Đoàn kết tôn giáolà một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết
dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với Người, đại đoàn kết dân tộc, trong đó có
đoàn kết tôn giáo là vấn đề xuyên suốt, cốt yếu của cách mạng, không phải là
một thủ đoạn chính trị nhất thời. Điều mà Người luôn hướng đến là sự đoàn kết
lâu dài, tự giác, tự nguyện, chân thành, thực sự theo phương châm “Ai có tài,
có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết
với họ”. Như vậy, mục tiêu của đoàn kết là nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước,
phát huy tối đa sức mạnh các nguồn lực để giành lại độc lập cho dân tộc và tự
do, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đoàn kết là nhân tố quyết
định thành công của sự nghiệp cách mạng.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vì vậy vấn đề đoàn kết tôn giáo có ý
nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội và tác động mạnh mẽ đến tiến trình
cách mạng. Giải quyết vấn đề này không chỉ là thực hiện đoàn kết giữa đồng bào
có đạo và không có đạo, mà còn cần thực hiện đoàn kết trong nội bộ các tôn
giáo, đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong thực hiện
đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh chú trọng cả đoàn kết giữa những người cộng sản
với đồng bào các tôn giáo. Theo Người, mặc dù thế giới quan của những người
cộng sản và những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, song đều có điểm
chung về lợi ích của quốc gia, dân tộc, do đó phải sát cánh cùng nhau để đấu
tranh cho mục tiêu chung của dân tộc.Hơn nữa, là người lãnh đạo cách mạng,
những người cộng sản phải là hạt nhân để quy tụ, tập hợp, thu hút quần chúng,
trong đó có quần chúng theo đạo tham gia cách mạng.
Về phương thức thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số vấn đề mang tính định hướng như sau:
Lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi cơ bản của con người làm mẫu số
chung trong việc giải quyết vấn đề dân tộc - tôn giáo: Trong điều kiện của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân chỉ được thực hiện khi đất nước độc lập,
bởi: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do nên chúng ta phải làm
cho nước độc lập đã”. Đồng thời, Người chỉ rõ chỉ trên cơ sở lợi ích chung vì
độc lập dân tộc, vì quyền tự do, hạnh phúc của mỗi con người không phân biệt
giai tầng, giới tính, dân tộc, tôn giáo, thì mới có thể giải quyết thỏa đáng
mối quan hệ dân tộc - tôn giáo.
Trong mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân
tộc là ưu tiên hàng đầu, song không bao giờ xem nhẹ vấn đề tôn giáo. Từ quan
điểm và cách thức của Người, giáo hội các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành
đạo theo hướng gắn bó với dân tộc như: “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” (Công
giáo); “sống phúc âm phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” (Tin
lành); “đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (Phật giáo); “nước vinh, đạo
sáng” (đạo Cao đài), “chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc; phù hợp với chính
sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
(Phật giáo, Hòa Hảo).
Trân trọng các giá trị tốt đẹp trong các tôn giáo; chấp nhận sự khác biệt,
phát huy những điểm tương đồng giữa các tôn giáo, giữa triết lý tôn giáo và lý
tưởng cộng sản: Hồ Chí Minh không bao giờ có thái độ thiên kiến, bài
xích, mà nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức, với quan niệm tôn
giáo mang những giá trị gắn chặt với con người, vì con người, vì thế mang giá
trị nhân văn sâu sắc. Người tổng kết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật
Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” và nhận ra
những tư tưởng, quan điểm đó có những nét tương đồng với lý tưởng xã hội chủ
nghĩa mà Người đang hướng tới. Với cái nhìn rộng mở và nhân ái, Hồ Chí Minh
nhận thấy những ước mơ về một xã hội bình đẳng, tự do, nhân ái của những người
sáng lập ra tôn giáo là phù hợp với lí tưởng của những người cộng sản và cuộc
kháng chiến của dân tộc trong đó có sự tham gia của đồng bào các tôn giáo là
hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tinh thần của Chúa và Phật là phải thương
yêu, đùm bọc nhau để chống lại kẻ thù tàn bạo, hung ác.
Trong điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ trương không tiến hành cuộc đấu
tranh trực diện với giáo lý của các tôn giáo, tránh việc kẻ địch sẽ lợi dụng để
vu khống, để tuyên truyền luận điệu “cộng sản là vô thần”, “cộng sản nắm chính
quyền sớm muộn gì cũng sẽ tiêu diệt tôn giáo”. Người chấp nhận và tôn trọng sự
khác biệt; đề cao, phát huy những điểm tương đồng giữa giữa giáo lý tôn giáo và
chủ nghĩa cộng sản; ghi nhận, động viên, khích lệ những đóng góp đồng bào các
tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người nêu rõ: “Mục đích Chính
phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân.
Song, để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người thì cần phải xây dựng chủ nghĩa xã
hội. Nếu Đức Chúa Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước
những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ
nghĩa đi theo con đường cứu khổ loài người”. Đó là sự phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, thể hiện tư duy rộng mở và
tinh thần nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh.
Tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đối xử bình đẳng với các tôn
giáo: Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, nhân dân có quyền tự
do lựa chọn, tin hoặc không tin, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn
giáo bình đẳng với nhau không phân biệt lớn nhỏ, không vì đề
cao niềm tin tôn giáo của mình mà nhạo báng, coi khinh tôn giáo của người khác.
Dưới sự chỉ đạo của Người, quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đã được
khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng và thể chế hóa trong văn bản
pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp đầu tiên nước ta năm 1946, Chương II, mục B
đã ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Tôn trọng các tổ
chức và hoạt động tôn giáo, Người nhấn mạnh: “Chính quyền không can thiệp vào
nội bộ tôn giáo; riêng về Công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa giáo hội Việt Nam
với Tòa thánh La Mã là vấn đề nội bộ của Công giáo”. Bên cạnh đó, Người gắn việc thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của
nhân dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân: “không tách rời bổn phận kính
Chúa của người Công giáo với bổn phận yêu nước của người công dân”, “Hoạt động
tôn giáo không được cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với chính sách
và pháp luật của Nhà nước”. Người yêu cầu các nhà tu hành, các chức sắc tôn
giáo khi truyền bá tôn giáo “có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước,
nghĩa vụ của công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.
Đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động: Tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, nhưng Hồ Chí Minh luôn đặt ra vấn
đề phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng với âm mưu
lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Đối với bọn đầu sỏ, ngoan cố và
những kẻ lợi dụng và giả danh tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc,
chống phá cách mạng, Hồ Chí Minh nêu rõ: phải quyết liệt “trừng trị theo pháp
luật” và “Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ lừa bịp, cưỡng bức đồng bào phải lìa
bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối tăm cực khổ về phần xác cũng như phần
hồn”.
Đối với đồng bào các tôn giáo, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, tự do tín ngưỡng là
một vấn đề nhạy cảm, dễ bị lực lượng phản cách mạng lợi dụng nhằm xuyên tạc,
phá hoại tình đoàn kết gắn bó giữa đồng bào lương - giáo, giữa đồng bào theo
các tôn giáo khác nhau. Bởi vậy, đồng bào các tôn giáo cần nâng cao cảnh giác
“chớ mắc mưu những kẻ tuyên truyền lừa bịp”.
Đối với cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, Hồ Chí
Minh yêu cầu cần gương mẫu chấp hành chính sách tôn giáo; ra sức giải thích cho
đồng bào các tôn giáo hiểu chính sách của Đảng, Nhà nước; đồng thời kiên quyết
sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm trong việc thực hiện chính sách tôn giáo.
Người phê phán những hiện tượng như “Đối với nông dân Công giáo, có đội đã đưa
chủ nghĩa Mác - Lênin ra giải thích. Nhiều cán bộ, hễ nói đến cha cố, không
phân biệt tốt xấu, cứ gọi là thằng, làm cho nông dân Công giáo khó chịu”. Đó là
nguyên nhân khiến đồng bào có đạo hiểu sai về chính sách của Đảng, tạo cớ cho
kẻ thù kích động, xuyên tạc, phá hoại.
Tôn trọng các chức sắc tôn giáo và quan tâm đến giáo dân, hướng họ vào các
hoạt động lợi ích chung của toàn dân tộc: Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, uy tín của hàng ngũ giáo sĩ, nhà tu
hành - những người có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Bởi
vậy, Người cho rằng tôn trọng, vận động, thuyết phục hàng ngũ chức sắc tôn giáo
là biện pháp quan trọng để thực hiện chính sách đoàn kết lương giáo, hòa hợp
dân tộc. Bằng thái độ trân trọng, tin tưởng, chân thành, cầu thị, Hồ Chí Minh
đã quy tụ được nhiều chức sắc có uy tín lớn trong các tôn giáo như linh mục
Phạm Bá Trực, ông Cao Triều Phát - lãnh tụ Cao Đài vùng Hậu Giang, v.v. tích
cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng khối đoàn kết tôn
giáo.
Bên cạnh đề cao vai trò của vị giáo chủ, giáo sĩ, Hồ Chí Minh dành sự quan
tâm sâu sắc đến đời sống của đồng bào tín đồ tôn giáo, nhất là tín đồ thuộc các
dân tộc thiểu số. Người đã gửi nhiều thư, điện đến đồng bào Công giáo, đồng bào
các dân tộc, biểu dương công trạng và tinh thần hăng hái tham gia kháng chiến
của đồng bào, thăm hỏi nhân dịp các ngày lễ lớn của các tôn giáo. Đặc biệt, đối
với đồng bào lầm đường lạc lối, đã từng quay lưng với cách mạng và dân tộc,
Người bày tỏ thương xót với những cực khổ của bà con ở nơi đất khách, quê
người, đồng thời chủ trương “Không được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi
lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn
lẽ phải mà bày cho họ”, bởi “Trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai
cũng có lòng yêu nước. Tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian, những
người ấy dần dần giác ngộ và quay trở về với Tổ quốc”.
Với chủ trương và những biện pháp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết
sáng tạo, phù hợp vấn đề tôn giáo, đoàn kết chặt chẽ lương - giáo, đồng bào các
tôn giáo khác nhau, cùng góp sức cuộc đấu tranh giải phóng và đi lên xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Đó là nền tảng lý luận, định hướng cho Đảng trong việc giải
quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng trước đây và hiện
nay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét