát hiện là người đàn ông 31 tuổi, trú xã Ngọc Sơn, huyện Quỳnh Lưu.

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 2

Nhấn để phóng to ảnh

TP Vinh, tỉnh Nghệ An thiết lập khu vực cách ly tại nơi phát hiện ca mắc Covid-19 cộng đồng (Ảnh: Hoàng Lam).

Ngày 2/11 có thêm 34 bệnh nhân Covid-19 được ra viện; không ghi nhận ca tử vong. Hiện toàn tỉnh còn 297 bệnh nhân Covid-19 đang điều trị.

Hà Tĩnh: "Sạch" ca mắc Covid-19 mới

Trong 24h qua, Hà Tĩnh không ghi nhận ca mắc Covid-19 mới. Đến nay, địa phương này có 529 bệnh nhân Covid-19; 5 trường hợp tử vong; hiện còn 25 ca đang điều trị.

Quảng Bình: Thêm 8 ca mắc mới

Ngày 2/11, Quảng Bình ghi nhận 8 ca dương tính với SARS-CoV-2. Cụ thể có một trường hợp phát hiện trong khu cách ly, 3 trường hợp là công dân trở về từ các tỉnh có dịch phía Nam; 4 F1 chuyển thành F0.

Trong ngày địa phương này có thêm 6 bệnh nhân Covid-19 xuất viện.

Tính đến nay, Quảng Bình ghi nhận 2.018 ca mắc Covid-19; có 1.904 trường hợp đã khỏi bệnh và xuất viện; 109 ca đang tiếp tục được điều trị; 6 ca tử vong.

Quảng Bình đã triển khai tiêm được hơn 446.000 mũi vaccine Covid-19, trong đó hơn 64.000 người đã tiêm đủ 2 mũi.

Quảng Trị: Nhiều ca mắc mới về từ phía Nam

Ngày 2/11, tỉnh Quảng Trị ghi nhận 7 trường hợp dương tính với SARS-CoV-2, là người về từ phía Nam; 8 trường hợp khỏi bệnh. Đến nay, địa phương này có 508 trường hợp mắc Covid-19, đang điều trị 78 trường hợp.

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 3

Nhấn để phóng to ảnh

Địa điểm tại thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tạm thời phong tỏa do liên quan đến ca mắc Covid-19 (Ảnh: Đăng Đức).

Đã có 467.168 người dân Quảng Trị được tiêm vaccine phòng Covid-19, trong đó có 71.812 người tiêm 2 mũi.

Các tỉnh miền Tây tiếp tục ghi nhận hàng ngàn ca mắc Covid-19

Theo Sở Y tế TP Cần Thơ, trong ngày 2/11, thành phố ghi nhận 296 ca nhiễm SARS-CoV-2 mới, trong đó có 20 ca ngoài thành phố. Số ca mắc Covid-19 ở Cần Thơ từ ngày 8/7 đến nay là 8.379 ca. 

Trong số ca mắc mới, có 98 ca cách ly tại nhà, 74 ca trong khu cách ly, 83 ca ở khu phong tỏa và 41 ca tầm soát ở cơ sở y tế. Trong ngày có 51 ca mắc Covid-19 được điều trị khỏi, nâng tổng số ca điều trị khỏi lên 6.245 người. 

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 4

Nhấn để phóng to ảnh

Cán bộ ngành y tế lấy mẫu xét nghiệm cho người dân Cần Thơ (Ảnh: Bảo Kỳ).

Cùng ngày, Kiên Giang phát hiện 400 F0 trong đó có 71 ca cộng đồng, 127 ca trong khu cách ly, 202 ca trong khu phong tỏa. Tính từ ngày 21/6 đến ngày 2/11 Kiên Giang ghi nhận tổng cộng lên 10284 ca. Hiện đã điều trị khỏi 7621 ca và 25 ca tử vong.

Ngày 2/11, Bạc Liêu ghi nhận 316 trường hợp có kết quả RT-PCR khẳng định dương tính với vi rút SARS-CoV-2, trong đó có 182 trường hợp ghi nhận tại cộng đồng.

Đến nay toàn tỉnh Bạc Liêu có tổng cộng 3.888 ca mắc Covid-19, đã điều trị thành công 1.286 trường hợp, hiện còn 2.622 người mắc Covid-19 đang được điều trị. Trong ngày có 3 ca tử vong, nâng tổng số lên 32 ca.

Theo Ban chỉ đạo phòng chống Covid-19 An Giang, trong ngày địa phương này ghi nhận 314 trường hợp. Tổng số trường hợp mắc Covid-19 từ ngày 15/4 đến nay là 11.822 trường hợp (có 19 trường hợp tái dương tính).

Số trường hợp mắc được phát hiện ở tất cả 11 địa phương. Trong đó, TP Long Xuyên ghi nhận ca mắc nhiều nhất (80 trường hợp), huyện Tri Tôn (69 trường hợp). Có 2 trường hợp nhập cảnh về từ Campuchia, đã được kiểm soát.

Trước những diễn biến hết sức phức tạp về tình dịch Covid-19 trong tỉnh thời gian gần đây, mới đây, Văn phòng UBND tỉnh An Giang đã ban hành công văn bản thống nhất theo đề xuất triển khai cách ly điều trị tại nhà trường hợp F0 không triệu chứng trong theo tờ trình của Sở Y tế.

Cùng ngày, tỉnh Tiền Giang ghi nhận 202 ca mắc Covid-19 mới, trong đó có 21 ca trong cộng đồng, các ca còn lại trong khu cách ly, phong tỏa. Đến nay toàn tỉnh Tiền Giang đã ghi nhận tổng số 17.009 ca mắc Covid-19, trong số này có 14.790 ca được điều trị khỏi, 404 ca tử vong.

Theo thông tin từ Sở Y tế Sóc Trăng, ngày 2/11, tỉnh ghi nhận có 193 trường hợp mắc mới Covid-19. Trong đó có 106 trường hợp là F1 chuyển thành F0,  12 trường hợp về từ vùng dịch, tất cả đã được quản lý trước đó; 69 trường hợp phát hiện qua sàng lọc tại cộng đồng...

Số ca mắc cộng dồn đến hết ngày 2/11 là 5.968  trường hợp. Số ca khỏi bệnh trong ngày là 29 nâng tổng số đã điều trị lành lên 3.781. Đến nay tỉnh Sóc Trăng đã có 49 trường hợp tử vong.

Sáng 3/11, các tỉnh miền Tây báo cáo hàng nghìn ca mắc mới Covid-19 - 5

Nhấn để phóng to ảnh

Cà Mau cũng đang trưng dụng nhiều trường học làm khu cách ly tập trung (Ảnh: CTV).

Cùng ngày, Cà Mau ghi nhận 157 ca mắc mới, trong đó có đến 102 ca cộng đồng, nâng tổng số 2096 ca mắc, đã điều trị thành công 1.261 người, 15 bệnh nhân tử vong.

Ngày 2/11, tỉnh Bến Tre ghi nhận 31 ca mắc Covid-19. Tổng số ca mắc toàn tỉnh là 2.485 ca, trong đó có 2.065 ca ra viện, 52 ca tử vong. Trong số ca mắc, 23 ca tại cộng đồng.

Trong ngày 2/11, Đồng Tháp ghi nhận 91 ca mắc mới (tăng 02 ca so với hôm qua); trong đó có 23 ca trong cộng đồng. Tổng số ca dương tính cộng dồn 9.997 ca; số bệnh nhân Covid-19 hiện đang điều trị 656 ca, có 5 ca rất nặng. Số bệnh nhân xuất viện 40 ca trong ngày, cộng dồn 9.112 ca. 

Trong ngày, tỉnh Trà Vinh đã phát hiện 67 ca nhiễm, gồm 28 ca phát hiện trong cộng đồng, 26 ca phát hiện trong khu cách ly tập trung, 9 ca là người ngoài tỉnh về địa phương, 3 ca phát hiện trong khu phong tỏa và 1 ca phát hiện tại cơ sở y tế

Toàn tỉnh Trà Vinh đã có 3.001 ca mắc Covid-19, trong đó đã điều trị khỏi 1.822 trường hợp, số ca đang điều trị là 1.156, ghi nhận 23 ca tử vong.

Theo Sở Y tế tỉnh Hậu Giang, ngày 2/11 địa phương này ghi nhận 77 ca mắc Covid-19 mới. Đến nay, Hậu Giang đã có 1.525 ca, điều trị khỏi 963 ca, hiện đang cách ly điều trị 557 ca.

