Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

Kiên định, kiên quyết bảo vệ những giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin


       Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”, thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

   Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

      Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

      Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”(2).

Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS.

      Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

       Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

       Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

       Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta.

       Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

        Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Nga tố Anh-Mỹ “tuyên truyền chiến tranh” bất hợp pháp

 

Nga tố Anh-Mỹ “tuyên truyền chiến tranh” bất hợp pháp

 Theo VTC News - Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova cáo buộc Mỹ và Anh đang tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chiến tranh bất hợp pháp.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova cho rằng, phương Tây đang phá vỡ hiệp ước vốn được ký kết tại New York năm 1966, trong đó quy định các biện pháp trừng phạt chống lại các quốc gia "kích động chiến tranh và hận thù".

“Những gì chúng ta đang thấy bây giờ là tuyên truyền chiến tranh ở dạng thuần túy nhất của nó", bà Zakharova nói, cáo buộc London và Washington kích động bạo lực bằng cách cung cấp vũ khí cho Ukraine, đồng thời cử người hướng dẫn và tham gia các cuộc tập trận quân sự.

 “Mỹ và Anh đã ủng hộ sự cuồng loạn có kiểm soát thông qua CNN, Bloomberg... từ đó gây ảnh hưởng đến dư luận ở quốc gia của họ”, bà Zakharova cho hay.

Theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được ký kết trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Đây là biện pháp nhằm ngăn chặn khả năng xảy ra xung đột nghiêm trọng. Bà Zakharova cho rằng, cả Liên Xô trước đây và nay là Nga đều đã từ bỏ các hình thức tuyên truyền chiến tranh, nhưng Anh và Mỹ thì không.

Trong những tháng gần đây, Mỹ cáo buộc Nga bố trí hơn 100.000 binh sĩ gần biên giới với Ukraine để chuẩn bị cho kế hoạch tấn công Kiev. Tuyên bố này đã nhiều lần bị điện Kremlin bác bỏ.

Cuối tuần này, Mỹ và hàng chục quốc gia khác thông báo họ sẽ bắt đầu sơ tán các nhà ngoại giao của mình khỏi Kiev. Các nhà chức trách Ukraine đã lên án những động thái này và tiếp tục kêu gọi người dân không hoảng sợ.

 

“LÒ” LẠI NÓNG NGAY TỪ ĐẦU NĂM

Không chủ quan, không thỏa mãn và làm quyết liệt là thông điệp mà người đứng đầu Đảng chỉ đạo. Ngay từ đầu năm, lò lại nóng rực cho thấy quyết tâm cao độ của Đảng, nhà nước trong việc chống tham nhũng, tiêu cực.
Trong phiên họp thứ 21 đầu năm của Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Không được chủ quan, thoả mãn, bằng lòng với những kết quả đạt được, mà phải tiếp tục kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” và “Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, nhất là vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á và các vụ, việc liên quan đến lĩnh vực y tế đã được đưa vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo; các vụ án, vụ việc tại Khánh Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, An Giang, Cảnh sát Biển, Bộ đội biên phòng... Khẩn trương đưa ra xét xử sơ thẩm 10 vụ án trọng điểm”.
Có thể nói đó là hiệu lệnh cho một cuộc tổng công kích mới.
Tham nhũng giờ không chỉ bó hẹp trong một cá nhân, một cơ quan mà đã có sự liên kết kiểu “liên ngành”, có hệ thống. Không chỉ là nâng khống giá trị rồi ăn chia hay đút lót để chạy dự án. Cũng không dừng lại ở chuyển đổi công năng của đất đai, phù phép từ nhà nước đến liên kết, liên doanh rồi cuối cùng là của cá nhân, một vòng tròn hại dân, hại nước. Tham nhũng giờ còn nguy hiểm ở chỗ có sự liên kết “thò” được vào chính sách, luật pháp; tham nhũng ảnh hưởng đến cả an ninh quốc gia...
Mấy ngày vừa qua, dư luận đồng tình trước việc Thủ tướng Chính phủ quyết định cách tất cả các chức vụ và buộc thôi việc một đương kim Thứ trưởng và một cựu Thứ trưởng ở Bộ Y tế.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức xóa tư cách nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế đối với ông Cao Minh Quang và thi hành kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc đối với ông Trương Quốc Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế do đã có vi phạm, khuyết điểm rất nghiêm trọng trong công tác. Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật về Đảng. Truy tố, buộc thôi việc là những biện pháp răn đe mạnh.
Vụ việc hai ông thứ trưởng trên liên quan đến ngành dược. Việc người dân phải mua thuốc giả với giá đắt đỏ là nỗi đau không chỉ của người bệnh, người yếu thế mà còn là nỗi đau chung của toàn xã hội.
Ngành y thời gian qua nhiều vụ việc tiêu cực đã làm hoen ố đi hình ảnh “Thầy thuốc như mẹ hiền”. Mới đây nhất, lại xảy ra vụ việc ở BV Thanh Nhàn. Thủ đoạn cũng là nâng khống thiết bị, không khác gì vụ án ở BV Bạch Mai.
Một việc chưa từng có tiền lệ xảy ra ở Bộ Ngoại giao. Đó là lãnh đạo cục cùng đồng phạm đã tìm mọi thủ đoạn để tham nhũng. Dư luận đang rất trông chờ vào việc xử lý nghiêm cán bộ ở Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao.
Thật không thể tưởng tượng nổi khi một chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với kiều bào, những người công tác ở nước ngoài, lưu học sinh…trong đại dịch muốn quay về quê hương cũng bị lợi dụng. Những chuyến bay mang tên “giải cứu” đã nói lên tình thương, nghĩa đồng bào, sự quan tâm của Đảng và nhà nước. Thế mà những người chịu trách nhiệm thực thi chính sách nhân đạo lại biến thành nơi bòn rút, “móc túi” đồng bào. Trong khi cả xã hội giang tay chào đón, cả xã hội góp công góp của, cả các ngành vào cuộc để đón đồng bào mình thì họ lại nhẫn tâm ngay trên sự sợ hãi của đồng bào mình.
Và sự quyết liệt đó còn được thể hiện ở việc mới đây nguyên Chủ tịch tỉnh Bình Thuận và một số các đồng phạm đã bị bắt. Họ đã vi phạm quy định về quản lý, sử dụng đất đai nhà nước gây thất thoát, lãng phí. Vụ việc xảy ra tại Dự án Khu thương mại dịch vụ và dân cư Tân Việt Phát 2 TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Đây vẫn là lợi dụng chính sách đất đai để tham nhũng.
Còn vụ Việt Á, các chiến sỹ điều tra đang làm xuyên Tết để bóc gỡ những vòi bạch tuộc vươn từ trên xuống 63 tỉnh thành. Thanh tra Chính phủ đã vào cuộc thanh tra việc mua sắm trang thiết bị chống dịch vừa qua của hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM với quyết tâm không bỏ lọt tội phạm.
Không chủ quan, không thỏa mãn và làm quyết liệt, đó thông điệp mà người  đứng đầu Đảng chỉ đạo. Đó cũng là mong mỏi, là niềm tin của dân đối với Đảng.
-----------
PT-TG.st


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

        Ngày 15 tháng 02 năm 1967

“Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do và hòa bình... Nhân dân Việt Nam quyết không khuất phục trước vũ lực và quyết không nói chuyện trước sự đe dọa của bom đạn”.

Đây là quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Thư trả lời Tổng thống Mỹ Giônxơn, ngày 15/2/1967, đăng trên Báo Nhân dân, số 4730, ngày 22-3-1967. Trước đó, trong thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 8-2- 1967), Tổng thống Mỹ L.B. Giônxơn đã đưa ra những điều kiện vô lý cho việc chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam, chấm dứt việc đưa quân viễn chinh Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Đồng thời, ngày 14-2-1967, L.B. Giônxơn lại ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc. Để tiếp tục tỏ rõ thiện chí, nguyện vọng hoà bình của Việt Nam, ngày 15-2-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn gửi L.B. Giônxơn bức thư trả lời này.

Qua đây, Hồ Chí Minh, khẳng định, khát vọng được sống trong hòa bình, độc lập, tự do. Và vì những điều đó mà nhân dân Việt Nam không bao giờ chịu khuất phục trước bom đạn, cường quyền, sẽ quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng, tính mệnh, và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. Do đó, sẽ không có đàm phán nào được diễn ra nếu Mỹ không tôn trọng Hiệp định Giơnevơ, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt sự đe dọa bằng bom đạn vào miền Bắc và khẳng định, không thế lực nào có thể dùng bom đạn cường quyền để ép nhân dân Việt Nam từ bỏ khát vọng chân chính của mình.

 Lời đáp trả đanh thép đó của Hồ Chí Minh đã tỏ rõ cho nhân dân Mỹ và toàn thế giới thấy được khát vọng và quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Mặt khác, đã động viên toàn thể dân tộc đứng lên kháng chiến chống Mỹ đến thắng lợi cuối cùng với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, các lực lượng quân giải phóng miền Nam nói riêng kết hợp chặt chẽ với nhân dân miền Nam đã đẩy mạnh đấu tranh quân sự trên cả ba vùng chiến lược làm xuất hiện nguy cơ sụp đổ hoàn toàn không thể cứu vãn nổi của giặc Mỹ và tay sai, góp phần quan trọng vào thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Ngày nay, Quân đội phải luôn quán triệt sâu sắc lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, biến nhận thức thành hành động cụ thể trong huấn luyện, SSCĐ. Quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, xứng đáng là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc./.
-------------------
PT-TG.st


Covid-19 ngày 14/2: Cả nước thêm 29.413 F0, riêng Hà Nội hơn 3.500 ca

 Tin tức dịch Covid-19 ngày 14/2 tại Việt Nam: Cả nước ghi nhận 29.413 F0, 91 ca tử vong. Hà Nội vẫn nhiều ca nhiễm mới, ca tử vong nhất.

CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII


          Với chủ trương “tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thời gian qua, về cơ bản, tình hình tôn giáo ổn định, các tổ chức tôn giáo và đại bộ phận chức sắc hoạt động đúng quy định pháp luật, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do mặt trái của toàn cầu hóa và cơ chế thị trường, âm mưu “chính trị hóa tôn giáo” của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống tôn giáo chịu tác động tiêu cực, tiềm ẩn nhiều “nguy cơ”. Trong đó, nổi lên các vấn đề như: lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống Đảng và Nhà nước; vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ; tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội...

          Mốc đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức của Đảng về tôn giáo là trong Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Đảng ta nêu lên vấn đề “đạo đức tôn giáo” với cách nhìn “có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Đến Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003, lần đầu tiên Trung ương Đảng ra nghị quyết riêng về công tác tôn giáo. Nghị quyết khẳng định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, với nội dung cốt lõi là của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. TrongChỉ thị số 18-CT/TW (2018) của Bộ Chính trị khóa XII đã đề cập đến thuật ngữ “nguồn lực” khi nhận định về những đóng góp của các tôn giáo.

          Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự. 16 tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha’I, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Cơ đốc Phục lâm, Phật giáo Tứ Ân Hiếu nghĩa, Minh Sư đạo, Minh lý đạo - Tam Tông Miếu, Bà-la-môn giáo, Mặc môn, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Bửu Sơn Kỳ Hương. Quan điểm của Đảng về “các nguồn lực của các tôn giáo” xác định là những nguồn lực của các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận nêu trên. Các nguồn lực của các tôn giáo rất đa dạng: nguồn lực con người có tôn giáo; nguồn lực từ cơ sở vật chất, khả năng vận động, huy động tài chính; những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo.... Các nguồn lực tôn giáo đã tham gia vào quá trình phát triển xã hội, trong đó ưu thế, đóng góp tiêu biểu ở các lĩnh vực giáo dục, an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo.

          Nhận thức vai trò quan trọng của vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, trên cơ sở tình hình thực tiễn và vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và đoàn kết tôn giáo, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đưa ra những nhận định, quan điểm, chủ trương mới về tôn giáo.

          Vấn đề đoàn kết tôn giáo nằm trong tổng thể các nội dung của công tác tôn giáo, công tác xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng nêu ra. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới là: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ “sống tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo và hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết dân tộc”.

          Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong điều kiện mới của đất nước, Đảng đã tiếp tục nêu cao điểm tương đồng giữa cách mạng với tôn giáo, giữa lý tưởng xã hội chủ nghĩa với lý tưởng tôn giáocoi đó là một trong những cơ sở quan trọng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng khẳng định trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều bộ phận, tầng lớp dân cư có nhu cầu, nguyện vọng, đặc điểm đời sống, tâm lý, theo những tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Mặt khác, trong bối cảnh tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, có nhiều tôn giáo truyền bá vào nước ta, các hoạt động tôn giáo cũng có mối liên hệ quốc tế rộng mở hơn. Vì vậy, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng phải chú trọng tìm điểm tương đồng, tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích dân tộc, chủ trương giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích thỏa đáng, phù hợp thì mới có được sự đồng lòng, tin tưởng và phát huy cao nhất sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Ở thời kỳ Hồ Chí Minh lãnh đạo đất nước, cơ sở để thực hiện đoàn kết tôn giáo là mục tiêu đánh đổ đánh đổ đế quốc, thực dân để giành độc lập dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội - chế độ xã hội công bằng, tốt đẹp cho tất cả mọi người. Kế thừa quan điểm đó, ngày nay Đảng định hình rõ nét hơn ở mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

          Nhằm tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ghi rõ: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước”.

          Bên cạnh đề cao các giá trị đạo đức, văn hóa của tôn giáo, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tôn giáo “vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”, Đảng nêu ra các giải pháp giải quyết vấn đề tôn giáo và phát huy sức mạnh của tôn giáo để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; gắn chặt chẽ với yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật. So với Đại hội XII, Đại hội XIII không chỉ chủ trương “kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” mà còn phải làm tốt công tác “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; mặt khác, “Xử lý hài hòa các vấn đề dân tộc, tôn giáo, bức xúc xã hội, không để xảy ra các “điểm nóng”. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất trật tự xã hội như hiện nay.

          Đảng nhất quán chủ trương tôn trọng, quan tâm, thể chế hóa trong luật pháp và đảm bảo trên thực tế đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người. Đối tượng bảo đảm ở đây được mở rộng, bao gồm các tổ chức, nhân dân trong nước và các tổ chức, cá nhân người nước ngoài có tôn giáo khi họ sinh sống, học tập, làm việc ở Việt Nam cũng như người Việt ở nước ngoài khi về quê hương.

