Thứ Ba, 8 tháng 2, 2022

Tổng Bí thư Trường Chinh với bài học giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng


          Đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu từ lịch sử cách mạng Việt Nam, Tổng Bí thư Trường Chinh nhấn mạnh là phải luôn giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, bởi đó là điều kiện tiên quyết đảm bảo thành công của sự nghiệp cách mạng.

          Để giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng chí nêu ra và chỉ đạo thực hiện nhất quán những vấn đề cơ bản sau:

          Thứ nhất, xây dựng đường lối, chủ trương và chính sách đúng đắn phù hợp với thực tiễn cách mạng.

          Đảm nhận nhiều chức vụ lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, đồng chí Trường Chinh luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng Đảng vững mạnh, phát triển năng lực và trình độ lãnh đạo của Đảng, trong đó vấn đề cơ bản, trước hết là xây dựng đường lối chính trị đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, thực tế của đất nước và đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân, nhất là khi chuyển giai đoạn cách mạng. Đồng chí lưu ý: “Đường lối, chính sách của Đảng ta không phải sao chép trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, hoặc trong nghị quyết chỉ thị của đảng anh em, mà phải do Đảng ta vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta mà định ra… Đường lối, chính sách của Đảng ta cũng không thể một lần định ra là đã hoàn chỉnh xong xuôi rồi, mà tất nhiên còn thiếu sót về khía cạnh này hoặc khía cạnh khác”.

          Năm 1941, trước sự chuyển biến nhanh chóng của tình hình, khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt ra cấp bách, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tổng Bí thư trường Chinh là người khởi thảo văn kiện, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành nghị quyết lịch sử, hoàn chỉnh chủ trương cách mạng giải phóng dân tộc, phát triển lý luận về cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc - giai cấp, dân tộc - quốc tế, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết. Hội nghị đã đề ra chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp, các tầng lớp yêu nước trong Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Khi Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương, Tổng Bí thư Trường Chinh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã nhận định, phân tích chính xác tình hình, dự báo đúng diễn biến thời cuộc và ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Chỉ thị “Phá kho thóc của Nhật để chia cho dân đói” kịp thời chuyển hướng khẩu hiệu và phương pháp đấu tranh, nhanh chóng dấy lên cao trào chống phát xít Nhật cứu nước. Từ đó, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nhiều nơi, thành lập các khu giải phóng, nắm bắt thời cơ, tiến tới Tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám lịch sử.

          Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ của ta ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, đồng chí Trường Chinh đã cùng tập thể Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giữ vững chính quyền nhân dân, xây dựng tiềm lực dân tộc về mọi mặt, tích cực chuẩn bị kháng chiến. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”, Tổng Bí thư Trường Chinh đã đề ra các luận chứng và phát triển đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ nhất định thắng lợi của Đảng ta.

          Năm 1951, trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những biến chuyển mới có lợi cho cách mạng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh đã cùng Trung ương Đảng tập trung công sức, trí tuệ chuẩn bị Đại hội lần thứ II của Đảng, nhất là chuẩn bị các văn kiện quan trọng trong Đại hội đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc và toàn diện về đường lối cách mạng và kháng chiến trong giai đoạn mới. Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh khởi thảo đã phân tích đặc điểm xã hội Việt Nam, nêu lên 12 chính sách của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; chỉ ra đường lối cách mạng Việt Nam từ cách mạng dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tại Đại hội này, đồng chí Trường Chinh tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

          Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cương vị là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, rồi sau đó là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đồng chí đã cùng tập thể Bộ Chính trị có những đóng góp to lớn vào việc chuẩn bị, đưa ra những quyết sách chiến lược và tổ chức thực hiện xây dựng hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta tới thắng lợi hoàn toàn.

          Thời kỳ trước Đổi mới, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra ngày càng trầm trọng, sản xuất trì trệ, lạm phát phi mã, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, đồng chí Trường Chinh là một trong những nhà lãnh đạo tích cực khảo nghiệm thực tiễn, tìm tòi xây dựng đường lối đổi mới, với biện pháp, cách thức phù hợp, đáp ứng nhu cầu bức thiết của thực tiễn, đặt nền móng cho việc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Đại hội lần thứ VI của Đảng có ý nghĩa trọng đại, đánh dấu bước ngoặt mang tính đột phá chiến lược, toàn diện trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc mà đồng chí Trường Chinh là một trong những kiến trúc sư tiên phong. Phát biểu tại Đại hội VI đồng chí nhấn mạnh: là đảng cầm quyền, “Đảng phải trưởng thành về lãnh đạo chính trị, phát triển và cụ thể hóa đường lối, đề ra những giải pháp đúng đắn đối với những vấn đề mới của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”.

          Thứ hai, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân

          Trong quá trình lãnh đạo, đồng chí Trường Chinh đặc biệt quan tâm công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, bởi “Làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ quan trọng nhất trong công tác xây dựng Đảng, chỉ có như vậy thì Đảng ta mới đủ sức lãnh đạo cách mạng nước ta”. Đồng chí nêu rõ: Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng nhất chỉ đạo mọi hoạt động tổ chức, sinh hoạt nội bộ và phong cách làm việc của Đảng; là tiêu chí để phân biệt Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đảng cách mạng chân chính, với các đảng cơ hội, cải lương. Trong điều kiện tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện, Đảng khuyến khích sự năng động, sáng tạo, song Nghị quyết Đại hội VI cũng nhấn mạnh “lập lại kỷ cương, củng cố kỷ luật trong đảng và bộ máy nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, nói và làm theo nghị quyết của cấp trên và của tập thể. Mọi cán bộ Đảng viên phải phục tùng kỷ luật. Mọi sự năng động, sáng tạo phải dựa trên cơ sở đường lối, chính sách. Cơ quan lãnh đạo phải nắm vững quyền chỉ đạo tập trung, điều hành thống nhất, không dung túng những việc làm sai trái”. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mọi cán bộ Đảng viên, bất cứ ở cương vị nào đều phải sống và làm việc đúng theo pháp luật, không có ngoại lệ và “Bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài tổ chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên”.

          Trong điều kiện kháng chiến cũng như trong hòa bình, xây dựng đất nước, đồng chí Trường Chinh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nêu cao ý thức xây dựng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Phát biểu tại Hội nghị cán bộ nghiên cứu dự thảo báo cáo chính trị sẽ trình đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đồng chí khẳng định: “Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, cần tăng cường đoàn kết trong Đảng trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng”. Hơn nữa, sự chăm lo giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng trước hết phải từ “các cơ quan lãnh đạo của Đảng”.

          Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì vấn đề về cán bộ luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh coi là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định. Trong công cuộc đổi mới, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta, đồng chí Trường Chinh khẳng định: “Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng”. Đổi mới công tác cán bộ cần tiến hành đồng bộ từ đánh giá, lựa chọn, bố trí lại, đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng để có một đội ngũ cán bộ có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, ngang tầm nhiệm vụ; phải tiến hành khẩn trương, kiên quyết nhưng phải tránh thay đổi nóng vội, hình thức, chỉ căn cứ vào độ tuổi, bằng cấp.

          Là người luôn quan tâm đến đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận, đồng chí Trường Chinh thường xuyên chỉ đạo các cấp ủy đảng, cơ quan tổ chức cán bộ phải mạnh dạn trẻ hóa đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tại Đại hội VI của Đảng, đồng chí yêu cầu: “Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, tăng thêm cán bộ trẻ trong các cơ quan lãnh đạo và quản lý” bằng cách kết hợp đúng cán bộ nhiều tuổi với cán bộ trẻ, mạnh dạn bổ nhiệm cán bộ trẻ, khắc phục “quan niệm đẳng cấp, tôn ti theo kiểu phong kiến còn khá nặng nề, chúng ta mới có thể phát hiện và cất nhắc được những cán bộ trẻ ưu tú”.

          Khẳng định Đảng ta là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, song Tổng Bí thư Trường Chinh cũng luôn nhắc nhở mọi cán bộ, đảng viên phải giữ được mối “liên hệ mật thiết với quần chúng” bởi đó là nguồn gốc sức mạnh của Đảng. Muốn làm tốt được nhiệm vụ quan trọng này, Đảng phải giáo dục, tổ chức quần chúng thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, đồng thời đi sát quần chúng để lắng nghe, chọn lọc ý kiến quần chúng bổ sung cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Ngay cả trong trường hợp chính sách đúng rồi mà nhân dân chưa hiểu, chưa đồng tình thì cũng chưa làm được, mà phải “ra sức giáo dục, giải thích cho dân, biết chờ đợi dân, bởi ai thực hiện chính sách? Đó là nhân dân, không ai khác”. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng cũng phải phòng ngừa và triệt để phê phán, loại trừ mọi hành động xa rời quần chúng, quan liêu, hống hách, độc đoán, chuyên quyền… làm cho Đảng xa dân, thoái hóa, biến chất.

          Là một trong những người lãnh đạo chủ chốt trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đồng chí Trường Chinh đã vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân, với quan điểm “lấy dân làm gốc” để xây dựng đường lối chiến tranh toàn dân, phát huy cao độ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc đấu tranh trực diện với những nước đế quốc giàu mạnh. Thời kỳ trước Đổi mới, trăn trở trước nhu cầu bức thiết của nhân dân, đồng chí đã quyết định phải tổ chức đi thực tế ở các địa phương, tìm ra những bài học thành công và thất bại ở cơ sở, tìm hiểu những cách làm sáng tạo trong nhân dân cả nước, để trên cơ sở đó đổi mới cách nghĩ, cách làm. Tổng Bí thư Trường Chinh đã trực tiếp đi khảo sát, thực tế gần 20 tỉnh, thành phố từ miền Nam, ra miền Trung và về miền Bắc. Từ sự sâu sát, lắng nghe thấu đáo ý kiến nhân dân, đồng chí Trường Chinh đã thực sự làm một cuộc cách mạng từ trong tư duy của chính mình, khắc phục lối suy nghĩ bảo thủ, xa rời thực tế.

          Tại các Hội nghị Trung ương, Hội nghị của Bộ Chính trị Khóa V (chuẩn bị các văn kiện trình đại hội VI), đồng chí nêu bài học kinh nghiệm “sức mạnh của một nước, của cách mạng chính là ở nhân dân. Để thật sự phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, phải tin tưởng ở nhân dân, mọi chủ trương, chính sách đều phải lấy dân làm gốc”. Hơn nữa “với tư cách là người làm chủ đất nước, nhân dân ta cần phải và hoàn toàn có khả năng tham gia ý kiến ngay trong quá trình xác định những chủ trương và nhiệm vụ đó”. Tiêu chuẩn để xem xét sự đúng đắn trong chính sách của Đảng không chỉ là sự phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, mà còn phải “phù hợp với trình độ của quần chúng”, với ý nghĩa là phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng trực tiếp thực thi các chính sách của Đảng, biến đường lối, chính sách của Đảng thành hiện thực.

          Để đưa chính sách vào cuộc sống, đồng chí Trường Chinh nhấn mạnh, Đảng và Nhà nước “phải tạo ra phong trào cách mạng rộng lớn, sôi nổi của nhân dân lao động tự nguyện, hăng hái phấn đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Đánh giá chính sách của chúng ta đúng hay sai, tốt hay xấu là “phải nhìn ở chỗ đa số quần chúng có phấn khởi, đồng tình, hăng hái thực hiện hay không? Sản xuất có được đẩy mạnh, kinh tế có phát triển, đời sống có ổn định và từng bước cải thiện, quốc phòng, an ninh có vững mạnh hay không”. Với nhận thức sâu sắc đó, đồng chí Trường Chinh đã quyết định tổ chức lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của toàn Đảng, toàn dân để xây dựng và hoàn chỉnh bản dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng sẽ trình Đại hội VI. Việc làm đó đã mở đầu cho sự hình thành nền nếp của Đảng và Nhà nước ta lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

          Tại Đại hội lần thứ VI của Đảng, đồng chí Trường Chinh đã trình bày Báo cáo Chính trị có ý nghĩa lịch sử, trong đó nêu rõ: “Bài học lớn rút ra từ những năm qua là trong điều kiện Đảng cầm quyền, phải đặc biệt chăm lo củng cố sự liên hệ giữa Đảng và nhân dân; tiến hành thường xuyên cuộc đấu tranh ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa quan liêu. Mỗi đảng viên cộng sản phải thật sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng... Đó là bài học lịch sử vô giá của cách mạng nước ta”.

          Thứ ba, xây dựng bản lĩnh Đảng cách mạng chân chính.

          Để giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đặc biệt trong hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo, trong bước ngoặt quan trọng của cách mạng, đồng chí Trường Chinh chỉ rõ Đảng phải xây dựng và luôn giữ vững bản lĩnh, bản chất của Đảng cách mạng chân chính.

          Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng non trẻ của ta ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Đảng phải rút vào hoạt động bí mật (11/11/1945), nhưng dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng vẫn thực hiện vai trò lãnh đạo đầy đủ và có hiệu quả để chèo lái con thuyền cách mạng qua tình thế hiểm nghèo. Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc chủ trương làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh, tránh phải đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc của Trung ương Đảng và Chính phủ đã tỏ rõ sự nhạy cảm và bản lĩnh chính trị để phân tích, đánh giá tình hình, nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của những kẻ thù trực tiếp của cách mạng Việt Nam để đề ra những quyết sách thích hợp. Đồng chí Trường Chinh nêu rõ quan điểm chỉ đạo của Đảng là trong hoàn cảnh bấy giờ là phải giữ vững nguyên tắc nhưng hết sức mềm dẻo về sách lược. Vấn đề có tính nguyên tắc là quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc, bảo vệ chính quyền nhân dân và mọi thành quả của cách mạng; giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn bộ sự nghiệp cách mạng; củng cố vững chắc khối đại đoàn kết của toàn dân tộc. Với tinh thần đó, Trường Chinh viết tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”, góp phần định hướng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kiên cường kháng chiến, vượt lên mọi gian khổ, hy sinh và vững tin vào thắng lợi cuối cùng.

          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đồng chí Trường Chinh nhận thức sâu sắc: công tác cách mạng của chúng ta có thành tích và cũng có sai lầm, nhưng điều cốt yếu là “một khi phạm sai lầm dù lớn, dù nhỏ đều thành khẩn nhận hết sai lầm và kiên quyết sửa chữa... Vì đường lối cách mạng của Đảng ta đúng, bản chất chế độ ta tốt, quần chúng nhân dân ta nói chung vẫn tin tưởng ở Đảng và Chính phủ ta, cho nên ta có điều kiện tốt để ”sửa sai và tiến lên”. Nói đi đôi với làm, trước những sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất, đồng chí Trường Chinh nhận trách nhiệm, xin từ chức Tổng Bí thư để nhận nhiệm vụ Trưởng ban sửa sai và hoàn thành nhiệm vụ này một cách nghiêm túc, giữ vững uy tín của Đảng. Sau khi được bầu lại là Tổng Bí thư của Đảng được 3 tháng, tháng 10 năm 1986, phát biểu chỉ đạo tại Đại hội đại biểu Thành phố Hà Nội lần thứ X, đồng chí Trường Chinh đã nêu rõ: Với tinh thần tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, chúng ta cần phải phân tích một cách sâu sắc những khuyết điểm, sai lầm, trên cơ sở đó mà đề ra chủ trương, biện pháp kiên quyết và thực tế để đưa cách mạng nước ta nhanh chóng vượt qua khó khăn và tiếp tục vững bước tiến lên.

          Theo đồng chí Trường Chính, bản lĩnh của một Đảng cách mạng còn thể hiện rõ nét ở tinh thần dám đổi mới, dám đột phá vì lợi ích của nhân dân. Vào những năm 80 của thế kỷ XX, kinh tế khủng hoảng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn; hậu quả của chiến tranh; những dấu hiệu của biến động chính trị phức tạp trên thế giới, đã có những người hoang mang, dao động cho rằng nước ta sẽ trượt theo sự sụp đổ chế độ theo dây truyền của các nước xã hội chủ nghĩa Liên Xô, Đông Âu. Trong bối cảnh đó, trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (từ năm 1981), là Tổng Bí thư (từ 7/1986) đồng chí Trường Chinh đã tiên phong, dũng cảm tiến hành cuộc đấu tranh không khoan nhượng với những quan điểm bảo thủ, giáo điều, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp đã ăn sâu vào suy nghĩ của nhiều cán bộ, đảng viên thời kỳ đó. Trước Đại hội VI, khi lý luận về nền kinh tế kế hoạch tập trung, quốc doanh tập thể... đang là quan điểm chỉ đạo của Đảng, thì đồng chí Trường Chinh tổ chức hội nghị “ba quan điểm”, nêu lên ba luận điểm quan trọng đi ngược lại đường lối cũ là: phát triển kinh tế nhiều thành phần (thay vì chỉ có quốc doanh và tập thể); chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư (tập trung làm hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng thay vì hàng công nghiệp; bỏ, hoãn các dự án lớn nhưng không hiệu quả...) và đổi mới quản lý (thay vì tập trung quan liêu bao cấp bằng tự chủ và cơ cấu mở).Những quan điểm tại hội nghị này trở thành “linh hồn” của Văn kiện Đại hội VI.

          Với tinh thần dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đồng chí chỉ đạo toàn Đảng “phải đổi mới tư duy, thay đổi cách nghĩ, cách làm, dám thừa nhận và thay đổi những quyết định sai lầm trước đây của chính mình, dám dũng cảm xử lý những việc phức tạp”. Trong quá trình trực tiếp chỉ đạo chuẩn bị các văn kiện Đại hội lần thứ VI của Đảng, đồng chí nhấn mạnh: “Cần thấy rõ tính chất phức tạp, khó khăn của quá trình đổi mới. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và cái lạc hậu. Cái khó nhất là ở chỗ: Đây là cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng và cơ quan nhà nước, đấu tranh giữa những người đồng chí, đấu tranh với chính bản thân mình”.

          Một quyết định đầy bản lĩnh và chưa từng có của đồng chí Trường Chinh là viết lại toàn bộ Báo cáo Chính trị ngay sát ngày Đại hội theo quan điểm: Quyết tâm đưa đất nước phát triển theo đường lối mới. Chấp nhận hi sinh, mất mát để khắc phục những hậu quả sai lầm; bởi khi xem xét bản dự thảo báo cáo chính trị này, đồng chí nhận thấy nó chưa thể hiện và nắm bắt được nội dung các quan điểm đổi mới, nhất là đổi mới tư duy kinh tế. Báo cáo Chính trị và Nghị quyết của Đại hội VI là sự thể rõ nét nhất của tinh thần dũng cảm phê bình và tự phê bình; tinh thần dám đổi mới, sáng tạo; từ đó mở ra một trình độ mới trong nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật khách quan, khơi dậy được tính chủ động sáng tạo vô tận của nhân dân, phát huy được tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và tiếp tục củng cố sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội khủng hoảng nghiêm trọng trên thế giới.

          Có thể nói, giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc bài học về giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng mà đồng chí Trường Chinh đã kiên trì thực hiện trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã khẳng định một lần nữa những cống hiến to lớn, không mệt mỏi của đồng chí Trường Chinh: Người cộng sản mẫu mực, nhà lãnh đạo chính trị kiệt xuất của Đảng ta.

 

Việt Nam - Hàn Quốc dự kiến sẽ nâng cấp quan hệ song phương

 

Việt Nam - Hàn Quốc dự kiến sẽ nâng cấp quan hệ song phương

Đại sứ Việt Nam tại Hàn Quốc cho biết, Việt Nam - Hàn Quốc đã và đang tích cực chuẩn bị và triển khai nhiều hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, dự kiến sẽ chính thức nâng cấp khuôn khổ quan hệ song phương.

Nhận lời mời của Ngoại trưởng Hàn Quốc Chung Eui-yong và Tổng Thư ký Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Mathias Cormann, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn sẽ thăm chính thức Hàn Quốc và tham dự Hội nghị Bộ trưởng Chương trình Đông Nam Á (SEARP) của OECD từ ngày 9-11/2.

Chuyến thăm Hàn Quốc của  Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn có thể coi là hoạt động chính thức đầu tiên mở màn cho chuỗi hoạt động kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hàn Quốc. 

Đại sứ Việt Nam tại Hàn Quốc Nguyễn Vũ Tùng cho biết, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn sẽ có các cuộc làm việc với giới chức Hàn Quốc, tập trung thảo luận và thống nhất về các chương trình hành động cho năm kỷ niệm cũng như làm rõ hơn những định hướng cho quan hệ song phương trong thời gian tới mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã nhất trí.

Các lĩnh vực hợp tác được ưu tiên bao gồm chính trị ngoại giao, quốc phòng an ninh, kinh tế xã hội vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của hai nước và hai khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á cũng như các khu vực khác. Củng cố các mặt hợp tác hiện có và mở ra các mặt hợp tác mới, khôi phục các lĩnh vực hợp tác bị gián đoạn trong đại dịch.

Chuyến thăm sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ song phương, đúng với định hướng chung giữa hai nước là nâng tầm khuôn khổ quan hệ lên đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Trong chuyến thăm này, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng sẽ gặp đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc để chúc Tết, thăm hỏi và động viên bà con kiều bào.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn sẽ tham dự Chương trình Đông Nam Á của OECD, do Hàn Quốc chủ trì, với tư cách đồng Chủ tịch chương trình giai đoạn 2022- 2025. Ngoài ra, đại diện cho Việt Nam trong vai trò điều phối viên hợp tác ASEAN – Hàn Quốc giai đoạn 2020 – 2023, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng sẽ thảo luận với các đối tác Hàn Quốc về chủ đề này.

Đại sứ khẳng định chuyến thăm sẽ mở ra những cơ hội và lĩnh vực hợp tác mới giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong nỗ lực đề cao chủ nghĩa đa phương – nhất là từ quan điểm và lợi ích của những nước tầm trung và làm tăng sức sống của các cơ chế hợp tác đa phương, trong đó có ASEAN, Chính sách Hướng Nam tăng cường của Hàn Quốc.

"Chúng ta đã chứng kiến sự phát triển rất năng động của quan hệ song phương Việt – Hàn trong thời gian qua. Dù đại dịch Covid-19 đã gây ra nhiều khó khăn trong triển khai các hoạt động hợp tác, nhưng tính tổng thể, quan hệ song phương vẫn giữ đà phát triển", Đại sứ Tùng nói.

Bên cạnh các cuộc điện đàm, trao đổi trực tuyến, hai bên còn tổ chức các chuyến thăm cấp cao. Trong đó, nổi bật là chuyến thăm Hàn Quốc của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trong tháng 12/2021 và ngay sau đó là chuyến thăm của Bộ trưởng Công thương Nguyễn Hồng Diên. Chủ tịch Quốc hội Park Byeong-seug, các Bộ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Kang Kyung-wha và Chung Eui-yong cũng đã thăm Việt Nam trong các năm 2020 và 2021. Các hoạt động trao đổi cấp cao đã góp phần rất quan trọng trong việc giữ đà quan hệ song phương. 

Các lĩnh vực chủ chốt trong quan hệ song phương tiếp tục phát triển. Theo số liệu đến cuối tháng 11/2021, thương mại hai chiều đạt 70,38 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2020.

Trong năm 2021, Hàn Quốc đã trở thành nước đầu tư trực tiếp lớn thứ hai ở Việt Nam với tổng mức đầu tư trong năm đạt 7,4 tỷ USD, tăng 85% so với năm 2020. Hàn Quốc tiếp tục là nước cấp viện trợ phát triển lớn thứ hai cho Việt Nam với mức cam kết là 1,5 tỷ USD trong giai đoạn 2016 - 2020.

Cộng đồng Việt Nam ở Hàn Quốc (ước tính trên 240.000 người) và cộng đồng người Hàn Quốc ở Việt Nam (khoảng 200.000 người) tiếp tục khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống, tăng cường thích ứng trong bối cảnh đại dịch. 

Sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa hai nước trên các diễn đàn đa phương, trong đó có ASEAN và các cơ chế đa phương khu vực do ASEAN dẫn dắt, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Nghị viện châu Á – Thái Bình Dương cũng như trong các cơ chế thương mại đa phương như Hiệp định Tự do thương mại ASEAN-Hàn Quốc, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và kể cả trong các cơ chế tiểu khu vực như Me Kong. 

Đặc biệt, hai nước đã hỗ trợ lẫn nhau một cách hiệu quả trong các tình huống cần thiết. Chính phủ và nhân dân Hàn Quốc đã tặng cho Việt Nam trên 1,4 triệu liều vắc xin phòng Covid-19. Doanh nghiệp và các tổ chức hữu nghị Hàn Quốc đã đóng góp hơn 20 triệu USD vào Quỹ Vắc xin của Việt Nam cũng như nhiều viện trợ hiện vật giúp Việt Nam chống dịch.

Trong khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã kịp thời đảm bảo nguồn cung tới 30% nhu cầu về urê cho thị trường Hàn Quốc và các địa phương của Việt Nam đã tích cực giúp đỡ doanh nghiệp Hàn Quốc đảm bảo sản xuất kinh doanh trong giai đoạn chống dịch.

Sự phát triển của các lĩnh vực hợp tác kể trên đã góp phần nâng mức độ tin cậy và sự hiểu biết giữa hai nước trên các cấp độ quốc gia, địa phương và nhân dân. Đó chính là cơ sở để hai nước nâng cấp khuôn khổ quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện trong thời gian tới. 

Đại sứ Việt Nam đánh giá tiềm năng hợp tác song phương còn rất lớn. Hai bên đặt ra mục tiêu phấn đấu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 100 tỷ USD năm 2023 và 150 tỷ USD năm 2030 theo hướng cân bằng cán cân thương mại hơn và khuyến khích các doanh nghiệp Hàn Quốc mở rộng quy mô đầu tư tại Việt Nam trong khi đưa các doanh nghiệp Việt Nam lên mức cao hơn trong các chuỗi cung ứng và giá trị.

Hai bên đã và đang tích cực chuẩn bị và triển khai nhiều hoạt động trong kế hoạch kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Đại sứ Nguyễn Vũ Tùng cho hay, hai bên sẽ tổ chức các chuyến thăm, sự kiện cấp nhà nước, trao đổi điện mừng cấp cao vào ngày kỷ niệm 22/12, theo đó hai bên dự kiến sẽ chính thức nâng cấp khuôn khổ quan hệ song phương.

Các hội đoàn hữu nghị và các địa phương của hai bên cũng sẽ tổ chức các hoạt động kỷ niệm. Các hoạt động giao lưu, quảng bá văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, thi đấu thể thao . . . sẽ được tổ chức tại cả hai nước.

Bộ Ngoại giao hai nước đã mời được một số nhân vật tiêu biểu có đóng góp vào quá trình hình thành và phát triển quan hệ song phương, tham gia tổng kết 30 năm quan hệ cũng như đề xuất các biện pháp mới đưa quan hệ tiếp tục phát triển. 

 

LẠM DỤNG MỸ TỪ, KHUẾCH TRƯƠNG DANH XƯNG

 Đối với những người cầm bút chuyên nghiệp và các cơ quan báo chí, truyền thông thì không nên sử dụng tràn lan các từ ngữ, danh xưng kiểu như “mỹ nam”, “nam thần”, “nam vương”, “soái ca”... rồi ghán ghép cho các ca sĩ, diễn viên, người mẫu trẻ khi bản thân họ chưa thực sự hội tụ đủ vẻ đẹp, tài năng, phong cách nghề nghiệp mà công chúng chân chính mong đợi.

“NHẬP KHẨU” ĐỦ THỨ MỸ TỪ HÀO NHOÁNG

Chưa thời nào mà ngôn ngữ giới trẻ lại đa dạng, nhiều màu sắc như thời nay. Điều này không có gì khó hiểu, bởi “thế giới phẳng” và các phương tiện nghe nhìn hiện đại đến với mọi người, mọi nhà, len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống thì việc giới trẻ tiếp nhận các từ ngữ ngoại nhập để góp phần làm phong phú, tươi mới lời ăn tiếng nói hằng ngày của mình.

Nói về trai tài gái sắc, người xưa gói gọn trong cụm từ “tài tử giai nhân”. “Tài tử” sau này mở rộng ý nghĩa để nói về những diễn viên sân khấu, điện ảnh, xiếc có tài năng và sự hào hoa, phong độ. Vẻ tài tử của các nam diễn viên điện ảnh, sân khấu có thể trở thành điểm nhấn của một vở diễn, một bộ phim và cũng là sức hút đối với khán giả.

Khoảng một thập niên gần đây, dưới con mắt của giới trẻ, những chàng trai có tài năng cùng với ngoại hình ưa nhìn, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, thể thao (ca sĩ, diễn viên, vũ công, người mẫu, vận động viên, huấn luyện viên thể hình...) thì được gắn với nhiều cái tên đầy gợi cảm như “mỹ nam”, “nam thần”, “soái ca”, “nam vương”...

“Mỹ nam” là từ ngữ có nguồn gốc từ Hàn Quốc, được sử sụng phổ biến từ đầu những năm 2000, để chỉ các ca sĩ, diễn viên trẻ có khuôn mặt tươi tắn, phong cách cá nhân và thời trang nổi bật, dễ thu hút và trở thành thần tượng của giới trẻ ở xứ sở kim chi.

“Nam thần” có gốc gác từ những cuốn sách, bộ phim ngôn tình Trung Quốc, để nói về những chàng trai đẹp đẽ, giỏi giang, từ vóc dáng hình thể đến phong cách nói năng đều toát lên sự hào hoa, nhã nhặn, dễ tạo ấn tượng, sức hút đối với các thiếu nữ.

“Soái ca” có nguồn gốc từ tiếng Hán. “Soái” xuất phát từ “thống soái”, “nguyên soái”, nghĩa là người đàn ông đứng đầu một đội quân tinh nhuệ, có tài năng về chiến thuật, nghệ thuật quân sự để điều binh khiển tướng trong các cuộc chiến đấu. Theo nghĩa gốc, “soái ca” để chỉ người đàn ông có dũng khí, bản lĩnh, quyền lực, oai phong, lẫm liệt, có thể quyết định đến vận mệnh của cả một đội quân, quốc gia, dân tộc. Sau này, “soái ca” xuất hiện trong truyện ngôn tình ở Trung Quốc, dành để chỉ những chàng trai trẻ đẹp, tài năng, chung tình, bên ngoài tỏ vẻ lạnh lùng mà bên trong ấm áp. Đây là “hình mẫu lý tưởng” mà nhiều cô gái trẻ mơ ước.

“Nam vương” là một danh hiệu dành cho những chàng trai đoạt ngôi vị cao nhất trong các cuộc thi tôn vinh vẻ đẹp nam tính mang tầm quốc tế như Mister Internationnal, Mister World, Mister Global... hay cuộc thi trong nước như Mister Vietnam. Người đoạt ngôi vị nam vương là những người mẫu sở hữu thân hình cân đối, vóc dáng săn chắc, khỏe mạnh, tràn đầy năng lượng tích cực và hút mắt giám khảo cùng khán giả trong suốt quá trình thi.

BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG KHÔNG NÊN LẠM DỤNG MỸ TỪ, KHUẾCH TRƯƠNG DANH XƯNG

Việc nhập khẩu các từ ngữ chỉ vẻ đẹp toàn năng, vẻ đẹp thánh thiện của nam giới trẻ (“mỹ nam”, “nam thần”, “soái ca”, “nam vương”...) vào môi trường giao tiếp, đời sống ngôn ngữ hằng ngày và trên các phương tiện truyền thông đại chúng là điều bình thường. Vấn đề đáng nói là những từ ngữ này nhiều khi sử dụng không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng, thậm chí có biểu hiện lạm dụng thái quá, lệch chuẩn.

Một số nam ca sĩ, diễn viên trẻ có ngoại hình khá ưa nhìn, song phải nhờ công nghệ photoshop chỉnh sửa và được các góc quay camera chau chuốt mà hình ảnh anh ta xuất hiện trên mạng xã hội, thể hiện trong các MV (music video) hay trong các bộ phim truyền hình mới trở nên tươi đẹp, bắt mắt. Còn kỹ thuật giọng hát, kỹ năng diễn xuất, nói chung là nội lực thanh sắc của những ca sĩ, diễn viên này cũng chỉ trên mức bình thường một chút. Tuy nhiên, qua con mắt nhận định, đánh giá của một số cây bút theo dõi mảng văn hóa giải trí, những ca sĩ, diễn viên này được gắn với những dòng tít, dòng chữ rất mùi mẫn, như: “Mỹ nam vừa ra mắt MV mới đã đốn tim hàng triệu cô nàng”; “Nam thần thu hút triệu like nhờ thủ vai chính trong phim”; “Chàng ca sĩ soái ca sắp lên xe hoa khiến nhiều fan nữ ngẩn ngơ”; “Nam vương đa tài khi đóng phim, làm MC, thi gameshow, ngồi ghế nóng ban giám khảo cuộc thi người mẫu”, v.v...

Trong thực tế, một bộ phận công chúng, nhất là giới trẻ có thể chưa hiểu hết gốc gác, ý nghĩa của các từ “mỹ nam”, “nam thần”, “soái ca”, “nam vương” nên sử dụng còn có phần lẫn lộn, bát nháo, thì dẫu sao cũng dễ bề thông cảm vì cái nhìn hời hợt, bồng bột của lứa tuổi chưa đủ độ chín, thiếu vốn văn hóa và vốn sống.

Đối với những người cầm bút chuyên nghiệp và các cơ quan báo chí, truyền thông thì không nên sử dụng tràn lan các từ ngữ, danh xưng này rồi ghán ghép vào các ca sĩ, diễn viên, người mẫu trẻ khi bản thân họ chưa thực sự hội tụ đủ vẻ đẹp, tài năng, phong cách nghề nghiệp mà công chúng chân chính mong đợi. Bởi cách truyền thông như vậy vô hình trung đội lên một vầng hào quang giả tạo cho ca sĩ, diễn viên, người mẫu, từ đó tung hô, cổ súy lối sống hư danh, cuồng thần tượng của một bộ phận giới trẻ đang có nguy cơ làm vẩn đục môi trường văn hóa nghệ thuật của nước nhà.
-------------
PT.TG. st


Càng ở những nơi khó khăn, gian khổ thì càng có nhiều sự cống hiến, hy sinh của tuổi trẻ toàn quân

 

Phát biểu của Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Truyền thống Thanh niên Quân đội, Ban Thanh niên Quân đội (8-2-1952 / 8-2-2022) và đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất.

BIÊN GIỚI PHÍA BẮC 1979: “…CHÚNG TÔI ĐÃ CHIẾN ĐẤU HẾT ĐẠN, XIN VĨNH BIỆT CÁC ĐỒNG CHÍ”


          Trong hàng triệu bức điện mật xuyên suốt từ thời chiến đến thời bình, phần lớn các bức điện nhằm duy trì thông tin liên lạc, chỉ đạo, chỉ huy của lãnh đạo. Nhưng cũng có những bức điện mật là lời chào, lời từ biệt gửi tới đồng đội; phản ánh sự khốc liệt của những năm tháng chiến tranh bảo vệ tổ quốc. Một trong số đó là bức điện mật cuối cùng của chiến sĩ cơ yếu đồn Pha Long, với những lời từ biệt đồng đội: “...Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí”.

          Trong lịch sử đấu tranh cách mạng, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta, Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc đã dành sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cho Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi đất nước Việt Nam được thống nhất, Trung Quốc đã tăng cường các hoạt động tuyên truyền, kích động tâm lý thù hằn dân tộc, khiêu khích vũ trang, xâm lấn đất đai… gây nên tình hình căng thẳng, phức tạp giữa hai nước, mà đỉnh điểm là cuộc tiến công của quân Trung Quốc vào biên giới phía Bắc Việt Nam (tháng 2/1979). Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước Việt Nam kiên trì chủ trương giải quyết tình hình nói trên bằng giải pháp hòa bình, đồng thời khẩn trương tăng cường lực lượng, đẩy mạnh xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước.

          Trong những ngày cuối năm 1978 đầu năm 1979, theo ý kiến chỉ đạo của Bộ Tư lệnh, phụ trách cơ yếu các đơn vị đã nhanh chóng rà soát, bổ sung tiếp vào kế hoạch bảo đảm liên lạc qua kỹ thuật mật mã trong chiến đấu. Các đơn vị đã cử cán bộ cơ yếu xuống các đồn biên phòng kiểm tra, giúp đỡ cơ yếu đồn thực hiện kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu theo phương án đã quy định của cấp trên. Các quy ước liên lạc trong tình huống khẩn cấp đã được các đồn thực tập liên lạc thử về tỉnh và vượt cấp về Bộ Tư lệnh.

          Ngày 17/2/1979, hàng chục vạn quân Trung Quốc đồng loạt vượt biên giới Trung Quốc - Việt Nam, tiến công nhiều mục tiêu trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nhằm nhanh chóng đánh chiếm một số thị xã, đường tiếp tế của Việt Nam từ phía sau lên. Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn, Cao Bằng, hướng quan trọng là Lào Cai, hướng phối hợp là Phong Thổ, Lai Châu, hướng nghi binh để thu hút lực lượng của Việt Nam là Hà Tuyên và Quảng Ninh.

          Cách đánh chủ yếu của Trung Quốc là sử dụng lực lượng áp đảo bất ngờ tiến công đồng loạt, tập trung vào hướng chính diện kết hợp với vu hồi, thọc sâu, bao vây, chia cắt lực lượng ta, đặc biệt là sử dụng pháo binh gây sát thương lớn cho bộ đội và dân thường Việt Nam. Tại Lào Cai, Trung Quốc dùng 2 trung đoàn bộ binh bất ngờ tấn công đồn Pha Long, nhằm triển khai ý đồ chiến thuật cắt rời mảnh đất hình tam giác này ra khỏi thế trận liên hoàn toàn tỉnh Hoàng Liên Sơn.

          Đồn Pha Long rơi vào thế cô lập, bị bao vây. Với tinh thần cách mạng, các chiến sĩ đã chiến đấu phòng ngự trong suốt 4 ngày đêm chống trả số lính thiện chiến, có sự yểm trợ của pháo binh và đông gấp nhiều lần bên ta. 9 giờ ngày 18/2/1979 địch tập trung lực lượng lớn tiếp tục áp sát đồn, kêu gọi chiến sĩ ta đầu hàng. Cán bộ chiến sĩ đồn Pha Long vẫn bình tĩnh ngoan cường nổ súng vào đầu quân xâm lược. Những lúc ác liệt đó, chiến sĩ Nguyễn Duy Mạc, nhân viên Cơ yếu Đồn Biên phòng Pha Long (Hoàng Liên Sơn) vẫn liên tục một tiếng, rồi ba mươi phút một lần mã điện báo cáo về Tỉnh và Bộ Tư lệnh. Quyết tâm chiến đấu của cán bộ chiến sĩ đồn Pha Long đã được chiến sĩ Mạc chuyển đi ngay trưa 18/2/1979: “Đồn Pha Long bị bao vây, địch đã chiếm hết các chốt của ta, lực lượng thương vong nhiều. Nhưng anh em chúng tôi còn lại kiên quyết không rời vị trí chiến đấu. Dù còn một người cũng chiến đấu”. 11 giờ 20 ngày 18/2/1979, bộ phận cơ yếu tỉnh bộ Công an vũ trang Hoàng Liên Sơn đã cấp tốc chuyền ngay mệnh lệnh chiến đấu của Ban chỉ huy Tỉnh cho đồn Pha Long và đại đội 3 cơ sở biên phòng: “Đại đội 3 chi viện ngay cho đồn Pha Long để cùng phối hợp chiến đấu. Các đồng chí hãy nêu cao khí phách anh hùng dù hy sinh cũng phải chiến đấu đến cùng, kiên quyết không đầu hàng địch, không để địch bắt sống”. Tiếp đó, Phòng Cơ yếu cũng mã ngay chỉ thị khẩn cấp của Bộ Tư lệnh cho Trung đoàn 16 cơ động biên phòng: “Điều ngay tiểu đoàn một ở Mường Khương triển khai cùng tác chiến với đồn Pha Long. Cho một đại đội khác tìm đường từ Xi Ma Cai lên Pha Long cùng chiến đấu. Nhận chỉ thị này thực hiện ngay không được chậm”. Thời điểm ấy, Đồn trưởng Pha Long đi công tác xa, việc chỉ huy do thượng úy Trần Ngọc, Chính trị viên kiêm Bí thư Chi bộ Đồn.

          Mặc dù, trước đó đã được chi viện tăng cường, nhưng do bị vây đánh suốt mấy ngày liền, lương thực, đạn dược cạn dần, thương vong ngày càng cao... Đến sáng 19/2/1979, quân Trung Quốc đông gấp nhiều lần. Trước nguy cơ Đồn bị rơi vào tay địch, Phòng Cơ yếu đã điện chỉ đạo cho cơ yếu đồn Pha Long: “Tình hình không bảo đảm an toàn tài liệu thì báo cáo Ban chỉ huy đồn tìm cách bảo vệ hoặc xử lý ngay”. 11 giờ ngày 19/2/1979, Cơ yếu đồn Pha Long đã mã bức điện cuối cùng của Ban Chỉ huy Đồn báo cáo Bộ Tư lệnh và Ban chỉ huy tỉnh: “Một Sư đoàn địch đang vây hãm đồn. Chúng tôi đã chiến đấu hết đạn. Xin vĩnh biệt các đồng chí”.

          Chiến tranh đã qua đi nhưng kí ức về một thời bom đạn vẫn còn đó. Càng thấm thía, biết ơn sâu sắc đối với lớp lớp thế hệ cha anh đi trước đã hy sinh xương máu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc...

 

 

“DÙ CÓ PHẢI ĐỐT CHÁY CẢ DÃY TRƯỜNG SƠN” CŨNG QUYẾT PHẢI CHỐNG CHO ĐƯỢC THAM NHŨNG, TIÊU CỰC


          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”. Một trong các lý do để Đảng ta ban hành Kết luận số 21 đó là: Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sự tồn vong của Đảng và chế độ, sự phát triển bền vững của đất nước. 92 năm qua kể từ khi có Đảng, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân đã được phát huy tối đa; điều đó được chứng minh dân tộc ta đã đánh thắng 2 đế quốc hùng mạnh nhất, cả dân tộc chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu sánh vai cùng các cường quốc 5 Châu; như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

          Tuy nhiên hiện nay, việc huy động sức mạnh lòng dân để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước; đang gặp phải những rào cản từ một số cán bộ, đảng viên trong bộ máy công quyền. Đó là một số đảng viên không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả…

          Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều, làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghi hưu. Hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng, thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Số khác cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức, lối sống đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín, dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Xa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.

          Nguy hiểm hơn là họ gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc; sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động. Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. Bổ nhiệm thần tốc; đưa con, cháu vào những vị trí dễ “vinh thân, phì gia”.

          Những vụ án mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương đưa ra ánh sáng lần sau có số nghìn tỷ, nhiều hơn lần trước và thực tế công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực mới chỉ nóng ở cấp Trung ương; còn cấp bộ, ngành, tỉnh, huyện còn rất nguội lạnh. Vậy sẽ còn bao nhiêu con voi nghìn tỷ nữa, hằng ngày, hằng giờ chui lọt lỗ kim? Và một điều chắc chắn là khi cán bộ, đảng viên càng tham nhũng, tiêu cực thì niềm tin của nhân dân vào Đảng càng dần vơi cạn.

          Một mùa Xuân mới đang về trên khắp quê hương, đất nước; quyết tâm của Đảng ta tại Đại hội XIII là vô cùng lớn, khát vọng phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được bạn bè 5 châu và nhân dân đồng tình ủng hộ. Chúng ta đã một lần quyết tâm dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết dành cho được độc lập; thì lần này muốn Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn được Nhân dân tin tưởng và trường tồn cùng non sông đất nước; muốn sự nghiệp xây dựng đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc 5 châu như Bác Hồ hằng mong muốn thành công. Thì dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn một lần nữa chúng ta cũng quyết phải chống cho bằng được tham nhũng, tiêu cực.