Cùng ngày, Vĩnh Long ghi nhận 50 trường hợp nhiễm SARS-CoV-2, gồm 33 ca cộng đồng, 6 ca sàng lọc cơ sở y tế; 1 ca qua xét nghiệm sàng lọc tại công ty TNHH Kyungshin - KCN Hòa Phú; 3 ca ở tỉnh khác về và 7 ca là F1 được cách ly trước đó. Đến này, toàn tỉnh Vĩnh Long đã có 2.702 ca mắc Covid-19, đã  điều trị khỏi cho 2.464 ca.

Nguồn: Dân trí.


Đấu tranh chống bệnh quan liêu, vô cảm với nhân dân của cán bộ, đảng viên


          Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng, chống bệnh quan liêu, trước yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước, Đảng ta xác định đây là một trong những vấn đề mang tính cấp bách, nội dung quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; năng lực quản lý, điều hành của Nhà nước. Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác phòng, chống quan liêu nói riêng, phòng chống suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức nói riêng như: Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2 - khóa VIII); Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Gần đây, ngày 28-10-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

          Từ chủ trương, Nghị quyết của Đảng được triển khai quyết liệt vào thực tế thời gian vừa qua, chúng ta có nhiều tấm gương về cán bộ, đảng viên tận tụy với nhân dân, nhiều cách làm hay để gần dân, hiểu dân, phát huy sức mạnh từ nhân dân như mô hình “Gần dân, sát dân”Ngày thứ Bảy với dân”, “Chính quyền thân thiện của dân, do dân và vì dân”; “Gần công nhân, sát công nhân, lắng nghe ý kiến công nhân”, các diễn đàn “Nhân dân nói về chúng tôi”, “Cà phê doanh nhân”… Qua đó, góp phần làm thay đổi cách nghĩ, cách làm của cán bộ, đảng viên, từ tư duy “ban phát”, “ra lệnh” sang tư duy phục vụ là “đầy tớ của nhân dân”.

          Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu từ sự yếu kém, suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, căn bệnh quan liêu, vô cảm đến nay vẫn là căn bệnh mãn tính trong Đảng và bộ máy công quyền. Với tinh thần tự phê thẳng thắn, nghiêm túc, Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”.

          Trên thực tế, có thể thấy hiện nay căn bệnh này diễn ra xảy ra ở hầu hết các cấp, các ngành, các địa phương, với những mức độ khác nhau. Những vụ việc kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân như việc tố cáo, khiếu nại của công dân về Khu đô thị mới Thủ Thiêm; hàng loạt dự án hiện đang “đắp chiếu” có thâm niên chục năm với hàng nghìn tỷ đồng; việc xây dựng trụ sở hành chính quá lãng phí trong khi địa phương còn nghèo hay dùng ngân sách ưu tiên phục vụ cho nhà riêng của cán bộ lãnh đạo; những câu chuyện "hành dân" của một số bộ phận trong cơ quan công quyền hoặc ứng xử không đúng với chuẩn mực của người cán bộ ở các địa phương; những đại biểu nhân dân chỉ biết “ngủ gật” trước bức xúc của dân, vấn đề cuộc sống “rất nóng” nhưng hội trường HĐND cấp tỉnh, huyện, xã thì “rất lạnh” cũng không phải hiếm gặp. Nhiều chính sách ban hành viển vông, xa rời thực tế, một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức trì trệ, vô trách nhiệm “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về" …

          Trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu chính quyền cấp một số địa phương quan liêu, thiếu sâu sát, vô cảm trước khó khăn, nỗi đau của nhân dân nên đã không có chính sách chống dịch, hỗ trợ nhân dân kịp thời, thậm chí cắt xén, tham ô quỹ phòng chống dịch, tiền cứu trợ làm cho tình hình dịch ở địa phương diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng, Nhà nước, tạo cớ cho thế lực thù địch xuyên tạc, phá hoại.

          Để đấu tranh chống căn bệnh này, trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:

          Tăng cường công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức để mỗi cán bộ, đảng viên thật sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về thương dân, hiểu dân, gần dân, trọng dân, phụng sự dân; thực sự để "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mỗi cán bộ, đảng viên tự giác, tự nhận thức về trách nhiệm đạo đức trong việc phục vụ dân, đồng cảm, trăn trở với cuộc sống của dân cũng như biết trọng “liêm sỉ, danh dự” để giữ mình trước cám dỗ của lợi ích không chính đáng, không phản bội lại lợi ích của dân, của Đảng.

          Phải thực hành dân chủ, động viên nhân dân tham gia đấu tranh chống bệnh quan liêu, vô cảm bởi “Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng” . Kết hợp giữa giáo dục đạo đức công vụ của cán bộ, đảng viên, với việc nâng cao trách nhiệm của đoàn thể, quần chúng trong giám sát, phản biện xã hội để "trị" căn bệnh này. Cần dựa vào nhân dân để đánh giá, để “sữa chữa cán bộ”. Từ đó, khen thưởng, biểu dương cán bộ, đảng viên tốt và kiên quyết loại những "công bộc" yếu kém, "vô cảm" ra khỏi bộ máy cơ quan công quyền.

          Để trị “bệnh vô cảm”, rất cần tạo dựng môi trường xã hội nhân văn, tiến bộ, lành mạnh để tiếp tục vun đắp và không ngừng nhân lên những giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống nhân ái của dân tộc. Trước hết, cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên để lan tỏa các giá trị tốt đẹp trong xã hội. Hiện nay, Đảng đã có những quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên như Quy định số 101- QÐ/TW của Ban Bí thư, Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Quy định số 08-QĐi/TW của Bộ Chính trị, trong đó đặt ra yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu là phải thật sự nêu gương trước Đảng và nhân dân, phải kiên quyết chống lại các biểu hiện “Độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa dân, thờ ơ, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân”. Có thể nói, đề cao việc nêu gương, làm cho cái tốt lấn át cái xấu, cái thiện thắng cái ác, cái chân thực lấn át cái giả dối sẽ là liều thuốc đặc trị chữa “tận gốc” căn bệnh quan liêu, vô cảm đang khá phổ biến hiện nay.

          Bên cạnh công tác giáo dục đạo đức, tư tưởng rất cần có quy định pháp luật cụ thể để phòng chống căn bệnh quan liêu, vô cảm - nhất là khi căn bệnh này đã ăn sâu trong một số bộ phận của bộ máy công quyền và những người có chức, có quyền. Hiện nay, Đảng ban hành quy định về những điều đảng viên không được làm, Nhà nước ban hành bộ quy tắc về đạo đức công vụ, văn hóa công sở, quy định pháp lý về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, của cán bộ, công chức. Theo đó, đối với cán bộ đảng viên khi mắc căn bệnh quan liêu, vô cảm với nhân dân, thì đó không chỉ là sự vi phạm về đạo đức mà còn vi phạm điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước. Để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, trong thời gian tới, công cuộc cải cách hành chính, xây dựng nền công vụ hiện đại, xây dựng nhà nước liêm chính, tinh gọn, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, phụng sự nhân dân, cần tiếp tục triển khai sâu rộng hơn với những mục tiêu, biện pháp, lộ trình cụ thể, bởi một khi cả hệ thống tổ chức và vận hành một cách chặt chẽ, khoa học sẽ buộc cán bộ, công chức phải đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ nếu không muốn bị đào thải.

          Trong thực hiện nhiệm vụ công, cần thực hiện chế độ trách nhiệm cá nhân, xác định rõ, cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan, từng chức danh trong bộ máy nhà nước, nhất là người đứng đầu, từ đó quy trách nhiệm, khắc phục tình trạng tranh công, đổ tội, khắc phục căn bệnh chây ì, lười biếng, vô trách nhiệm trước nhân dân.

          Công tác kiểm tra, kiểm soát cần tiến hành thường xuyên, trên mọi cấp độ, trên mọi lĩnh vực nhằm kịp thời phát hiện sai lầm, những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, của mỗi cán bộ đảng viên dù bất kỳ chức vụ công tác nào để kịp thời sửa chữa, xử lý. Vấn đề bao trùm hơn là đưa quyền lực vào “lồng kiểm soát”, xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ, quy định cụ thể, không để có khoảng trống pháp lý, kẽ hở để cán bộ, công chức vi phạm. Những bản án, những quyết định kỷ luật nghiêm khắc với cán bộ, đảng viên vi phạm trong thời gian qua đã góp phần răn đe, chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật của cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước.

          Bên cạnh đó, trong xã hội hiện đại và dân chủ hiện nay, việc tăng cường đối thoại với nhân dân là một trong cách hiệu quả nhất để giải quyết những điểm nóng ở cơ sở. Bộ Chính trị đã ban hành quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/2/2019 về “Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”. Điều quan trọng hơn là từ cuộc đối thoại trực tiếp đó, các cấp ủy đảng, chính quyền cần có hành động thiết thực, cụ thể giải quyết nhu cầu chính đáng của nhân dân, tránh nói suông, hứa suông làm mất niềm tin của dân.

          Thực hiện được những giải pháp trên sẽ là liều thuốc “đặc trị” căn “bệnh mãn tính” quan liêu, thờ ơ, vô cảm của cán bộ, đảng viên; xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa dân với Đảng, Đảng với dân./.

 

Bảo vệ nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng

 


Nguyễn Ái Quốc là nhà yêu nước Việt Nam đầu tiên đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Cùng với việc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân quốc tế và phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin và gieo hạt giống cộng sản ở Việt Nam; trực tiếp chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam những năm sau này. Tên tuổi, cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản vô cùng quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trở thành nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trải qua gần 10 năm bôn ba, nhờ tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tận mắt chứng kiến những biến động xảy ra ở trời Âu và tội ác của giai cấp bóc lột ở nhiều nước trên thế giới; với sự cầu thị, ham học hỏi, vốn sống, kinh nghiệm đã tích lũy và trình độ ngoại ngữ ngày càng thông thạo, Nguyễn Ái Quốc đã có thêm những nhận thức mới. Nguyễn Ái Quốc đã rút ra những nhận xét, kết luận hữu ích, tìm thấy những tinh hoa tốt đẹp cần tiếp thu và cả những gì là hạn chế, bất cập cần phải khắc phục. Vì thế, tình yêu quê hương, ý thức dân tộc và giai cấp ở Nguyễn Ái Quốc từng bước phát triển; các mối quan hệ được mở rộng; ý thức đoàn kết, hợp tác quốc tế được nâng cao. Đó là hành trang cần thiết để Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản chân chính. Năm 1920, Người đã đọc được Luận cương của Lê-nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, đăng trên báo L'Humanité (Nhân đạo).

Tiếp nhận thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp khoa học của bản Luận cương Lê-nin là luồng sinh khí mới, lại tích cực tham gia hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản. Đó là bước nhảy vọt về chất trong nhận thức của Người, là một sự kiện đặc biệt trọng đại, có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc, quyết định tầm nhìn, quan điểm, lập trường; sự lựa chọn con đường cứu nước, cứu dân của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đây là sự hội tụ, kết tinh ý chí, khát vọng và là tinh thần của cả một dân tộc; phản ánh tâm nguyện của nhiều bậc tiền bối, các sĩ phu yêu nước nhưng chưa có điều kiện thực hiện.

Tiếp cận và hiểu đầy đủ, sâu sắc bản chất khoa học, cách mạng Chủ nghĩa Mác-Lênin, giá trị và ý nghĩa Cách mạng Tháng Mười Nga diễn ra trong thời gian Nguyễn Ái Quốc công tác, học tập ở Liên Xô (1923-1924), tham dự Hội nghị Quốc tế Công hội đỏ. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc vào học lớp bồi dưỡng lý luận tại Trường Đại học Phương Đông. Tại quê hương của Lê-nin vĩ đại, Người đã nhiều lần phát biểu ý kiến ca ngợi Lê-nin, ca ngợi thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và kết quả xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Người đã nghiên cứu bộ sách "Tư bản" của C.Mác và "Chính sách kinh tế mới" của Lê-nin, cùng với đó, tham khảo những bài học kinh nghiệm về cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước xô viết và viết tác phẩm "Nhật ký chìm tàu" để tuyên truyền giá trị, ý nghĩa của Chủ nghĩa Mác-Lênin, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô. Người đã rút ra kết luận: Việt Nam muốn giành độc lập dân tộc không có con đường nào khác là phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga, đi theo Lênin. Nguyễn Ái Quốc đã tới Quảng Châu (Trung Quốc), ở đó, Người đã sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, ra Báo Thanh niên và mở lớp đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (1927), Người khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu, học tập lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người viết: Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin. Đồng thời, chỉ ra nhiệm vụ cấp bách của người cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc.

Có thể nói rằng, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp Người phân tích, tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới, tìm ra con đường giải phóng dân tộc. Vì vậy, trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định những nội dung cốt lõi của Chủ nghĩa Mác-Lênin và nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu và truyền bá sâu rộng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và quảng đại quần chúng nhân dân. Các văn kiện đó đã trở thành Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta. Tổng kết kinh nghiệm, thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ, thắng lợi của chúng ta, trước hết là nhờ có vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Người coi Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ là “cái cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam cho hành động, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Vì lẽ đó, Người đánh giá rất cao cống hiến vĩ đại của Lê-nin đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa. 

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp quyết định bước phát triển mới về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu không có Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng chỉ là một nhà yêu nước như bao nhà yêu nước khác ở Việt Nam đầu thế kỷ 20: Chung một khát vọng giải phóng dân tộc, mong muốn giành lấy tự do, độc lập nhờ vào sự giúp đỡ của nước ngoài. Nếu không đọc Luận cương của Lê-nin, chưa đến được với Chủ nghĩa Lê-nin, chưa trở thành người cộng sản chân chính thì quan điểm, tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chưa thể tạo ra bước ngoặt cách mạng, không có điều kiện để truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam và do đó, Người không thể đặt nền móng cho tư tưởng mác-xít đâm chồi, nảy lộc, đơm hoa kết trái trên quê hương Tổ quốc Việt Nam.

Chính Chủ nghĩa Mác-Lênin đã trang bị cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để Người tìm ra con đường cứu nước mới, đưa Người vượt lên phía trước mọi thiên kiến hẹp hòi, khắc phục căn bản sự khủng hoảng về chính trị, sự bế tắc về đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, gieo mầm cộng sản trên quê hương Việt Nam.
Sự phát triển tư tưởng mác-xít ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là kết quả tất yếu của quá trình xâm nhập, thẩm thấu Chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, gắn liền với công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc; nhờ đó mà tư tưởng yêu nước gắn liền với tư tưởng quốc tế vô sản. Mục tiêu cứu nước, cứu dân ở Việt Nam đầu thế kỷ 20 được dẫn dắt bởi một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường. Vì lẽ đó, Chủ nghĩa Mác-Lênin đóng vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, vũ trang lý luận cho con đường đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân, giúp họ thực hiện khát vọng giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Rõ ràng, với việc trang bị thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin cho đội ngũ cán bộ cốt cán ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 20, Hồ Chí Minh đã giúp họ hòa nhập vào cách mạng thế giới, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam-Đảng mácxít-lêninnít kiểu mới, đội tiên phong của giai cấp công nhân, bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam.  Từ đây, tinh thần biện chứng pháp của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thể hiện sâu sắc trong các văn kiện, nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng. Các văn kiện thành lập Đảng như Chính cương vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh khởi thảo và các nghị quyết của Đảng ta soạn thảo từ năm 1930 đến nay đều thể hiện tinh thần sống động của Chủ nghĩa Mác-Lênin, thấm nhuần sâu sắc giá trị khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Những điều nêu trên đã giải nghĩa sâu sắc lý do vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, nhất quán với lập trường, quan điểm lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; vì sao chúng ta phải kiên định, trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong bối cảnh mới; không được mắc sai lầm trong nhận thức, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam sao cho phù hợp.

Đó cũng là điều giải thích rõ ràng vì sao bên cạnh Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nội dung đặc biệt quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam. Vì sao Bộ Chính trị khóa XII lại ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với mục tiêu và ý nghĩa là phải bảo vệ bằng được thành trì lý luận chính trị của Đảng, bảo đảm cho kim chỉ nam của Đảng luôn chỉ đúng hướng và ngày càng chi phối, thấm sâu vào tư tưởng của mọi cán bộ, đảng viên và đời sống tinh thần xã hội.

Sự thật không thể phủ nhận, xuyên tạc

 


Như một thứ định kiến đã được lập trình, cũng như mưu đồ phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam, mỗi khi đề cập tới cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, các báo cáo nhân quyền hằng năm của một số tổ chức thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam lại đưa ra các đánh giá, nhận định hết sức u ám, bi quan, sai sự thật, thậm chí hạ thấp, xúc phạm nhân phẩm con người. Đối chứng với thực tế, không khó nhận ra đó là các nhận định đầy xấu xa, phiến diện và phi lý mà bản chất là bịa đặt, vu khống vô căn cứ.

Những năm qua, Tây Nguyên đã trải qua một quá trình thay da đổi thịt mạnh mẽ, các tiềm năng được khai thác và phát huy, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số đã không ngừng được nâng cao. Đặc biệt, do tính chất đa dạng về xã hội, kinh tế, văn hóa,… nên tại đây, việc bảo đảm quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương hết sức coi trọng, tiêu biểu là bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, bảo tồn và phát triển văn hóa, chăm sóc y tế, học tập… Và dưới sự lãnh đạo, điều hành trực tiếp của cấp ủy, chính quyền tại địa phương, các tầng lớp nhân dân Tây Nguyên luôn đồng lòng, nỗ lực củng cố, đạt rất nhiều thành tựu to lớn về quyền con người.

Trước đây, người dân tộc bản địa ở Tây Nguyên sống tăm tối giữa sự vây hãm triền miên của đói nghèo, lạc hậu. Đại ngàn, mảnh đất màu mỡ giàu tài nguyên bị thực dân, đế quốc thi nhau khai thác, còn chủ nhân núi rừng phải sống với phận nô lệ. Mồ hôi, nước mắt và cả máu của đồng bào đã đổ xuống cho các đồn điền. Cùng với cuộc sống đói cơm, nhạt muối, đạn xới, bom cày, các tộc người thiểu số bị đối xử bất bình đẳng, khinh rẻ, kỳ thị, bị kích động nghi kỵ và hận thù, là nạn nhân của chính sách “ngu dân”. Từ khi có ánh sáng của Đảng, Tây Nguyên cùng cả nước đứng lên, trải qua vô vàn gian khổ, cống hiến và hy sinh để đất nước thống nhất, các dân tộc được giải phóng, cuộc sống đã sang trang mới.

Ngay những ngày đầu giải phóng, Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều nghị quyết, chương trình và đầu tư nhiều nguồn lực quan trọng để phát triển khu vực, từng bước cải thiện cuộc sống của đồng bào. Đặc biệt là từ khi thực hiện Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001-2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 18/1/2002 của Bộ Chính trị (khóa IX) về phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011 - 2020, cùng với đó là nhiều chương trình giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sạch, bảo vệ rừng,… đã giúp tập trung các nguồn lực đầu tư, góp phần làm thay đổi toàn diện cuộc sống ở địa bàn chiến lược này.

Hiện nay, toàn vùng Tây Nguyên có 2.800 trên tổng số 7.800 buôn, thôn, tổ dân phố có đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống. Đi từ triền núi Ngok Linh đến thung lũng sông Đồng Nai luôn thấy hình ảnh tươi sáng của các buôn làng, đồng bào có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. Các địa phương đều xây dựng những chương trình cụ thể để phát triển vùng sâu, vùng xa. Như tỉnh Gia Lai phân công 49 cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh phụ trách 49 xã đặc biệt khó khăn; 487 cơ quan cấp huyện, thị phụ trách 487 buôn, thôn, gần 100 doanh nghiệp trên địa bàn kết nghĩa hỗ trợ các xã vùng sâu, vùng xa. Từ năm 1994, tỉnh Kon Tum đã triển khai chương trình xây dựng các xã vùng cao, vùng biên giới với việc tập trung đầu tư nguồn lực cho 53 xã trọng điểm khó khăn, điều động hàng nghìn lượt cán bộ về bám cơ sở nhằm tuyên truyền, vận động, tổ chức cuộc sống, sản xuất. Các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng cũng đều có những cách làm tương tự…

Ngày nay, Tây Nguyên đã và đang thay đổi rất mạnh mẽ. Giao thông trong khu vực phát triển chưa từng có với mạng lưới đường bộ gần 40 nghìn km, đường hàng không có ba sân bay, đồng thời triển khai hai dự án đường sắt và dự án đường cao tốc hiện đại. Giao thông thuận lợi làm thay đổi diện mạo các buôn làng, kết nối các đô thị, các tỉnh trong khu vực, mở rộng giao thương với các trung tâm lớn trong nước và các nước lân cận. Từ buôn làng đến phố thị, quê hương của 5 triệu người thuộc 47 dân tộc, trong đó đồng bào thiểu số bản địa chiếm 34% với khoảng 1,6 triệu người, đều hiển hiện bức tranh tràn đầy sức sống, với ba huyện, thị và 123 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Sau ngày đất nước thống nhất, nhiều tộc người ở đây còn tập quán du canh du cư, sống trong sự bất ổn, lạc hậu, đói nghèo, bệnh tật. Nhà nước đã sớm giúp đồng bào định canh định cư, ổn định cuộc sống, làm quen với sản xuất hàng hóa.

Trên miền đất gian khó năm xưa, dần xuất hiện các buôn làng giàu có với nhiều tỷ phú là người dân tộc thiểu số; GDP bình quân đầu người đạt xấp xỉ 40 triệu đồng/năm. Ngày nay, Tây Nguyên là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm với những con số ấn tượng: gần 600 nghìn ha cà-phê; 72 nghìn ha hồ tiêu; cao-su, điều, rau, hoa và các loại cây ăn quả đều phát triển mạnh. Tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 15%, hộ cận nghèo còn khoảng 4,5%. Số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế toàn vùng đạt 55%, xã và trạm y tế có bác sĩ đạt 88%, số bác sĩ trên 10 nghìn dân đạt 7,42%; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế là 72%. Quy mô và chất lượng giáo dục được nâng cao. Hệ thống trường dân tộc nội trú phủ khắp địa bàn với những chính sách ưu đãi về điều kiện học tập, sinh hoạt cho con em của đồng bào…

Để hiện thực hóa một nội dung quan trọng trong đường lối nhất quán của Đảng là bảo đảm quyền tộc người và văn hóa tộc người, chính quyền các địa phương luôn tạo điều kiện giúp các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên có vị trí xã hội bình đẳng với các dân tộc khác, bảo đảm quyền tự do quyết định vị thế xuất thân, quyền sử dụng ngôn ngữ. Nên ở Tây Nguyên không có kỳ thị sắc tộc mà chỉ có sự tôn trọng các giá trị đặc thù. Thành tựu về bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc cũng là một nội dung rất đáng ghi nhận ở nơi đây. Thực hiện đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011, các tỉnh đã tập trung xây dựng bộ chỉ số phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; tổng kiểm kê di sản văn hóa tiêu biểu; hỗ trợ khẩn cấp, nâng cao năng lực tự bảo vệ nền văn hóa của các tộc người; ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số làm công tác văn hóa; hỗ trợ truyền dạy và phát huy các giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống; phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa cơ sở, nâng mức thụ hưởng văn hóa cho đồng bào. Nhiều nghi lễ, lễ hội, dân ca, dân vũ, trang phục, trò chơi dân gian đã được khôi phục, ngày hội văn hóa các cấp đã được tổ chức thường xuyên. Đặc biệt, năm 2005, việc UNESCO công nhận Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại là sự vinh danh xứng đáng. Để có sự vinh danh này, Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình đầu tư nhằm nâng cao nhận thức, tôn trọng, bảo tồn, khơi dậy niềm tự hào về giá trị của báu vật văn hóa đã được sáng tạo trong tiến trình lịch sử của cộng đồng các dân tộc anh em. Cùng với đó, các dự án sưu tầm, phổ biến sử thi, âm nhạc dân gian, luật tục, khôi phục các thiết chế văn hóa cổ truyền đã và đang triển khai; ngôn ngữ các tộc người được tổ chức dạy, học và khuyến khích sử dụng; hàng nghìn nghệ nhân dân gian các dân tộc được Nhà nước tôn vinh…

Việc bảo đảm nhân quyền của đồng bào ở Tây Nguyên còn được thể hiện qua việc Đảng, Nhà nước ghi nhận sự đóng góp của các già làng, nhân sĩ, trí thức. Trong sinh hoạt hằng ngày, già làng tại các buôn làng vẫn hiện hữu như trụ cột tinh thần, biểu tượng văn hóa. Phối hợp luật pháp Nhà nước, một số yếu tố tích cực trong các bộ luật tục truyền thống vẫn được phát huy giúp quản lý, điều hành cộng đồng. Hiện ở Tây Nguyên có 3.702 già làng, họ vừa là chỗ dựa tinh thần, vừa trực tiếp cùng cấp ủy, chính quyền các địa phương tổ chức cuộc sống, phát triển quê hương. Đảng và Nhà nước cũng đã tạo cơ hội bình đẳng trong việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Trong nhiệm kỳ 2021 - 2026, cán bộ người người dân tộc thiểu số ở cấp xã toàn khu vực là 26%, cấp huyện 17%; cấp tỉnh 10,9%; lãnh đạo các sở, ban, ngành là 12,4%. Trong HĐND cấp tỉnh có 28,96% số đại biểu là người dân tộc thiểu số. Trong cơ quan đảng, có 18,52% số đảng viên người dân tộc thiểu số tham gia cấp ủy tỉnh; cấp huyện có 17,11% và cơ sở là 18,52%. Số lượng, chất lượng đại biểu người dân tộc thiểu số Tây Nguyên trong Quốc hội ngày càng cao, và góp phần quan trọng trong việc xây dựng thể chế, pháp luật, thực hiện chức năng giám sát, thúc đẩy tiến trình phát triển quê hương và cuộc sống.

Tuy nhiên bất chấp thực tế đó, báo cáo nhân quyền hằng năm mà một số tổ chức tự nhận là “quốc tế” công bố gần đây, khi đề cập vấn đề tôn giáo tại Tây Nguyên đã đưa những nội dung thiếu trung thực, mà nổi lên là dựng chuyện cáo buộc chính quyền không bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thậm chí còn bịa đặt chuyện “đàn áp tôn giáo”. Các đánh giá như vậy chỉ chứng tỏ một điều là ý kiến của họ ra đời từ thông tin một chiều, không quan tâm đến sự phát triển mọi mặt ở Tây Nguyên, không kiểm chứng qua sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Tây Nguyên; không trực tiếp nắm bắt thực tế từ các cơ sở thờ tự, không tiếp xúc với tu sĩ và tín đồ là các công dân luôn đề cao trách nhiệm, hoạt động tôn giáo theo quy định pháp luật. Họ tảng lờ thực tế là tới cuối năm 2020, toàn Tây Nguyên có khoảng 580.000 công dân theo đạo Tin lành thuộc 33 tổ chức, hệ phái, nhóm đang sinh hoạt tại 311 chi hội, 183 nhà thờ, hơn 1.700 điểm nhóm đã được chính quyền cấp đăng ký sinh hoạt. Họ cũng cố bao che cho các đối tượng đội lốt tôn giáo, tự lập tà đạo, tổ chức truyền đạo trái phép để chống phá chính quyền, lôi kéo người theo tư tưởng dân tộc hẹp hòi, thực hiện mưu đồ phá hoại cuộc sống bình yên của buôn làng, và bị pháp luật xử lý.

Thực tiễn khẳng định, dù họ có xuyên tạc thế nào cũng không thể phủ nhận sự thật là khát vọng rút dần khoảng cách, tạo cơ hội thịnh vượng đồng đều các dân tộc Tây Nguyên đã từng bước hiện thực hóa, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn tiếp tục tháo gỡ rào cản, khắc phục khó khăn để đẩy nhanh tốc độ phát triển của Tây Nguyên. Thành tựu mọi mặt trên vùng đất Tây Nguyên trù phú hôm nay là minh chứng thuyết phục, sinh động cho điều đó!

Cảnh giác những thông tin xuyên tạc, kích động

 


Thực ra thủ đoạn bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội Việt Nam của các thế lực thù địch không có gì mới. Nhiều năm trở lại đây, mỗi khi đất nước ta đạt được những thành tựu phát triển, họ lại càng hằn học, tìm mọi cách để chống phá. Thế nhưng lần này, họ lợi dụng tình hình dịch bệnh phức tạp, đời sống của một bộ phận nhân dân khó khăn do phải cách ly, giãn cách xã hội, không có việc làm để xuyên tạc những nỗ lực trong phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế của chúng ta thì đó là một tội ác lớn.

Xét về phía cạnh pháp lý là không đúng với luật pháp quốc tế. Xét về góc độ đạo lý lại càng sai. Về chiến thuật, các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị vẫn triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, các hình thức truyền thông mới để tuyên truyền chống phá; tán dương, cổ vũ lẫn nhau trong một “thế trận” có “kịch bản”, đánh vào nhận thức, tâm lý “đám đông” theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, “góp gió thành bão”. Thế nhưng gần đây, thủ đoạn của họ lại nham hiểm hơn, tận dụng tối đa hệ thống báo chí, mạng xã hội ở nước ngoài, các kênh Facebook, YouTube... để tung thông tin xấu, độc dưới dạng “thật như giả”, “giả như thật”. Mánh lới của họ là giật tít, “câu view” nhằm đánh trúng tâm lý tò mò của nhiều người. Chính vì vậy, mọi người phải hết sức cảnh giác trước các thông tin xấu độc này.

Cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, các cơ quan chức năng của Nhà nước, cán bộ và nhân dân cần kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội; hoàn thiện các quy định pháp lý về quản lý hoạt động trên không gian mạng, tạo căn cứ để cảnh báo, răn đe và xử lý các trường hợp vi phạm. Trước mắt, cần công khai, minh bạch các hoạt động kinh tế-xã hội của các ngành, các địa phương, nhất là hoạt động phòng, chống dịch, các hoạt động hỗ trợ nhân dân, an sinh xã hội để các thế lực thù địch không còn “cái cớ” để xuyên tạc, bôi đen sự thật. Điều đáng phấn khởi là trong những ngày gần đây, số người nhiễm dịch Covid-19 ở nước ta ngày càng giảm, nền kinh tế từng bước được khôi phục, đời sống của nhân dân được cải thiện, tốt dần lên. Quan điểm chỉ đạo điều hành đất nước trong thời gian tới của Chính phủ đã được Thủ tướng khẳng định trước Quốc hội tại phiên khai mạc Quốc hội tuần qua là: Đặt sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết; từng bước thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Phòng, chống dịch là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài; tiêm chủng, xét nghiệm, cách ly, điều trị là đặc biệt quan trọng; đề cao ý thức, trách nhiệm, tính tự chủ của người dân, doanh nghiệp trong phòng, chống dịch.

Vừa phòng, chống dịch hiệu quả, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, khôi phục và ổn định thị trường lao động, nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta và là câu trả lời đanh thép trước các thế lực thù địch rằng: Không thể bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Tình hình kinh tế - xã hội vẫn khả quan

 


Kinh tế-xã hội đất nước đang gặp khó khăn nhất định do ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19, nhưng không rơi vào ngõ cụt. Đó là một thực tế. Chúng ta không thể chấp nhận một số người lợi dụng sự khó khăn do dịch bệnh mà bôi đen bức tranh kinh tế-xã hội, từ đó nói xấu Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Cuối tháng 9-2021, trong báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý III-2021, Tổng cục Thống kê đã công bố: “Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III-2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay”. Một số đối tượng bất mãn, đối tượng thù địch vốn luôn hằn học với sự phát triển của đất nước lại thấy vui sướng trước những khó khăn của đất nước. Họ rêu rao trên mạng xã hội, trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài rằng “kinh tế Việt Nam đã đi vào ngõ cụt”, “Việt Nam “toang” rồi”... Họ không hề nhắc đến nguyên nhân dẫn đến GDP giảm mà Tổng cục Thống kê đưa ra là “do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng, chống dịch bệnh”. Để rồi, họ lại “phân tích nguyên nhân sâu xa” dẫn đến kinh tế Việt Nam giảm sút là “do một đảng lãnh đạo”, do “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”... Họ không biết hoặc cố tình không biết rằng, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng kinh tế. Nếu không có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thì Việt Nam không thể có cơ đồ và vị thế như hiện nay. Nếu không vận hành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN thì chúng ta không thể phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả như thời gian qua. Rất nhiều tổ chức quốc tế đã ghi nhận thành công này.

Ông Kidong Park, Quyền Điều phối viên thường trú và các Trưởng đại diện các tổ chức Liên hợp quốc (LHQ) tại Việt Nam chúc mừng Thủ tướng và chính phủ VN đã kiểm soát được đợt dịch lần thứ tư với rất nhiều nỗ lực và giải pháp mạnh mẽ, hiệu quả và đang có lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả để vừa chống dịch thành công, vừa phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời, ấn tượng với cách tiếp cận toàn dân trong chống dịch và cách thức điều trị người mắc bệnh của Việt Nam; hoan nghênh Nghị quyết 128 của Chính phủ về phục hồi và thích ứng an toàn đối với đại dịch Covid-19, và cho rằng 6 tháng tới là thời điểm hết sức quan trọng để phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội tại Việt Nam.

Dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch Covid-19, nhưng bức tranh kinh tế Việt Nam vẫn có nhiều điểm sáng. Báo cáo trước Quốc hội tuần qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết: Ước thực hiện cả năm dự kiến Việt Nam sẽ đạt và vượt 8/12 chỉ tiêu chủ yếu đề ra. Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định; lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 9 tháng chỉ tăng bình quân 1,82%, cả năm ước tăng dưới mức Quốc hội giao; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Thu ngân sách nhà nước 9 tháng đạt hơn 80%, cả năm ước vượt dự toán, cơ bản bảo đảm nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch bệnh và các nhiệm vụ cấp bách khác; bội chi ngân sách nhà nước trong phạm vi dự toán. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội ước cả năm đạt khoảng 35% GDP; tỷ giá, thị trường ngoại tệ ổn định, dự trữ ngoại hối nhà nước tiếp tục được củng cố. Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; phấn đấu đến cuối năm có khoảng 68% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Tăng trưởng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khá; an ninh năng lượng được bảo đảm.

Tuần qua, báo cáo trước Quốc hội về công tác phòng, chống dịch Covid-19, kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2021, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh đến những khó khăn trong nước: Dịch Covid-19 bùng phát lần thứ tư ở nhiều địa phương với sự xuất hiện của biến chủng Delta có tốc độ lây lan rất nhanh, nguy hiểm hơn nhiều so với chủng gốc trước đây, lại xâm nhập sâu vào các trung tâm kinh tế, đô thị lớn... buộc chúng ta phải áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống dịch chưa có tiền lệ, mạnh mẽ, quyết liệt hơn để thực hiện mục tiêu ưu tiên trước hết, trên hết là bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân; từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, kinh doanh, sinh kế và đời sống nhân dân.

Thống nhất ý chí hành động chống đại dịch

 


Sau hơn 6 tháng nỗ lực vượt qua làn sóng thứ tư của đại dịch COVID-19, tình hình Việt Nam đã cơ bản ổn định, cả nước bước vào cuộc sống bình thường mới. Các địa phương đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP của Chính phủ để công bố cấp độ dịch COVID-19 trên địa bàn, từng bước đưa cuộc sống trở về trạng thái bình thường mới. Từ thời điểm này nhìn lại, càng thấy rõ hơn kết quả từ sự quên mình của các cơ quan chức năng, sự đồng tâm nhất trí của toàn xã hội dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, kiên quyết, linh hoạt của Đảng, Nhà nước, Chính phủ để bảo vệ tính mạng của nhân dân, hạn chế đến mức thấp nhất mọi thiệt hại từ dịch bệnh.

Ngày 17/10/2021 trên trang tiếng Việt của BBC có đăng bài “Covid: Một người Mỹ cảm ơn Hà Nội giúp bà qua đại dịch” của Anita Louise Hummel - người Mỹ đang sống và làm việc tại Hà Nội. Qua bài viết, bà Hummel kể lại sự bối rối của mình khi TP. Hà Nội thực hiện cách ly xã hội (mà bà gọi là “phong tỏa”), mô tả tâm trạng “phải vượt qua tâm lý rằng tôi đang bị phong tỏa và trong một thời gian cuộc sống sẽ không còn như xưa… Thật khó để giữ mình không rơi vào tình trạng trầm cảm...”. Rồi khi cuộc sống trở lại bình thường, bà thừa nhận: “Tôi cảm thấy biết ơn vì chính quyền Hà Nội đã khóa chặt như họ đã làm - ngay cả khi tôi phàn nàn trong thời gian phong tỏa, trong khoảng thời gian này, nhiều người đã được cứu sống nhờ những hành động nhanh chóng, thậm chí khó khăn của họ. Là một người Mỹ, nơi nước Mỹ tiếp tục chịu đựng, chiến đấu vì những điều như việc đeo khẩu trang và quyền tiêm chủng, tôi đánh giá cao người dân Việt Nam và sự sẵn sàng đeo khẩu trang, tiêm vaccine, nhận ra cách duy nhất để giải quyết vấn đề COVID, để cứu mạng sống của mọi người là phải làm chính xác những gì họ đang làm - đeo khẩu trang, tiêm vaccine, giữ khoảng cách với xã hội nhiều nhất có thể. Vì vậy, ngay cả khi việc phong tỏa rất căng thẳng, chính lúc đó, chúng ta phải cảm thấy biết ơn vì nhiều người ở Hà Nội đã được cứu sống”.

Lời kể, tâm sự thể hiện rất rõ thái độ khách quan, chân thành của bà Anita Louise Hummel sau khi trực tiếp sống tại Việt Nam và trải qua một giai đoạn khó khăn trong phòng, chống dịch COVID-19. Chắc chắn đó là điều mà một số tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam không dám đối diện. Bởi từ khi đại dịch COVID-19 xuất hiện tại Việt Nam, nhất là từ khi làn sóng thứ tư của đại dịch xảy ra, họ coi đây là cơ hội để sử dụng thủ đoạn xuyên tạc, tung tin giả, bịa đặt, vu khống đường lối phòng, chống dịch của Việt Nam… khiến dư luận hoang mang, nghi ngờ, từ đó kích động thái độ, hành vi chống đối, không tuân thủ sự chỉ đạo, không thực hiện chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch bệnh; tác động tiêu cực đến uy tín của chính quyền, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, tấn công vào vai trò tổ chức, lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam, và chế độ xã hội. Họ đã lập tức triển khai một chiến dịch tuyên truyền đen - theo đúng ý nghĩa của khái niệm này, được tiến hành 24/24 giờ trong ngày, trên bình diện rất rộng, có sự liên kết chặt chẽ “kẻ tung, người hứng” giữa trang tiếng Việt của một số địa chỉ truyền thông nước ngoài với việc khuếch tán trên các mạng xã hội nhiều người Việt Nam sử dụng như Facebook, YouTube…

Để tác động tới tâm lý sợ hãi, cả tin, thiếu ý thức trong kiểm chứng thông tin của một số người (nhất là trên các mạng xã hội), họ cố tình tảng lờ sự thật là với đại dịch COVID-19, lần đầu tiên nhân loại phải đối phó một thứ virus cực kỳ nguy hiểm, rất dễ lây lan, chưa từng có kinh nghiệm ứng phó,… nên vừa phải phòng, chống vừa rút kinh nghiệm, tìm ra biện pháp đối phó, ngăn chặn, chữa trị, triển khai nghiên cứu chế tạo vaccine, thuốc điều trị… Để tiến hành chiến dịch tuyên truyền đen, họ tảng lờ mọi thiệt hại nặng nề về con người, các khó khăn kinh tế - xã hội mà đại dịch COVID-19  gây ra trên toàn cầu, nhất là thất bại của một số biện pháp, phòng, chống có tính dò đường còn chưa phù hợp, việc tìm mua vaccine phòng COVID-19 rất khó khăn. Họ tảng lờ sự kiên quyết của chính quyền các nước khi siết chặt pháp luật, huy động quân đội tham gia, xử phạt tổ chức, cá nhân có quan điểm, hành vi cản trở hoạt động của cơ quan chức năng, đưa tin giả ảnh hưởng đến nhận thức, tâm lý chung… Họ tảng lờ sự thật rồi từ đó phối hợp dựng chuyện để vẽ “bức tranh u ám” về phòng, chống COVID-19 ở Việt Nam, lu loa các thiệt hại, cho rằng các biện pháp chưa từng có trên thế giới. Họ tập trung vu cáo, xuyên tạc các biện pháp phòng, chống của Việt Nam là “đi ngược thế giới”, “coi thường tính mạng con người”, “phân biệt đối xử”; chính quyền “bất lực”; các cơ quan chức năng “không có khả năng”; quân đội tham gia phòng, chống dịch là “đàn áp nhân dân”; lực lượng y tế, tình nguyện viên hỗ trợ phòng, chống dịch là “xâm lược”; Quỹ vaccine phòng COVID-19 là “lừa đảo, móc tiền túi của dân”; bài bác vaccine khiến ngộ nhận bị phụ thuộc nước ngoài; coi một số người tung tin giả đã bị xử phạt là “vi phạm tự do ngôn luận”; nỗ lực của lực lượng tham gia phòng, chống dịch là “diễn để mị dân”; các gói cứu trợ an sinh xã hội do Chính phủ Việt Nam triển khai là “chỉ dành cho cán bộ, đảng viên, bỏ rơi nhân dân”. Nổi lên trong các hoạt động chống phá này là vai trò của tổ chức khủng bố “Việt tân”, và “Ủy ban cứu người vượt biển” (BPSOS). Bất kể ngày hay đêm, họ rình mò soi mói mọi văn bản liên quan đến công tác phòng, chống đại dịch do Chính phủ, chính quyền một số địa phương ban hành, hoặc phát ngôn của người có trách nhiệm để cắt xén, xuyên tạc, đổi trắng thay đen. Họ chộp lấy một số hiện tượng tiêu cực trong phòng, chống đại dịch để biến cá biệt thành toàn bộ, lấy chi tiết thay toàn thể, kết hợp với việc khai thác hình ảnh tang thương do dịch bệnh ở nơi khác gán vào Việt Nam, khiến người tiếp xúc thông tin từ họ hoảng loạn, phản ứng tiêu cực.

Đáng tiếc trong bối cảnh đó, lẽ ra cần tỉnh táo kiểm chứng, và góp ý chân thành, có trách nhiệm trên nguyên tắc đoàn kết, ủng hộ chủ trương, biện pháp phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước, Chính phủ thì một số cá nhân vì cả tin thiếu hiểu biết đã làm ngược lại, thể hiện qua các hành vi không thể chấp nhận như: vô cớ chỉ trích, xúc phạm chính quyền, lực lượng chức năng, và người có trách nhiệm; đề xuất ý kiến hời hợt, tùy tiện, không dựa trên nền tảng kiến thức chuyên môn; tung tin giả, tiếp tay cho tin giả; “nói lấy được” theo kiểu: thực hiện giãn cách xã hội thì la lối “mất tự do”, nới lỏng giãn cách xã hội lại đổi giọng là “không bảo vệ tính mạng nhân dân”.

Nhưng, như cha ông đã nói “bàn tay không che nổi mặt trời”, đối diện với sự thật thì mọi dối trá, bất lương cũng bị bóc trần. Không chỉ trên báo chí, mà trên mạng xã hội, rất nhiều người nhanh chóng phát hiện, phản đối, vạch trần sự sai trái, dối trá, thiển cận. Trực tiếp chỉ rõ dã tâm của tổ chức khủng bố “Việt tân”, và Nguyễn Đình Thắng - kẻ cầm đầu BPSOS, đã lợi dụng dịch bệnh để tiến hành chống phá, lợi dụng danh nghĩa “nhân quyền” để mở rộng chân rết nấp bóng “xã hội dân sự”. Báo chí, dư luận cũng tỏ rõ bất bình trước việc một số văn bản vu khống Việt Nam về nhân quyền đã sử dụng tài liệu của BPSOS là phiến diện, sai trái. Vì cho đến nay, Nguyễn Đình Thắng chỉ sử dụng BPSOS làm công cụ nhằm kinh doanh nhân quyền, đầu cơ chính trị, chống phá Việt Nam để kiếm chác tiền tài trợ, quyên góp lừa đảo... Đến hiện tại, việc dịch bệnh tại Việt Nam đã cơ bản bị đẩy lùi, tình hình đã cơ bản ổn định, các địa phương đang rất tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 128/NQ-CP của Chính phủ về quy định tạm thời “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” để công bố cấp độ dịch COVID-19 trên địa bàn, từng bước đưa cuộc sống trở về trạng thái bình thường mới. Sự thật đó là kết quả từ nỗ lực quên mình của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam, không thể phủ nhận. Về sự thật này, ý kiến của người nước ngoài sống ở Việt Nam trong thời gian qua như bà Hummel đã công khai khẳng định trên BBC là minh chứng cụ thể, xác thực.

Sau gần hai năm đối phó với đại dịch COVID-19, đất nước phải chịu tổn thất lớn về con người, kinh tế, nảy sinh rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên dù đau xót, tiếc thương đồng bào phải giã biệt cuộc sống vì dịch bệnh, chúng ta cần nhận thức rằng cuộc sống vẫn phải tiếp tục, và trách nhiệm với đất nước của mỗi người càng cao hơn. Trở về với trạng thái bình thường mới nhưng không được lơ là, chủ quan, mà cần tiếp tục phòng, chống dịch bệnh, kết hợp lan tỏa năng lượng tích cực. Đồng thời, cần thay đổi các hoạt động, quan hệ xã hội, hành vi con người để cả nước tiếp tục thống nhất hành động, thích ứng với bối cảnh mới nhằm sớm đạt đến mục tiêu khôi phục, phát triển kinh tế, giữ vững ổn định xã hội, bảo đảm cuộc sống mọi mặt của nhân dân.

Lịch sử dân tộc đã cho thấy, không thế lực hắc ám nào có thể ngăn trở chúng ta tiến lên phía trước khi cả hệ thống chính trị và toàn dân luôn vững tin vào khả năng của mình, thống nhất ý chí và hành động. Cũng không luận điệu tuyên truyền đen nào có thể lung lạc xã hội khi mọi người đều tỉnh táo, sáng suốt lựa chọn sao cho hành trang tinh thần của mỗi người luôn là tổng hòa của cái đẹp, sự đúng đắn, lương thiện, giá trị đạo đức lành mạnh, tinh thần cộng đồng,… và đồng thời chủ động đấu tranh loại trừ cái xấu, cái ác, sự sai trái, suy nghĩ, hành vi vô đạo đức, thói ích kỷ. Và điều kiện tiên quyết giúp chúng ta tiếp tục khắc phục khó khăn, vững bước đi lên là luôn luôn tin tưởng vào vai trò tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, nâng cao nhận thức để kết hợp hòa giữa nghĩa vụ công dân, lợi ích đất nước với trách nhiệm, lợi ích của bản thân, gia đình.

Bác Hồ với chiến sĩ người dân tộc!

Bác của chúng ta yêu quý mọi chiến sĩ. Đối với các chiến sĩ gái, chiến sĩ người dân tộc, Bác còn chăm sóc hơn vì đây là những người làm cách mạng khó khăn hơn chiến sĩ trai, chiến sĩ người Kinh nhiều.
Anh hùng La Văn Cầu, dân tộc Tày mãi mãi không quên bữa cơm của Bác “đãi” với rau, thịt gà… những “sản phẩm” do chính Bác nuôi, trồng. Bác hỏi thăm mẹ Cầu, gửi quà cho mẹ, dặn cán bộ tạo mọi điều kiện để Cầu về thăm mẹ, giúp đỡ gia đình.
Nhiều chiến sĩ người dân tộc đã lấy họ Hồ cho mình như Hồ Vai, Hồ Can Lịch, Hồ Văn Bột… Mùa thu năm 1964, chị Choáng Kring Thêm – chiến sĩ người dân tộc Cà Tu, tham gia đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được ra miền Bắc, gặp Bác Hồ. Chị Thêm kể: Đoàn chúng tôi vừa bước xuống xe thì đã thấy Bác đứng chờ ngay ngoài sân. Bác ôm hôn thắm thiết các thành viên trong đoàn. Chúng tôi theo Bác đến dãy bàn tiếp khách kê ngay ngoài vườn đầy hoa và nắng. Thấy tôi mặc bộ quần áo dân tộc, Bác nói:
– Cháu đúng là con gái dân tộc Cà Tu giữ được tính chất của dân tộc mình. Chị Ngân, chị Cao gặp Bác, mừng quá khóc lên. Bác dịu dàng bảo:
– Các cháu gái đừng khóc. Gặp Bác phải vui chứ. Hai cháu hãy kể cho Bác nghe bà con ta ở tiền tuyến đánh Mỹ như thế nào?
Tôi thưa:
– Thưa Bác, cháu thương, cháu nhớ Bác. Tất cả đồng bào dân tộc miền Nam đều thương nhớ Bác. Sau đó tôi kể Bác nghe một số chuyện chiến đấu của mẹ Giớn, anh Bên, em Thơ… Bác nói:
– Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai, Kinh, Cà Tu, Cà Tang và đồng bào các dân tộc khác đều sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi”. Tôi hiểu đó là Bác dành tình thương mênh mông của Bác cho tất cả chúng ta.
Bài học kinh nghiệm:
– Bác đã dành tình cảm sâu nặng, tình thương mênh mông và tấm lòng nhân ái bao la đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đối với đồng bào miền Nam, đặc biệt là những người trực tiếp tham gia chiến đấu, trải qua nhiều gian khổ. Đồng thời, Bác luôn động viên và khẳng định niềm tin của mình vào sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, nếu thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc tốt, nhất định chúng ta sẽ thành công trên bất cứ mặt trận nào.
– Câu chuyện ngắn gọn nhưng cho chúng ta nhiều bài học lớn: Bài học về tình cảm, sự quan tâm đối với các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam; bài học về vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc để có thành công lớn… Điều chúng ta phải quan tâm là làm gì để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là việc đề ra các chính sách đối với các dân tộc thiểu số, quan tâm đến các vùng sâu, vùng xa để tạo ra sức mạnh to lớn của cả dân tộc, xây dựng đất nước giàu đẹp, mọi người dân đều ấm no, hạnh phúc.

Chủ nghĩa cá nhân tiềm ẩn nguy hại lớn cho quốc gia và dân tộc


          Tiếp nối những thành công của công tác chỉnh đốn đảng trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng chỉnh đốn đảng, kiên trì, kiên quyết quyét sạch chủ nghĩa cá nhân - nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tự diễn biến, tự chuyển hóa… Làm thế nào để đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa cá nhân?

          Để chống lại chủ nghĩa cá nhân, trước hết, chúng ta phải nhận diện rõ những biểu hiện và diễn biến của chủ nghĩa cá nhân trong hành xử của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong cuộc sống hiện nay, chủ nghĩa cá nhân biểu hiện ở nhiều dạng khác nhau rất tinh vi.

          Một số biểu hiện cụ thể và phổ biến của chủ nghĩa cá nhân, đó là: Kiêu căng, suy bì tị nạnh, chăm chăm lợi ích của mình, lợi ích của gia đình mình, của tập thể nhỏ của mình, của cá nhân mình, rồi dẫn đến tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu…

          Trong những năm gần đây, chủ nghĩa cá nhân thể hiện qua sự nể nang, né tránh, xu nịnh, thao túng quyền lực…, từ đó tìm mọi cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ mình và những nhóm người cùng cánh hẩu, chủ nghĩa cá nhân biến con người thành kẻ tham lam không có điểm dừng.

          Chủ nghĩa cá nhân với nhiều biểu hiện khác nhau nhưng đều mang lại những hệ lụy lớn, tiềm ẩn nguy hại lớn cho quốc gia và dân tộc, vì vậy, chúng ta phải áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ cả về giáo dục chính trị tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên lẫn các chế tài pháp lý, cùng với đó là sự giám sát, kiểm tra từ bên trong lẫn bên ngoài… Trong đó công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải được đặt lên hàng đầu, sau đó mới đến công tác kiểm tra, thanh tra, rồi xử lý nghiêm, kiên quyết. Tất cả những việc đó phải làm đồng bộ, nhưng khâu đột phá của đảng ta là đặt công tác chính trị lên hàng đầu. Đồng thời mở rộng dân chủ, huy động nhân dân tham gia vào công tác xây dựng đảng, nhân dân hiểu rất rõ về hành vi, ứng xử, tư cách đạo đức của cán bộ đảng viên, song họ chưa có được hành lang pháp lý để thực hiện giám sát, kiểm tra và phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền về những biểu hiện tiêu cực của cán bộ. Vì vậy, bên cạnh tuyên truyền giáo dục tư tưởng chính trị, chúng ta cần có cơ chế phát huy được sức mạnh của nhân dân vào lĩnh vực này.

          Đảng đã có các nghị quyết, chỉ thị về xây dựng và chỉnh đốn, đặc biệt gần đây là quy định của Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Nhưng hơn cả, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải thấy được trách nhiệm của mình, phải thực sự gương mẫu, các tổ chức đảng phải công tâm trong đánh giá cán bộ và điều quan trọng là huy động được sự tham gia tích cực, rộng rãi hơn từ nhân dân, chắc chắn chúng ta sẽ hạn chế, tiến tới đẩy lùi được chủ nghĩa cá nhân.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ QUAN QUAN LIÊU, VÔ CẢM VỚI NHÂN DÂN

 

          Hồ Chí Minh khẳng định “bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Cán bộ, đảng viên đặc biệt là những người lãnh đạo nào mắc phải bệnh này thì “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững”. Bệnh quan liêu không chỉ là sự sai lầm về tác phong, phương pháp công tác mà xét về bản chất là sự tha hóa quyền lực của cơ quan công quyền, là hệ quả của sự suy thoái lập trường tư tưởng, chính trị, đạo đức cách mạng.

          Hồ Chí Minh chỉ ra những biểu hiện cụ thể của bệnh quan liêu: chỉ đạo xa rời thực tế, xa quần chúng; áp dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính; chỉ biết hô hào khẩu hiệu chỉ thị, xem báo cáo, làm việc qua loa; lời nói không đi đôi với việc làm; chủ quan, tự mãn, coi thường quần chúng… Cán bộ, đảng viên mắc bệnh quan liêu “Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ. Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ”.

          Quan liêu, xa rời, không yêu thương nhân dân tất yếu dẫn đến và làm cho căn bệnh vô cảm trước nhân dân của cán bộ, đảng viên càng ngày càng trầm trọng. Người nhiều lần phê phán thái độ thờ ơ, tắc trách, thiếu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi quyền lợi chính đáng của nhân dân, thấy việc có lợi cho dân không dám làm, việc có hại cho dân vẫn làm ngơ, không giải quyết hoặc đùn đẩy trách nhiệm. Bên cạnh đó, là khuynh hướng lãnh đạo cứng nhắc, trì trệ, thụ động; bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, gây phiền phức, nhũng nhiễu dân chúng. Với những cán bộ, đảng viên mắc bệnh vô cảm, họ thờ ơ với việc chung, “chỉ biết lo cho mình, không quan tâm đến nhân dân, đến đồng chí”, “không phê bình, không tự phê bình”, “sao cũng mặc kệ, sao cho xong chuyện thì thôi”. Đó là sự “ươn hèn yếu ớt” trước sai lầm, khuyết điểm của Đảng và Người gọi đó là “bọn thứ ba” mà hậu quả tai hại dẫn đến “để cho bọn vu vơ có thể chui vào hoạt động trong Đảng. Nó để cho khuyết điểm ngày càng chồng chất lại và phát triển ra”. Nguy hại nhất của tệ quan liêu, bệnh vô cảm “đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí”; là “nguồn gốc của nạn tham ô, lãng phí”.

          Với tác hại to lớn như vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên “Ai không mắc bệnh quan liêu thì phải giữ gìn, tránh nó. Ai đã mắc bệnh ấy, thì phải cố gắng mà chữa cho khỏi đi, cho xứng đáng là người cán bộ cách mạng, chớ để bị đào thải”. Để chữa bệnh, Người đã kê ra một “đơn thuốc” với “cách chữa bệnh ấy gồm có một nguyên tắc là: Theo đúng đường lối nhân dân và 6 điều là: Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân; Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân, và hoan nghênh nhân dân phê bình mình; Sẵn sàng học hỏi nhân dân; Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính, để nhân dân noi theo”. Bản thân Hồ Chí Minh là mẫu mực của lãnh tụ thương dân, gần dân, hiểu dân, kính dân, trọng dân, một người trọn đời thực hiện nhất quán nguyên tắc “theo đúng đường lối nhân dân”.

          Để chống bệnh quan liêu, xa dân, Người còn căn dặn: phải đồng tâm hiệp lực phải kiên trì, quyết tâm chống đến cùng, phải làm có tổ chức, làm từ trên xuống dưới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương và chỉ đạo thực hiện xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, hoạt động theo tinh thần “chú trọng thực tế, nỗ lực làm việc, phụng sự nhân dân”. Bên cạnh giáo dục tư tưởng, rèn luyện đạo đức, khuyến khích cán bộ, đảng viên tận tụy phục vụ nhân dân, phải nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu, thực hành kỷ luật nghiêm minh, xử lý bằng pháp luật đối với những người vi phạm; phải phát động tư tưởng của quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu… làm cho nó hết chỗ ẩn nấp. Đồng thời phải “khéo kiểm soát”, bởi “Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi. Song, muốn kiểm soát có kết quả tốt, phải có hai điều: một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường làm. Hai là người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”.