Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2021

Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 - Phải học thật, thi thật, nhân tài thật

 

Kỷ niệm Ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 - Phải học thật, thi thật, nhân tài thật

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng, ngành giáo dục phải lấy học sinh làm trung tâm, chú trọng phát triển nhân cách, đạo đức, tính sáng tạo của học sinh. Phải lấy nhà trường làm nền tảng, lấy thầy cô giáo làm động lực để thành công. Cần phải “học thật, thi thật, nhân tài thật”.

Phát biểu tại buổi gặp mặt đại diện nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tiêu biểu nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20/11 diễn ra vào sáng nay (14/11) tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ quản lý giáo dục trên khắp mọi miền đất nước và khẳng định, Đảng và Nhà nước ta luôn coi Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước đã dành nhiều nguồn lực ưu tiên đầu tư cho phát triển sự nghiệp giáo dục. Ngành giáo dục phải lấy học sinh làm trung tâm, chú trọng phát triển nhân cách, đạo đức, tính sáng tạo của học sinh. Phải lấy nhà trường làm nền tảng, lấy thầy cô giáo làm động lực để thành công. Cần phải “học thật, thi thật, nhân tài thật”. 

Tại buổi gặp mặt, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cho biết, gần hai năm qua, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng lớn đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Gần 20 triệu học sinh, sinh viên và hơn l triệu giáo viên, giảng viên trong cả nước không được tới trường trong một thời gian dài. Hàng nghìn giáo viên đang công tác tại các trường ngoài công lập không có lương, cuộc sống gặp nhiều khó khăn... Tuy nhiên toàn thể cán bộ, nhân viên, nhà giáo và cán bộ quản lý toàn ngành Giáo dục và Đào tạo đã khắc phục khó khăn, phát huy tinh thần trách nhiệm với nghề và với học sinh để cùng nhau đoàn kết, sáng tạo, ứng phó với dịch bệnh và mang kiến thức đến cho học sinh, sinh viên.

Trong không khí ấm cúng, thân mật, chân thành, cởi mở, 60 nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tiêu biểu đến từ các bộ, ngành, địa phương ở khắp các vùng, miền trong cả nước, đại diện cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục cả nước đã chia sẻ về nghề giáo, về học sinh, học viên, sinh viên, về trường lớp.

Bên cạnh những chia sẻ hết sức cảm động về những khó khăn của thầy và trò ở vùng sâu, vùng xa và trong điều kiện dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, cũng như những trăn trở với nghề. Các thầy, cô giáo bày tỏ niềm vinh dự, tự hào và hạnh phúc khi được là những kỹ sư tâm hồn; bày tỏ biết ơn lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bậc phụ huynh và toàn xã hội đã dành cho thầy cô giáo nói riêng và ngành Giáo dục và Đào tạo nói chung sự quan tâm đặc biệt. Các nhà giáo tỏ rõ quyết tâm tiếp tục đem hết nhiệt huyết của mình cống hiến cho sự nghiệp trồng người, tất cả vì học sinh thân yêu.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và với tình cảm cá nhân của một người đã từng là phụ huynh học sinh, từng là người học trò, từng là người đứng trên bục giảng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới các thế hệ thầy cô giáo trên cả nước. Đặc biệt, cảm ơn về những chia sẻ, tâm tư hết sức chân thành và sâu sắc tự đáy lòng của các nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tại buổi gặp mặt.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện sự hiểu biết, khát vọng và tầm nhìn lớn lao sâu sắc về giáo dục, với câu nói “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người khẳng định “Không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hóa”.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn coi Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước đã dành nhiều nguồn lực ưu tiên đầu tư cho phát triển sự nghiệp giáo dục. Các chính sách tập trung đổi mới toàn diện giáo dục, trong đó chú trọng quan tâm, chăm lo phát triển đội ngũ nhà giáo, nhất là các thầy cô giáo ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. “Mặc dù còn đối mặt với nhiều khó khăn, ngành Giáo dục đào tạo đã đóng góp to lớn trong việc bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cho thế hệ trẻ, giúp phát triển con người, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, đóng góp chung vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thành tựu đó có sự đóng góp rất lớn của đội ngũ các thầy cô giáo.”

Người đứng đầu Chính phủ cho rằng, gần 2 năm qua dịch COVID - 19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Giáo dục và đào tạo là một trong những ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch. Hàng triệu thầy cô giáo, đặc biệt là giáo viên mầm non và ngoài công lập bị ảnh hưởng thu nhập, đời sống khó khăn do dịch bệnh. Thậm chí, nhiều thầy cô còn phải làm thêm các công việc khác để lo cuộc sống. Hàng chục triệu trẻ em không được học trực tiếp dài ngày, ảnh hưởng đến tâm lý, chất lượng học và đảo lộn cuộc sống hàng triệu gia đình. Hàng nghìn em mồ côi do mất cha, mất mẹ trong dịch bệnh.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Thủ tướng Phạm Minh Chính chia sẻ khó khăn, ghi nhận và biểu dương những nỗ lực và thành tích vượt khó của đội ngũ nhà giáo trên cả nước. “Các thầy cô đã khắc phục khó khăn thách thức để việc học tập của học sinh không bị gián đoạn - ngay cả khi dịch bệnh ở thời điểm căng thẳng nhất. Các thầy cô giáo và ngành Giáo dục đã biến nguy cơ, thách thức thành cơ hội và động lực để đổi mới giáo dục”-Thủ tướng nhấn mạnh.

Theo Thủ tướng, hiện nay chúng ta đang thực hiện quyết liệt các giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học. Phương châm là: Lấy học sinh làm trung tâm; chú trọng phát triển nhân cách, đạo đức, tính sáng tạo của học sinh. Muốn vậy chúng ta cần tiếp tục lấy nhà trường làm nền tảng, lấy thầy cô giáo làm động lực để thành công cho phương châm lấy học sinh làm trung tâm. Trong quá trình đó yêu cầu là phải học thật, thi thật, nhân tài thật.

Năm học 2020 - 2021 ghi dấu mốc quan trọng với việc xây dựng cơ chế chính sách tháo gỡ những nút thắt, tạo hành lang pháp lý cho đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo theo yêu cầu Nghị quyết 29 của Trung ương. Qua đó, tạo sự chuyển biến về chất lượng đào tạo, cơ sở vật chất, đồng thời huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy hội nhập quốc tế.

Trong bối cảnh dịch bệnh, Chính phủ đang và sẽ giải quyết sớm những vấn đề trước mắt để tạo điều kiện cho ngành Giáo dục và Đào tạo thích ứng an toàn kiểm soát hiệu quả dịch bệnh. Theo đó, Chính phủ nhất quán quan điểm không để các cháu học trực tuyến quá lâu; giao Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế phối hợp với các địa phương có phương án giải pháp khắc phục việc này theo lộ trình từng bước nhưng phải hết sức khẩn trương, đảm bảo an toàn chống dịch. Triển khai từng bước tiêm vaccine cho học sinh... Đặc biệt, Chính phủ tiếp tục yêu cầu các bộ, ngành liên quan rà soát chính sách hỗ trợ đối với giáo viên, nhất là giáo viên mầm non và ngoài công lập.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, tất cả những người làm trong ngành Giáo dục và đào tạo đều đang thực hiện sứ mệnh rất vẻ vang và đáng tự hào. Thủ tướng kêu gọi các cấp, các ngành, mọi người, mọi nhà, mọi bậc cha mẹ cùng chung tay sát cánh với ngành Giáo dục và đào tạo, với các thầy cô giáo trong sự nghiệp trồng người. Việc giáo dục con người không phải là việc riêng của ngành giáo dục và đào tạo, của các thầy cô giáo. Mỗi người trong chúng ta hãy luôn là một người học trò để học tập không ngừng và cũng luôn là một nhà giáo để dục nhiệt tình tham gia vào công việc vẻ vang cao quý này.

Nhân dịp 20/11, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ quản lý giáo dục trên khắp mọi miền đất nước và những giáo viên là người nước ngoài tham gia giảng dạy tại Việt Nam; chúc các thầy cô giáo sức khỏe, thành công để thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Vì lợi ích 10 năm trồng cây - Vì lợi ích trăm năm trồng người ”. Xin trân trọng cảm ơn những đóng góp của các thầy  cô cho sự nghiệp trồng người của chúng ta./.

 

Vạch trần luận điệu xuyên tạc

Thời gian gần đây, trên một số diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những thông tin gây nhiễu loạn, bịa đặt, xuyên tạc chủ trương này nhằm hướng lái, “bẻ cong” vấn đề đảm bảo an ninh con người mà Đảng, Nhà nước ta đang tập trung thực hiện. Bằng những luận điệu không có căn cứ thực tiễn, các đối tượng có tư tưởng cực đoan, chống đối đã cố tình tung ra những thông tin sai sự thật, như “đi đâu cũng bị định vị”, “thẻ căn cước gắn chíp là để theo dõi người dân”, “Chính phủ, Bộ Công an thu thập dữ liệu cá nhân”… từ đó chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị.

HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM CẦN THỰC HIỆN NGHIÊM CHỈ THỊ CỦA BAN BÍ THƯ TW ĐẢNG TRUYỀN ĐẠT NGÀY 16/10/2009!

 Rất vui khi được nhận hai cuốn sách TRAO ĐỔI SỬ HỌC của Tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh do Nhà Xuất bản Văn học phát hành. Mới chỉ đọc qua Lời nói đầu, tôi đã cảm nhận tính hiện thực phê phán toát ra từ cuốn sách, đây là một hiện tượng đáng lẽ phải phổ biến trên lĩnh vực văn hoá, văn học, lịch sử nhưng những năm gần đây hình như ít được phổ biến, thật trái với những gì của Chủ nghĩa Văn học hiện thực và càng trái với tinh thần biện chứng lịch sử. Trở lại với Trao đổi Lịch sử, đây là cuốn sách được Tuần báo Văn nghệ TP Hồ Chí Minh tập hợp các bài viết của các tác giả đã phát biểu và tham luận tại cuộc Hội thảo tại Thanh Hoá vào ngày 18-19/10/2008 do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức và do các vị lãnh đạo Hội mà đứng đầu là ông Phản Huy Lê chủ trì cùng một số nhân vật khác và các bài viết phản biện, tranh luận có liên quan đến chủ đề nói về Nhà Nguyễn và Vương triều Nguyễn kể từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XX, nhất là bàn về công tội của hai nhân vật mà thời gian gần đây đã dấy lên làn sóng phản ứng mạnh mẽ trên mạng xã hội và trên diễn đàn công luận đó là Phản Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký.

           Cuốn sách cũng đã nhắc lại Chỉ thị của Ban Bí thư TW Đảng được Văn phòng Trung ương truyền đạt ngày 16/10/2009 “Việc đánh giá về các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử phải theo các quan điểm trong chính sử (các tài liệu lịch sử chính được xử dụng hiện nay); Hội sử học, các cơ quan thông tấn, báo chí không trao đổi, tuyên truyền các vấn đề liên quan đến các chúa Nguyễn và các vương triều Nguyễn; Tạm dừng các hoạt động, công trình liên quan đến Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký...” 

           Thế nhưng các nhà sử học trong Hội khoa học lịch sử đã quên mất sự chỉ đạo này của Ban Bí thư và họ tiếp tục các công việc “đổi mới “lịch sử nước nhà và tiếp tục nâng công, rửa tội cho những nhân vật mà dân ta và trong chính sử đã chỉ rõ công, tội... đó là Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Ánh - Gia Long.

           Xin cảm ơn Nhà Xuất bản Văn học, và cảm ơn sâu sắc đến Tuần báo Văn nghệ TP HCM vì đã cũng cấp cho nhân dân ta và những người yêu quý lịch sử nước nhà những bài viết mang tính chiến đấu, phê phán rất sâu sắc!





Môi Trường ST.

Đổi mới, sáng tạo, hiệu quả trong tổ chức, hoạt động của Quốc hội khóa XV

Sau 16 ngày làm việc khẩn trương, khoa học, dân chủ và trách nhiệm cao, Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra và thành công tốt đẹp. Thành công của Kỳ họp lần này tiếp tục khẳng định những bước tiến quan trọng trong việc xây dựng một Quốc hội ngày càng dân chủ, công khai, minh bạch, gắn bó mật thiết với cử tri, Nhân dân.

TẤM GƯƠNG THẤM NHUẦN TRUYỀN THỐNG TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO Ở CẬU HỌC SINH NGUYỄN PHÚ TRỌNG!

 Nhỏ tuổi nhất, nhưng trò Nguyễn Phú Trọng thời ấy lại học chăm chỉ, thông minh nhất lớp, chữ viết rất đẹp. Giờ học nào cũng hăng hái giơ tay phát biểu và hiếm khi nào trả lời sai.

LỘ "MẶT CHUỘT"!

Ngày 25/10/2021 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định số 37-QĐ/TƯ “Về những điều đảng viên không được làm” thay thế Quy định số 47-QĐ/TW trước đây. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc, suy diễn, “phán xét”, quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vai trò của Đảng.

VỀ CON NGƯỜI TRƯƠNG VĨNH KÝ!

LTS: Bến Tre có nhiều nhân vật xứng đáng là niềm tự hào chẳng những của một xứ dừa mà còn là của cả nước ta về lòng TẬN TRUNG VỚI NƯỚC, TẬN HIẾU VỚI DÂN như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thị Định, Ca Văn Thỉnh…. Tuy nhiên trên Tạp chí Văn nghệ Hàm Luông, số Xuân Bính Thân 2016 với bài “Xứ dừa – nơi sinh ra những con người huyền thoại” của tác giả Đinh Hữu Quang đã đưa PHAN THANH GIẢN, Trương Vĩnh Ký sánh ngang tầm những tên tuổi ấy là một việc làm lộn xòng lịch sử. Chuyện này xưa rồi nhưng lâu lâu lại rộ lên theo dòng thời cuộc nên “người yêu sử” đành tra lại tích cũ trình với bà con Bến Tre và bạn đọc gần xa về hai nhân vật lịch sử đầy tai tiếng này.


Giữa lúc tổ quốc ta bị xóa tên trên bản đồ thế giới, dân ta làm nô lệ. Trước sức giặc bạo cường, để giành độc lập và chủ quyền dân tộc, thì cụ Sào Nam quyết liệt: “Đúc gan sắt để dời non lấp biển/ Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”, cụ Tây Hồ chủ trương “Hưng dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, trong khi họ Trương suốt đời tận tâm tận tụy dùng cái tài cái trí của mình nhằm “Mục tiêu biến đổi và đồng hóa dân tộc An Nam!”, cũng như chính tay ông viết ra những lời gan ruột: “Tôi càng phải tỏ ra biết ơn nước Cộng hòa (Pháp) không những đã công nhận tôi là đứa con nuôi mà thôi, lại còn cho tôi nhiều vinh dự, và nhất là đã tin cẩn tôi lắm lắm!”, “Tôi là người Pháp từ trái tim và sẵn sàng để trở thành người Pháp thực sự”, “Nước Pháp mà tôi phụng sự và hoàn toàn thuộc về nó”… chớ đâu phải do ai đó ác ý gán cho ông! Ba con người tài cao nhưng chí hướng đối nghịch nhau như vậy mà ông Nguyên Ngọc lại rước ngồi chung trên một bệ thờ liệu có chạnh lòng cả người đang sống lẫn người đã chết?!

Trong trào lưu hội nhập, dựa vào sự bảo trợ của các thế lực nước ngoài, lợi dụng quyền tự do dân chủ, gần đây rộ lên những dư luận trái chiều lịch sử. Trước hết là đủ các thứ “nhà” hết lời tán tụng ông thầy dòng đã vứt bỏ chiếc áo choàng tu núp dưới nhãn hiệu văn hóa để thực hiện những mưu đồ của quân cướp nước. Trách ai cứ khơi ra, dẫn người ta lẫn lộn điều phải trái, chính tà, chẳng những đã lỗi với lịch sử mà còn là điều trái đạo trong việc gây dựng những lớp người sau có tình yêu thương và trách nhiệm với dân với nước. Người khuất bóng mong được nằm yên mà những ai gây ra điều ngang trái để vì lòng tự trọng dân tộc buộc phải nói ra khiến nỗi giận khôn nguôi mà lòng cảm thương khoan thứ lại vơi đi!

Nhà giáo lão thành Nguyễn Thái An, học trò trường Trương Vĩnh Ký thập niên 1950, từng một thời coi tiền nhân Trương Vĩnh Ký như là thần tượng, đã cùng bè bạn gom nhặt tư liệu và các huyền thoại về ông. Nhập thế lại theo nghiệp làm thầy, dạy môn Kiến thức xã hội tại trường Trung học kiểu mẫu Thủ Đức nổi tiếng từ 1965 đến 1975. Trải một đời tìm hiểu và chiêm nghiệm, ông đưa ra nhận xét như sau:

- Người học giỏi có nhất thiết đồng nghĩa là người yêu nước? Trong lịch sử Việt Nam đầy dẫy những tên tuổi trí thức lớn mà hợp tác đắc lực với quân cướp nước bức hại đồng bào. Trần Ích Tắc vừa là hoàng thân, vừa là đại trí thức rất có ảnh hưởng trong xã hội đương thời nhưng vì khiếp nhược trước sức mạnh bạo cường của giặc Nguyên-Mông đã phản bội quê hương nòi giống, lê tấm thân tàn, gửi xương nơi xứ người xa lạ, để lại tấm gương xỉ nhục muôn đời.

- Có thật là học giả họ Trương sống một cuộc đời bần hàn mà thanh sạch như học giả Hồ Hữu Tường ca tụng? Thực ra trong khi nhà nước thực dân mặc sức làm những điều “bại nhân nghĩa nát cả đất trời, vùi con đỏ dưới hầm tai vạ” thì Trương được giao trọng trách, trả lương hậu hỹ và hàng trăm đầu sách viết ra đều được bao thầu trọn gói! Trước khi chết dư của dựng nhà thờ, phần mộ uy nghi tráng lệ.

- Những người ủng hộ ông Trương Vĩnh Ký đã tâng bốc, bôi bóng ông ta đến mức lố bịch. Thực ra Trương chỉ là một bộ mặt sáng láng trong đám collabo thời đó? (collabo đồng nghĩa với aide à l’ennemi, có nghĩa là tay sai cho kẻ thù). Nếu vẫn khẳng định Trương Vĩnh Ký không phản quốc thì phải đánh giá lại Trương Công Định như một tên bất lương, phá rối trị an!

Ở đất Sài Gòn này không thiếu những trí thức con nhà giàu, tây học, vào làng Tây nhưng không hợp tác với Tây như bác vật Lưu Văn Lang, không ít người lại chống Tây quyết liệt tới mức sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình như Luật sư Thái Văn Lung, Kỹ sư Nguyễn Ngọc Nhựt, Nhà ngoại giao Nguyễn Văn Kỉnh… Còn như ông Trương Vĩnh Ký không vào làng Tây là mưu sâu kế độc của ông ta đã bộc lộ ra với quan thầy: “Lúc đã gia nhập quốc tịch Pháp, tôi sẽ mất hết uy tín, mất thế lực, chẳng còn được vua, triều đình và dân chúng An Nam tín nhiệm nữa”!


- Cái việc người Pháp đặt tên trường Petrus Ky không phải là để vinh danh công trình sáng tác đa dạng của ông ta mà là để đề cao một thuộc hạ tận tâm với nhà nước thực dân. Trái lại trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống ách đô hộ phương tây, nhiều thế hệ thầy trò trường Petrus Ky đã không ngại gian khổ hy sinh, đồng hành cùng dân tộc, trái hẳn với những việc làm của Trương học giả. Bởi họ vẫn tiếp bước truyền thống quật cường của dân tộc Việt Nam dù bị đặt trong hoàn cảnh éo le!

Nhân thân và tư liệu về Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) còn lưu nhiều trong thư khố là bằng chứng hiển nhiên để so với những lời tôn vinh lắt léo lộn xòng tô đen thành trắng tới mức độ nào. Xin giới thiệu một số tư liệu để bạn đọc tham khảo và cũng là để nhắn nhủ tới những ai vì những động cơ bất chính nào đó đã bất chấp sự thật lịch sử dể đánh lừa công chúng:

1/ Petrus Ky giỏi cỡ nào?

Trước lời ca tụng học giả họ Trương được liệt vào hàng “thế giới thập bát văn hào”, cố TS Vật lý Trần Chung Ngọc làm việc tại ĐH Wisconsin - Madison (Mỹ) và là nhà nghiên cứu lịch sử, tôn giáo được cảm mến, bình luận qua một đoạn văn giản lược như sau:

“Bảo rằng Petrus Ky là “nhà bác ngữ học kỳ tài đa năng, đa diện trên nhiều lãnh vực khoa học” nhưng không đưa ra bất cứ tác phẩm khoa học, văn chương tiêu biểu nào của Petrus Ky? Và tổ chức nào đã bầu chọn Petrus Ky vào hàng đầu danh nhân thế giới? Cố gắng tìm qua internet tôi chỉ thấy trên trang mạng của Huỳnh Ái Tông http://vietsciences.free.fr/vietnam/danhnhan/tacgia/truongvinhky.htm viết về Petrus Ky nhưng không cho biết tài liệu xuất xứ, như sau: “Trong khoảng năm 1873-1874, ông (Trương Vĩnh Ký) được liệt vào hàng “thế giới thập bát văn hào”, theo mẫu tự như sau: Bác sĩ Allemand, Banadona d’Ambrum, Bonhomme, Cazot, Đại tướng Chambron, Bá tước Chambord, Christophie, Conte, Desmaze, Duprat, Dupuy, Garnier-Pages, Guizot, Lafayette, Lefèvre-Pontalis, Marcon, Pétrus Ký, Thống chế Saldonha Oliveirae Daun”. Mười tám tên tuổi trên có phải là các văn hào thế giới? Dupuy, Guizot là chính trị gia. Còn bác sĩ, đại tướng, thống chế, bá tước… là những đại văn hào của nước Pháp thời kỳ nào? Tại sao không thấy điểm danh các đại văn hào của Pháp trong thế kỷ XIX quen thuộc nhất như: H.B Stendhal, A. Lamartine, H. Balzac, A. Dumas, V. Hugo, P. Mérimée, G. Sand, A. Musset, T. Gautier, C. Baudelaire, G. Flaubert, A. Daudet, E. Zola; G. Maupassant? Tác phẩm của các đại văn hào này đều có trong mọi thư viện của các đại học lớn, nổi tiếng nhất trên thế giới, được dùng trong học trình đại học. Sao không tìm được tác phẩm nào của Petrus Ky trong số đó”?

Và TS Trần Chung Ngọc đã kết luận: Tôi cho đó là một danh sách “dỏm”. Pétrus Ký chỉ được các quan thầy thực dân Pháp và Vatican biết đến mà thôi”!

2/ Mục đích Petrus Ky viết sách để làm gì?

Nhà nghiên cứu Phạm Long Điền viết: “Trong suốt 28 năm sáng tác, Trương Vĩnh Ký cho ra đời 121 tác phẩm Việt có, Pháp có. Hầu hết các tác phẩm của ông đều phục vụ cho quyền lợi của nhà nước thuộc địa và chính ông cũng đã công khai nhìn nhận chủ đích này”. Trong cuốn “Ngàn năm soi mặt” (Văn Hóa – 2002), góp phần nghiên cứu về Trương Vĩnh Ký, Tiến sỹ Sử học Nguyên Vũ (Vũ Ngự Chiêu) đặt ra nhiều vấn đề: Có thật là Trương Vĩnh Ký biết tới 26 thứ tiếng không? Giá trị nội dung các tác phẩm của ông? Không ít cái gọi là tác phẩm mà thực ra chỉ là 5-10 trang viết khảo luận sơ sài. Và kết luận: “Các công trình sáng tác và trước tác khá đồ sộ, lại có cả sách bằng Pháp ngữ, nhưng chưa ai thực sự kiểm kê và lượng giá toàn bộ công trình của ông. Riêng tác phẩm khá dày về “bài giảng sử” bằng Pháp ngữ, khó thể gọi là một công trình sử học. Đa số chi tiết đều là tin đồn, ngày tháng hỗn loạn. Khoảng thời gian từ nhà Tây Sơn đến Vua Tự Đức – vì sử dụng truyền khẩu sử của các nhà truyền giáo Pháp và trên quan điểm hợp thức hóa tân trào - đầy rẫy sai lầm kỹ thuật cũng như sai lầm có tư tâm, bất chấp sự thực lịch sử”!

Sau này học giả Nguyễn Văn Vĩnh là người hăng hái tiên phong trong việc Quốc ngữ hóa chữ Nôm ở Bắc kỳ, nói lên sự thật dù không hẳn nhằm vào một ai nhưng mà chua chát: “Các đại huynh đã qua nước Đại Pháp, chắc cũng đã biết là dân xứ ấy, những người như anh em ta có rất nhiều, đã hơn gì con kiến chưa? Nếu anh em mình ở đó, chỉ vào bậc đánh giầy, thế mà về đến đây đã là người biết tên, biết tuổi, có danh, có tiếng, đã cực chưa?”. Học giả Phạm Quỳnh cũng mặc phẩm phục đại triều và hợp tác đắc lực cho người Pháp không ngần ngại buông một lời chê: “Sách của Trương Vĩnh Ký viết chỉ để trẻ con xem”!

3/ Xét từ việc làm cụ thể của Trương Vĩnh Ký trong bối cảnh lịch sử nước Nam ta thời đó

Trương Vĩnh Ký, được giáo hội Kito đào tạo căn cơ từ tuổi ấu thơ. 19 tuổi (1856) được thụ phong linh mục tại giáo chủng Pinang (Malaxia). Năm 1859, Về Sài Gòn, Trương lập tức gửi thư tới viên đô đốc Page khẩn cầu động binh đánh lại “kẻ thù của chúng ta” (?) và bộc lộ ra gan ruột: “Không một người Việt Nam nào theo Kito giáo lại ngần ngại xin gia nhập làm lính dưới cờ Pháp. Ông vua Việt Nam không theo đạo (Kito) không phải là vua của họ”(Văn khố Hải quân Pháp, Paris: SUM Vincennes). Giáo hội Kito tại Việt Nam tỏ ra rất sáng suốt chuyển Trương sang ngạch thông ngôn cho quân đội Pháp. Trương đã kịp bày tỏ lòng trung thành với mẫu quốc Pháp và mau chóng được nhà nước thực dân nâng lên bậc “thông ngôn hạng nhất”. Tất nhiên phải có mặt trong hầu hết các hội nghị quan trọng giữa Bộ Tham mưu quân đội Pháp với triều đình An Nam lúc đó. Một sự tình cờ lịch sử, Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký mau cặp kè nhau trong mối quan hệ buổi đầu giữa Nam triều với Pháp. Trương tuy thuộc lớp hậu sinh nhưng cùng quê Vĩnh Long. Một trí thức trẻ tân học tháo vát giỏi giang đã hiến mình cho Chúa và một lòng trung thành với mẫu quốc kè bên viên quan già gian xảo và bạc nhược. Một đội quân viễn chinh dày dạn đi xâm lược làm sao không nhận ra điều đó. Hẳn không là sự sắp xếp vô tình khi Trương từng được chọn làm thông ngôn cho phái bộ Phan-Lâm để đi đến sự ra đời của hàng ước Nhâm Tuất (1862) nhục nhã tại Sài Gòn, và sau đó lại tháp tùng phái đoàn An Nam cũng do Phan làm Chánh sứ sang Paris và Rhoma để xin lại đất! Phan, Trương thành đôi bạn vong niên mà như cặp bài trùng. Cả hai đều lập công lớn với nước mẹ Đại Pháp vào buổi đầu chinh phục Việt Nam.

Chuyến công du qua trời Tây một công đôi việc. Ở Ý, Trương đã làm một việc rất khôn ngoan là tới thăm viếng nơi lưu giữ hài cốt các cố đạo tử nạn khi đi giao giảng kinh phúc âm tại xứ Viễn Đông và danh tiếng của ông lại được đề cao bởi được Giáo hoàng tiếp đón. Trương có dịp làm quen với chính giới văn hóa Pháp, đặc biệt là Paul Bert, vừa là nhà khoa học, vừa là chính khách thực dân cực tả. Tất nhiên chàng trí thức trẻ khôn ranh tỏ lòng hết mình cho nước mẹ Đại Pháp, đã tạo được mối thiện cảm với một nhân vật tiếng tăm. Năm 1864, trở về Nam kỳ đã là thuộc địa của Pháp, Trương được giao nhiều trọng trách đúng theo tinh thần “đồng hóa chỉ có thể thực hiện được bằng giáo dục và học vấn”. Điều khiển trường Thông ngôn, trường Sư phạm. Rồi được trao toàn quyền tờ “Gia Định báo” – tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Việc phổ biến chữ Quốc ngữ là nằm trong sách lược của nhà nước thực dân. Lanessan nói toạc ra: “Ngày nào còn sỹ phu, ngày đó ta còn lo sợ vì họ là những người yêu nước, làm sao chấp nhận được sự đô hộ của ta?”. Giám mục Puginier, là mẫu điển hình cho sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà nước thực dân với giáo hội Kitô, không cần giấu giếm: “Thay thế chữ Nho bằng chữ Quốc ngữ, Hội Thừa sai nhằm cô lập các giáo hữu. Những người này cũng không thể thư từ gì được với bất cứ sỹ phu Tàu hay Ta nào, các thầy giảng người bản xứ sẽ chỉ có thể đọc một số hiếm những sách do các thừa sai viết bằng Quốc ngữ cho họ dùng và trong đó chỉ bàn đến những vấn đề thuần túy tôn giáo”. Với cả bộ máy thực dân thống trị trên mọi lĩnh vực và bằng nhiều hình thức, giới sỹ phu Việt Nam không thể bảo vệ được văn tự truyền thống của mình. Chữ Hán-Nôm bị bức tử thay vì chữ Quốc ngữ, văn hóa Việt bị mất nhiều hơn được! Thơ văn Hán-Nôm truyền thống dần trở nên “lép vế” và mai một. Năm 1873, Trương lại được giao đào tạo lớp cai trị người Pháp và tay sai bản xứ tại Trường Cai trị (Collège des Stagiaires) mở ra tại Sài Gòn. Từ đó bước chân vào “Hội đồng học chính cao cấp” để giúp người Pháp lo liệu lâu dài sau cuộc chinh phục xứ này bằng võ lực.

4/ Chuyến công du Bắc kỳ

Năm 1872, bất chấp chủ quyền của Việt Nam, lái buôn J. Dupuis ngược ngạo đưa tàu theo sông Hồng, mở đường lên Vân Nam. Quân Pháp được một số giáo dân giúp sức, mở rộng đánh chiếm Bắc kỳ, buộc triều đình Huế phải ký hòa ước Giáp Tuất năm 1874. Cục diện chống Pháp trở nên quyết liệt, tiêu biểu là phong trào Văn thân với hịch “Bình tây sát tả”. Nam triều chủ trương nhờ Thanh triều, quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc vào giúp sức. Quân Pháp đã bị thiệt hại nặng, nên chính quốc không muốn “sinh sự ở Bắc kỳ”. Năm 1876, theo lệnh Đô đốc Duperré, Trương Vĩnh Ký được ứng trước ba tháng lương, để dưới danh nghĩa du lịch Bắc kỳ, Trương Vĩnh Ký tiến hành một chuyến đi mà căn cứ vào việc đã làm thì không khỏi nghi ngờ đó là chuyến đi do thám, tìm hiểu các vấn đề lịch sử, địa lý, thổ nhưỡng và dân tình trước khi quân Pháp có quyết định tiếp theo?
Xin trích vài báo cáo của Trương từ Tonquin (Bắc kỳ) gửi các quan cai trị Nam kỳ (Cochichine): “Tôi thiết tưởng có bổn phận, cũng nhân dịp này, cống hiến cho ngài: Tư tưởng của những người phiến loạn An Nam mà tôi có thể tìm hiểu ở những nơi có tàu đi qua. Những kẻ phiến loạn, như tôi đã từng nhiều dịp trình với ngài, họ có lý do cho chủ nghĩa ái quốc của họ: Sự hận thù đối với các con chiên (công giáo) mà họ cáo buộc là hàng ngũ bên cạnh người Pháp, được dùng như những kẻ đưa đường chỉ lối”“Các quan lại Nam triều thường nói với tôi rằng nước Pháp cố ý xâm chiếm xứ này. Tôi đã trả lời là không!... Tất cả quý vị đều phải thấy rằng nếu nhà cầm quyền Pháp có ý muốn xâm chiếm xứ này, họ có thể làm việc đó từ lâu một cách dễ dàng, không cần bàn cãi gì cả. Quý vị phải hiểu rằng quý vị là những kẻ yếu, thật sự quá yếu, cần sự giúp đỡ của ai đó để gượng dậy. Và tốt hơn, quý vị chỉ nên tin vào người bạn đồng minh tiếng tăm, phải dựa vào họ một cách thành thật để đứng lên, nhưng phải thẳng thắn, không hậu ý, không mưu tính kín đáo, dang cả hai tay ra với họ chứ không phải một cái chìa ra còn bàn kia thì giữ lại. Bằng ngược lại, mệt trí vì những do dự, những điều nói nửa lời đầy âm mưu của quý vị, nước Pháp buộc lòng phải ngưng che chở, bỏ mặc quý vị với số phận”“Tổng quát, tất cả đều tin chắc rằng không thể chống lại người Pháp và nếu nước Pháp muốn lấy xứ này, có thể làm mà không phải mất nhiều khó khăn, tốn kém”.
Khẩu khí ấy là của loại người nào, có xứng là của “người thầy, nhà văn hóa lớn của dân tộc”? Để thưởng công lao ấy, năm 1877 Trương là người Việt Nam đầu tiên duy nhất được vào ngồi trên một trong mười cái ghế danh giá của Hội đồng cai trị thành phố Sài Gòn, lương bổng của Trương đứng hàng thứ ba sau hai người Pháp chóp bu cai trị Nam Kỳ lúc đó?!

5/ Hợp tác với Paul Bert:

Sau chiến tranh Pháp - Phổ (1870), nước Pháp tuy thắng trận song cũng lao đao. Cuộc bình định Viễn Đông xa xôi gặp nhiều trắc trở và tốn kém. Chính giới Pháp nản lòng. Hạ nghị viện đòi rút quân về. Trong số 33 ủy viên đặc trách bàn thảo vụ Bắc kỳ, chỉ có 6-7 người khăng khăng đòi duy trì sự chiếm cứ, trong đó có P. Bert. P. Bert hô hào vì danh dự, quyền lợi thương mại và chính trị… buộc nước Pháp phải ở lại đây! Đầu năm 1886, P. Bert đến Sài Gòn, móc nối ngay với Trương Vĩnh Ký. Trương đã nhanh nhảu đáp ứng yêu cầu rất hữu hiệu. Trên đường ra Bắc kỳ, Paul đưa Trương ra Huế, “khéo léo rấm vào Cơ mật viện và Hội đồng nội các của nhà vua”. Chính sách cai trị “lạt mềm buộc chặt” chứng tỏ tài điều hành của một kẻ thực dân có học thức. Vua Đồng Khánh rộng lòng trao cho Trương Vĩnh Ký chức Hàn lâm viện thị giảng học sỹ. Và sau đây là vài đoạn thư Trương gửi cho P. Bert cho thấy thực chất quan hệ giữa hai “nhà bác học Pháp - Nam” là gì: “Trong cái nhìn đặc biệt về lợi ích của nước Pháp, việc Đồng Khánh lên ngôi quả là may mắn. Vị vua trẻ hoàn toàn bị chinh phục bởi nước Pháp mà tôi đã dạy cho nhà vua biết và yêu thích tiếng Pháp. Cần phải lợi dụng các bản chất tuyệt hảo và trung thành của nhà vua. Về phần tôi, xâm nhập vào Cơ mật viện của nhà vua, vai trò của tôi là làm cho nhà vua và triều thần hiểu được ý tốt của chính phủ Pháp cũng như điều động chính sách của chính phủ An Nam đi gần với chính sách của nước Pháp”, “Tôi sẽ trấn áp những hãnh thần (là người có tư tưởng chống Pháp), sẽ bao vây lấy nhà vua. Tôi cũng sẽ gom những người thật sự có khả năng cho Viện cơ mật”, “Tôi xin nhắc lại ngài cái dự án bình định với những phương tiện hành động đã được mật ước, để tiến tới thành quả mà chúng ta có thể phô trương. Về phần tôi, ngài có thể luôn luôn cậy vào sự giúp sức nhỏ yếu của tôi, vì dù sao những cảm tình của giờ phút đầu tiên đã trở thành một mối nhiệt tâm chân thành đối với ngài”.

Một mặt, Trương hối thúc Đồng Khánh đào kinh biệt sở Mang Cá để giữ an toàn nơi đồn trú của binh lính Pháp; thúc đẩy nhà vua hãy bắt thật nhiều “xâu” mở nhanh con đường ra Quảng Bình, vào Quảng Nam giúp lính Pháp hành binh tiễu trừ nghĩa sỹ Cần vương ở những vùng xa xôi hẻo lánh; xúi hoàng thượng “làm ra năm mười khoản ước đưa ông P. Bert nghị lại mà tính với nhau” định rõ quyền hạn của Nam triều và Bảo hộ (Bắc kỳ) nhằm hoàn thành nghị trình thâu tóm Việt Nam theo hòa ước 1884. Trương Vĩnh Ký cũng khéo giấu mặt trong việc giúp Đồng Khánh ra “Dụ chiêu hồi” các thủ lĩnh nghĩa quân với lời dụ dỗ ngon ngọt và răn đe nghiêm khắc. Kết quả là Phò mã Hoàng Kế Viêm, một thời nổi danh chống Pháp ở phía Bắc, trở thành “hồi chánh viên”, được khai phục hàm Đông các đại học sỹ, giúp việc rất đắc lực cho việc bình định ở Trung kỳ. Một mặt Trương bày mưu cho Toàn quyền P. Bert: “Hãy nhanh chóng thành lập các đoàn lạp binh và võ trang cho họ. Ngài không có điều gì phải quan ngại vì những quân khí do ngài cung cấp, cho mượn hoặc bán, đều thuộc trách nhiệm trực tiếp của nhà vua, và chính phủ Nam triều sau vụ bạo hành tháng 7.1885 (tức ngày 24.5 năm Ất dậu - ngày thất thủ kinh thành Huế), nay chỉ còn cách thần phục nước Pháp. Xứ Trung kỳ mà ngài vừa ban cho nền tự trị sẽ phải bắt buộc ở dưới sự giám hộ của người bảo hộ nó”. Để P. Bert yên tâm Trương mách: “Bọn phiến loạn (nghĩa quân Cần vương) không đáng sợ; họ chỉ có những khí giới cổ lổ của chính quyền An Nam và vài võ khí mới mua lại được của bọn buôn lậu Trung Hoa”. Và kế hiến ấy đã tỏ ra hữu hiệu trong việc đàn áp, truy sát những nghĩa sỹ Cần vương! Thật không quá đáng khi người Huế bấy giờ coi Trương Vĩnh Ký là con người phản phúc! Nhà sử học Chailley đã nhận định: “P. Bert dùng Trương Vĩnh Ký không phải ở tài năng của ông này, cũng không phải vì ông là người Thiên chúa giáo, mà chỉ vì những công tác đã thể hiện rất được việc và nhất là sự trung thành kiên định của Trương đối với nước Pháp”.

Trong khi Trương Vĩnh Ký hăng hái bộc lộ ruột gan ra với quân cướp nước thì với đồng bào mình, ông ta viện dẫn câu cách ngôn La tinh “Ở với họ mà không theo họ” (Sic vos non vobis)! Xin hãy đọc mấy dòng mà các quan thuộc địa đánh giá: “Rút cục, đó là người An Nam Pháp hóa và gương mẫu duy nhất mà chúng ta có. Sự trợ giúp của ông thật rất ích lợi cho ảnh hưởng của chúng ta và cho nền học chính nói chung” (Luro - thanh tra, giám đốc trường sư phạm thuộc địa Pháp ở Việt Nam).

6/ Trời bất dung gian:

Thế rồi P. Bert đột ngột chết bởi ác bệnh vùng nhiệt đới. Chính sách của y không hợp với giới cầm quyền mới sang thay. Ngay cả triều đình An Nam dù lệ thuộc song cũng chẳng ưa gì viên đại quan cậy quyền ỷ thế ngạo mạn hãnh tiến với cái vốn tây học mà tỏ ý khinh thị nền học vấn cổ lỗ phương Đông. Trương trở nên lạc lõng giữa những ông chủ mới và quan lại Nam triều. Quả báo nhãn tiền, trước hết là “những cú đá của con la” từ các ông chủ thực dân dành cho viên đại quan Cơ mật viện mà chính họ từng cài vào, trong khi đó các quan lại Nam triều coi ông là người nguy hiểm. Trương cũng nhận ra: “Trong con mắt của đồng bào tôi, tôi đã bị lên án nặng nề”! Một con người đa tài đang gặp “hội phong vân” mà bị cú vấp đau như vậy thì sinh ra buồn bã, chán nản hẳn là tất nhiên. Trương nại lý do xin về Sài Gòn để dưỡng bệnh, nhưng vẫn không quên hứa: “Khi trở lại đời sống tư, lòng tôi luôn luôn thuộc về nước Pháp, và những công việc phục vụ nhỏ mọn của tôi cũng thuộc về nước Pháp… Người bề tôi tận tâm và vâng lời”.

Nhiều nhà nghiên cứu đều chung nhận định với ông Mẫn Quốc: “Cái học vấn của Trương càng uyên bác bao nhiêu thì cái tác hại của Trương càng lớn bấy nhiêu, Trương đã tác động tinh thần đám quan lại và đám sĩ phu Việt Nam hãy đừng cưỡng lại người Pháp, nhằm mục đích gì? Đã bao phen Trương tận tụy trung thành, đem hết tâm tư, bầy mưu lập kế, hiến sách lược nọ, dâng đề nghị kia, chỉ vì giặc Pháp… Chúng tôi đặt ra câu hỏi: vì cớ gì mà Trương lại phản quốc, lại làm đặc vụ, tay sai, tình báo cho địch như vậy? Đọc những gì được trích dẫn, không khó nhận ra Trương Vĩnh Ký rất nóng lòng muốn Pháp đồng hóa dân tộc Việt Nam nhanh hơn, toàn diện hơn. Ngoài lương bổng hậu hĩnh, bên cạnh đó ông cũng sẽ kiếm được lợi nhuận do việc chính phủ thực dân Pháp bỏ tiền tài trợ và mua sách, ông sẽ phấn khởi, hăng hái hơn trong việc viết thêm các tác phẩm khác trong tương lai cho mục đích “đồng hóa” nói trên”.

Một người tài hoa như thế, mưu mô như thế, hãnh tiến như thế mà sao trước lúc lâm chung lại trong tâm trạng bất an, soạn sẵn câu trích trong kinh cựu ước nói về Job bị Thượng đế và loài người lìa bỏ, ghi trên mộ chí: “Miseremini Mei Saltem vos Amici Mei” (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi).

Cổ nhân có câu: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Người hiền để cho cái tâm làm sáng cái tài, chẳng như phường giá áo túi cơm để cho cái tài làm tối cái tâm. Giới học giả, văn nhân thế giới không xa lạ tên tuổi Paul de Man - nhà văn, triết gia, nhà tư tưởng nổi tiếng người Đức giữa thế kỷ XX, nhưng khi bị phát hiện từng cộng tác với chính quyền Quốc xã bài Do Thái, ông và toàn bộ sự nghiệp bị đắm đò! Một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng những năm 1950 - 1960 là K. Vanheim, từng là Tổng thư ký LHQ, mãn nhiệm kỳ hai khóa, về nước, ông ra ứng cử chức Tổng thống Áo, bị lật tẩy từng theo đuôi quân phát-xít, liền thân bại danh liệt ngay từ đấy.
Trong bài viết, tác giả Đinh Hữu Quang trích dẫn lời danh nhân Hoàng Bình Trọng: “Lấy Văn làm Đạo, lấy Đạo làm Văn/ Văn tải Đạo cảm hóa Trời Đất”. Thiết nghĩ với vị đại học giả họ Trương, Văn với Đạo không thuận với nhau và nhận xét của vị học giả đồng hương Ca Văn Thỉnh: “Nhân tài thất đức thờ bạo chúa” là rất đúng?!

Người viết chia sẻ với suy nghĩ của nhà giáo lão thành Trần Thanh Đạm: “Phản bội, phản quốc là tội danh chẳng kẻ náo dám nhận. Càng là người có học vấn, có tri thức mà sa vào con đường ấy thì càng có nhiều luận điệu bào chữa xảo trá, tinh vi. Đối với những nhân vật này lúc đương thời thì ranh giới phải trái thường khá rõ ràng. Song về sau do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là với những người cùng não trạng, sự đánh giá có khi lại trở nên phức tạp, rối rắm, gây nhiều tranh cãi. Như con người này, vào thời buổi ấy, với tài năng ấy, thân phận ấy, tâm tư ấy, để lại cho đời sau nhiều bài học. Như một tấm gương để tôn vinh cảm phục thì không, song để cảm thông xót thương thì có”./.

Yêu nước ST.

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ GIÁO DỤC HIỆN NAY!

      Mấy ngày qua, tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá XV đang thực hiện phiên chất vấn các Bộ trưởng, có thể nói đây là nội dung được cử trị chú ý theo dõi và mong cả hai phía: phía chất vấn của Đại biểu QH cần bám sát thực tiễn của cuộc sống, nắm bắt đầy đủ và kịp thời những vấn đề bức xúc, bất cập trong thực thi pháp luật và các chính sách xã hội để đặt ra những câu hỏi ngắn, gọn, rõ sát đúng với thực tiễn và nhu cầu đòi hỏi cho sự phát triển của đất nước và cuộc sống của nhân dân, nhất là những vấn đề có tầm chiến lược của xã hội; còn phía các Bộ trưởng điều đầu tiên cần bám sát câu hỏi chất vấn, nắm bắt đúng nội dung chất vấn để có câu trả lời ngắn, gọn, có lý giải rõ ràng và giải đáp thỏa đáng những vấn đề đặt ra.

    Qua ba Bộ trưởng trả lời tôi không có nhận xét ưu khuyết vì việc này sau mỗi phiên chất vấn của mỗi Bộ trưởng Chủ tịch Quốc hội đã có nhận xét khái quát rồi , ở đây tôi chỉ nêu một vấn đề mà qua rất nhiều kỳ họp mới nghe tưởng là nhỏ song thực chất nó không nhỏ thế nhưng cho đến nay vẫn chưa làm chuyển biến được tình hình; đó là: Vì sao thế hệ tương lại của đất nước không yêu thích môn học lịch sử? (Có lúc cả một Hội đồng thi tốt nghiệp phổ thông của một thành phố chỉ có một thí sinh thi môn sử, điểm trung bình môn nằm trong các môn thi thấp nhất?...)

    Song qua theo dõi của nhiều kỳ họp, hầu như qua mấy đời Bộ trưởng từ ông Nguyễn Thiện Nhân, ông Phạm Vũ Luận, đến ông Phùng Xuân Nhạ, nay là Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn đương chức vẫn có chung một câu trả lời là do nội dung môn sử thường sa vào các mốc thời gian, địa điểm và số liệu khô khan buộc học sinh phải nhớ nên khó học; do phương pháp giảng dạy của các thầy cô chưa đổi mới... và do tâm lý học sinh chưa chú trọng môn sử. Vậy nếu các nguyên nhân trên là đúng thì tại sao đã trải qua hơn ba nhiệm kỳ Quốc hội mà ngành giáo dục vẫn chưa có giải pháp, biện pháp khắc phục, chưa thể tạo ra sự chuyển biến về việc học tập lịch sử của học sinh? Phải chăng do khả năng và trình độ của ngành giáo dục nước nhà không tìm ra cách khắc phục có hiệu quả, hay là do nguyên nhân nêu ra chưa đúng , chưa chỉ rõ được nguyên nhân chủ yếu? Dẫn đến những yếu kém này kéo dài từ nhiệm kỳ này sang nhiệm kỳ khác.

       Theo tôi nó thuộc về vế thứ hai chính là những người lãnh đạo ngành giáo dục chưa chỉ ra được nguyên nhân chính chủ yếu của những hạn chế nêu trên, vậy nguyên nhân chính chủ yếu là gì?

       Trước hết tôi không bác bỏ các nguyên nhân mà Bộ trưởng đã nêu ra (do nội dung bài học nặng về số liệu, mốc thời gian, địa điểm...; do phương pháp giảng dạy của thầy cô giáo...; do tâm lý học sinh...) song theo tôi đó chưa phải là nguyên nhân chủ yếu mà chỉ là những nguyên nhân thứ yếu ; quan trọng chủ yếu chính là hai nguyên nhân sau đây:

      Một là ngành giáo dục chưa đánh giá đúng vị trí của môn sử học, chưa nhận thức rõ vai trò có ý nghĩa quyết định của môn lịch sử trong xây dựng lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, một yếu tố quyết định đến sức mạnh của tiềm lực chính trị tinh thần của một dân tộc, một nội lực tiềm tàng mà một khi được khai thác, phát huy nó sẽ làm nên những thành công có lúc ngoài cả sức tưởng tượng bình thường, điều này đã được khẳng định trong lịch sử và thực tiễn của đất nước trong thời kỳ qua. Từ đó chưa xem môn lịch sử là một môn học bắt buộc, và là một môn thi chính trong từng cấp học và cả toàn bộ giai đoạn giáo dục phổ thông. Thậm chí có lúc ngành giáo dục còn xem nhẹ đến mức đề xuất tích hợp môn lịch sử vào cùng môn giáo dục công dân, môn đạo đức học... tôi có thể khẳng định rất ít quốc gia nào xem nhẹ môn lịch sử như ở nước ta và với cách nhìn nhận như vậy thì hệ quả tất yếu là môn sử mãi sẽ là một trong những môn có chất lượng học tập kém nhất của học sinh.

   Hai là nội dung giáo dục lịch sử không phải là khô khan chỉ số liệu, mốc thời gian, địa điểm... nếu không có mốc thời gian, địa điểm, không có số liệu thì còn gì là môn sử; bởi vì khi nói đến lịch sử là nói đến thời gian, địa điểm, con người, sự kiện, kết quả và thông qua đó rút ra cho người học ý nghĩa để bồi dưỡng lòng yêu nước, thương nòi, niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Nhưng ở đây chính nội dung lịch sử trong sách giáo khoa gần hai chục năm qua đã bị xuyên tạc và bóp méo, làm cho người dạy cũng cảm thấy không chính sử , không đúng sự thật, thậm chí là đảo ngược sự thật và hậu quả là giữa sách giáo khoa mà thầy cô dạy cho học sinh trái với truyền thống và nhận thức lịch sử của đa số nhân dân. Điều này làm cho tâm lý người dạy và người học đều bị phân tâm, mà một khi lên lớp cả chủ thể và khách thể đều bị phân tâm thì làm sao tập trung dạy và học tốt được. Ví dụ: Trong khi chúng ta nói Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, ai làm tay sai cho giặc đều có tội với nhân dân. Thế nhưng một kẻ cả cuộc đời cúc cung phục vụ cho thực dân Pháp như Trương Vĩnh Ký lại là người yêu nước , là nhà bác học nổi tiếng, là danh nhân văn hoá của dân tộc, hay như khi nói về lòng yêu nước thì có nhiều cách yêu nước khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về lợi ích và mục tiêu từ đó Phan Thanh Giãn, Nguyễn Ánh cũng yêu nước... vậy thì yêu nước như thế nào là đúng, tại sao kẻ làm tay sai cho giặc là yêu nước, trong khi sử đề cao câu nói của vua Lê Thánh Tông “Nếu các ngươi cắt một tấc đất cho giặc thì phạm tội tru di“ thì Phan Thanh Giản cắt 1/4 giang sơn cho giặc lại là người yêu nước... hay là khi nói về Lê Văn Tám, ngọn đuốc thiêng, biểu tượng của lòng yêu nước Việt Nam thì người đứng đầu ngành sử học Việt Nam lại cho rằng đây là câu chuyện tự đặt ra để tuyên truyền...

      Như vậy cần phải nhận thức đúng đắn việc tập trung khắc phục mặt yếu kém của việc học lịch sử, chính là khắc phục mặt yếu kém trong giáo dục truyền thống, văn hoá dân tộc, trong xây dựng lòng yêu nước , củng cố tiềm lực chính trị tinh thần của dân tộc, có nhận thức đúng như vậy thì ngành giáo dục mà trực tiếp là Bộ giáo dục đào tạo mới xác định đúng vai trò, vị trí của môn lịch sử, phải đưa môn lịch sử là một trong những môn học chính và thi ở các cấp học, chỉ có như vậy học sinh mới quan tâm đến môn lịch sử, ngành sư phạm mới quan tâm đào tạo nên một đội ngũ những thầy cô giáo giảng dạy lịch sử tâm huyết và có trách nhiệm không chỉ với học sinh mà còn là trách nhiệm với Dân tộc. Đồng thời phải chấn chỉnh việc biên soạn sách giáo khoa, đừng để một số người đã và đang lợi dụng cải cách, biên soạn sách lịch sử lồng ghép nội dung bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận và đánh tráo lịch sử, không thể để những chuyện hoang đường như ngọn đuốc sống Lê Văn Tám là không có thật ; kẻ cõng rắn cắn gà nhà , rước voi dày mã tổ Nguyễn Ánh thành người có công; hay như kẻ đã cắt gần 1/4 giang sơn cho giặc Phan Thanh Giản lại thành người yêu nước , thương dân ; kẻ cả đời làm tay sai cho giặc Trương Vĩnh Ký trở thành danh nhân đất nước v...v... chỉ khi nào sách sử và bia miệng truyền đời thống nhất với nhau thì lúc đó cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ thầy , cô giáo dạy sử chắc chắn chúng ta sẽ khắc phục được việc khô sử , nhạt sử và dốt sử như hiện nay.

       Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã khẳng định “ Dân ta phải biết sử ta . Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam “ thiết nghĩ không phải ngẫu nhiên mà Bác dặn dò như vậy . Một Dân tộc mà mỗi con dân lại không hiểu biết đầy đủ lịch sử nước nhà thì làm sao có lòng yêu nước , làm sao có niềm tự hào , tự tôn dân tộc , và một khi thiếu cái gốc cơ bản đó thì sẽ nẩy sinh tư tưởng tự ty , tự nhục , nhược tiểu đớn hèn, vọng ngoại ... , và ngày nay chúng ta đã và đang trả giá cho việc xem thường môn học lịch sử . Một cảnh báo mà Quốc hội cần phải có quyết sách kịp thời để khắc phục khi còn chưa muộn./.


Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn -  Nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, TCCT / QĐND Việt Nam.

Yêu nước ST.

10 CHIẾN DỊCH THẦN KỲ TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM!

1. Trận chiến trên sông Bạch Đằng (938)

Trước khi tử trận trên sông Bạch Đằng năm 938, Lưu Hoằng Tháo không thể tưởng tượng việc quân dân người Việt do Ngô Quyền lãnh đạo sẽ tận dụng quy luật thủy triều để biến những bãi cọc ngầm cắm dưới lòng sông thành thứ vũ khí hủy diệt có sức mạnh kinh hồn. Thảm bại trong trận Bạch Đằng, quân Nam Hán đã phải bỏ mộng xâm chiếm nước Việt.


2. Chiến thắng quân xâm lược nhà Tống (1075)

Năm 1075, trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, vua quan nhà Lý đã đưa ra chủ trương "Tiên phát chế nhân", đem quân sang đất địch đánh trước để chặn thế mạnh của chúng. Lý Thường Kiệt đã chỉ huy 40.000 quân đánh các châu Khâm, Liêm trên đất Tống, hạ hàng loạt thành lũy, hủy hoại nặng nề sinh lực của quân Tống, khiến kế hoạch xâm lược của chúng bị trì hoãn, tạo điều kiện cho quân ta củng cố lực lượng và giành thắng lợi trong cuộc quyết chiến sau này.


3. Đại thắng quân Nguyên Mông (1288)

Trên sông Bạch Đằng năm 1288, chiến thuật chôn cọc gỗ kinh điển mà Ngô Quyền sử dụng 350 năm trước lại được Trần Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn tái hiện. Trong trận thủy chiến được đánh giá là lớn nhất lịch sử dân tộc này, quân Đại Việt đã đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Nguyên Mông - đội quân thiện chiến nhất thế giới thời đó.


4. Trận chiến tiêu diệt chiến hạm của Công ty Đông Ấn Hà Lan (1643)

Mùa hè 1643, Công ty Đông Ấn Hà Lan - thế lực hải quân hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc đó - phái 3 pháo hạm mạnh hội quân với họ Trịnh tại sông Gianh (Quảng Bình). Trong hải trình, hạm đội này đã bị gió thổi dạt vào gần cảng Eo ở Đàng Trong (Thừa Thiên - Huế). Dù có ý kiến can ngăn vì sợ người Hà Lan, chúa Nguyễn vẫn đưa 50 thuyền chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt chiến hạm lớn nhất của kẻ thù, khiến hai chiến hạm còn lại bỏ chạy. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử người Việt chiến thắng một hạm đội châu Âu, đồng thời cũng là một sự tổn thương nặng nề đối với thanh thế của Công ty Đông Ấn Hà Lan.


5. Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh (1788)

Cuộc Bắc tiến đại phá quân Thanh do Hoàng đế Quang Trung tiến hành cuối năm 1788, đầu năm 1789 được coi là một cuộc hành quân thần tốc khó tin trong lịch sử dân tộc. Từ Phú Xuân (Huế), Hoàng đế Quang Trung chỉ mất 40 ngày (trong đó có 10 ngày dừng lại tại Nghệ An tuyển quân) đưa đại quân tiến về Thăng Long đánh đuổi quân Thanh. Do không thể tin quân Tây Sơn có thể tiến nhanh như vậy, quân xâm lược đã hoàn toàn mất cảnh giác và phải chịu sự thảm bại nặng nề.


6. Trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại (1801)

Trong trận đại thủy chiến ở đầm Thị Nại diễn ra giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn vào năm 1801, quân Nguyễn đã sử dụng lối đánh tập kích thọc sâu bất ngờ và đòn hỏa công tương tự trận Xích Bích diễn ra ở Trung Hoa 16 thế kỷ trước để hủy diệt hạm đội khổng lồ, tưởng như không thể nào bị đánh bại của quân Tây Sơn. Với thất bại này, thủy quân Tây Sơn hầu như đã sụp đổ hoàn toàn, nhường cho nhà Nguyễn nắm giữ quyền kiểm soát vùng biển.


7. Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Người Pháp từng tin rằng căn cứ Điện Biên Phủ là một pháo đài không thể công phá. Tuy vậy, bằng tài năng quân sự tuyệt vời của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã biến niềm tin của họ trở thành sự tuyệt vọng với chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.


8. Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968)

Trước khi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, ngay cả những người Mỹ có trí tượng tượng phong phú nhất cũng không thể hình dung nổi cảnh các chiến sĩ Giải phóng đánh trực diện vào các địa điểm trọng yếu tại Sài Gòn như Toà Đại sứ quán Mỹ, dinh Tổng thống, đài phát thanh, bộ Tổng tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất... Chiến dịch quân sự này đã gây tiếng vang lớn, tạo bước đột phá buộc Mỹ xuống thang chiến tranh đi vào đàm phán.


9. Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (1972)

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972, lực lượng phòng không - không quân của miền Bắc Việt Nam đã làm được điều mà người Mỹ không thể tin nổi: Bắn hạ 34 “siêu pháo đài bay” B-52, đập tan hoàn toàn mưu đồ kéo dài chiến tranh của Mỹ và buộc họ phải quay trở lại bàn đàm phán tại Paris.


10. Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975)

Cuối tháng 9/1974, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Hà Nội đã đưa ra bản dự thảo kế hoạch chiến lược Chiến dịch mùa xuân 1975, dự định hoàn thành việc thống nhất 2 miền Bắc - Nam trong 2 năm 1975-1976. Tuy vậy, với tinh thần “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Mùa Xuân 1975 đã được tiến hành khẩn trương và quyết đoán, đem lại chiến thắng cuối cùng cho dân tộc vào ngày 30/4/1975./.










Yêu nước ST.

CHÚNG TÔI ĐÃ SỐNG NHỮNG NGÀY NHƯ THẾ!!!

     Năm 1965 khi mỹ đổ quân ồ ạt vào sâm lược Miền Nam. Thì đầu năm 1966 Bác Hồ ra lời kêu gọi quân dân cả nước lên đường đánh Mỹ. Ngày ấy nông dân thì giời bỏ cuốc cày, công nhân tạm xa nhà máy, còn cánh học sinh chúng tôi thì chia tay bạn bè - thầy cô - mái trường thân yêu của mình để xung phong lên đường nhập ngũ.

Ngày lên đường Mẹ nấu một nồi cơm ko độn sắn để nắm cho con một nắm cơm to cho con mang đi ăn hoà trong nước mắt nhạt nhoà. Chị gái giúi vào tay em cái bàn chải và hộp thuốc đánh răng mới tinh rồi vội quay đi vì ko thể cầm được dòng nước mắt!!!!

Ngày ấy cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đang vào thời kỳ ác liệt nhất nên đoàn tầu QS chỉ có thể đưa chúng tôi đến ga Tía của Hà Nam Phủ Lý là chặng đường cuối cùng chúng tôi được hành quân bằng cơ giới. Thế là cuộc hành quân đi bộ suốt chiều dài đất nước bắt đầu. Với hơn 30kg trên lưng. Những ngày trên đất Bắc cứ ngày nghỉ đêm đi. Đi mãi cũng hết đất Quảng Bình. Chia tay với chúng tôi khi dời đất Bắc là một hàng dài những bia mộ của các chị em TNXP hy sinh khi đi mở đường 20 Quyết Thắng. Các chị ấy còn chẻ lắm toàn 17-18 có chị mới 16 tuổi mấy ngày!!!! Hình ảnh ấy cứ in sâu mãi vào tâm chí chúng tôi cho đến tận bây giờ!!!

Đường Trường Sơn ngày đó đúng nghĩa là một con đường mòn thật sự. Đi lên lỏi trong cây cối dâm dạp. Muỗi, vắt, rắn, rết, bọ cạp bu đầy. Đường thì chơn dốc thì cao trời thì mưa sối xả. Nắm cơm mấu bằng thứ gạo ẩm mục hôi mù chộn đầy sạn cát. Ăn vội giữa rừng với nước mưa và cả nước mắt của mình...

Ấy thế mà vào mùa khô thì trời lại nắng nóng như rang. Đi cả mười mấy tiếng đồng hồ mới tìm được nơi có nước. Một bi đông nước khi khát chỉ giám uống từng ngụm nhỏ chia ra để đủ uống cả ngày. Bộ quần áo Tô Châu mướt xanh mầu lá giờ chở thành cái mo nang loang lổ mầu trắng của mồ hôi muối. Dìm xuống nước nó vẫn cứ nổi lên. Có lẽ nó ko thể ngấm thêm được gì ngoài mồ hôi của lính. 

Nước lũ chết - cây đổ chết -côn trùng cắn chết - sôt rét chết - kiệt sức chết!!!! Những người còn lại vẫn đi. Đi mãi đến khi đến cái quai dép cao su cũng mòn vẹt chứ ko nói gì đến cái đế!!! Chúng tôi cũng đến được chiến trường. 

Đón chúng tôi ở đất Tây Ninh là B52 là pháo bầy là đạn nhọn là chất độc hoá học phủ kín rừng. Những tưởng vào đến đây được nghỉ ít ngày cho lại sức. Nhưng chiến tranh làm gì có ngày nghỉ dưỡng.

Hàng đêm thấy các anh chị f5-f9 hành quân như chảy hội. Thấy các anh chị ấy bảo đây là chận đánh cuối cùng. Tiến vào Sài Gòn chúng mình sẽ có tất cả!!! Nghe vui quá bọn lính mới phấn khởi cũng bỏ lại tất cả. Bỏ cả mệt mỏi lo sợ để tiến về Sài gòn!!! Nhưng chiến tranh đâu có đơn giản như điều ta suy nghĩ. Chiến tranh như một cái lò thiêu không đáy. Nó thiêu rụi biết bao nhiêu con người ném vào đó. Nó còn làm héo khô cả ý chí nghị lực của những người chưa đến lượt được ném vào lò. Đã thế mùa mưa lại ập đến. Hầm hào thì ngập nước. Côn trùng thì đua nhau sinh sôi nẩy nở. Bệnh sốt rét thì kéo đến hoành hành. Người sốt ác tính thì chỉ chụ được vài ngày thậm chí vài giờ . Người sốt theo cơn thì hai tay hai gậy còn ko đứng vững. Chiến trường ác liệt thiếu thốn đủ bề.

Có mấy lọ thuốc tiêm thì phải dành tiêm cho người bị ác tính. Mà tiêm thì cũng có xung sướng gì đâu. Vô trùng ko tốt thì áp xe thối thịt . Còn cái kim tiêm thì cùn chơ. Mấy ông y tá phải phóng như phóng lao vào mông mới đâm qua gia được. Chẳng may nó đâm vào dây thần kinh thì bại liệt mang dị tật suốt đời. Đã thế giờ ăn uống thiếu chất lại còn bệnh quáng gà phát triển. Cứ tối đến là chả nhìn thấy gì ko khác thằng mù giở!!! Bệnh sốt rét  nó quái gở ở chỗ đã thiêu đốt hồng cầu của con người nó lại làm cho con người ta ko thể nào ăn được. Cứ ngửi thấy mùi cơm là nôn thốc nôn tháo. Để có gạo và để nấu được một nồi cơm trong chiến đấu là vô vàn khó khăn. Ấy thế mà nấu cơm xong chả có ai thèm ăn cả. Người ta thường nói ko ăn thì mẻ cũng chết chứ nói j đến người . Thế là đv phải ra nghị quyết: “Phải ăn”. Cán bộ đảng viên ăn trước anh em đv ăn cùng . Vâng phải ăn! Nín thở lại đưa miếng cơm vào mồm! Ối trời nó chưa vào đến họng thì mọi thứ dịch lỏng trong dạ dày đã đua nhau phun trào ra hết. Đặt bát xuống nhắm mắt lai lấy lại quyết tâm để ăn để nuốt!!!

Ăn cố vào để có sức, để đêm nay người còn chống được gậy khênh người ko còn chống được gậy nữa! Người còn chưa đến lượt mù giắt díu người đã mù... Phá vòng vây địch!!!!

Cùng thời điểm ấy B2 lại yêu cầu những người còn sống viết thư về động viên quê hương Miền Bắc. Viết gì bây giờ? Chả nhẽ lại viết sự thật chiến trường à? Thế thì chỉ làm khổ người thân chứ làm vui được gì cho họ! Thế là một lần nữa những người đang cận kề cái chết lại phải dùng những lời lẽ có cánh nhất để an ủi động viên những người ở rất xa cái chết hãy tin tưởng vững tin vào ngày mai chiến thắng!!!

Những lời “Nói dối ngọt ngào“ ấy ko biết có đến tay người nhận được hay ko! Nhưng nó đã có tác dụng thức tỉnh ý chí chiến đấu kiên cường của những người lính. Để họ mạnh mẽ đứng thẳng lên bằng chính đôi chân của mình. Để tiếp tục chiến đấu đến ngày toàn thắng!

Ngày ấy đa phần chúng tôi còn rất trẻ. Rất nhiều người chưa một lần nắm tay người khác giới ngoài mẹ với chị em gái của mình. Nên chúng tôi thường nói với nhau rằng: chúng mình hy sinh vì tương lai con em ông bà hàng xóm. Lý tưởng chiến đấu của chúng tôi chỉ đơn giản như vậy đấy. Hy sinh để dành cuộc sống độc lập tự do hạnh phúc cho tất cả những người mang dòng máu Lạc Hồng chứ ko dành cho giêng mình tất cả !!! 

Vẫn biết là viết lách ở tuổi chúng tôi là quá sức là múa rìu qua mắt thợ. Nhưng nếu chúng tôi ko viết ko kể thì làm sao con những ông bà “hàng xóm” CÓ TÂM có thể biết có thể nhớ có thể biết ơn những người đã hy sinh hết cả máu sương của họ cho đất nước có ngày hôm nay. Nếu những người còn sống như chúng tôi ko viết ko kể thì lại để đồng đội chúng tôi lại chết một lần nữa trong cô đơn hưu quạnh nữa xao?

Thôi thì đây cũng là một nén tâm nhang tuy ko ngát thơm như trầm hương thực sự thì cũng sâu đậm nghĩa tình để những anh linh của đồng đội tôi ấm lòng nơi chín suối!!!

Chúng tôi đã có những ngày sống như thế đấy . Các bạn nào có tấm lòng ghé thăm, thấy câu cú hay lỗi chính tả thì hãy dùng những tri thức của mình được đào tạo bài bản từ nhà tường xã hội, gia đình tự sửa giúp tôi nhé. Âu đó cũng là nén tâm nhang mà bạn đã thắp cho vong hồn đồng đội chúng tôi ở nơi xa săm mà ko bao giờ lạnh lẽo ko bao giờ bị lãng quyên bạn nhé./.


Môi Trường ST.

NHỮNG NGƯỜI BẠN, NGƯỜI ĐỒNG CHÍ, ANH EM- NGA ĐÃ GIÚP VIỆT NAM CHÚNG TA CHÍ NGHĨA CHÍ TÌNH TRONG LÚC CHÚNG TA BỊ KẺ THÙ BAO VÂY CẤM VẬN!

     Hơn 40 năm trước người Nga giúp Việt Nam chinh phục dòng Sông Đà hung dữ, xây dựng nhà máy thủy điện ngăn lũ cho đồng bằng Bắc Bộ. Hơn 40 năm trôi qua, bây giờ Liên Xô cũng không còn, những kỹ sư Liên Xô trên đại công trường Thủy điện Hòa Bình ngày đó nếu còn cũng đã tới tuổi "Thập cổ lai hi". Không biết ai còn nhớ tới họ, nhớ tới những công trình cao cả của những người anh em Cộng sản không nhỉ?

Và bây giờ lớp trẻ sau này họ ca thán "giá như đừng đuối đi một nền văn minh của Pháp, hay như đừng đánh Mỹ thì Việt Nam giàu ngang Hàn, Nhật". Quê mình năm 1996 có điện, đúng sau 2 năm khi tổ máy cuối cùng của Thủy điện Hòa Bình đi vào hoạt động, chấm dứt một thời kỳ đèn dầu mà mỗi lúc ngồi vào bàn học cay xè nước mắt.

Mùa thu năm 1971, miền Bắc trải qua trận đại hồng thủy "250 năm mới gặp một lần". 400 km đê vỡ, 500 nghìn ha lúa mất trắng. Nước sông Hồng dâng xấp xỉ mặt cầu Long Biên. Ngành giao thông phải điều một đoàn tàu chở đá hộc lên trấn giữ mặt cầu để không bị lũ cuốn phăng.

Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng khi đó đưa đoàn đại biểu cấp cao Liên Xô đi thị sát lụt ở Hà Bắc. Đứng trên triền đê nhìn ra mênh mông nước, ông mong muốn Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng một công trình để cắt lũ cho đồng bằng sông Hồng.

Cũng chính từ đây công trình Thủy điện Hòa Bình manh nha hình thành và dần đi vào hiện thực. Có thể nói rằng lịch sử thường rất công tâm nếu không có người Nga chúng ta có lẽ chưa biết bao giờ có dòng điện quốc gia đầu tiên của cả nước. Mà trước đó người Pháp từng tuyên bố "Sông Đà bất trị". Và ngược lại nếu không có người Mỹ thì chúng ta sẽ không bị chia cắt 20 năm, không có hàng triệu tấn bom đạn trút trên làng mạc ruộng đồng người Việt, không có những e bé da cam mà dù 40 năm trôi qua hậu quả còn dai dắng nặng nề. Nhìn lại lịch sử để xem ai là bạn là thù để có cái nhìn công tâm đối với lịch sử.

