Thứ Hai, 7 tháng 2, 2022

Ý CHÍ ĐỘC LẬP VÀ LÒNG KHÁT KHAO TỰ DO CỦA DÂN TỘC ANH HÙNG


          Mùa Xuân năm Canh Ngọ 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Trong văn kiện do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đã vạch ra mục tiêu và con đường đi tới hạnh phúc: Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đường lối đó là một khía cạnh rất quan trọng trong Cương lĩnh cách mạng của Đảng, phản ánh và đúc kết khát vọng của dân tộc ta mà Nguyễn Trãi - nhà tư tưởng lớn nhất của Việt Nam thời phong kiến - đã đề cập trong Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của nước ta:

                             “Xã tắc từ đây vững bền,

                             Giang sơn từ đây đổi mới,

                             Càn khôn bĩ rồi lại thái,

                             Nhật nguyệt hối rồi lại minh.

                             Để mở nền muôn thuở thái bình,

                             Để rửa nỗi nghìn thu sỉ nhục”.

          Tác phẩm Bình Ngô đại cáo cho thấy hình ảnh của một dân tộc anh hùng đang vươn lên, quyết tâm vượt qua mọi gian nan, thử thách, sáng tạo ra một trong những trang sử vẻ vang nhất của lịch sử nước nhà; là sự tiếp nối Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của Lý Thường Kiệt:

                             “Sông núi nước Nam vua Nam ở,

                             Rành rành định phận ở sách trời.

                             Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,

                             Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.

          Hai con người, hai tác phẩm nêu cao ý chí độc lập tự do, truyền thống quật cường bất khuất và tinh thần đại nghĩa, chí nhân của dân tộc. Đặc biệt là khát vọng về một đất nước vững bền, đổi mới, hạnh phúc, thái bình.

          Dân tộc Việt Nam là vậy! Đó là một dân tộc luôn nêu cao đạo lý làm người, không bao giờ “thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, không chịu khuất phục trước địch họa, thiên tai; luôn luôn vươn lên với tinh thần “chân cứng đá mềm”, “nước chảy đá mòn”. Chiến đấu chống giặc phong kiến Trung Quốc bành trướng xâm lược, chúng ta đã chiến thắng “nhờ ý chí độc lập và lòng khát khao tự do hơn là nhờ quân đông sức mạnh”(1).

          Từ giữa thế kỷ XIX, nhân dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp là kẻ thù tư bản hơn chúng ta một phương thức sản xuất, trong khi giới cầm quyền phong kiến Việt Nam từng bước đầu hàng, dâng nước ta cho giặc. Tiếp nối truyền thống anh hùng của cha ông, những người dân bình thường giàu lòng yêu nước đã tỏ rõ khí thế dũng cảm phi thường “nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc). Hoặc “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây” (Nguyễn Trung Trực trả lời Pháp khi chúng tìm cách dụ dỗ mua chuộc).

          Lãnh đạo các phong trào Cần Vương, Yên Thế, Duy Tân, Đông Du, Đông kinh nghĩa thục là những gương mặt anh hùng như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, mà Hồ Chí Minh khi ở tuổi thiếu niên rất khâm phục. Những con người tiêu biểu đó cho thấy cùng với ý chí đánh đuổi thực dân xâm lược làm cho nước Nam độc lập là khát vọng vun trồng nền tảng dân quyền, thực hiện các nhiệm vụ “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh” với tinh thần tự lực khai hóa, mở trường dạy học, phát triển kinh tế thông qua buôn bán mà nổi bật là Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can.

          Có thể thấy những năm đầu thế kỷ XX, dưới sự tổ chức lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước, dân tộc Việt Nam vô cùng sôi động trong cuộc vận động cứu nước, thực hiện Duy Tân và tiến hành đấu tranh về văn hóa, tư tưởng. Thực chất đó cũng là một cuộc vận động chính trị chuẩn bị về tinh thần và tư tưởng cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ ở giai đoạn sau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét