Mùa Xuân
năm Canh Ngọ 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Trong văn kiện do Nguyễn Ái
Quốc khởi thảo đã vạch ra mục tiêu và con đường đi tới hạnh phúc: Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để
đi tới xã hội cộng sản. Đường lối đó là một khía cạnh rất quan trọng
trong Cương lĩnh cách mạng của Đảng, phản ánh và đúc kết khát vọng của dân tộc
ta mà Nguyễn Trãi - nhà tư tưởng lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến - đã đề
cập trong Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai
của nước ta:
“Xã tắc từ
đây vững bền,
Giang sơn
từ đây đổi mới,
Càn khôn
bĩ rồi lại thái,
Nhật
nguyệt hối rồi lại minh.
Để mở nền
muôn thuở thái bình,
Để rửa nỗi
nghìn thu sỉ nhục”.
Tác
phẩm Bình Ngô đại cáo cho thấy hình ảnh của một dân tộc
anh hùng đang vươn lên, quyết tâm vượt qua mọi gian nan, thử thách, sáng tạo ra
một trong những trang sử vẻ vang nhất của lịch sử nước nhà; là sự tiếp
nối Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của Lý Thường
Kiệt:
“Sông núi
nước Nam vua Nam ở,
Rành rành
định phận ở sách trời.
Cớ sao lũ
giặc sang xâm phạm,
Chúng bay
sẽ bị đánh tơi bời”.
Hai con
người, hai tác phẩm nêu cao ý chí độc lập tự do, truyền thống quật cường bất
khuất và tinh thần đại nghĩa, chí nhân của dân tộc. Đặc biệt là khát vọng về
một đất nước vững bền, đổi mới, hạnh phúc, thái bình.
Dân tộc
Việt Nam là vậy! Đó là một dân tộc luôn nêu cao đạo lý làm người, không bao giờ
“thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, không chịu khuất
phục trước địch họa, thiên tai; luôn luôn vươn lên với tinh thần “chân cứng đá
mềm”, “nước chảy đá mòn”. Chiến đấu chống giặc phong kiến Trung Quốc bành
trướng xâm lược, chúng ta đã chiến thắng “nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao
tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh”(1).
Từ giữa
thế kỷ XIX, nhân dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp là
kẻ thù tư bản hơn chúng ta một phương thức sản xuất, trong khi giới cầm quyền
phong kiến Việt Nam từng bước đầu hàng, dâng nước ta cho giặc. Tiếp nối truyền
thống anh hùng của cha ông, những người dân bình thường giàu lòng yêu nước đã
tỏ rõ khí thế dũng cảm phi thường “nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa
xông vào liều mình như chẳng có” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc).
Hoặc “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây” (Nguyễn Trung
Trực trả lời Pháp khi chúng tìm cách dụ dỗ mua chuộc).
Lãnh đạo
các phong trào Cần Vương, Yên Thế, Duy Tân, Đông Du, Đông kinh nghĩa thục là
những gương mặt anh hùng như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, mà Hồ Chí Minh khi ở tuổi
thiếu niên rất khâm phục. Những con người tiêu biểu đó cho thấy cùng với ý chí
đánh đuổi thực dân xâm lược làm cho nước Nam độc lập là khát vọng vun trồng nền
tảng dân quyền, thực hiện các nhiệm vụ “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân
sinh” với tinh thần tự lực khai hóa, mở trường dạy học, phát triển kinh tế
thông qua buôn bán mà nổi bật là Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn
Can.
Có thể
thấy những năm đầu thế kỷ XX, dưới sự tổ chức lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước,
dân tộc Việt Nam vô cùng sôi động trong cuộc vận động cứu nước, thực hiện Duy
Tân và tiến hành đấu tranh về văn hóa, tư tưởng. Thực chất đó cũng là một cuộc
vận động chính trị chuẩn bị về tinh thần và tư tưởng cho sự nghiệp đấu tranh
cách mạng dân tộc dân chủ ở giai đoạn sau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét