Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

 

Tình cảm của Bác Hồ đối với bộ đội hải quân

Trong quá trình xây dựng, phát triển, chiến đấu và trưởng thành, bộ đội hải quân luôn nhận được sự quan tâm của Bác Hồ kính yêu. Ba lần được vinh dự đón Bác về thăm và Người đã để lại cho cán bộ, chiến sĩ hải quân những tình cảm yêu mến, những lời căn dặn sâu sắc, chan chứa ân tình.

Ba lần được đón Bác về thăm

Ngày 31-3-1959, lần đầu tiên Bác Hồ về thăm bộ đội hải quân. Người đi thăm Trường Huấn luyện bờ bể (tiền thân của Học viện Hải quân ngày nay) và Xưởng 46. Tàu 524 của Đại đội 3 được vinh dự đưa Bác đi thăm và kiểm tra một số đơn vị trên vùng biển Hạ Long. Trên đường đi, Bác đã nói nhiều về việc xây dựng lực lượng hải quân, cũng như công tác giảng dạy của Trường Huấn luyện bờ bể. Người nhấn mạnh: “Thời chống Pháp, ta chưa có lực lượng hải quân, bây giờ các chú được đi học tập ở nước ngoài về để xây dựng và phát triển lực lượng. Muốn xây dựng lực lượng hải quân làm tốt công tác bảo vệ biển, đảo và thềm lục địa, phải nghiên cứu làm sao cho phù hợp với vùng biển Việt Nam”.

 

Bác Hồ thăm bộ đội hải quân ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc (năm 1959).

Bác Hồ thăm bộ đội hải quân ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc (năm 1959).


Ngày 16-3-1961, Bác Hồ về thăm bộ đội hải quân lần thứ hai, Người đã nhấn mạnh: “Biển đảo nước ta có vị trí rất quan trọng. Vì vậy, nhiệm vụ của Hải quân trước mắt cũng như lâu dài rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Phải biết tìm cách đánh cho phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có. Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không được quên truyền thống đánh giặc xa xưa của tổ tiên”. Đó chính là các định hướng chiến lược sáng suốt cho lực lượng hải quân ta và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Người chỉ rõ: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Bác về thăm bộ đội hải quân lần thứ ba vào ngày 13-11-1962 tại Đoàn 135 tàu Phóng lôi - Căn cứ Vạn Hoa, tỉnh Quảng Ninh. Bác căn dặn: “Nâng cao cảnh giác, yên tâm xây dựng đơn vị, đoàn kết, kỷ luật tốt là cốt lõi việc nâng cao sức mạnh chiến đấu…”. Và chỉ hai năm sau đó, bằng trang bị vũ khí của mình trong trận đầu thử lửa, bộ đội hải quân đã bắn rơi 8 máy bay chiến đấu hiện đại của Mỹ. Năm 1965, nhân dịp hải quân ta vừa tròn 10 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ và chiến sĩ hải quân, khen ngợi thành tích, đồng thời vạch rõ sự cần thiết xây dựng lực lượng hải quân vững mạnh trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Nỗ lực tạo nên sức mạnh tổng hợp

Trong điều kiện miền Bắc còn nhiều khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng hải quân phù hợp với tiềm lực phát triển kinh tế, điều kiện môi trường, chiến trường sông, biển nước ta. Người đồng thời chỉ rõ con đường xây dựng Hải quân Nhân dân Việt Nam phải là con đường nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Muốn vậy, “Phải coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ huy; chăm lo cải thiện đời sống tinh thần, vật chất, nâng cao chất lượng kỹ thuật tàu. Thường xuyên rèn luyện toàn diện, phấn đấu không ngừng tiến bộ để xây dựng hải quân mau chóng trưởng thành”. Đến thăm những con tàu, đơn vị đảo, Bác Hồ nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ hải quân phải không ngừng trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng yêu quê hương đất nước. Cụ thể là cán bộ, chiến sĩ hải quân phải “yêu đảo như nhà mình, phải chịu khó cải tạo, xây dựng thành những mảnh đất vừa giàu, vừa đẹp, vừa có lợi cho mình, vừa ích cho đất nước”.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã vừa kế thừa truyền thống đánh giặc của ông cha, vừa tìm cách đánh phù hợp với vũ khí, trang bị và điều kiện cụ thể của nước ta. Hải quân Nhân dân Việt Nam đã nỗ lực phát huy nội lực, huy động nhiều nguồn lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp, khôn khéo, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo; góp phần giữ vững ổn định chính trị để xây dựng và phát triển đất nước. Lực lượng tàu và cán bộ, chiến sĩ hải quân trên các đảo luôn là chỗ dựa vững chắc cho ngư dân lao động, sẵn sàng làm nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn, chữa bệnh và sửa chữa tàu thuyền ngư dân khi gặp nạn trên biển.

Trong thời gian qua, tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, những tình cảm, lời căn dặn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, là động lực thúc đẩy Quân chủng Hải quân trong sự nghiệp giữ gìn và bảo vệ biển đảo.

 

Phát hiện mới về biến chủng AY.4.2

    Cuộc khảo sát về tỷ lệ lan truyền virus SARS-CoV-2 cho thấy biến chủng phụ từ Delta đang phát triển ở Anh ít có khả năng dẫn đến các ca mắc Covid-19 có triệu chứng.

