Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 thổi bùng ngọn lửa khát vọng giải phóng và
phát triển đã ấp ủ, thai nghén trong chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, đặc biệt
những năm đầu thế kỷ XX. Vừa ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn vì
chính sách khủng bố dã man của thực dân Pháp, nhưng Đảng ta đã lãnh đạo ngay
cuộc đấu tranh kịch liệt chống thực dân Pháp. Cuộc đấu tranh đó cao đến tột bậc
trong những ngày Xôviết Nghệ Tĩnh.
Xôviết
Nghệ Tĩnh bị thất bại, nhưng đã có ảnh hưởng lớn. Tinh thần quật cường, anh
dũng luôn luôn nồng nàn trong tâm hồn quần chúng và đã mở đường cho thắng lợi
về sau. Những cuộc đấu tranh do Đảng ta lãnh đạo ngay từ khi vừa ra đời cho
thấy lòng dân được ý Đảng củng cố, nâng cao và mở ra truyền thống ý Đảng - lòng
dân, lòng dân - ý Đảng trong các thời kỳ cách mạng tiếp theo.
Năm 1941,
Hồ Chí Minh về nước mang theo khát vọng độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa xã hội
từ mùa Xuân Canh Ngọ. Khát vọng đó được thể hiện trong Nghị quyết Trung ương
VIII (tháng 5/1941). Hồ Chí Minh và Đảng ta quyết định thay đổi chiến lược, lập
Mặt trận Việt Minh để thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc đi tới cách mạng
xã hội chủ nghĩa, nhưng vấn đề cần kíp trước mắt là dân tộc giải phóng.
Tài trí và
bản lĩnh của Đảng và Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ “bước một bước ngắn hơn để có
sức mà bước một bước dài hơn”. Cũng nhờ thế mà tạo ra một bước nhảy vọt chưa
từng thấy theo tinh thần của Mác “hai mươi năm biến chuyển trong ngày thường
không bằng ba tháng cách mạng”. Bước nhảy vọt đó chính là lòng dân, trí dân,
sức dân được Đảng quy tụ thành quyết tâm, tín tâm, đồng tâm với lời hiệu triệu
của Hồ Chí Minh “Dân ta xin nhớ chữ đồng/ Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng
minh”, để rồi “dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho
được độc lập”.
Dưới sự lãnh
đạo của Đảng, cả dân tộc vùng lên “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Không
phải ba tháng mà chỉ trong chưa đầy hai tuần, từ ánh sáng mùa Xuân dẫn đến
thắng lợi mùa Thu. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi “biến người nô lệ thành người
tự do”. Nhân dân ta “rũ bùn đứng dậy chói lòa”, làm chủ đất nước, làm chủ xã
hội, làm chủ bản thân.
Khát vọng
mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930 chỉ sau mười lăm năm đã được thực hiện một phần cơ
bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân
dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức
nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách
mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi mà đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính
quyền toàn quốc”.
Cách mạng
thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Cùng với ngọn đuốc soi đường
của Cương lĩnh mùa Xuân Canh Ngọ năm 1930, Tết Độc lập Bính Tuất đầu tiên năm
1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mang mùa Xuân đến cho toàn dân với tinh thần
“Muôn việc đều tiến tới. Kiến quốc chóng thành công. Kháng chiến mau thắng
lợi”. Và cứ thế, mỗi độ Xuân về, Bác lại chuyển tải thông điệp, truyền cảm hứng
và khát vọng mùa Xuân.
Tết Đinh
Hợi năm 1947 mang không khí mùa Xuân “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió. Tiếng
kèn kháng chiến vang dậy non sông. Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến.
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng… Sức ta đã mạnh, người ta đã đông. Trường kỳ
kháng chiến, nhất định thắng lợi! Thống nhất độc lập, nhất định thành công”.
Tết Mậu Tý
năm 1948 là mùa Xuân “Toàn dân đại đoàn kết. Cả nước dốc một
lòng. Thống nhất chắc chắn được. Độc lập quyết thành công”. Tết Kỷ Sửu năm
1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh góp ý kiến tổ chức nhiều hình thức vui Tết lửa trại
với cán bộ, nhân viên Văn phòng Phủ Chủ tịch ở Việt Bắc. Với đồng bào cả nước,
Người chúc: “Người người thi đua. Ngành ngành thi đua. Ta nhất định thắng. Địch
nhất định thua”.
Tết Canh
Dần năm 1950 mang khí thế một mùa Xuân “Chuyển mau sang tổng phản công. Kháng
chiến nhất định thắng lợi”. Tết Tân Mão năm 1951 “Xuân này kháng chiến đã năm
Xuân. Nhiều Xuân thắng lợi càng gần thành công”. Xuân Nhâm Thìn 1952 “Chiến sĩ
thi giết giặc. Đồng bào thi tăng gia. Năm mới thi đua mới. Thắng lợi ắt về ta”.
Tết Xuân Qúy Tỵ 1953, Bác chúc “Mừng hậu phương phấn
khởi. Mừng tiền tuyến toàn quân. Thi đua chiến thắng mới”.
Tết Xuân
Giáp Ngọ 1954, Bác chúc “Kháng chiến, kiến quốc nhất định thành công”. Nhờ sự
đoàn kết chặt chẽ của quân và dân dưới lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, chúng ta đã
đại thắng ở Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ
yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh.
Mười lăm
năm tiếp theo khi cả nước phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ cách mạng, mỗi
độ Tết đến Xuân về, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mang khát vọng mùa Xuân đến cho
đồng bào và chiến sĩ cả nước. Trong đó, xúc động nhất là những năm cuối đời,
khi Bác không còn khỏe, nhưng Người vẫn không quên gửi thư chúc mừng Xuân mới
với niềm tin chắc thắng.
Xuân Mậu
Thân năm 1968, Người viết: “Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng trận tin vui
khắp nước nhà. Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”.
Xuân Kỷ Dậu năm 1969, Bác có thơ chúc Tết như một lời hịch chứa đựng trong đó
một khát vọng, một quyết tâm, một niềm tin chắc thắng: “Năm qua thắng lợi vẻ
vang. Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Vì độc lập, vì tự do. Đánh cho Mỹ
cút, đánh cho ngụy nhào. Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào. Bắc Nam sum họp, Xuân
nào vui hơn!”.
Khi mùa
Xuân vui nhất đến với chúng ta vào năm 1975, thống nhất đất nước, non sông thu
về một mối, Bắc - Nam sum họp một nhà, thì Bác đã đi xa hơn 5 năm. Tuy đi xa
nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta.
Từ năm
1975 đến nay, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, trong đó có hơn 35 năm đổi mới,
Đảng và dân tộc ta quyết tâm xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa
trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội XIII khẳng
định chúng ta đã đạt được được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát
triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đất nước, xã hội và
con người đều đổi mới. Những thành tựu to lớn đó có nhiều nguyên nhân, nhưng sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Trong đổi mới, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đẩy mạnh học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Đảng đã khơi dậy
được sức mạnh của toàn dân tộc. Bài học “dân là gốc” được nhận thức và phát huy
cao độ trong công cuộc đổi mới.
Một dân
tộc anh hùng, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, trên nền tảng tư tưởng Hồ
Chí Minh tỏ rõ ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn
vinh, hạnh phúc. Chúng ta tin tưởng đất nước ta nhất định sẽ lập nên kỳ tích
phát triển mới đưa Việt Nam sải bước cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc
năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng
của toàn dân tộc ta.
Khát vọng
và niềm tin đó vang lên mạnh mẽ trong Diễn văn bế mạc Đại hội XIII Đảng Cộng
sản Việt Nam, Đại hội diễn ra trước thềm Xuân Tân Sửu, mang theo điều tốt lành,
với niềm tự hào và tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ và ý chí
của toàn Đảng, toàn dân tộc ta, vào tương lai tươi sáng của đất nước: “Vinh
quang đời đời thuộc về dân tộc Việt Nam văn hiến và anh hùng! Đảng Cộng sản
Việt Nam quang vinh muôn năm! Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam muôn năm!
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”.
