Thứ Tư, 9 tháng 2, 2022

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN MÃI MÃI LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA CÁC ĐẢNG CỘNG SẢN VÀ NHÂN LOẠI TIẾN BỘ


Mác, Ăngghen, Lênin không phải là những “nhà tiên tri”, những ông “thầy bói của lịch sử” như mấy ai bôi nhọ hay huyễn hoặc. Các ông là những nhà cách mạng, nhà khoa học chân chính, thiên tài. Chủ nghĩa mà các ông sáng lập và đấu tranh không mệt mỏi để thực hiện nó, là hành động một cách dũng cảm và cách mạng biến cái lô-gích phát triển tất yếu của nhân loại, trên cơ sở giải phẫu các xã hội mà loài người đã và đang tồn tại, để các quốc gia, dân tộc đi tới tương lai.

Nói cách khác, lý luận của các ông chỉ giúp loài người lựa chọn điều cần và phải đi con đường dẫn tới chân lý, với những lực lượng tiên quyết, những điều kiện có tính chất cần và đủ, khi đứng ở ngã ba lịch sử của sự lựa chọn và phải quyết định, gồm: Một ngả dẫn đến vũng lầy của sự lầm lẫn, còn ngả kia là đi tới chân trời sáng sủa, tất yếu. Diễn đạt cụ thể, các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ đơn thuần giải phẫu các hình thái kinh tế-xã hội, mà bắt đầu từ cấu trúc nền tảng để làm nổi bật lên những vấn đề của chúng và cuối cùng, dự báo sự sụp đổ tất yếu và sự thay thế giữa chúng với nhau hoặc tuần tự hoặc nhảy vọt một cách biện chứng, theo quy luật.

Cố nhiên, chúng ta không thể phủ nhận một điều là, những thập kỷ 70, 80, nhất là những năm 90 của thế kỷ 20, trong quá trình hiện thực hóa lý luận mác-xít, những người cộng sản vấp phải khó khăn to lớn. Đặc biệt, trong thời điểm lịch sử ở vào tình thế có tính bước ngoặt, khi xu thế toàn cầu hóa trở thành phổ biến với xung lực tất yếu và mạnh mẽ là kinh tế tri thức, công việc đó càng trở nên khó khăn gấp bội; và cho thấy, sẽ chỉ “sống sót” những lực lượng chính trị nào có thể đáp lại những thách thức mới của thời đại, tiếp tục đủ sức gánh vác trọng trách đó của lịch sử.

Nhân loại đang trở về với Mác. Nhưng trở về với Mác, với Lênin như thế nào? Tất nhiên sự trở về không phải là sự thuộc lòng học thuyết của các ông, rập khuôn nó và coi nó như “chiếc chìa khóa vạn năng” nào đó, bất chấp những sự thay đổi của lịch sử. Như thế, vô hình đã bóp nghẹt sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin, điều mà các ông lúc sinh thời đã cảnh báo và lịch sử từng nghiêm khắc phê phán. Mác không bao giờ và chưa bao giờ tiên thiên, không khi nào rơi vào định mệnh! Nói một cách hình ảnh, ông chỉ vén mây mù để tất cả nhìn thấy trời xanh tất yếu của sự tự do và con đường đi tới nó một cách tự nhiên, còn đi như thế nào lại tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia, dân tộc và tình thế lịch sử cho phép.

Lênin cũng thế. Ông rất căm ghét thói rập khuôn mù quáng. Cả hai ông đòi hỏi sự phê phán nghiêm ngặt học thuyết của các ông chứ không phải khư khư bám giữ những điều có thể là đúng với hôm qua, nhưng hôm nay đã bị cuộc sống vượt qua. Đó chính là nguồn gốc sức sống, con đường phát triển của chính lý luận Mác-Lênin - học thuyết cách mạng phê phán và tự phê phán cách mạng! Vượt qua tất cả các học thuyết hiện nay, Chủ nghĩa Mác-Lênin đã mở ra một chân trời khám phá và sáng tạo không ngừng. Vì toàn bộ thế giới quan của học thuyết Mác, nói như Ăngghen, không chỉ là một học thuyết mà còn là phương pháp. Nó đưa ra không phải những giáo điều có sẵn mà là những xuất phát điểm để tiếp tục nghiên cứu toàn diện lịch sử.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Trong cương lĩnh chính trị thành lập Đảng năm 1930, Đảng ta đã quyết định con đường cách mạng Việt Nam là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. 92 năm qua, với những thắng lợi đã giành được của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta thêm tự hào về dân tộc Việt Nam - một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo; tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện đã một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

 

Tích cực học tập lý luận chính trị góp phần tu dưỡng đạo đức cho cán bộ, đảng viên


Vấn đề học tập lý  luận chính trị nói đã nhiều, nhưng nhìn chung, chất lượng, hiệu quả chưa cao. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ chưa bị đẩy lùi. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả; nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy chưa sâu sát, mạnh mẽ và thống nhất.

Phát biểu khai mạc lớp lý luận khoá I Trường Nguyễn Ái Quốc (7/9/1957), Bác Hồ chỉ rõ: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng viên và cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản thật vững chắc, giác ngộ về chủ nghĩa xã hội cao; đòi hỏi cán bộ và đảng viên phải… rửa sạch chủ nghĩa cá nhân… Muốn thế phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng”. Tiếp sau đó, khi viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” (1958), Người cũng khuyên bảo đảng viên và cán bộ phải: “Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin… để nâng cao tư tưởng”. Bởi vì, có học tập, cố gắng học tập tốt mới hiểu sâu sắc rằng, Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của dân tộc. Ngoài lợi ích của giai cấp, của Nhân dân và dân tộc  “Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Có học tập mới hiểu: “... cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Đồng thời còn hiểu đúng: “Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng”; “là một kẻ địch hung ác”. Nó “đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí...”. “Người cách mạng phải tiêu diệt nó”… Qua học tập còn giúp đảng viên và cán bộ hiểu rõ: “... lợi ích của người đảng viên phải ở trong chứ không thể ở ngoài lợi ích của Đảng. Vì vậy: “… vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.

Nhưng do chưa hiểu biết đầy đủ, sâu sắc những điều nói trên nên một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “chưa rửa gột sạch chủ nghĩa cá nhân… Rồi dần dần họ xa rời Đảng, thậm chí phá hoại chính sách và kỷ luật của Đảng”. Do “… bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc” nên một số “trở nên kiêu ngạo, công thần, tự cao tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc tự phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng”. Họ không thực hiện tốt, không thể hiện đúng: “Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng”; “làm cho dân tin, dân phục, dân yêu”… Do bị “chủ nghĩa cá nhân ám ảnh”, một số đảng viên và cán bộ “tự cho mình cái gì cũng giỏi, họ xa rời quần chúng… Kết quả là quần chúng không tin, không phục, càng không yêu họ. Chung quy là họ không làm nên trò trống gì”. Bác khẳng định: “Có học tập lý luận Mác - Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường”. Nhưng phải quán triệt sâu sắc và thực hiện đúng yêu cầu: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”. Đề phòng và loại trừ lối “học sách vở Mác - Lênin, nhưng không học tinh thần Mác - Lênin. Học để trang sức, chứ không phải để vận dụng vào công việc cách mạng”. Học kiểu đó cũng là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Vì vậy, thời gian tới đây phải tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thật sự hiệu quả, thiết thực trong việc học tập lý  luận chính trị, nhằm góp phần bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên; góp phần xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Đây chính là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Ðảng về mặt tư tưởng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt việc học tập, gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Ðảng trên lĩnh vực lý luận chính trị. Ðổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị, ứng dụng các phương pháp hiện đại, hấp dẫn người học, tạo hứng thú tìm tòi, nghiên cứu. Ðổi mới hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá thực chất kết quả học tập theo hướng thực chất. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong học tập. Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị phù hợp với nhu cầu quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ./.




 

XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


 Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, nhà hoạt động chính trị kiệt xuất, người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại mà Người còn là một nhà văn hoá lỗi lạc, một danh nhân văn hoá được cả thế giới công nhận và ngưỡng mộ. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm sâu sắc đến sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá mới ở Việt Nam. Mỗi cử chỉ, mỗi lời nói và việc làm của Người trong quan hệ với đồng chí, đồng bào, với bạn bè quốc tế... trên các cương vị khác nhau khi là nhà báo, lúc là nhà văn, nhà thơ, hay trên cương vị Chủ tịch nước, ở Người đều toả ra ánh hào quang văn hoá, đó là kết tinh của những giá trị văn hoá tốt đẹp nhất. Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá nói riêng là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

Mang trong mình truyền thống văn hoá Phương Đông, lại được tiếp thu những tinh hoa  văn hoá của nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt là ánh sáng khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, với phẩm chất thiên tài, Hồ Chí Minh đưa ra cách hiểu văn hoá rất rộng, rất sâu sắc và khái quát cao, song cũng rất cụ thể và dễ hiểu, dễ đi vào lòng người. Mặc dù đã có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về văn hoá khác nhau, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá rất gần với cách hiểu mà 40 năm sau (1982) UNESCO mới nêu lên. Trong mục “Đọc sách” ở phần cuối tập “Nhật ký trong tù” (1942-1943), Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Chính văn hoá được hiểu theo nghĩa như vậy mới có thể được đóng vai trò “là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội” như Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định.

Quan điểm trên của Hồ Chí Minh đã khái quát được nội dung đầy đủ nhất, rộng nhất, mang đầy đủ nội hàm của phạm trù văn hoá. Theo đó, văn hoá được hiểu là toàn bộ sáng tạo những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần của con người trong quá trình tồn tại sinh sống và phát triển. Nguồn gốc và động lực sâu xa của văn hoá chính là nhu cầu của con người, khác với loài vật, nhu cầu của con người (bao gồm cả nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần) luôn luôn thay đổi, con người không bao giờ bằng lòng với những cái mà tự nhiên ban tặng và những gì đã có. Chính điều đó, đã  thúc đẩy con người hoạt động và sáng tạo, cải tạo tự nhiên và xã hội, tạo ra không gian và điều kiện sinh tồn cả vật chất lẫn tinh thần phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu cho mình. Đó cũng chính là quá trình sáng tạo văn hoá của con người. Theo nghĩa đó, ở đâu có con người và hoạt động của con người thì ở đó có văn hoá. Văn hoá là sự phát huy và hiện thực hoá các năng lực bản chất của con người. Con người là chủ thể sáng tạo của văn hoá đồng thời văn hoá là phương thức sinh tồn, là môi trường sống của con người. Con người không thể tồn tại và phát triển với tính cách là con người được nếu tách khỏi môi trường văn hoá và thực tế lịch sử phát triển của con người luôn gắn liền với lịch sử phát triển của văn hoá. Tư tưởng đó cho chúng ta thấy rằng tồn tại xã hội bao giờ cũng quyết định ý thức xã hội, yếu tố vật chất quyết định yếu tố tinh thần, theo đúng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin.

Mặt khác, theo quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hoá, thì văn hoá bao gồm hai lĩnh vực cơ bản đó là, văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần. Bên cạnh những sản phẩm tinh thần như: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật... văn hoá còn bao hàm các sản phẩm vật chất phục vụ cho đời sống con người như các công cụ, các phương tiện đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp...Tuy nhiên, văn hoá vật chất thực ra là vật thể hoá các giá trị tinh thần. Mỗi sản phẩm vật chất đều thể hiện sự tài hoa, lý tưởng thẩm mỹ của con người, của những chủ thể sáng tạo ra chúng.

Như vậy, có thể nói Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm hết sức khoa học và dễ hiểu về văn hoá. Quan niệm đó không những vạch ra những dấu hiệu đặc trưng của văn hoá mà còn bao quát được toàn bộ các hoạt động và các hiện tượng văn hoá trong đời sống con người. Vì vậy, tư tưởng của Hồ Chí Minh về văn hoá hiện nay vẫn còn nguyên giá trị trong việc nhận thức các hiện tượng văn hoá của đời sống xã hội.

Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thì tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá vẫn là điểm tựa tinh thần vững chắc, là ánh sáng soi đường cho toàn Đảng, toàn dân ta đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công.

 

Nhận diện thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền chống Việt Nam


Trong âm mưu, hoạt động chống phá Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn được các thế lực thù địch coi là một mũi tấn công gây sức ép lớn. Nhưng những gì mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm là minh chứng rõ nét nhất, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Có thể nhận diện một số thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam:

Thứ nhất, lợi dụng sự khác biệt trong quan điểm, nhận thức về vấn đề quyền con người để công kích, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, chế độ XHCN Việt Nam, đả kích vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và thể chế chính trị Việt Nam.

Thứ hai, ra sức xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền ở nước ta, triệt để khai thác các vấn đề nhạy cảm, phức tạp như tham nhũng, khiếu kiện, đình công, phân hóa xã hội, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh COVID-19, việc bắt, xử lý các đối tượng chống đối chính trị… để vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.

Thứ ba, lợi dụng tính phổ biến của vấn đề quyền con người, quan hệ quốc tế trong vấn đề quyền con người để tuyệt đối hóa, tuỳ tiện áp đặt các “chuẩn mực” nhân quyền nhân danh “tinh thần thời đại”, “giá trị phổ biến” đối với Việt Nam; đặt ra các “điều kiện”, “tiêu chuẩn” về nhân quyền trong quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... từ đó gây sức ép, tác động chuyển hóa nội bộ Việt Nam, thúc đẩy Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý theo chuẩn mực, giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản phương Tây.

Thứ tư, lợi dụng chiêu bài “thúc đẩy dân chủ”, “bảo vệ quyền con người” để tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần cho các phần tử, tổ chức chống Đảng, Nhà nước Việt Nam ở cả trong và ngoài nước nhằm hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ năm, gắn vấn đề nhân quyền với vấn đề tôn giáo, dân tộc, lợi dụng những thiếu sót, hạn chế trong quá trình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam để kích động hoạt động chống nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài đòi “tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo”, “quyền tự quyết dân tộc”; gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp nhân dân; kích động một bộ phận quần chúng hoạt động chống chính quyền nhân dân như gây rối an ninh, trật tự, bạo loạn…

Nhân quyền là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp và thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối. Bởi vậy, hơn lúc nào hết mỗi chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn, hiểu đúng, đầy đủ về nó và luôn tỉnh táo, cảnh giác để nhận diện các luận điệu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống Việt Nam của các thế lực, thù địch, phần tử xấu./.

 

PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA GIỮ NƯỚC TRONG THANH NIÊN QUÂN ĐỘI HIỆN NAY


Văn hóa nói chung, văn hóa giữ nước nói riêng là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Sức mạnh quật cường của dân tộc ta được kết tinh từ những giá trị đặc trưng cơ bản của văn hóa giữ nước đó là: lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, tính nhân văn cao cả và nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc Việt Nam. Những giá trị đó vừa hiện hữu thông qua thực tiễn bảo vệ tổ quốc của dân tộc, vừa tiềm ẩn bên trong mỗi con người Việt Nam.


Đối với mỗi người dân Việt Nam và thanh niên quân đội, văn hóa giữ nước luôn là thành tố quan trọng trong nhân cách, khi được khơi dậy và phát huy thường xuyên, đúng cách sẽ trực tiếp xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc, qua đó tạo ra động lực tinh thần to lớn thúc đẩy thanh niên quân đội sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu của quân đội.


Trong những năm qua, việc phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội luôn được lãnh đạo, chỉ huy, các tổ chức trong quân đội quan tâm đúng mức, qua đó đã góp phần tạo động lực tinh thần mạnh mẽ cho thanh niên quân đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới, những ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa đã và đang tác động không nhỏ đến tâm tư, tình cảm, ý chí, trách nhiệm và chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của thanh niên quân đội hiện nay. Tình hình đó đặt ra yêu cầu một cách cơ bản, có hệ thống cả những vấn đề lý luận và thực tiễn để phát huy hơn nữa giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc nâng cao phẩm chất người thanh niên thời đại Hồ Chí Minh và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.


Phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội là quá trình tích cực, tự giác của các chủ thể. Sử dụng tổng thể cách thức, biện pháp theo cơ chế nhất định, làm cho giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc được khơi dậy, nảy nở, lan tỏa, chuyển hóa vào tri thức, tình cảm, ý chí của thanh niên quân đội, trên cơ sở đó gia tăng động lực tinh thần thúc đẩy thanh niên quân đội sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Trong quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước, các giá trị lịch sử, truyền thống dân tộc được lưu giữ và truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đó là quá trình lưu truyền lâu dài, liên tục gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Sự lưu truyền biện chứng các giá trị này còn là sự thống nhất giữa cái khách quan của quy luật xã hội với cái chủ quan của chủ thể tiếp nhận và chuyển giao văn hóa dân tộc. Các giá trị văn hóa giữ nước chỉ được phát huy khi chủ quan hóa cao cái khách quan của quá trình này. Tức là các chủ thể tích cực, chủ động nhận thức đúng đắn và tác động đúng quy luật để quá trình lưu truyền này diễn ra mang tính tự giác cao nhất.


Chủ thể phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội là hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, các tổ chức quần chúng, đặc biệt là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở các đơn vị cơ sở. Trong đó, với tư cách là chủ thể trực tiếp phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc, thanh niên quân đội có vai trò tích cực, năng động, độc lập và sáng tạo trong tiếp nhận, xử lý những tác động của quá trình phát huy, trực tiếp tạo nên chất lượng, hiệu quả của quá trình đó; biến quá trình phát huy thành quá trình tự phát huy.


Mục tiêu cao nhất, xuyên suốt của quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội là không ngừng lan tỏa giá trị, gia tăng vai trò giá trị văn hóa giữ nước vào ý thức bảo vệ tổ quốc, từ đó làm gia tăng động lực tinh thần to lớn và mạnh mẽ trong thanh niên quân đội, thúc đẩy họ vượt qua mọi khó khăn, trở ngại, sẵn sàng nhận và kiên quyết hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đây là quá trình kép, thống nhất biện chứng của quá trình giữ gìn, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc và quá trình phát huy vai trò, tác dụng của các giá trị đó vào ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội. Xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội phải sử dụng tổng hợp nhiều tiền đề mà trong đó giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc là một yếu tố hết sức quan trọng.


Với mục đích trên, nội dung phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội là toàn bộ những nhận thức và hành động hay từng việc làm cụ thể của chủ thể trong suốt quá trình phát huy. Đó là sự nhận thức về giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc, về xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội; là nhận thức và hành động trong khai thác, kế thừa và phát triển những giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc hướng tới đích xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội. Mỗi nội dung của quá trình phát huy này lại bao chứa các nội dung cụ thể, trong đó việc xác định phát huy nội dung gì của giá trị văn hóa giữ nước vào nội dung nào trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội, có ý nghĩa quan trọng là cơ sở, tiền đề để tiến hành các nội dung khác của quá trình phát huy.


Nội dung giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc cần phát huy chính là những đặc trưng giá trị về lòng yêu nước nồng nàn; ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc; nghệ thuật đánh giặc độc đáo; tính nhân văn cao cả. Nhận thức đầy đủ sâu sắc các giá trị này để từ đó hướng vào khai thác, kế thừa và giáo dục đầy đủ cho các chủ thể. Chỉ có trên cơ sở nhận thức đầy đủ, nắm chắc bản chất của các giá trị này mới phát huy có hiệu quả vai trò của nó vào trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội, từ đó làm chuyển biến sâu sắc về tri thức, tình cảm và ý chí, tạo thành động lực tinh thần to lớn, thúc đẩy thanh niên quân đội sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt các nhiệm vụ.


Hiệu quả quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội không chỉ phụ thuộc vào việc xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, lựa chọn nội dung chính xác, cụ thể mà còn phụ thuộc một phần rất quan trọng vào việc sử dụng các phương thức phát huy giá trị văn hóa giữ nước. Đây là quá trình tích cực, tự giác bao hàm cơ chế vận hành và con đường chuyển hóa rất sâu sắc. Lôgic của quá trình đi từ khai thác, chuyển hóa các giá trị văn hóa giữ nước của dân tộc vào nhận thức của các chủ thể, từ nhận thức chuyển hóa thành thái độ, động cơ, ý chí đến hành vi trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội. Để thực hiện được mục đích và chuyển tải nội dung của quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội, các chủ thể cần thường xuyên đổi mới và đa dạng hóa các phương thức phát huy. Theo đó, quá trình phát huy có thể được thực hiện thông qua hoạt động giáo dục, bồi dưỡng các giá trị văn hóa giữ nước, trong đó thường xuyên và chủ yếu nhất là thông qua công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho thanh niên quân đội, lồng ghép với nội dung các bài giảng chính trị, các chương trình bồi dưỡng chính thức, các buổi sinh hoạt ngày đảng, các buổi nói chuyện thời sự, tham quan các di tích lịch sử, văn hóa, các cuộc thi tìm hiểu truyền thống… Bên cạnh đó, phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội có thể được thực hiện thông qua thực tiễn, các nhiệm vụ của họ ở đơn vị cơ sở và sự tham gia vào các phong trào hành động cách mạng chung của tuổi trẻ đất nước, hay thông qua phương thức tạo động lực từ việc giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích của thanh niên quân đội... Tuy nhiên, phải tùy tình hình cụ thể mà chủ thể phát huy sử dụng hoặc kết hợp các phương thức phát huy cho phù hợp.


Hiện nay, trước những biến động nhanh chóng, tình hình phức tạp của thế giới, sự phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, xây dựng quân đội trong tình hình mới đã và đang đặt ra cho quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội hiện nay những yêu cầu mới. Bên cạnh phải xác định đúng và phân tích một cách sâu sắc những vấn đề có tính quy luật của quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội hiện nay cần phải đánh giá một cách khách quan, khoa khọc thực trạng quá trình phát huy, dự báo và nhận diện đúng những nhân tố tác động, nhất là những nhân tố mới xuất hiện để đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình phát huy này. Theo đó, để phát huy có hiệu quả các giá trị văn hóa giữ nước nhằm xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội hiện nay, khẳng định giá trị của văn hóa “thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc”, các chủ thể cần thường xuyên tiến hành đồng thời, thống nhất và chặt chẽ một số yêu cầu, biện pháp cơ bản đó là: nâng cao chất lượng kế thừa, phát triển và giáo dục, bồi dưỡng giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội; thường xuyên quan tâm giải quyết tốt các lợi ích cơ bản, tạo động lực phát huy giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội; kết hợp giữa tôn vinh giá trị văn hóa giữ nước và tích cực hóa vai trò của các chủ thể nhằm chuyển hóa giá trị văn hóa giữ nước của thanh niên quân đội hiện nay.


Các giải pháp đó là một chỉnh thể thống nhất, vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Do vậy, trong quá trình phát huy không nên coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa một giải pháp nào; cần tiến hành đồng bộ và phối hợp chặt chẽ các giải pháp, tùy theo tình hình, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị trong mỗi giai đoạn nhất định, nhất là căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi, thành phần xuất thân, vùng miền của thanh niên quân đội để vận dụng khoa học và hiệu quả các giải pháp. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp đó có ý nghĩa quyết định để nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình phát huy giá trị văn hóa giữ nước trong xây dựng ý thức bảo vệ tổ quốc của thanh niên quân đội hiện nay./. 

Biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi - Trung Đông - Sau 10 năm nhìn lại (tiếp )

 

    Với trật tự khu vực, khủng hoảng nổ ra khiến chính quyền nhiều nước cũng như chế độ quân chủ và cộng hòa chuyên chế bị lật đổ, tập hợp lực lượng trong khu vực, vốn đã có nhiều chia rẽ và hạn chế nay càng trở nên khó khăn hơn; có thể dẫn đến quá trình tái thiết, hình thành nên những nhà nước mới, gây xáo trộn không nhỏ trên bản đồ chính trị khu vực; nhiều khả năng tiến trình hòa bình ở Bắc Phi - Trung Đông sẽ diễn biến ngày càng khó khăn hơn bởi quốc gia đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này là Ai Cập đã bị sụp đổ sau cuộc khủng hoảng./.

Nh.MLN

Biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi - Trung Đông - sau 10 năm nhìn lại (tiêp theo)

 

Cuộc khủng hoảng này đã tác động đến tình hình thế giới và khu vực.

 Tác động về kinh tế: đẩy giá dầu thế giới tăng cao, ảnh hưởng đến thị trường năng lượng, tài chính và thương mại, toàn cầu, làm chậm quá trình phục hồi nền kinh tế thế giới sau cuộc khủng hoảng; khiến lực lượng lao động nước ngoài ở đây phải trở về nước, gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tế; 

Làn sóng người tị nạn từ các quốc gia chịu khủng hoảng sẽ tạo thêm gánh nặng kinh tế - xã hội cho nhiều nước xung quanh, đặc biệt là châu Âu. 

Tác động đến quan hệ quốc tế: làm  thay đổi chính sách của từng nước và trong các cặp quan hệ; gia tăng cạnh tranh ảnh hưởng giữa các nước xung quanh tình hình Libya, Syria...; các nước đã có những điều chỉnh nhất định trong chính sách khu vực, mà đặc biệt là Mỹ và châu Âu./.

Nh.MLN

Biến động chính trị - xã hội tại Bắc Phi - Trung Đông - sau 10 năm nhìn lại

 

Nguyên nhân của biến động chính trị - xã hội ở Bắc Phi - Trung Đông: khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới năm 2008 và cuộc khủng hoảng lương thực năm 2010 dẫn tới thất nghiệp, nghèo đói, mâu thuẫn xã hội. Chế độ chính trị độc tài, tập quyền, thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, mất dân chủ, quyền lợi, cuộc sống của người dân hầu như không được quan tâm. Tình trạng tham nhũng gây nên bất bình đẳng về thu nhập, phân hóa giàu. Xu thế dân chủ hóa, nhà nước hạn chế trong kiểm soát gia tăng kết nối từ mạng xã hội. Sự can thiệp từ bên ngoài, đặc biệt là Mỹ và các nước châu Âu./.

Nh.MLN

Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng

 

Từ thực tế thời kỳ đầu chiến tranh đẫ đặt  ra những vấn đề đối với quốc phòng Việt Nam từ lý luận và thực tiễn thời kỳ đầu chiến tranh. Xuất phát từ tư duy mới về quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân BVTQ  xã hội chủ nghĩa những vấn đề lý luận, thực tiễn của thời kỳ đầu chiến tranh, tác giả đã khẳng phải chuẩn bị cho thời kỳ đầu chiến tranh trên tất cả các lĩnh vực như:

Xây dựng tiềm lực quốc phòng;

Xây dựng thế trận quốc phòng;

Vấn đề xây dựng lực lượng quốc phòng toàn dân;

Xây dựng phương thức vận hành nền quốc phòng toàn dân;

Chuẩn bị tác chiến phòng thủ chiến lược của binh đoàn chủ lực./.

Nh.MLN

Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng (tiếp theo)

 

Thời kỳ đầu chiến tranh trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược: luôn nắm vứng âm mưu, thủ đoạn và khả năng đánh phá của địch để tìm giải pháp đối phó thích hợp, giành thắng lợi; tổ chức tốt lực lượng phòng không nhân dân; vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, nâng cao vai trò của hệ thống chính trị các cấp, phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân để đánh thắng kẻ thù có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn Việt Nam  gấp nhiều lần./.

Nh.MLN

Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng (tiếp theo)

 

Thời kỳ đầu chiến tranh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng. Khẳng định thời kỳ đầu chiến tranh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng đã hoàn thành được các mục tiêu chiến lược cơ bản, tạo tiền đề để đưa toàn dân vào giai đoạn mới. Đó là kết quả của việc giải quyết tốt các vấn đề: Thường xuyên giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ; Nêu cao cảnh giác cách mạng, phân hóa kẻ thù, kết hợp chống thù trong giặc ngoài; Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nêu cao ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”; Hình thành và phát triển nghệ thuật chiến tranh nhân dân, vừa chiến đấu vừa bảo toàn và phát triển lực lượng vũ trang; Xác định và vận dụng sáng tạo nghệ thuật mở đầu chiến tranh./.

Nh.MLN

Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng (tiếp theo)

 

Thời kỳ đầu chiến tranh qua một số cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam cho thấy, Việt Nam  luôn thấu suốt tư tưởng cốt lõi “dĩ dân vi bản” và phát huy tính chất chính nghĩa, nhân đạo, nhân văn của chiến tranh toàn dân để giữ nước. Thường xuyên cảnh giác, luôn giữ thế chủ động chiến lược, nắm vững tình hình và so sánh lực lượng, xác định quyết tâm chiến lược đúng đắn; liên tục tạo thế, tranh thời và chuyển lực, chủ động tiến công địch bảo vệ ta từ xa và dựa vào địa hình thiên hiểm để phá thế đánh nhanh của địch; không ngừng sáng tạo và vận dụng cách đánh phù hợp với chiến trường nước ta trong thời kỳ đầu chiến tranh; phát huy nhân tố tinh thần nhằm nhân bội sức mạnh tổng hợp của quân và dân ngay từ thời kỳ đầu chiến tranh./.

Nh.MLN

Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng

 

Quan niệm về thời kỳ đầu chiến tranh luôn là vấn đề nhiều quốc gia rất quan tâm. Với cách tiếp cận khác nhau sẽ có quan niệm khác nhau về thời kỳ đầu chiến tranh. 

Ở Việt Nam, một số quan điểm cho rằng, thời kỳ đầu chiến tranh của cuộc chiến tranh BVTQ ở nước ta là khoảng thời gian từ khi Chủ tịch nước tuyên bố tình trạng chiến tranh đến khi ta chặn được các chiến dịch tiến công ban đầu và làm thất bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của chúng, giữ được các mục tiêu chiến lược, địa bàn trọng yếu, tạo điều kiện để ta chuyển sang thời kỳ kháng chiến tiếp theo trong thế có lợi./.

Nh.MLN

Tổ chức đoàn các cấp thường xuyên tiến hành tốt công tác định hướng tư tưởng chính trị cho thanh niên.

Hiện nay, phần lớn thanh niên đều sử dụng internet và mạng xã hội, bên cạnh thông tin tích cực, thanh niên cũng dễ dàng tiếp xúc với những thông tin trái chiều, có nội dung chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng kiên định hoặc nhận thức đúng bản chất của những thông tin đó nên không ít thanh niên dễ bị lôi kéo, kích động. Do đó, tổ chức đoàn các cấp cần chủ động nắm, dự báo, báo cáo, cung cấp thông tin về hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; gắn bồi dưỡng nâng cao năng lực đấu tranh với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Đồng thời, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, dư luận, tâm trạng của cán bộ, đoàn viên, thanh niên và nhân dân địa bàn đóng quân, từ đó có biện pháp tuyên truyền, giáo dục, định hướng, giải quyết hiệu quả, tránh cho các thế lực thù địch, phản động có cơ hội lôi kéo, mua chuộc; kịp thời tuyên truyền, giáo dục, uốn nắn những thanh niên có biểu hiện tư tưởng lệch lạc, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

 


Tích cực tuyên truyền cho thanh niên về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

 

Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức đoàn tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động, sáng tạo nhằm nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, khả năng “tự đề kháng, tự miễn dịch” cho đoàn viên, thanh niên trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch. Nội dung tập trung vào các chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo 35 các cấp về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới; nhất là những luận điểm chống phá đối với Quân đội hiện nay. Để đạt hiệu quả, cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức sáng tạo các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các văn bản của Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và các cấp về hoạt động quản lý, sử dụng điện thoại, internet và mạng xã hội trong Quân đội, như: Luật An ninh mạng năm 2018; Quy chế quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internet trong Quân đội ban hành kèm theo Thông tư số 110/2014/TT-BQP, ngày 22/8/2014 của Bộ Quốc phòng; Chỉ thị số 1492/CT-BV, ngày 17/9/2013 của Tổng cục Chính trị về tăng cường quản lý các trang mạng xã hội trên internet trong Quân đội; Thông tư số 202/2016/TT-BQP, ngày 12/12/2016 quy định bảo đảm an toàn thông tin trong Quân đội, v.v. Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tích cực tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết không đăng tải, chia sẻ thông tin khi chưa được kiểm chứng; không đưa tin sai sự thật, hình ảnh phản cảm, trái với thuần phong mỹ tục và văn hóa của dân tộc hoặc bôi nhọ, xúc phạm danh dự của tổ chức và cá nhân; không tham gia bình luận, chia sẻ những thông tin trái với quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động vi phạm pháp luật, nhất là những tin đồn, bịa đặt vô căn cứ nhằm “câu view”, “câu like” gây bức xúc trong dư luận.

 

Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho thanh niên về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đây là vấn đề rất quan trọng, trực tiếp nâng cao chất lượng, hiệu quả trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch - một nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp cho tuổi trẻ cả nước nói chung, thanh niên Quân đội nói riêng. Vì thế, trước hết, các cơ quan, đơn vị cần tăng cường giáo dục cho  thanh niên những vấn đề cốt lõi về lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để thanh niên Quân đội có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, luôn kiên định, tin tưởng vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, tiếp tục triển khai thực hiện Hướng dẫn số 824/HD-TN, ngày 25/9/2018 của Ban Thanh niên Quân đội về việc thanh niên Quân đội tham gia đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên internet, mạng xã hội. Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức, tập huấn kỹ năng cho thanh niên về việc nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, bởi đây là môi trường chống phá chính của các thế lực hiện nay. Trong quá trình thực hiện, các đơn vị cần thường xuyên phổ biến, quán triệt yêu cầu, nhiệm vụ và trao đổi nội dung, phương pháp, kinh nghiệm nhận diện, đấu tranh. Căn cứ vào tình hình thực tiễn của đơn vị để xây dựng, sử dụng ngân hàng đấu tranh nhanh; tích cực ứng dụng tiện ích các phần mềm, trang mạng xã hội, như: Blog, facebook, zalo, youtube,… thành lập các fanpage làm diễn đàn trung tâm, chia sẻ tin, bài, hình ảnh, bình luận, viết và đăng tải bài chuyên sâu và tương tác với các tài khoản, địa chỉ đấu tranh khác của đơn vị để đấu tranh.


Phát huy vai trò thanh niên Quân đội trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch

 

Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay là cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp; là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó có trách nhiệm của tuổi trẻ Quân đội. Vì vậy, cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức đoàn thanh niên tham gia với trách nhiệm cao, có kỹ năng, hình thức, phương pháp sáng tạo, phù hợp, đạt hiệu quả thiết thực.

Là một bộ phận của thế hệ trẻ cả nước, đã và đang đảm nhiệm những công việc khó khăn, vất vả, đầy gian khổ, hy sinh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thanh niên trong Quân đội là lực lượng đông đảo, có tiềm năng lớn; là lực lượng dự bị hùng hậu của Đảng, lực lượng bổ sung, kế tục đội ngũ cán bộ cho Quân đội; luôn xung kích, đi đầu trong mọi nhiệm vụ, trên mọi mặt trận, làm lan tỏa, phát huy phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đặc biệt, trong phòng, chống đại dịch Covid-19, thanh niên Quân đội cùng với các lực lượng trong toàn quân đã thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, xứng đáng là Quân đội của Nhân dân, vì nhân dân phục vụ.

Tuy nhiên, do có những hạn chế nhất định về trình độ, kinh nghiệm sống nên thanh niên trong Quân đội cũng dễ bị lôi kéo, kích động, dễ có tâm lý chán nản, bi quan trước những thất bại, vấp ngã. Bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế thị trường cũng như của các phương tiện truyền thông hiện đại, nhất là mạng xã hội, internet tác động không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm và hành động của thanh niên Quân đội. Những đặc điểm đó cũng chính là cơ hội để các thế lực thù địch “để mắt” đến thanh niên Quân đội và coi lực lượng này là đối tượng, mục tiêu chủ yếu để tuyên truyền, chống phá, nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội. Trước những thủ đoạn chống phá hết sức tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, không ít thanh niên Quân đội đã có những biểu hiện phai nhạt lý tưởng, xa rời mục tiêu, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cá biệt, một số cán bộ, đoàn viên, thanh niên có biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác, còn vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, ảnh hưởng đến phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, tạo cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá.

Thực trạng trên không chỉ ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện nhiệm vụ của các đơn vị Quân đội mà còn đe dọa trực tiếp đến tương lai của đất nước. Do đó, cần phát huy trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy và tổ chức quần chúng, trong đó có thanh niên Quân đội trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay. Để đạt hiệu quả các đơn vị cần tiến hành đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:

Tích cực tuyên truyền cho thanh niên về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. 

Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho thanh niên về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm của thanh niên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm của thanh niên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

 

Thanh niên Quân đội hiện nay cơ bản có trình độ văn hóa cao, khả năng sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin tốt, nhanh nhạy với cái mới, do đó, các cấp bộ đoàn cần động viên, khuyến khích đoàn viên, thanh niên ra sức học tập nâng cao trình độ mọi mặt, phát triển tư duy lý luận của mình bằng những tri thức khoa học mới gắn với thực tiễn sinh động để góp phần đấu tranh, phản bác những “chiêu trò” xuyên tạc, hướng lái dư luận,… hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch. Để đạt hiệu quả, các đơn vị đẩy mạnh hoạt động của Câu lạc bộ Lý luận trẻ theo Hướng dẫn số 508/HD-TN, ngày 31/5/2019 của Ban Thanh niên Quân đội và tích cực vận động cán bộ, đoàn viên, thanh niên hưởng ứng Cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp” trên mạng xã hội theo Hướng dẫn số 868/HD-TN, ngày 09/10/2018 của Ban Thanh niên Quân đội. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng môi trường văn hóa, tham gia mạng xã hội lành mạnh, trong sạch để không ngừng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm, sự hiểu biết cho đoàn viên, thanh niên trước “ma trận” thông tin thật, giả, đúng, sai, nhằm tăng cường khả năng “miễn dịch”, nâng cao “sức đề kháng” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Cùng với đó, căn cứ tình hình thực tiễn, tổ chức đoàn các cấp chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chỉ huy đơn vị kiện toàn, mở rộng lực lượng, bảo đảm vật chất, phương tiện, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng đấu tranh, rút kinh nghiệm hoạt động đối với cán bộ, đoàn viên, thanh niên là lực lượng nòng cốt đấu tranh của đơn vị. Đồng thời, tăng cường trao đổi, chia sẻ, học tập những kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình, cách làm hay, sáng tạo; kịp thời sơ kết, tổng kết, biểu dương, khen thưởng tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả và chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hạn chế, yếu kém, sai phạm.

 

Luận điệu lạc lõng, sáo rỗng

 Vừa qua, Tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch-HRW) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ) phát đi thông cáo kêu gọi chính phủ nước này cần sử dụng vòng đối thoại nhân quyền để thúc ép Việt Nam trả tự do cho những "tiếng nói bất đồng" đang bị giam giữ và có những cải thiện về nhân quyền.

Thực tế, đây không phải lần đầu tổ chức này tự cho mình quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Mượn cớ thông tin đó, một số tờ báo, trang mạng nước ngoài a dua "theo đóm ăn tàn" để xuyên tạc, có thái độ hằn học, thể hiện luận điệu sáo rỗng, cho rằng Việt Nam hạn chế nhân quyền, bắt người vô cớ.

Thật vô lý vì không chỉ ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, bảo đảm theo đúng Hiến pháp và pháp luật.

Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có nội quy; một tổ chức, đoàn thể phải có quy chế, có điều lệ... Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước". Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (ngày 15-9-2021), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: "Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hòa thuận, hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp...

Chính vì thế, đã là tội phạm thì phải có luật pháp để xử lý nghiêm minh, giữ gìn sự ổn định đất nước và bảo đảm an toàn cho nhân dân. Do đó, những luận điệu của các thành phần thiếu thiện chí, mượn cớ để quy chụp, cố tình chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, sáo rỗng cần phải lên án, phê phán mạnh mẽ.

Chen lấn, khấn vái

Tôi sinh năm 1973. Năm ngoái Tân Sửu 2021, tính theo tuổi âm, tôi bước sang tuổi 49. “49 chưa qua, 53 đã tới”. Theo quan niệm dân gian từ nghìn đời nay, đó là hai tuổi hạn lớn nhất trong đời. Tuổi 49, tương ứng với nam gặp sao Thái Bạch, nữ gặp sao Thái Âm. Sao Thái Bạch hay còn gọi là Kim Tinh, là hung tinh mạnh nhất trong hệ thống cửu diệu niên hạn. Người bị sao Thái Bạch chiếu mệnh trong năm sẽ hao tốn tiền của, ốm đau, làm ăn lận đận, thậm chí ảnh hưởng đến cả tính mạng. Biết tôi tuổi 49, sao Thái Bạch chiếu mệnh, một số người thân lo lắng, mồng 4 Tết đã khuyên tôi nên sớm đến chùa nhờ sư thầy làm lễ dâng sao giải hạn. Có nhà tâm linh muốn đến nhà giúp tôi lập đàn lễ. Nhưng tôi đều cảm ơn và khéo léo khước từ. Thấy vậy, người nhà càng lo lắng. Họ sợ vận hạn sẽ ập đến. Nhưng tôi bước qua tuổi 49 một cách an nhiên, tự tại. Sức khỏe vẫn tốt, công việc vẫn hanh thông, nhiều dự án cho riêng mình và cộng đồng đều hoàn thành tốt đẹp. Nhiều người lập đàn lễ, dâng sao giải hạn nhưng cuộc sống vẫn đầy sóng gió, khổ đau, vận đen vẫn ập đến. Thậm chí có người còn mất mạng. Có người không cúng bái, cầu xin mà vẫn thong dong, tự tại, an lạc, hạnh phúc. Khoảng chục năm về trước, cũng như rất nhiều người bây giờ, tôi từng tin vào sự ảnh hưởng của các sao đến vận mệnh con người; và hàng năm, tốn khá nhiều tiền bạc, thời gian, công sức cho các đàn lễ dâng sao giải hạn. Nhưng sau này, năm 2013, khi được theo chân thiền sư Thích Nhất Hạnh trong chuyến hoằng dương đạo Phật dọc nước Mỹ, biết đến đạo Phật, hành trì theo chánh pháp, trí tuệ được khai mở, tôi đã dừng lại. Đó có thể coi là một trong những bước ngoặt lớn nhất của đời tôi. Bước ngoặt đưa tôi đến sự vững chãi, thảnh thơi, tự do, an lạc và hạnh phúc. Khi chưa hiểu đúng Đức Phật là ai, tôi cũng nghĩ Phật là vị thần linh có phép thuật muôn màu, mỗi tháng hai lần, vào ngày rằm và mồng một, dù bận rộn đến đâu, tôi cũng phải gắng lên chùa lễ Phật. Dâng lên bàn thờ Phật chút "lễ bạc" mà "tâm thành" của tôi cầu xin Ngài đủ thứ: sức khỏe, bạc tiền, công danh, tình cảm... Sau này, khi hiểu đúng về Đức Phật - không phải là đấng thần linh tối thượng có muôn nghìn phép thuật, khi nào rảnh rỗi, thảnh thơi, tôi mới lên chùa. Dâng lên bàn thờ Tam bảo một nén hương thơm, tôi cũng dâng lên ngài hương của Niệm, hương của Định, hương của Tuệ... do tôi tự chế tác. Khi chưa hiểu đúng về luật nhân quả của đạo Phật, cứ đầu năm tôi lại tất tả rước các thầy đến nhà làm lễ dâng sao, giải hạn. Vàng mã chất đầy sân, đốt nghi ngút khói. Tâm vẫn chưa yên, tôi còn táo tác tìm đến các ngôi chùa nổi tiếng về cúng sao giải hạn, chen lấn, xô đẩy trong biển người nườm nượp, những mong các sư thầy giải trừ hết vận đen. Sau này, khi tôi biết Tam tạng kinh điển Phật giáo không hề đề cập đến cúng sao giải hạn, Đức Phật cũng không dạy đệ tử việc này. Ngài chỉ dạy rằng: tất cả họa và phúc đều là do nhân quả mà thành. Bởi vậy, muốn biết quá khứ chúng ta đã gieo nhân gì thì cứ nhìn quả mà chúng ta đang có. Muốn biết tương lai ra sao thì cứ nhìn cái nhân chúng ta gieo trồng hiện tại. Gieo nhân nào thì gặt quả đó. Thành công hay thất bại không do ai ban phát mà do chính ta tạo nên. Tất cả đều bắt nguồn từ thân, khẩu và ý. Nhân duyên xấu do chúng ta tạo tác sẽ trổ ra quả xấu. Nhân duyên lành sẽ trổ quả tốt. Từ bấy, tôi tích cực thực hành chánh niệm để mỗi lời nói, suy nghĩ, việc làm... không gây những khổ đau, tủi hờn, bạo động cho mình, cho người mà chỉ mang đến những hiểu biết và thương yêu, nhờ đó, tâm mình an, tâm mình lạc. Ngày trước, giống như nhiều người, tôi sợ đủ thứ, kiêng kỵ đủ thứ. Nhưng sau này, khi nghiên cứu về tâm linh, hiểu đúng chánh pháp, tôi đã vượt ra ngoài tất cả những kiêng kỵ, sợ hãi ấy. Với tôi, bây giờ, ngày nào cũng tốt, giờ nào cũng tốt. Tốt hay xấu phụ thuộc vào chính mình. Nếu mình có tuệ giác, có lòng từ bi, khi đó, mình sẽ có cái nhìn đúng, nghĩ đúng, hành động đúng. Thực sự, khi vượt thoát khỏi những sợ hãi, kiêng kỵ, tôi thấy được hạnh phúc của sự tự do. Tôi vẫn thường chia sẻ với người thân, nếu việc xem ngày giờ tốt là có thật, nếu xem việc hợp tuổi, hợp mệnh là có thật thì ai cũng giàu có, thành công, hạnh phúc hết. Đâu có cảnh 10 cửa hàng kinh doanh thì sau một năm, 7-8 cửa hàng đóng cửa. Đâu có cảnh các cặp vợ chồng trẻ ly hôn nhiều như bây giờ. Đức Phật luôn chỉ dạy phải trở về với hải đảo tự thân, phải nương tựa vào hải đảo tự thân. Hạnh phúc, thành công chỉ thực sự đến với những ai biết trở về, biết nương tựa vào chính mình. Đời người, ai cũng ít nhiều khổ đau. Cổ nhân có câu rất hay: "Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh". Hãy đón nhận những khổ đau như một phần tất yếu của cuộc sống một cách bình thản. Đừng khóc lóc, kêu ca, phàn nàn hay sợ hãi. Dùng năng lượng chánh niệm để ôm ấp nó, nhận diện nó; dùng tuệ giác và lòng từ bi để tìm cách chuyển hóa nó. Tôi tin, từ những vũng bùn tanh hôi của khổ đau ấy, hoa sen của hạnh phúc sẽ nở và tỏa hương. Bây giờ là tháng Giêng - mùa của cúng bái, cầu xin, mùa của dâng sao, giải hạn. Vào cữ này hàng năm, đến chùa nào cũng thấy cảnh khói hương nghi ngút, nườm nượp dòng người chen lấn, khấn vái. Mặt ai cũng thấy căng thẳng, lo âu, sợ hãi. Thật khó tìm được chút thanh tịnh chốn thiền môn. Hai năm nay, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, thực hiện chỉ thị của chính phủ, hầu hết các đình, chùa ở những thành phố lớn đều đóng cửa. Nhiều người không đến được cửa Phật để lễ bái. Nỗi sợ hãi, căng thẳng, lo âu vì thế có thể lại càng tăng. Những người sao xấu chiếu mệnh có thể lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Ai cũng nên có một vị Phật vững chãi trong Tâm để quay trở về "hải đảo tự thân", nương tựa vào chính mình, để không phải hớt hải, hoang mang, chen lấn, xô đẩy, giao tính mạng mình, tương lai của mình vào một thế giới huyền bí, xa xăm vô thực nào đó. Nếu tất cả mọi người tâm luôn an, thế giới sẽ an.