    Nghiên cứu REACT-1 của Đại học Hoàng gia London (Anh) được công bố vào ngày 18/11 cho thấy biến chủng phụ của Delta, được gọi là AY.4.2, đã tăng lên gần 12% trong số mẫu được giải trình tự. Tuy nhiên, chỉ 1/3 người mắc có các triệu chứng Covid-19 thông thường, trong khi đó con số này là gần một nửa ở dòng phụ khác của Delta là AY.4.

    AY.4.2 được cho là biến chủng dễ lây truyền hơn một chút, nhưng chưa có bằng chứng cho thấy nó làm giảm hiệu quả của vaccine hoặc gây bệnh nặng hơn.

    Các nhà nghiên cứu cho biết người mắc Covid-19 ít triệu chứng sẽ có khả năng ít lây lan virus hơn khi ho và cũng giảm nguy cơ bệnh trở nặng.

    “AY.4.2 dường như có vẻ dễ lây truyền hơn nhưng nó cũng ít gây ra các triệu chứng. Đó là một điều tốt", nhà dịch tễ học tại Đại học Hoàng gia London Paul Elliott cho biết.

    Biến chủng AY.4.2 có ba đột biến bổ sung so với biến chủng Delta gốc. Hai trong số đó được gọi là A222V và Y145H, liên quan đến gai protein - "bộ phận" của virus đảm nhận vai trò bám dính vào các tế bào con người.

Một phụ nữ được tiêm vaccine ngừa Covid-19 tại Anh. Ảnh: Reuters.
bien chung AY.4.2 anh 1

Một phụ nữ được tiêm vaccine ngừa Covid-19 tại Anh.

    Nghiên cứu REACT-1 cũng cho thấy rằng mũi thứ ba giúp giảm 2/3 nguy cơ nhiễm bệnh ở người trưởng thành so với những người tiêm hai mũi.

    Trước đó, Đại học Hoàng gia London đã công bố kết quả tạm thời cho thấy tỷ lệ mắc Covid-19 cao nhất ở Anh được ghi nhận vào tháng 10, đặc biệt là ở trẻ em.

    Kết quả đầy đủ của vòng nghiên cứu mới nhất được thực hiện từ ngày 19/10 đến 5/11 đã xác nhận những trường hợp được ghi nhận hàng ngày và các cuộc khảo sát về tỷ lệ lây lan của virus cho thấy mức độ lây nhiễm đã giảm từ mức đỉnh điểm đó, tương ứng với kỳ nghỉ học vào cuối tháng 10.

    Ông Paul Elliott cho biết sẽ cần đợi thêm vài tuần nữa để xác định xem liệu các ca mắc Covid-19 có tăng khi các trường học mở trở lại hay không.

Kỳ vọng thuốc viên điều trị Covid-19 của Pfizer

Thuốc điều trị dạng viên có thể là một công cụ quan trọng trong cuộc chiến chống Covid-19 của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden, nhất là khi mùa đông đang đến gần

Công ty Pfizer (Mỹ) ngày 16-11 đề nghị Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) cấp phép sử dụng thuốc điều trị Covid-19 dạng viên Paxlovid của họ.

"Chúng tôi đang nỗ lực để đưa giải pháp điều trị tiềm tàng này đến tay bệnh nhân sớm nhất có thể. Chúng tôi mong muốn được làm việc với FDA trong quá trình xem xét đơn cấp phép" - Giám đốc điều hành (CEO) Albert Bourla của Pfizer khẳng định.

Tuyên bố trên được đưa ra trong bối cảnh số ca mắc mới đang tăng mạnh trở lại ở Mỹ, chủ yếu do các điểm nóng Covid-19 tại những bang nơi người dân dành thời gian ở trong nhà nhiều hơn vì thời tiết lạnh.

Theo hãng tin AP, Pfizer muốn thuốc uống của họ đến tay người trưởng thành mắc Covid-19 nhẹ đến trung bình và đối mặt với nguy cơ chuyển nặng, tương tự những sản phẩm đang được sử dụng để điều trị bệnh nhân Covid-19.

Tuy nhiên, mọi loại thuốc điều trị Covid-19 được FDA phê duyệt đến nay đều là dạng tiêm và phải được thực hiện bởi người có chuyên môn y tế tại bệnh viện hoặc phòng mạch.

Pfizer đầu tháng này tuyên bố thuốc uống của họ có khả năng cắt giảm tỉ lệ nhập viện và tử vong vì Covid-19 lên đến 89% ở nhóm dân số trưởng thành có rủi ro cao. Pfizer nghiên cứu sản phẩm của họ ở những người chưa được tiêm phòng và đối mặt với nguy cơ lây nhiễm tồi tệ nhất vì tuổi tác và bệnh nền, chẳng hạn như béo phì.

Nếu phê chuẩn sử dụng, FDA sẽ phải cân nhắc việc cung cấp thuốc kháng virus của Pfizer cho những trường hợp đã tiêm phòng đầy đủ nhưng vẫn mắc Covid-19, bởi nhóm này không thuộc diện thử nghiệm.

Để đạt được kết quả tốt nhất, bệnh nhân cần uống thuốc trong vòng 3 ngày kể từ khi bộc phát triệu chứng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của xét nghiệm và chẩn đoán nhanh, vốn có thể là một thách thức nếu làn sóng lây nhiễm mới gây ra tình trạng thiếu kit xét nghiệm và trì trệ trong khâu xét nghiệm như hồi năm ngoái.

FDA đang xem xét thuốc điều trị Covid-19 dạng viên tiềm năng của Công ty Merck (Mỹ) và nhiều hãng dược nhỏ hơn dự kiến trình đơn xin phê duyệt sản phẩm của họ trong vài tháng tới. Pfizer đã ký thỏa thuận với một tổ chức do Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn vào ngày 16-11 để cấp phép sản xuất thuốc điều trị Covid-19 dạng viên giá rẻ cho các nước thu nhập thấp - động thái có thể giúp hơn 50% dân số thế giới tiếp cận phương pháp điều trị này.

Merck cũng đã ký một thỏa thuận tương tự với sản phẩm của họ, vốn được Anh phê chuẩn vào đầu tháng này. Chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden đã cam kết mua thuốc viên điều trị Covid-19 của Merck và theo đài CNN, họ cũng đang lên kế hoạch mua 10 triệu viên của Pfizer.

Chuyện đặc biệt về những thầy giáo mầm non nơi núi rừng xứ Thanh

Hơn 20 năm qua những thầy giáo mầm non vẫn miệt mài đến lớp dạy học, chăm sóc những em thơ ở ngôi trường mầm non xã Thanh Quân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Xã Thanh Quân là xã cuối cùng của huyện Như Xuân nằm giáp ranh với huyện Quỳ Châu, Quế Phong (Nghệ An) và huyện Thường Xuân (Thanh Hóa) với người Thái chiếm khoảng 95%, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng nơi đây đang dần đổi thay vươn lên.

Giữa tháng 11 khi Ngày Nhà giáo Việt Nam sắp tới, chúng tôi vượt gần 100km để đến thăm Trường mầm non Thanh Quân, nơi có 4 thầy giáo mầm non là Lương Văn Cường, Hoàng Thanh Tình, Vi Văn Tiến và Vi Văn Dương đang tận tụy nuôi dạy trẻ mỗi ngày.

Vừa bước vào trường chúng tôi đã bắt gặp thầy Lương Văn Cường (SN 1971) đang cưa cây luồng làm đồ chơi cho các em học sinh. Thầy vui vẻ tiếp chuyện chúng tôi và kể về chuyện nghề của những giáo viên nam dạy mầm non như thầy.  

“Năm 1996 mấy anh em chúng tôi thấy thông báo tuyển sinh nên cùng nhau đăng ký đi học sơ cấp ở trung tâm huyện một thời gian, rồi cùng về quê băng rừng, vượt suối vào các bản dạy trẻ”, thầy Cường kể lại.

Theo thầy Cường, thời điểm đó trong xã Thanh Quân chưa có trường mầm non, lại là vùng đặc biệt khó khăn, vẫn còn nhiều hủ tục lạc hậu nên chính quyền địa phương phải vận động thanh niên đi học để về dạy học cho trẻ. 

Khi đó, có tất cả 6 người nam được cử đi học nhưng chỉ có 5 người theo tới cùng. Lúc về các bản giảng dạy, các thầy được địa phương trợ cấp 50kg thóc mỗi tháng.

Việc nuôi dạy trẻ mầm non đối với giáo viên nữ đã vất vả nhưng đối với giáo viên nam còn khó khăn gấp nhiều lần trong việc dỗ dành, múa hát, cho trẻ ăn uống, vệ sinh... Tuy nhiên, với lòng yêu trẻ, tâm huyết với nghề, các thầy càng cố gắng hơn để nâng cao chuyên môn của mình.

Kể từ ngày đầu đi dạy đến nay đã 25 năm trôi qua, các thầy vẫn lên lớp hằng ngày, chăm sóc từng miếng ăn, giấc ngủ, cùng học cùng chơi với các em thơ như những người cha thứ 2.

Cả 4 thầy giáo đều là người Thái sinh ra và lớn lên ở xã Thanh Quân nên mong muốn  lớn nhất của các thầy là trẻ em nơi đây được đến lớp, đến trường đầy đủ. Chỉ có tri thức mới giúp xóa bỏ cái đói, cái nghèo, hủ tục và xây dựng quê hương ngày thêm đẹp đẽ.

Thầy Vi Văn Dương (SN 1967) lập gia đình năm 1989 rồi đến năm 1996 mới theo học sư phạm mầm non. Vậy nên thầy càng hiểu về giá trị của việc con em được tới trường tiếp cận với ánh sáng tri thức.

Thầy Dương tâm sự: “Trước đây do tình trạng dân trí thấp nên khó có bé gái nào được học hết lớp 9. Vậy nên khi thấy thông báo tuyển sinh giáo viên mầm non tôi đã đắn đo, suy nghĩ rồi quyết định đăng ký theo học với mong muốn sau này giảng dạy cho cả con em mình”.

Đa số học trò đều là người Thái nên khi đến lớp thầy Dương phải làm cầu nối phiên dịch qua lại giữa tiếng dân tộc Thái và tiếng phổ thông để giúp các em hiểu về bài học. Đồng thời thầy cũng dặn dò phụ huynh nói chuyện với con em thì thường xuyên dùng tiếng phổ thông để các em quen hơn.

Chia sẻ về kỷ niệm những ngày đầu theo giáo dục mầm non, thầy Hoàng Thanh Tình (SN 1974) cho biết: "Ban đầu đi học tôi còn bỡ ngỡ nhưng sau được gia đình ủng hộ, bạn bè giúp đỡ thì tôi cũng dần quen với việc học các môn múa, làm đồ chơi... Khi về các bản giảng dạy thấy được sự khó khăn, vất vả của cả trò và gia đình thì tôi càng cố gắng hơn với công việc đã chọn”.

Ở những năm tháng khó khăn, các thầy đã băng rừng, vượt suối đến các bản giảng dạy, thậm chí phải đến từng nhà để vận động đưa các em đến lớp. Đi dạy học mà các thầy còn mang theo đồ dùng cá nhân như dầu gội, xà phòng để tắm rửa cho các em.

Khi nhắc về lý do mình chọn nghề giáo, thầy Lương Văn Cường bồi hồi nhớ lại: "Ngày tôi học xong cấp 2 (năm 1994) thì có chị hàng xóm nhờ dạy trẻ tiểu học cách đánh vần, đọc chữ, học bảng cửu chương... Từ chuyện đó tôi thấy thích ngành sư phạm nên đăng ký đi học làm giáo viên mầm non. Tôi cũng muốn xóa đi những hủ tục, cái đói nghèo bằng tri thức để xây dựng quê hương giàu đẹp".

Theo thầy Cường, khi về bản do địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều sông suối nên để trẻ đến lớp đầy đủ là cả một vấn đề nan giải đối với giáo viên. Các thầy phải đi tuyên truyền, vận động để đưa trẻ đến lớp nhưng chỉ được ngày 1, ngày 2 rồi lại đâu vào đó. Cũng chính vì như thế nên các thầy nảy ra nhiều ý tưởng thu hút học sinh hơn.

“Ở các điểm lẻ thì nhà dân phân bố rải rác ở các sườn đồi, núi nên việc đến lớp gặp nhiều khó khăn, nếu mà đi gọi từng trẻ đến lớp thì sẽ mất gần 1 buổi học nên tôi đã đề xuất với trưởng bản là sẽ dùng mỏ đánh (cái mỏ làm bằng gỗ - PV) để gọi các em đến lớp. Cũng từ đó việc lên lớp của chúng tôi cũng thuận tiện hơn”, thầy Cường chia sẻ.

Không chỉ đưa, đón, dạy trẻ học văn hóa, múa hát, tạo hình,... mỗi buổi trưa các thầy lại thay nhau mang cơm đến các điểm lẻ rồi cùng các đồng nghiệp cho học sinh ăn uống và chăm sóc giấc ngủ cho các em. Ở những thầy giáo mầm non này, chúng tôi thực sự cảm nhận được trái tim ấm áp và lòng tận tụy với nghề giáo cao quý.

Cô giáo sắm thuyền đưa học trò qua suối: Người lái đò tận tụy

Thấy nguy hiểm luôn rình rập mỗi khi học sinh lội qua suối đến trường, cô Nụ đã bán con bò để sắm thuyền, chở các em. 

Bán bò giúp trò qua suối

Năm 2005, cô Quách Thị Bích Nụ tốt nghiệp THPT và muốn theo nghề giáo nên viết đơn tình nguyện xin làm hợp đồng cho một trường mầm non vùng khó của huyện Đà Bắc – nơi cô sinh ra và lớn lên. Trường Mầm non Đồng Ruộng (xóm Hạ, xã Đồng Ruộng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình) là nơi cô đã gắn bó đến nay được 16 năm. Đây là một trong những trường mầm non khó khăn và xa xôi nhất của huyện cũng thuộc diện nghèo nhất tỉnh Hòa Bình.

Trường có 1 điểm chính và 3 điểm lẻ đặt tại các bản: Hày, Hồm và Nhạp. Muốn đến nơi dạy ở điểm bản Nhạp, cô Nụ buộc phải chèo thuyền qua suối chứ không có lựa chọn nào khác.

“Thời điểm tôi nhận công tác, trường mới thành lập được 2 năm. Khi ấy, cơ sở vật chất thiếu thốn, thô sơ. Trường xây trên nền đất gồ ghề nên giáo viên phải bê từng viên đá, xếp bằng mặt sàn cho học sinh tiện sinh hoạt”, cô Nụ kể lại.

Ngày thường, suối Nhạp vốn hiền hòa, song trở nên “hung dữ” bất thường khi mùa lũ đến. Nước cuồn cuộn chảy như muốn nuốt chửng những ai ngang qua. Thấy được nỗi cơ cực ấy, năm 2005 cô Nụ tình nguyện là người đưa đò, hàng ngày chở học sinh qua suối đi học.

Cứ thế, mỗi ngày cô vừa quán xuyến công việc chăm trẻ, vừa tình nguyện đưa đón học trò. Mỗi năm, số học sinh qua đò cũng có biến động. Năm thì có 5 em, có năm lên đến 7, 8.        

Năm 2007 cô lập gia đình, rồi tiếp tục đi học các khóa nâng cao để hoàn thiện chuyên môn, nghiệp vụ. Đó cũng là lúc cô gặp khó khăn nhất khi hai vợ chồng cùng lúc lo toan nhiều công việc.

Sau thời gian dài hoạt động, chiếc thuyền mà cô trò đi lại mỗi ngày đã xuống cấp. Thấy việc đi lại sẽ đối diện với nguy hiểm, cô suy đi, tính lại tìm cách sửa chữa, khắc phục song cũng khó. Bởi khi ấy, với đồng lương ít ỏi của mình, cô không thể tự lo. Thế rồi, cô về bàn bạc, thuyết phục chồng và bố mẹ. Cả nhà thống nhất bán đi con bò, tài sản quý giá của gia đình đi để lấy kinh phí đóng thuyền mới.

Vượt sóng gió

Chia tay chúng tôi, cô Nụ cười hiền tâm sự khi nói về ngày 20/11 đang cận kề: “Với tôi, nghề giáo mang đến cho mình nhiều niềm vui và hạnh phúc. Hạnh phúc bởi mình được làm những điều ý nghĩa mỗi ngày. Tôi hi vọng trẻ nhỏ nơi tôi sống, em nào cũng được đến trường. Mong các em học được nhiều kiến thức để đóng góp, xây dựng quê hương giàu đẹp”.

“Mỗi sáng nhìn thấy gương mặt hân hoan và ánh mắt reo vui đến lớp lại khiến lòng tôi vui đến kỳ lạ. Công việc đơn giản thôi nhưng lại giúp tôi có trách nhiệm hơn với vai trò của cô giáo, một người lái đò”, cô Nụ bộc bạch.

Chặng đường vượt suối không quá xa. Mỗi ngày, cô trò di chuyển chừng đôi, ba cây số, song cũng chẳng ít “sóng gió”. Đó là những khi thuyền mắc vào cành cây khô, loay hoay giữa dòng nước siết. Mỗi lúc như thế, cô Nụ lại phải vận dụng hết sức lực giữ vững tay chèo, đưa học sinh đến bờ bên kia an toàn.

“Là cô giáo mầm non, sự vất vả chỉ người trong nghề mới hiểu. Các con còn non nớt, chưa biết định hình. Vì thế, vai trò của cô giáo rất quan trọng khi vừa phải chăm sóc, vỗ về, rèn các con nếp ăn nếp ngủ, vừa dạy cho các bé những bài học vỡ lòng.

Đặc biệt, vào dịp đầu năm học, các con còn lạ trường, lạ lớp thì cô phải cố gắng nhiều hơn. Bữa cơm trưa, giáo viên thường không được ăn cùng nhau mà mỗi người một bát cơm “thập cẩm”, vừa ngồi ăn, vừa trông cho các con ngủ”, cô Nụ chia sẻ.

Cùng với quá trình dạy dỗ cho trẻ, từ năm 2007 - 2011, cô Nụ được tạo điều kiện để nâng chuẩn kiến thức chuyên môn từ hệ trung cấp rồi tiến tới đại học sư phạm mầm non. Đó cũng là khoảng thời gian cô phải gồng mình lo toan mọi việc cho chu toàn.

“Thời gian đó, tôi vừa đi làm, vừa đi học vào cuối tuần. Có thời điểm học tập trung khoảng 10 ngày, tôi lại phải tranh thủ dạy bù và trông trẻ cả ngày”, cô Nụ tâm sự.

Sau nhiều năm gắn bó với nghề, được người dân địa phương và đồng nghiệp tin tưởng, năm 2013 cô Nụ được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng Trường Mầm non Đồng Ruộng. Lúc này, chiếc thuyền cũ ngày xưa cũng đến kỳ thay thế. Cô chắt bóp chi tiêu, rồi lại “nâng đời”, “tậu” chiếc thuyền máy. Chiếc thuyền đã giải quyết đáng kể nỗi nhọc nhằn của nhiều năm khi phải chèo lái thủ công.

Đưa trường theo trẻ

Suốt bao năm “đưa đò”, cô Nụ chẳng còn nhớ đã có bao lần lâm nguy nữa. Song cô vẫn nhớ mãi trận lũ lịch sử xảy ra vào năm 2017. Khi ấy, bản Nhạp là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Đang bình yên, chẳng hiểu từ đâu, đất đá từ phía trên đồi bất ngờ ập xuống, vùi lấp dãy nhà của trường mầm non và nhà dân trong bản. Nhiều gia đình rơi vào cảnh “tay trắng”, trong đó có vợ chồng cô.

“Nửa đêm lũ ập đến, 2 cô giáo mầm non vẫn đang ở trường và chưa kịp di dời. Rất may, mấy bác hàng xóm chạy vội lên, kịp thời báo tin để 2 cô thoát khỏi vùng nguy hiểm. Ngay sau đó, tôi cùng chồng và một số thanh niên lên hỗ trợ, đưa các cô giáo cùng người già, trẻ nhỏ vội vã di chuyển đến nơi tập kết an toàn”, cô Nụ hướng ánh nhìn xa xăm kể lại.

Sau cơn lũ dữ, lãnh đạo tỉnh, huyện và lực lượng dân quân địa phương được cử đến bản Nhạp hỗ trợ người dân khắc phục tạm thời. Dân quân dựng lều tạm giữa rừng luồng, làm nơi trú ngụ cho bà con và ổn định lại đời sống. Những mái lều cho trẻ mầm non cũng được dựng lên để cô, trò tiếp tục dạy - học.

“Thời điểm đó, người dân đi đến đâu, các cô theo đến đó. Những lớp mầm non di động sẵn sàng cắm chốt ở bất kỳ điểm nào mà phụ huynh dừng chân. Mỗi cô được phân công một nhiệm vụ. Người đi xách từng xô nước, người lượm thanh củi khô để nhóm lửa. Mục tiêu để đảm bảo từng bữa ăn, giấc ngủ cho trò”, cô Nụ nhớ lại.

Suốt 1 năm ròng rã (từ tháng 10/2017 - tháng 5/2018), cô trò ở điểm trường Nhạp phải sống và sinh hoạt trong điều kiện thiếu thốn đủ bề như thế. Những khi trẻ bị ốm, cô trò lại vất vả thêm bội phần. “Mình đã thương các con thì cố gắng lên một chút. Hôm nay mình đã cố gắng rồi, ngày mai cố thêm chút nữa để vượt qua. Tôi vẫn động viên đồng nghiệp của mình như vậy!”, cô Nụ bộc bạch.

Vượt qua những tháng ngày gian nan, điểm trường bản Nhạp được tổ chức thiện nguyện hỗ trợ xây dựng mới khang trang hơn. Tuy cơ sở vật chất là bán kiên cố, song cũng cơ bản đáp ứng được yêu cầu về dạy học cho hơn chục trẻ là con em ở tại khu tái định cư này.

“Cô Nụ đạt nhiều thành tích trong quá trình công tác. Đó là những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của nhà trường. Cô hết lòng vì trẻ thơ, luôn chia sẻ kinh nghiệm, đoàn kết và tận tình với đồng nghiệp. Ở địa phương, cô được đồng nghiệp và phụ huynh tin tưởng, nể trọng”, cô Lường Thị Tươi - Hiệu trưởng nhà trường nói.

Cô Lường Thị Tươi cho biết, Trường Mầm non Đồng Ruộng đang dạy 147 trẻ ở lứa tuổi từ 15 tháng - 5 tuổi. Trường có 18 giáo viên, đa số đạt chuẩn trình độ đại học. Với nỗ lực của tập thể cán bộ giáo viên, năm học 2020 - 2021, trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ I.

Có được ngày hôm nay, cô Nụ chưa khi nào quên được những người thân vẫn hàng ngày âm thầm hỗ trợ phía sau. Đó là bố mẹ chồng, là người chồng vẫn chịu thương, chịu khó, chịu cảm thông và chia sẻ mỗi ngày.

“Điều mà cho đến nay tôi vẫn cứ mong muốn mãi, đó là: Làm sao có được con đường liên xã để cô trò được đến trường mỗi ngày. Dù nhà các cháu có xa đi nữa vẫn có thể đi bộ đến trường, bảo đảm an toàn đến lớp”, cô Nụ nói.

Chia sẻ về câu chuyện của cô Nụ, ông Quản Văn Giang - Trưởng phòng GD&ĐT huyện Đà Bắc - cho biết: “Cô Nụ là tấm gương sáng để đồng nghiệp noi theo. Cô luôn nỗ lực vượt khó để làm tròn trách nhiệm với nghề và với học sinh.

Cô đã không quản nắng mưa, đưa đò, đồng hành cùng học trò để các em được học chữ và tiếp cận tri thức. Cô là một trong những cá nhân điển hình tiên tiến và là tấm gương về nghị lực để cổ vũ các nhà giáo hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Những quy định mới về hoạt động tôn giáo, hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.

 


Một trong những quy định mới của nội dung này so với pháp lệnh đó là việc thông báo danh mục hoạt động tôn giáo diễn ra hằng năm của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo chỉ thực hiện một lần, đối với hoạt động tôn giáo có trong danh mục đã thông báo thì thông báo bổ sung.

Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt nam được vào tu tại cơ sở tôn giáo, vào học tại cơ sở tôn giáo hoặc lớp bồi dưỡng về tôn giáo, được sinh hoạt tôn giáo tập trung, được trực tiếp mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài hoặc người Việt Nam đến giảng đạo, được thuê địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung, được tổ chức tôn giáo Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị; đối với tổ chức tôn giáo ở Việt Nam được quyền gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài; tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội và từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan.

Những quy định về phân định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo

Luật quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, ton giáo các cấp trong quản lý hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể trong việc tập hợp đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và không có tín ngưỡng tôn giáo trong khối đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng và bảo vêk Tổ quốc.

Luật cũng có các quy định về trách nhiệm của công dân của người có tín ngưỡng, tôn giáo trong thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Luật quy định về thanh tra chuyên ngành tôn giáo; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và một số biện pháp chế tài khác như đình chỉ, thu hồi, giải thể.

Các quy định mới về tổ chức tôn giáo hiện nay

 


Một trong những điều kiện tiên quyết để một tổ chức được công nhận đó là phải là tổ chức phải hoạt động tôn giáo ổn định, liên tục tối thiểu từ 5 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo (trước đây quy định thời gian hoạt động ổn định, liên tục là 20 năm).

Tổ chức còn phải đáp ứng các điều kiện khác như có hiến chương theo quy định của Luật; người đại diện, người lãnh đạo tổ chức là công dân Việt nam thường trú tại Việt nam, có hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp sử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật; có cơ cấu tổ chức theo hiến chương; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Đối với tổ chức tôn giáo được công nhận sau ngày Luật có hiệu lực, thời điểm tổ chức được công nhận là páhp nhân phi thương mại. Đối với tổ chức được công nhận trước ngày Luật này sẽ trở thành pháp nhân phi thương mại kể từ ngày Luật có hiệu lực với điều kiện tổ chức phải điều chỉnh, đăng ký hiến chương theo quy định tại đại hội gần nhất.

Sau khi được công nhận, tổ chức tôn giáo được thực hiện phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành, thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo.

Những quy định về đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo

 


          So với pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh, thì nội dung đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung có điểm mới, như: chủ thể được thực hiện quyền sinh hoạt tôn giáo tập trung giành cho không chỉ tín đồ thuộc tổ chức tôn giáo, người theo tôn giáo thuộc tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, mà nhóm người theo tôn giáo nhưng chưa có tổ chức, cũng được thực hiện; đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tất cả mọi người được xem là một bước để tiến tới đăng ký hoạt động tôn giáo, công nhận tổ chức tôn giáo.

          Về đăng ký hoạt động tôn giáo: Luật quy định: để được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức phải đáp ứng đủ các điều kiện, đó là: có giáo lý, giáo luật, lễ nghi; có tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động không trái với quy định của pháp luật; tên của tổ chức không trùng với tên của tổ chức tôn giáo, hoặc tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc; người đại diện, người lãnh đạo là tổ chức tổ chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có nán tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; có địa điểm hợp pháp để đặt trụ sở; nội dung hoạt động tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại điều 5 vủa Luật.

Sau khi được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức được tổ chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý; bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức việc, sửa chữa, cải tạo trụ sở; tham gia hoạt động từ thiện, nhân đạo; tổ chức đại hội thông qua hiến chương.

Những quy định về hoạt động tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay

 


          Hoạt động tín ngưỡng, lễ hội tín ngưỡng khi thực hiện phải đảm bảo nguyên tắc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, tiết kiệm, bảo vệ môi trường.

Nhằm tạo điều kiện cho cơ sở tín ngưỡng hoạt động có hiệu quả, Luật quy định cơ sở tín ngưỡng phải có người đại diện hoặc ban quản lý để chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động diễn ra tại cơ sở tín ngưỡng, như đăng ký hoạt động tín ngưỡng; thông báo việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ; đăng ký tổ chức lẽ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi; quản lý và sử dụng khoản thu đúng mục đích, công khai, minh bạch.

          Người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có uy tín trong cộng đồng dân cư. Việc bầu cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý do ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tín ngưỡng phối hợp với ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư bầu, cử. Căn cứ vào kết quả bầu, cử, Ủy ban Nhân dân cấp xã có văn bản công nhận người đại diện hoặc thành viên ban quản lý trong thời hạn 5 ngày làm vieẹc. Đây cũng là một trong những quy định mới của Luật so với Pháp lệnh.

          Hoạt động tín ngưỡng còn có một số quy định mới, như việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng hằng năm của cơ sở tín ngưỡng phảit thực hiện đăng ký chậm nhất là 30 ngày trước ngày cơ sở tín ngưỡng, trừ trường hợp quy định tại Điều 14 của Luật, các hoạt động tín ngưỡng không có trong văn bản đăng ký đã được chấp thuận thì phải đăng ký bổ sung; các lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi thay vì phải xin phép thì nay chỉ phải đăng ký.

Chính sách tôn giáo và quy định quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo

 


          Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được quốc hội khóa XIV kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

          Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 9 chương, 68 điều. Các chương đó là:

          -Chương 1: Những quy định chung (gồm 5 điều, từ điều 1 đến điều 5)

-Chương II: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 6 đến Điều 9).

-Chương III: Hoạt động tín ngưỡng (gồm 6 điều, Từ Điều 10 đến Điều 15)

          -Chương IV: Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo (gồm 5 điều, từ Điều 16 đến Điều 20).

          -Chương V: Tổ chức tôn giáo (gồm 22 điều, từ Điều 21 đến Điều 42).

          -Chương VI: Hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo (gồm 13 điều, từ Điều 43 đến Điều 55)

          -Chương VII: Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 56 đến Điều 59)

          -Chương VIII: Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 6 điều, từ Điều 60 đến Điều 65)

          -Chương IX: Điều khoản thi hành (gồm 3 điều, từ Điều 66 đến Điều 68).

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có nội dung cơ bản sau:

          Chủ thể thực hiện quyền tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

          Cụ thể hóa quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”, Luật quy định chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là “mọi người” (khoản 1 Điều 6)

          Bên cạnh đó Luật cũng quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo, quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở, đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo.

          Đối với người chưa thành niên, khi xuất gia vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc theo học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

          Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.

Như vậy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi

Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mọi người

 


Quyềntự do tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã được chuyển từ “quyền công dân” theo điều 70 của Hiến pháp năm 1992, thành “quyền con người”, Tại Điều 24 của Hiến pháp năm 2013 khẳng định:

1)Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

          2) Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

3) Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo đề vi phạm pháp luật.

          Như vậy quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền của tất cả mọi người, là quyền con người, và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi. Hiến định như vậy veè quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chính sách của Nhà nước ta đối với tín ngưỡng, tôn giáo đã tiệm cận với nhận thức và chính sách chung về tôn giáo của các quốc gia tiên tiến trên thế giới.

Nguyên tắc chính sách đối với tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam

 


Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, để phát huy sức mạnh toàn dân phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đảng ta yêu cầu các cấp ủy Đảng và chính quyền động viên đồng bào các tôn giáo phát huy truyền thống yêu nước, hăng hái tham gia công cuộc đổi mới, làm tốt việc đạo, làm tròn nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện tốt quan điểm, chính sách của Đảng và Nhfa nước đối với tín ngưỡng, tôn giáo, Bộ Chính trị ra chỉ thị 37-CT/TW ngày 02-7-1998 về công tác tôn giáo trong tình hình mới, đã yêu cầu công tác tôn giáo của hệ thống chính trị phải thường xuyên chú ý tuân thủ những nguyên tắc, chính sách sau đây:

1)Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau.

2) Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân.

3) Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam XHCN; gìn giữ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.

4) Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm. Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy.

5) Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội, phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hóa của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, đều bị xử lý theo pháp luật. Hoạt động mê tín phải bị phê phán và loại bỏ.

Quán triệt nguyên tắc chính sách đối với tôn giáo, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội thuộc hệ thống chính trị, trong khi cần chấp hành nghiêm túc, không xa rời nó, thì cũng cần dựa vào đó để xây dựng những giải pháp linh hoạt mềm dẻo nhằm đạt hiệu quả công tác cao

“Bạn cũ”

 

Phản ứng của Tổng thống Mỹ khi Chủ tịch Trung Quốc gọi ông là 'bạn cũ'

Trước đây, ông Biden từng phủ nhận ông là bạn của nhà lãnh đạo Trung Quốc dù thường nhắc lại những lần tương tác của cả hai trong nhiệm kỳ cựu phó tổng thống của ông.

Ông Wang Huiyao, chủ tịch Trung tâm Trung Quốc và Toàn cầu hóa có trụ sở tại Bắc Kinh, cho rằng ông Tập muốn bày tỏ 'thiện chí' khi gọi ông Biden bằng 'người bạn cũ'. Tuy nhiên, ông Daniel Russel, cựu trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, cho rằng đây là một phần trong nỗ lực tìm kiếm lợi thế ngay từ đầu cuộc họp của lãnh đạo Trung Quốc.

Theo New York Post, phát ngôn viên Nhà Trắng Andrew Bates cho rằng Tổng thống Biden đã có mối quan hệ lâu dài với Chủ tịch Tập, họ đã dành rất nhiều thời gian gặp nhau, họ có thể thảo luận thẳng thắn và trực tiếp với nhau, điều này giúp họ làm việc hiệu quả. Nhưng theo người phát ngôn, ông Biden không xem Chủ tịch Tập là 'một người bạn cũ'.

Hồi tháng 6, ông Biden từng cho biết: 'Thẳng thắn mà nói, chúng tôi hiểu rõ nhau nhưng chúng tôi không phải những người bạn cũ. Đó đơn thuần chỉ là công việc'.

Hội nghị thượng đỉnh giữa ông Biden và ông Tập kéo dài khoảng 3 giờ rưỡi bao gồm hơn một chục chủ đề chính nhưng không đề cập đến nguồn gốc của đại dịch Covid-19.

Một thông cáo của Nhà Trắng cho biết hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về các vấn đề thương mại, nhân quyền, Afghanistan, Iran, Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, Tây Tạng, Tân Cương, một Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và mở, an ninh y tế, khủng hoảng khí hậu và nguồn cung cấp năng lượng toàn cầu.

Theo truyền thông của Trung Quốc sau cuộc họp thượng đỉnh, ông Tập đã ví Trung Quốc và Mỹ như hai con tàu khổng lồ trên biển, mỗi chiếc cần được chèo lái vững chắc để tránh va chạm. Theo chuyên gia Jean-Pierre Cabestan về chính trị Trung Quốc tại Trường ĐH Baptist Hồng Kông, đối với ông Tập, việc xây dựng cầu nối với ông Biden và nỗ lực đưa quan hệ song phương đi theo hướng bình thường cũng giúp ích cho chương trình nghị sự chính trị trong nước của ông sắp tới.

PB nguyễn hải st

Theo đạo và truyền đạo- Những nội dung cơ bản cần nắm vững

 


Theo luật tín ngưỡng tôn giáo, mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của páhp luật. Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn giáo truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng

 


-Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, bởi lẽ:

+ Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo và sự khác biệt về thế giới quan tôn giáo và chủ nghĩa Mác- Lênin

+ Đồng bào các tôn giáo là nhân dân lao động, là quần chúng của Đảng, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có hơn 24 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Phải làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức đúng, tin và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và BVTQ.



Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

 


Đây là quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò tôn giáo trong thời kỳ quá độ.

Một là, Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, bởi lẽ: Tôn giáo đã có lịch sử từ lâu đời trong xã hội loài người, trở thành nhu cầu tinh thần (nhu cầu giải toả tâm lý) của một bộ phận quần chúng nhân dân. Nhiều giá trị đạo đức tôn giáo hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ, nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH. Mọi sự nóng vội, chủ quan trong giải quyết vấn đề tôn giáo đều trái với quan điểm trên, gây chia rẽ, mất đoàn kết, cản trở quá trình xây dựng CNXH

Hai là, Tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Cụ thể là:

- Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

-Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý

Ba là, phải quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các tôn giáo

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vĩ đại nhằm giải phóng quần chúng nhân dân khỏi mọi sự áp bức, nô dịch cả về vật chất và tinh thần. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn giáo là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn của Đảng và Nhà nước ta trong cách mạng XHCN.