          Văn kiện Đại hội nêu lên một giải pháp quan trọng của công tác vận động tôn giáo là nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác tôn giáo. Các cơ quan chức năng có nhiệm vụ giúp đỡ, giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng; chủ động lắng nghe, giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của đồng bào theo đạo; bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Đồng thời, phê phán, đấu tranh, xử lý các biểu hiện tiêu cực liên quan đến tôn giáo trong đó chú trọng “phòng ngừa, và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

          Có thể khẳng định, trên cơ sở quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nhận thức đầy đủ hơn, sáng rõ hơn về tình hình tôn giáo trong thực tiễn Việt Nam, tại Đại hội XIII, Đảng đã có những chủ trương, giải pháp phù hợp, giải quyết thấu đáo những vấn đề liên quan đến tôn giáo - những vấn đề luôn nhạy cảm, phức tạp trong tiến trình cách mạng Việt Nam; qua đó góp phần quan trọng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy nguồn lực tôn giáo, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO


          Đoàn kết tôn giáolà một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với Người, đại đoàn kết dân tộc, trong đó có đoàn kết tôn giáo là vấn đề xuyên suốt, cốt yếu của cách mạng, không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời. Điều mà Người luôn hướng đến là sự đoàn kết lâu dài, tự giác, tự nguyện, chân thành, thực sự theo phương châm “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Như vậy, mục tiêu của đoàn kết là nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước, phát huy tối đa sức mạnh các nguồn lực để giành lại độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đoàn kết là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.

          Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vì vậy vấn đề đoàn kết tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội và tác động mạnh mẽ đến tiến trình cách mạng. Giải quyết vấn đề này không chỉ là thực hiện đoàn kết giữa đồng bào có đạo và không có đạo, mà còn cần thực hiện đoàn kết trong nội bộ các tôn giáo, đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh chú trọng cả đoàn kết giữa những người cộng sản với đồng bào các tôn giáo. Theo Người, mặc dù thế giới quan của những người cộng sản và những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, song đều có điểm chung về lợi ích của quốc gia, dân tộc, do đó phải sát cánh cùng nhau để đấu tranh cho mục tiêu chung của dân tộc.Hơn nữa, là người lãnh đạo cách mạng, những người cộng sản phải là hạt nhân để quy tụ, tập hợp, thu hút quần chúng, trong đó có quần chúng theo đạo tham gia cách mạng.

          Về phương thức thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số vấn đề mang tính định hướng như sau:

          Lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi cơ bản của con người làm mẫu số chung trong việc giải quyết vấn đề dân tộc - tôn giáo: Trong điều kiện của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân chỉ được thực hiện khi đất nước độc lập, bởi: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”. Đồng thời, Người chỉ rõ chỉ trên cơ sở lợi ích chung vì độc lập dân tộc, vì quyền tự do, hạnh phúc của mỗi con người không phân biệt giai tầng, giới tính, dân tộc, tôn giáo, thì mới có thể giải quyết thỏa đáng mối quan hệ dân tộc - tôn giáo.

          Trong mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân tộc là ưu tiên hàng đầu, song không bao giờ xem nhẹ vấn đề tôn giáo. Từ quan điểm và cách thức của Người, giáo hội các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo hướng gắn bó với dân tộc như: “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” (Công giáo); “sống phúc âm phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” (Tin lành); “đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (Phật giáo); “nước vinh, đạo sáng” (đạo Cao đài), “chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc; phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Phật giáo, Hòa Hảo).

          Trân trọng các giá trị tốt đẹp trong các tôn giáo; chấp nhận sự khác biệt, phát huy những điểm tương đồng giữa các tôn giáo, giữa triết lý tôn giáo và lý tưởng cộng sản: Hồ Chí Minh không bao giờ có thái độ thiên kiến, bài xích, mà nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức, với quan niệm tôn giáo mang những giá trị gắn chặt với con người, vì con người, vì thế mang giá trị nhân văn sâu sắc. Người tổng kết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” và nhận ra những tư tưởng, quan điểm đó có những nét tương đồng với lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Người đang hướng tới. Với cái nhìn rộng mở và nhân ái, Hồ Chí Minh nhận thấy những ước mơ về một xã hội bình đẳng, tự do, nhân ái của những người sáng lập ra tôn giáo là phù hợp với lí tưởng của những người cộng sản và cuộc kháng chiến của dân tộc trong đó có sự tham gia của đồng bào các tôn giáo là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tinh thần của Chúa và Phật là phải thương yêu, đùm bọc nhau để chống lại kẻ thù tàn bạo, hung ác.

          Trong điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ trương không tiến hành cuộc đấu tranh trực diện với giáo lý của các tôn giáo, tránh việc kẻ địch sẽ lợi dụng để vu khống, để tuyên truyền luận điệu “cộng sản là vô thần”, “cộng sản nắm chính quyền sớm muộn gì cũng sẽ tiêu diệt tôn giáo”. Người chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt; đề cao, phát huy những điểm tương đồng giữa giữa giáo lý tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản; ghi nhận, động viên, khích lệ những đóng góp đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người nêu rõ: “Mục đích Chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Song, để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người thì cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu Đức Chúa Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi theo con đường cứu khổ loài người”. Đó là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, thể hiện tư duy rộng mở và tinh thần nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh.

          Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đối xử bình đẳng với các tôn giáo: Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, nhân dân có quyền tự do lựa chọn, tin hoặc không tin, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng với nhau không phân biệt lớn nhỏkhông vì đề cao niềm tin tôn giáo của mình mà nhạo báng, coi khinh tôn giáo của người khác.

          Dưới sự chỉ đạo của Người, quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đã được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng và thể chế hóa trong văn bản pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp đầu tiên nước ta năm 1946, Chương II, mục B đã ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Tôn trọng các tổ chức và hoạt động tôn giáo, Người nhấn mạnh: “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ tôn giáo; riêng về Công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa giáo hội Việt Nam với Tòa thánh La Mã là vấn đề nội bộ của Công giáo”.           Bên cạnh đó, Người gắn việc thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân: “không tách rời bổn phận kính Chúa của người Công giáo với bổn phận yêu nước của người công dân”, “Hoạt động tôn giáo không được cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Người yêu cầu các nhà tu hành, các chức sắc tôn giáo khi truyền bá tôn giáo “có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

          Đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động: Tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, nhưng Hồ Chí Minh luôn đặt ra vấn đề phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Đối với bọn đầu sỏ, ngoan cố và những kẻ lợi dụng và giả danh tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng, Hồ Chí Minh nêu rõ: phải quyết liệt “trừng trị theo pháp luật” và “Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ lừa bịp, cưỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối tăm cực khổ về phần xác cũng như phần hồn”.

          Đối với đồng bào các tôn giáo, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, tự do tín ngưỡng là một vấn đề nhạy cảm, dễ bị lực lượng phản cách mạng lợi dụng nhằm xuyên tạc, phá hoại tình đoàn kết gắn bó giữa đồng bào lương - giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau. Bởi vậy, đồng bào các tôn giáo cần nâng cao cảnh giác “chớ mắc mưu những kẻ tuyên truyền lừa bịp”.

          Đối với cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, Hồ Chí Minh yêu cầu cần gương mẫu chấp hành chính sách tôn giáo; ra sức giải thích cho đồng bào các tôn giáo hiểu chính sách của Đảng, Nhà nước; đồng thời kiên quyết sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm trong việc thực hiện chính sách tôn giáo. Người phê phán những hiện tượng như “Đối với nông dân Công giáo, có đội đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra giải thích. Nhiều cán bộ, hễ nói đến cha cố, không phân biệt tốt xấu, cứ gọi là thằng, làm cho nông dân Công giáo khó chịu”. Đó là nguyên nhân khiến đồng bào có đạo hiểu sai về chính sách của Đảng, tạo cớ cho kẻ thù kích động, xuyên tạc, phá hoại.

          Tôn trọng các chức sắc tôn giáo và quan tâm đến giáo dân, hướng họ vào các hoạt động lợi ích chung của toàn dân tộc: Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, uy tín của hàng ngũ giáo sĩ, nhà tu hành - những người có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Bởi vậy, Người cho rằng tôn trọng, vận động, thuyết phục hàng ngũ chức sắc tôn giáo là biện pháp quan trọng để thực hiện chính sách đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc. Bằng thái độ trân trọng, tin tưởng, chân thành, cầu thị, Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều chức sắc có uy tín lớn trong các tôn giáo như linh mục Phạm Bá Trực, ông Cao Triều Phát - lãnh tụ Cao Đài vùng Hậu Giang, v.v. tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.

          Bên cạnh đề cao vai trò của vị giáo chủ, giáo sĩ, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm sâu sắc đến đời sống của đồng bào tín đồ tôn giáo, nhất là tín đồ thuộc các dân tộc thiểu số. Người đã gửi nhiều thư, điện đến đồng bào Công giáo, đồng bào các dân tộc, biểu dương công trạng và tinh thần hăng hái tham gia kháng chiến của đồng bào, thăm hỏi nhân dịp các ngày lễ lớn của các tôn giáo. Đặc biệt, đối với đồng bào lầm đường lạc lối, đã từng quay lưng với cách mạng và dân tộc, Người bày tỏ thương xót với những cực khổ của bà con ở nơi đất khách, quê người, đồng thời chủ trương “Không được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ”, bởi “Trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai cũng có lòng yêu nước. Tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian, những người ấy dần dần giác ngộ và quay trở về với Tổ quốc”.