Nếu nhiều người hỏi Liên Xô được gì ở đất nước này? Không gì cả, nuôi cho Việt Nam biết bao nhiêu du học sinh, tạo cho hàng ngàn lao động ở Đông Âu mà nhiều người nhờ đó giàu sụ lên trong khi đất nước còn khốn khó, ngay như tỷ phú của Việt Nam bây giờ Phạm Nhật Vượng cũng được nuôi dưỡng bằng bánh mỳ của nước Nga. Nhưng giờ thì sao? Đám đi Liên Xô tầm 8x chúng chửi Liên Xô không ra gì... đó là sự vong ơn bội nghĩa.

Còn người Mỹ để lại gì cho đất nước này qua 20 năm cai trị Miền Nam?

Không gì cả, lòng người ly tán phân tranh, ngoài bom đạn và những nghĩa trang đầy ắp ngôi mộ. Và ngay bây giờ chúng vẫn đang thò cây gậy "nhân quyền" vào đất nước chúng ta, điều mà hơn 40 năm trước chúng chưa bao giờ làm được, chỉ thay đổi phương thức từ súng đạn sang đồng đô la mà thôi./.


Môi Trường ST.

Khi một chú xe ôm hỏi tôi kết hôn chưa và tôi trả lời là “chưa”, gương mặt chú lộ rõ vẻ thất vọng. Chú cho rằng tôi đang làm một sai lầm lớn nhất trong cuộc đời. Nhưng tôi không thấy bị phiền mà ngược lại, cảm thấy lời chú xe ôm nói thật thú vị. Tôi thực sự quan tâm đến lối suy nghĩ của mọi người và họ thường khuyên tôi sống theo cách mà họ đang sống. Tôi đã bị rất rất nhiều người hỏi về lý do vì sao vẫn chưa có vợ nên đã có kinh nghiệm. Nếu chúng ta nhìn trái đất từ bên ngoài, những vì sao và con người chỉ là những con kiến, mục tiêu kết hôn trở thành một điều rất nhỏ trong nền văn minh vĩ đại. Mỗi người có một lối sống khác nhau. Có người chọn con đường tu hành, sống trong chùa và thiền định. Một số nghệ sĩ chọn cống hiến hết mình cho sự chân thật, sáng tạo nghệ thuật dù không biết bao giờ nỗ lực của họ mới thành công, nhưng họ chấp nhận rủi ro vì đam mê. Nhiều nghệ sĩ tôi biết sáng tạo tốt hơn khi họ độc thân. Bản thân tôi đang viết và buộc phải cải thiện khả năng viết châm biếm của mình. Công việc này không giúp tôi kiếm nhiều tiền để trở nên giàu có, đặc biệt ở Việt Nam. Tôi sống độc thân nhưng tạo niềm vui bằng sở thích, giao lưu bạn bè, đặt mục tiêu phấn đấu trong cuộc sống. Bạn đừng hiểu lầm là tôi phản đối kết hôn. Lý thuyết về tâm trí cho rằng tất cả chúng ta đều rất khác nhau và không nhất thiết phải sống theo một mô hình, một phong cách mà xã hội mong muốn. Nhưng ai cũng độc thân thì rất không tốt cho quốc gia và cộng đồng. Xu hướng này làm cho giá trị gia đình lỏng lẻo và thiếu nguồn lao động trong tương lai. Trong cuốn "Bộ lạc", tác giả Sebastian Junger giải thích tại sao gia đình là trái tim của xã hội. Và ở phương Tây, những cộng đồng càng lỏng lẻo sẽ khiến gia tăng tội phạm. Chúng ta không nên khuyến khích mọi người sống độc thân, tôi cũng không có ý định tôn vinh điều đó. Tuần này có một ngày gọi là ngày độc thân, tôi thấy mọi người nhắc đến từ "ế" với nhiều mục đích và sắc thái. Ngôn ngữ phương Tây không có từ có thể dịch cho từ "ế" vì nó là khái niệm không đẹp, có hàm ý chê bai và bắt nạt với người bị gán cho từ này. Tôi cho rằng nó phản lãng mạn và hạ thấp ý nghĩa của tình yêu. Nếu người độc thân muốn kết hôn chỉ vì họ cảm thấy bị áp lực bởi "ế" trong mắt xã hội chứ không phải vì cần sống với một người phù hợp. Điều này thật đáng tiếc. Đáng tiếc nữa là tôi thấy vào ngày 11/11, người ta không tôn vinh vẻ đẹp của tình yêu chân chính mà nó bị biến thành ngày chủ yếu để bán hàng. Có nhiều quảng cáo tôi đọc, cảm thấy cứ như là người độc thân thiếu thốn quá, hãy mua thêm hàng hiệu, quần áo, tiêu xài thêm nữa đi và bạn sẽ thấy đời bớt cô đơn trống trải. Tôi tự hỏi, sẽ có những người lấp đầy trái tim họ bằng thức ăn hoặc rượu, hoặc các sản phẩm quảng cáo chăng? Ngày độc thân cũng tốt nếu nhìn từ khía cạnh có thêm một dịp để kích thích kinh tế. Nhưng theo tôi, ngày này sẽ trở thành ngớ ngẩn nếu chỉ dùng để quảng cáo bán sản phẩm, khiến mọi người vòng vòng ngoài đường, và rồi mua hết tiền, cảm thấy thiếu thốn hơn. Ngày độc thân nên là cơ hội để chúng ta nói về mặt tích cực của tình yêu và kết hôn. Nếu chính phủ muốn công dân trẻ tích cực kết hôn và sinh con thì điều này rất tốt cho quốc gia trong tương lai. Nhiều nơi có thể tận dụng ngày độc thân để tổ chức những sự kiện cộng đồng nhằm giúp người độc thân tìm được chân ái của cuộc đời để đi đến hôn nhân. Tôi rất nhớ những ngày thành phố nhỏ của tôi ở Canada tổ chức các hoạt động khiêu vũ và giao lưu để người trẻ có thể gặp gỡ tìm hiểu nhau ngoài Internet. Các công ty vẫn có thể tận dụng ngày này làm tiếp thị, nhưng đừng biến nó thành một sự phản kháng chống lại khái niệm "ế". Chúng ta nên xóa khái niệm này khỏi từ điển, không sử dụng sự xấu hổ để ép mọi người vào mối quan hệ với người không dành cho họ. Dù thế giới có thay đổi, nhiều người giàu có hơn, phương tiện truyền thông xã hội chi phối mạnh hơn, của cải, tính toán không thể thay thế chủ nghĩa lãng mạn. Tôi tin rằng tình yêu là cảm giác mạnh mẽ nhất của loài người. Nó cho ta sức mạnh khiến ta muốn làm việc, đấu tranh vì lẽ phải, cống hiến cho xã hội nhiều hơn. Dưới góc độ khoa học, hormone oxytocin sinh ra bởi tình yêu gắn kết người mẹ với đứa con và những người yêu nhau. Vì người mình yêu quý, ta có thể chịu vất vả, dậy sớm hơn, tập thể dục nhiều hơn, làm việc chăm chỉ hơn để nuôi gia đình và mang lại lợi ích cho xã hội. Để thoát "ế" cũng dễ. Tập thể dục để khoẻ hơn, thay đổi bản thân bằng suy nghĩ tích cực, làm tốt sở trường, ra khỏi nhà và đến nơi có những người cùng sở thích như mình. Và quan trọng nhất, khi gặp một ai đó, việc đầu tiên mình nên mỉm cười, không khí sẽ vui vẻ và thân thiện hơn là nhăn mặt. Tiếng Anh có một từ "sheepish", dịch sát nghĩa đen là "như con cừu", nghĩa bóng của từ này là cảm thấy ngại và không tự tin. Giống như lúc độc thân và muốn rủ cô gái đi chơi mà mình "sheepish" thì lại im lặng. Có lẽ vì thế mà tôi tiếp tục bị "ế" dài dài.

Tiêm đủ liều vacxin đã an toàn?


Thích ứng với cuộc sống bình thường mới, nhiều người nghĩ rằng chỉ cần tiêm đủ liều vaccine phòng Covid-19 sẽ an toàn. Đây là suy nghĩ sai lầm, thiếu hiểu biết và đe dọa trực tiếp đến sự an toàn của cả cộng đồng.

“Nhân quyền” không phải là thứ đem ra để mua bán




Dùng "nhân quyền" để ra điều kiện trong quan hệ ngoại giao, "nhân quyền" để đổi chác, ràng buộc các điều kiện kinh tế... đó là những điều đang đi ngược lại với xu thế "hòa bình, ổn định, hợp tác" giữa các quốc gia dân tộc. Một số cá nhân, tổ chức, nhà nước tự cho mình quyền được phán xét, quyền đưa ra quyết định nên đã sẵn sàng bất chấp mọi điều ước quốc tế, hệ thống pháp luật quốc gia để vu khống Việt Nam vi phạm, bóp nghẹt quyền con người.

Cán bộ công an chĩa súng vào nhân viên y tế

LÂM ĐỒNG Bị nhắc nhở do không đeo khẩu trang khi đưa con đi cấp cứu, nam công an rút súng khiến nhiều nhân viên y tế hoảng sợ. Sự việc xảy ra tại Trung tâm Y tế huyện Đức Trọng tối 11/11. Lúc này, Nguyễn Duy Ngọ, 31 tuổi, công tác tại Công an huyện Lâm Hà, lái ôtô chở người phụ nữ bế em nhỏ đến trung tâm y tế này cấp cứu. Khi tới sảnh, bị nam nhân viên y tế nhắc nhở do không đeo khẩu trang, Ngọ lớn tiếng, chửi tục, rút súng ngắn chĩa vào hai nhân viên y tế dù người đi cùng can ngăn. Hành động của nam công an được camera an ninh trung tâm y tế ghi lại. Ngày 13/11, sau khi video đăng tải lên mạng xã hội, Công an tỉnh Lâm Đồng bước đầu xác định hành vi rút súng của Ngọ là "quá khích, thiếu chuẩn mực và vi phạm các quy định của ngành". "Cán bộ này đang trực thì con bị sặc sữa phải đưa đi cấp cứu, do vội nên không đeo khẩu trang và nóng ruột dẫn đến mất bình tĩnh", đại diện Công an tỉnh Lâm Đồng nói và cho biết đang làm rõ để có hình thức xử lý theo quy định.