NHẬN RÕ BẢN CHẤT CỦA VIỆC KÊU GỌI ĐÓNG GÓP “QUỸ ỦNG HỘ TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM”


          Lâu nay, giới “dân chủ” vẫn thực hiện vô số chiêu trò để đánh lừa dư luận. Song song với việc gieo rắc các thông tin độc hại, những kẻ này cũng ra sức kêu gọi người dân đóng góp vào các “quỹ ủng hộ tù nhân lương tâm” – thực chất là hành động huy động vật chất phục vụ mục đích chống phá. Gần đây, đối tượng “dân chủ” Hoàng Dũng đăng đàn kêu gọi với nội dung: “Tết sắp đến rồi, mình có số tài khoản ngân hàng của hầu hết các tù nhân lương tâm dưới đây. Anh chị em có muốn gửi quà Tết cho người nào, xin vui lòng nhắn tin cho mình, mình sẽ gửi số tài khoản”.

          Trong danh sách các “tù nhân lương tâm”, Hoàng Dũng liệt kê ra hàng loạt cái tên cộm cán của giới dân chủ là Lê Anh Hùng, Huỳnh Trương Ca, Lê Đình Lượng, Cấn Thị Thêu, Lê Dũng Vova… Các cơ quan chức năng của Việt Nam không ít lần nhấn mạnh tại Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Ấy thế nhưng những chiếc “mõ làng dân chủ” lại cố tình xuyên tạc, tô vẽ ra cái gọi là “tù nhân lương tâm” để đánh lạc hướng dư luận, tạo cớ chống phá chính quyền.

          Vậy đằng sau chiêu trò khóc mướn, kêu gọi ủng hộ cho các đối tượng “tù nhân lương tâm” mục đích thực sự là gì? Nói trắng ra, hành động của các đối tượng thực chất là việc xin tiền một cách hết sức thô thiển để nuôi dưỡng các hoạt động chống phá đất nước. Núp dưới chiêu trò đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền”, các đối tượng xấu đã tìm mọi cách để huy động các nguồn vật chất. Trong đó có thể kể đến các loại quỹ với các tên hết sức thu hút như “quỹ 50k”, “quỹ thiện nguyện vì dân”…

          Thực tế, các đối tượng được xếp vào nhóm “tù nhân lương tâm” đều là những kẻ chống phá hết sức quyết liệt, có hành vi vi phạm pháp luật hình sự một cách nghiêm trọng, xâm phạm đến an ninh quốc gia của Việt Nam. Việc kêu gọi “ủng hộ” cho những kẻ này không phải là việc thúc đẩy sự phát triển của “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” như những gì các đối tượng xấu đang rêu rao. Mục đích chính hành động này là kêu gọi tài trợ về vật chất trên danh nghĩa hỗ trợ, ủng hộ các “tù nhân lương tâm”.

          Thông qua việc ủng hộ về vật chất, các đối tượng xấu tiếp tục hướng lái, kích động người nhà của những kẻ bị kết án đi vào “con đường dân chủ”. Chúng ta đã được chứng kiến không ít trường hợp cả gia đình đi theo “con đường dân chủ”. Một số trường hợp khác, thông qua người nhà, người thân của các “tù nhân lương tâm”, các đối tượng đã thêu dệt, tô vẽ ra vô số vấn đề đen tối, quy chụp cho rằng những kẻ đang chấp hành án bị dùng nhục hình trong trại giam… Tất cả những điều này đã trở thành cái cớ để các thế lực thù địch bên ngoài tiếp tục chống phá chính quyền.

          Mặt khác, việc kêu gọi ủng hộ cho các “tù nhân lương tâm” cũng là một cách để đánh bóng tên tuổi cho những kẻ đứng ra kêu gọi lẫn những kẻ đang chấp hành án. Trong “nghề dân chủ”, các đối tượng không từ bất cứ thủ đoạn gì để xây dựng, tô vẽ hình tượng bản thân nhằm khiến dư luận lầm tưởng cho rằng những kẻ này đầy đạo đức, nhân nghĩa.

          Vậy nhưng thực tế, “nghề” này có sự cạnh tranh hết sức khốc liệt. Nếu muốn nổi tiếng, muốn nhận được “đầu tư” từ bên ngoài thì mỗi “nhà dân chủ” phải tự đánh bóng tên tuổi bản thân. Với những kẻ đang trong tù, nếu tên tuổi bản thân không được nhắc đến thì sẽ nhanh chóng bị rơi vào quên lãng. Với những kẻ “dân chủ mới nổi”, do thâm niên trong nghề chưa cao, “uy tín” còn thấp nên chưa nhận được sự chú ý đầu tư từ bên ngoài. Vì vậy, việc kêu gọi ủng hộ là một cách mượn danh các đối tượng “dân chủ” cộm cán đang bị kết án để nâng cao địa vị bản thân.

          Từ việc kêu gọi, những kẻ này hoá thành “ân nhân” của một số kẻ được hưởng lợi. Thông qua đó, những đối tượng “dân chủ” móc nối với nhau, mở rộng phạm vi hoạt động, hình thành các “liên kết ma quỷ” chống phá đất nước. Đồng thời, thông qua việc kêu gọi ủng hộ các “tù nhân lương tâm”, các đối tượng tạo ra một bức tranh nguệch ngoạc, tăm tối, u ám về tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Những kẻ này “tẩy trắng” cho các đối tượng bị kết án, vu khống chính quyền “đàn áp người vô tội”, tạo cớ cho các thế lực bên ngoài can thiệp, tác động vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đây là những điều không thể chấp nhận được.

          Núp dưới chiêu trò “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá đất nước không phải là thủ đoạn mới. Tuy nhiên, đây vẫn là chiêu bài chính được sử dụng để chống phá chế độ. Vì vậy, người dân phải hết sức cảnh giác trước các thông tin được những kẻ mang danh nghĩa “dân chủ” tung ra và kiên quyết vạch trần bộ mặt “giả nhân, giả nghĩa” của các đối tượng chống phá./.

HỘI TỤ TÂM VÀ TẦM

Ngay trong tuần đầu, sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật sẽ tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.