          Với chủ trương và những biện pháp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết sáng tạo, phù hợp vấn đề tôn giáo, đoàn kết chặt chẽ lương - giáo, đồng bào các tôn giáo khác nhau, cùng góp sức cuộc đấu tranh giải phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là nền tảng lý luận, định hướng cho Đảng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng trước đây và hiện nay.

TẠI SAO MỸ VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LẠI ĐẨY MẠNH XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN TA?

         Thời gian qua trên MXH xuất hiện nhiều bài viết tẩy não người Việt Nam (VN) về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước rất tinh vi, xảo trá. Một mặt, họ cố tình bôi nhọ tính chính nghĩa trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại này, mặt khác chúng cố gắng xuyên tạc bản chất chế độ tay sai bán nước, rằng "VN đã đuổi đi 2 nền văn minh Pháp - Mỹ" hay "VN Cộng hòa (ngụy - VNCH) là một chính thể, quốc gia đã tồn tại ở miền Nam", hay "gọi ngụy quyền Sài Gòn là miệt thị"... thực tế đây là một chiến dịch “lật sử” nhằm rửa mặt cho ngụy, rửa nhục cho Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược VN bằng một dự án quy mô lớn của CIA với tên gọi "Dự án tưởng niệm chiến tranh VN" do Obama phát động bởi 1 đạo luật, khởi động năm 2012. Dự án này chia 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 ( 2012-2014): Tổ chức các hoạt động tưởng niệm ở Mỹ.

- Giai đoạn 2 (2014-2017): Xây dựng chân rết ở Mỹ và các quốc gia khắp Thế giới (tất nhiên VN là chính).

- Giai đoạn 3 (2017-2025): Là giai đoạn cao điểm. Nội dung chính là nhằm tôn vinh lính Mỹ, ngụy; xoá bỏ "hội chứng VN", sửa đổi lịch sử, tẩy xoá sự thật cuộc chiến ở VN.

Tiền ngân sách ban đầu là 5 triệu đô/năm, sau nâng lên 180 triệu/13 năm nhưng thực tế số tiền còn lớn hơn nhiều và dự án Obama đang trong giai đoạn 3, sẽ kết thúc vào năm 2025. Đó là lý do tại sao nhiều kẻ điên cuồng xuyên tạc lịch sử, thậm chí xuyên tạc cả Nghị quyết 15 của BCT về những nhiệm vụ cơ bản của Cách mạng miền Nam (1959) và hình ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước... Thế mới hiểu chúng nham hiểm mức nào!

Ai cũng biết chế độ ngụy quyền Sài Gòn là chế độ bán nước, do Mỹ lập ra để cai trị miền Nam (VN) giai đoạn 1954-1975, một chế độ tàn ác nhất lúc bấy giờ. Chỉ cần gõ trên Google "tội ác Mỹ - ngụy" sẽ cho ta rất nhiều kết quả về tội ác của chúng. Tuy nhiên gần đây 1 số bài viết trên Google cũng không thấy xuất hiện nữa, thay vào đó là chúng tăng tần suất xuyên tạc lịch sử cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước trên Youtube, facebook...

Chúng ta đừng bao giờ quên những lời người Mỹ nói: "Hai mươi năm sau chúng ta sẽ trở lại VN. Không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la. Khi đó, cờ Mỹ sẽ bay không chỉ ở Sài Gòn mà còn hiên ngang giữa lòng Hà Nội. Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người VN sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân"...

Chính trong tuyên bố bình thường hoá quan hệ Hoa Kỳ - VN (11/7/1995), Tổng thống Bill Clinton nhấn mạnh: “I believe normalization and increased contact between Americans and Vietnamese will advance the cause of freedom in Vietnam just as it did in Eastern Europe and the former Soviet Union. I strongly believe that engaging the Vietnamese on the broad economic front of economic reform and the broad front of democratic reform will help to honor the sacrifice of those who fought for freedom's sake in Vietnam”. Nghĩa là mục tiêu bình thường hoá quan hệ của Mỹ là để thay đổi chế độ tại VN “như nó đã thành công tại Liên Xô và Đông Âu”.

Và đó là mục tiêu mà Washington không bao giờ từ bỏ với việc đầu tiên là tẩy xóa sự thật cuộc chiến tranh xâm lược VN của Mỹ, bằng những đồng USD dơ bẩn đẩy mạnh xuyên tạc sự thật lịch sử cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại của dân tộc ta... Để thực hiện việc “lật sử” hiệu quả mà không tốn kém, bọn chúng đã lôi kéo những người tham gia biên soạn, thẩm định cuốn sử và sách giáo khoa, tài trợ cho việc giáo dục, đào tạo… (Đại học Fulbright ở VN đang là cái ổ lật sử & rửa mặt cho Mỹ - ngụy)!

Hơn lúc nào hết, mỗi người dân Việt Nam cần tỉnh táo, cảnh giác, kiên quyết đấu tranh vạch trần, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, "lật sử" của kẻ thù./.

Yêu nước ST.

VIỆC KHÓ CÓ BỘ ĐỘI CỤ HỒ!

     Đặc trưng cơ bản đầu tiên của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được khái quát trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương (sau đây gọi là Nghị quyết 847), nêu rõ một thành tố quan trọng và nổi bật: “Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao”. Không chỉ là sự khẳng định một đặc trưng đã được chứng minh qua thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, mà nghị quyết còn nhấn mạnh một phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ cần được gìn giữ, phát huy trong giai đoạn cách mạng mới.

Có thể khẳng định, trong lịch sử, hiếm có quân đội nào trên thế giới luôn gắn bó máu thịt, không ngại hy sinh, gian khổ, sẵn sàng xả thân bảo vệ nhân dân trong mọi điều kiện, hoàn cảnh như Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Điều đó được hình thành ngay từ những ngày đầu thành lập, xây đắp nên truyền thống cao đẹp của Quân đội ta trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người trực tiếp sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện QĐND Việt Nam đã khái quát: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Đức hy sinh, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của Bộ đội Cụ Hồ được khẳng định rõ ràng, dứt khoát ngay ở lời thề thứ nhất trong ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của QĐND Việt Nam: Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để tiêu diệt bọn phát xít... Tinh thần hy sinh, quên mình, vượt lên mọi khó khăn, gian khổ trở thành sức mạnh của đội quân bách chiến, bách thắng và là niềm tự hào, kiêu hãnh của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng cũng như quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta khẳng định, một trong những điểm cốt lõi, đặc trưng làm nên giá trị, phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là đức hy sinh, tinh thần vượt qua mọi gian khó, dám xả thân vì Tổ quốc, vì nhân dân. Phẩm chất cao quý đó vừa là hạt nhân, vừa là tiêu điểm soi rọi vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của Bộ đội Cụ Hồ, trở thành một giá trị văn hóa tinh thần bền vững của QĐND Việt Nam, biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, một trong những chuẩn mực cao quý nhất của Bộ đội Cụ Hồ.

Sinh ra trong khói lửa chiến tranh, Bộ đội Cụ Hồ đã tạc vào lịch sử dân tộc một tượng đài tuyệt đẹp về đức hy sinh, tinh thần vượt khó và dám nhận nhiệm vụ khó. Đức hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được khẳng định ngay trong quá trình thực hiện các chức năng của đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Cán bộ, chiến sĩ đồng lòng, không ngại khó khăn, thử thách, hiểm nguy, khi có lệnh là lên đường, sẵn sàng xông pha vào những nơi gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều đồng chí sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, thậm chí chấp nhận đánh đổi cả tính mạng của mình để huấn luyện giỏi, SSCĐ cao, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; không quản ngại khó khăn, gian khổ để cứu giúp nhân dân; vượt qua nguy hiểm, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh... Đó là sự kế thừa và phát huy đức hy sinh, tinh thần vượt khó, tiên phong làm nhiệm vụ khó của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình.

Rõ ràng, càng trong gian khổ, ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao của Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong nhân dân. Tuy nhiên, những phẩm chất đó không phải là sản phẩm tự phát, bất biến, mà là kết quả tất yếu của quá trình lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện không ngừng và luôn vận động, phát triển phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội cũng như yêu cầu xây dựng quân đội qua từng giai đoạn cách mạng.

Trong tình hình hiện nay, khi nước ta đang đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, bên cạnh những thành tựu, kết quả đạt được, chúng ta đang phải đối mặt với không ít thách thức từ tác động của mặt trái kinh tế thị trường; tình trạng tham nhũng, lãng phí, thực dụng, phi đạo đức, phản văn hóa... Thách thức gay gắt là, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội, hòng làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, niềm tin vào Đảng, chế độ trong mỗi cán bộ, chiến sĩ. Nghị quyết 847 chỉ rõ: Còn một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức chưa sâu sắc, trách nhiệm trong giữ gìn, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ chưa cao; thiếu tự giác, gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, sống thực dụng, băn khoăn dao động trước diễn biến phức tạp của tình hình... Thực trạng trên chi phối không nhỏ đến việc rèn luyện, giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ và quân đội. Bởi vậy, việc tiếp tục phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trong đó tiếp tục đề cao tinh thần dám chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, là một trong những mục tiêu mà Nghị quyết 847 đặt ra trước yêu cầu xây dựng quân đội trong điều kiện mới.

Đề cập đến những giải pháp liên quan, nghị quyết của Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Tăng cường công tác lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng; đề cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo; phát huy vai trò các tổ chức, lực lượng trong phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, thực sự là tấm gương mẫu mực; thực hiện tốt cơ chế, chính sách, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội...

Trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong đó quân đội đóng vai trò là lực lượng nòng cốt, việc giữ gìn, khơi gợi, phát huy phẩm chất quý báu: "Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao" càng có giá trị thực tiễn to lớn. Để quán triệt và thực hiện hiệu quả các giải pháp mà Nghị quyết 847 nêu ra, trước tiên, công tác tuyên truyền, giáo dục của các cơ quan, đơn vị phải tập trung làm rõ nội hàm của những phẩm chất quý báu đó, đồng thời đi sâu phân tích những yếu tố tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ để có biện pháp ngăn ngừa những biểu hiện tiêu cực làm ảnh hưởng đến uy tín quân đội, danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ. Việc làm này phải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, hình thức, phương tiện, nhất là hệ thống thông tin đại chúng; gắn công tác tuyên truyền, giáo dục với đẩy mạnh hoạt động thực tiễn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa, xây dựng lề lối, tác phong khoa học, bám sát cơ sở, địa bàn. Từ nhận thức đúng, đề cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy và mọi cán bộ, đảng viên trong phấn đấu, rèn luyện theo phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, nhất là những việc khó, việc mới, nhiệm vụ hiểm nguy.

Trong giải pháp về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, Nghị quyết 847 xác định: Thực sự mẫu mực về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không tham vọng quyền lực, tham nhũng, lãng phí, cơ hội, cửa quyền, tư duy nhiệm kỳ; luôn đề cao trách nhiệm, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghị quyết. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp đóng vai trò hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, xây dựng đơn vị và rèn luyện phẩm chất, nhân cách của bộ đội. Cán bộ, đảng viên tốt sẽ là tấm gương sáng để mọi người học tập, noi theo, nhất là những việc mới, việc khó, đòi hỏi ý chí, nghị lực cao. Có như vậy, bộ đội mới yên tâm, phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của cấp ủy, cán bộ chủ trì và uy tín của cán bộ, đảng viên, ra sức phấn đấu, rèn luyện, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Cùng với tích cực đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xuyên tạc phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, việc thực hiện tốt cơ chế, chính sách, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội và kịp thời đóng vai trò hết sức quan trọng để khích lệ tinh thần tận hiến, tiên phong nhận nhiệm vụ khó của mọi cán bộ, chiến sĩ. Các cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc và thực hiện sáng tạo, phù hợp giải pháp mà nghị quyết đã chỉ trong việc chủ động nghiên cứu, đề xuất việc thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với quân đội và hậu phương quân đội; chính sách tuyển dụng, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; chính sách đãi ngộ, nhất là lực lượng làm nhiệm vụ đặc biệt, nơi biên giới, biển, đảo...

“Việc khó, có Bộ đội Cụ Hồ”-lời khen ngợi đầy trân trọng của nhân dân dành cho những cống hiến, hy sinh trong những ngày chung tay với đồng bào vượt khó trong đại dịch và nhiều thử thách, hiểm nguy, cũng là việc làm, phẩm chất được thực tiễn kiểm nghiệm và chứng minh. Thực hiện đồng bộ các giải pháp mà Nghị quyết 847 đề ra, tinh thần chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao nói riêng, phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ nói chung sẽ tiếp tục được phát huy và tỏa sáng./.

Yêu nước ST.

“MỖI DÂN TỘC LÀ MỘT CÀNH TRONG CÁI CÂY VĨ ĐẠI MANG TÊN VIỆT NAM”!

         Ngày 12-2, tại làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Hà Nội), Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dự Ngày hội “Sắc Xuân trên mọi miền Tổ quốc”. Phát biểu tại Ngày hội, Chủ tịch nước khẳng định: 

Nền văn hiến kỳ vĩ của dân tộc Việt Nam được tạo nên bởi 54 dân tộc anh em đoàn kết, gắn bó với nhau. Đó là một nền văn hóa đa dạng, phong phú, có sự thống nhất cao về ngôn ngữ, là một tài sản vô cùng quý giá của dân tộc ta. Vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững đất nước được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng với yêu cầu: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”. Văn hóa luôn là bước tiến đầu tiên và là chốt chặn sau cùng cho sự tồn vong của mỗi dân tộc, mỗi dân tộc là một cành trong cái cây vĩ đại mang tên Việt Nam, do đó chúng ta phải có trách nhiệm gìn giữ bằng mọi giá vẻ đẹp văn hóa riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho tất cả những cành, nhánh ấy đâm chồi nảy lộc, nở hoa, kết trái. 

Văn hóa luôn là bước tiến đầu tiên và là chốt chặn sau cùng cho sự tồn vong của mỗi dân tộc, thông qua sự kết nối kỳ diệu của văn hóa, chúng ta mới dễ dàng có được sự gần gũi, hiểu biết và yêu thương lẫn nhau, góp phần vun đắp sức mạnh Việt Nam, giá trị Việt Nam cho hôm nay và mai sau./.

Môi Trường ST.