Thứ Tư, 17 tháng 11, 2021

Chính sách tôn giáo và quy định quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo

 


          Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được quốc hội khóa XIV kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 18/11/2016 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018.

          Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 9 chương, 68 điều. Các chương đó là:

          -Chương 1: Những quy định chung (gồm 5 điều, từ điều 1 đến điều 5)

-Chương II: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 6 đến Điều 9).

-Chương III: Hoạt động tín ngưỡng (gồm 6 điều, Từ Điều 10 đến Điều 15)

          -Chương IV: Đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, đăng ký hoạt động tôn giáo (gồm 5 điều, từ Điều 16 đến Điều 20).

          -Chương V: Tổ chức tôn giáo (gồm 22 điều, từ Điều 21 đến Điều 42).

          -Chương VI: Hoạt động tôn giáo; hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo (gồm 13 điều, từ Điều 43 đến Điều 55)

          -Chương VII: Tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo (gồm 4 điều, từ Điều 56 đến Điều 59)

          -Chương VIII: Quản lý nhà nước và xử lý vi phạm trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo (gồm 6 điều, từ Điều 60 đến Điều 65)

          -Chương IX: Điều khoản thi hành (gồm 3 điều, từ Điều 66 đến Điều 68).

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có nội dung cơ bản sau:

          Chủ thể thực hiện quyền tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

          Cụ thể hóa quy định tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”, Luật quy định chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là “mọi người” (khoản 1 Điều 6)

          Bên cạnh đó Luật cũng quy định mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo, quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở, đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo.

          Đối với người chưa thành niên, khi xuất gia vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc theo học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

          Đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.

Như vậy quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của tất cả mọi người và quyền này không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét