Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo được quốc hội khóa XIV kỳ họp thứ 2 thông qua ngày
18/11/2016 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.
Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 9 chương, 68 điều. Các chương đó là:
-Chương
1: Những quy định chung (gồm 5 điều, từ điều 1 đến điều 5)
-Chương II: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
(gồm 4 điều, từ Điều 6 đến Điều 9).
-Chương III: Hoạt động tín ngưỡng (gồm 6
điều, Từ Điều 10 đến Điều 15)
-Chương
IV: Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo (gồm 5
điều, từ Điều 16 đến Điều 20).
-Chương
V: Tổ chức tôn giáo (gồm 22 điều, từ Điều 21 đến Điều 42).
-Chương
VI: Hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ
thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo (gồm 13 điều, từ Điều 43 đến Điều 55)
-Chương
VII: Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 56 đến
Điều 59)
-Chương
VIII: Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
(gồm 6 điều, từ Điều 60 đến Điều 65)
-Chương
IX: Điều khoản thi hành (gồm 3 điều, từ Điều 66 đến Điều 68).
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có nội dung cơ bản
sau:
Chủ
thể thực hiện quyền tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Cụ
thể hóa quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”, Luật quy định chủ thể
thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là “mọi người” (khoản 1 Điều 6)
Bên
cạnh đó Luật cũng quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn
giáo, thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý,
giáo luật tôn giáo, quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở, đào tạo tôn
giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo.
Đối
với người chưa thành niên, khi xuất gia vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc theo học
tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Đối
với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật; người đang
chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh
sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
Như vậy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là
quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới
tính, độ tuổi
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét